1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long

114 1,5K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Nguyễn Thị Mai Phương
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Văn Phan
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Địa lý học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mai Phương

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC Ở

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên)

Mã số: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐẶNG VĂN PHAN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009VIỆN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

 Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học công nghệ - sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Địa lí và Quý Thầy cô giảng dạy các chuyên đề trong

suốt niên khoá 2006-2009 vừa qua

 Tác giả gửi lời biết ơn cảm động đến với PGS.TS Đặng Quốc Bảo đã gửi

tặng những tài liệu hết sức quý báu

 Xin được bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc đến Thầy hướng dẫn trực tiếp PGS.TS Đặng Văn Phan đã luôn theo sát và tận tình hướng dẫn tác giả trong

suốt quá trình nghiên cứu luận văn

 Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và các đồng nghiệp Trung tâm Nghiên cứu kinh tế miền Nam – Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và đầu tư

đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả hoàn thành luận văn

 Cũng không quên gửi lời cảm ơn đến các cơ quan, ban ngành đã cung cấp,

hỗ trợ về mặt tư liệu, số liệu; đặc biệt là Trung tâm Thông tin và dự báo

KT-XH Quốc gia tại Tp.HCM thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư

 Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến với gia đình, các bạn học K17 cũng như bạn bè xa gần khác đã dành những lời động viên khích lệ, những

cảm thông, sẻ chia trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009

Tác giả

Nguyễn Thị Mai Phương

Trang 3

BCHTƯ: Ban Chấp hành Trung ương

CD (Compact Disc): Đĩa CD

ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long

ĐBSH: Đồng bằng Sông Hồng

HDI (Human Development Index): Chỉ số phát triển con người

HDR (Human Development Report): Báo cáo phát triển con người

GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm trong nước

GDP/người: Tổng sản phẩm trong nước bình quân trên đầu người

MDG (Millennium Development Goals): Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ

PPP (Purchasing Power Parity): Sức mua tương đương

UNDP (United Nations Development Programme): Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc

WB (World Bank): Ngân hàng Thế giới

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, lợi thế phát triển của thế giới không chỉ là điều kiện tự nhiên hay nguồn lực tài chính, thay vào đó là con người và trí tuệ con người Thực tiễn cho thấy, từ phương diện đầu tư cho phát triển thì việc đầu tư vào yếu tố con người, không ngừng nâng cao vốn con người được coi là đầu tư có hiệu quả nhất Kinh nghiệm một số quốc gia phát triển khẳng định chiến lược ưu tiên đầu tư có định hướng cho con người thông qua việc đẩy mạnh chi tiêu một số lĩnh vực xã hội: giáo dục, y tế,

an sinh xã hội và xoá đói giảm nghèo… đã làm nên những bước tiến thần kỳ trong tăng trưởng kinh tế và đổi mới xã hội

Năm 1990, Báo cáo phát triển con người UNDP đã đưa ra một phương pháp, một cách tiếp cận theo những tiêu chí mới trong việc đánh giá sự phát triển con người thông qua chỉ số HDI Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước ta, phát triển con người một cách toàn diện luôn là mục tiêu xuyên suốt trong mọi chính sách của Đảng

và Nhà nước Đại hội Đảng lần thứ IX, tháng 4 năm 2001, đã xác định một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 là:

“Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta” [I, tr.160] Điều đặc biệt là lần đầu tiên chỉ số phát triển con người HDI đã cùng những chỉ tiêu tăng GDP trở thành mục tiêu chiến lược của cả đất nước, cả dân tộc

Để thực hiện được mục tiêu đó, xem xét, phân tích mối tương quan giữa hai chỉ

số HDI và GDP là rất cần thiết cho việc xác định ưu tiên và tiến độ thực hiện thích hợp Ngoài ra, giáo dục là một trong những nhân tố quan trọng trong việc hình thành chỉ số phát triển con người Chỉ số phát triển giáo dục phản ánh trạng thái phát triển giáo dục trong mối quan hệ với các khía cạnh của phát triển kinh tế - xã hội Nghiên cứu mối tương quan giữa chỉ số giáo dục và chỉ số phát triển con người, cũng như giữa chỉ số phát triển giáo dục và chỉ số phát triển kinh tế nhằm phản ánh giáo dục là mục tiêu của quá trình phát triển

Giáo dục ở Đồng bằng Sông Cửu Long vẫn nằm ở vị trí thấp nhất trong bản đồ giáo dục cả nước Chỉ số phát triển con người HDI của các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu

Trang 5

Long chủ yếu ở nhóm trung bình Tăng trưởng GDP luôn cao hơn mức trung bình cả nước Và như vậy, tìm hiểu mối tương quan giữa chỉ số phát triển con người, chỉ số phát triển kinh tế và chỉ số phát triển giáo dục để tìm hiểu có sự nghịch lý hay không

Từ đó đưa ra những kiến nghị, định hướng phát triển kinh tế - xã hội một cách hợp lý nhất trong giai đoạn tới nhằm làm cho người dân đồng bằng được hưởng thụ cuộc sống hạnh phúc và bền vững hơn

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Tìm hiểu, củng cố những lí luận về quan niệm phát triển con người và vai trò của chỉ số phát triển con người HDI cũng như các chỉ tiêu thành phần của chỉ số HDI Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển chỉ số phát triển con người ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Tìm hiểu, phân tích mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục

Đề xuất một số định hướng cơ bản nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người cũng như để đạt được mối tương thích cao hơn trong giai đoạn tới

2.2 Nhiệm vụ

Cung cấp được các kiến thức nền tảng về chỉ số HDI; tạo ra được sự thống nhất

về cơ sở phương pháp luận cho việc tính chỉ số HDI áp dụng ở Việt Nam nói chung và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng

Tính toán, đánh giá và so sánh hiện trạng phát triển các chỉ số ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với các vùng khác và cả nước

Đánh giá mối tương quan qua lại giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục với các vấn đề đặt ra:

+ Mức độ tương thích của các chỉ số này;

+ Ý nghĩa của mỗi chỉ số vào đóng góp tăng lên của HDI;

+ Sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau theo chiều thuận hay nghịch;

+ Những nhận xét, quan điểm, kiến nghị nào được đưa ra…

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Trang 6

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là những chỉ số phát triển con người HDI; chỉ số tăng trưởng kinh tế mà đại diện là chỉ tiêu GDP, GDP/người và chỉ số phát triển giáo dục… trên phạm vi 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Đề tài nghiên cứu với nguồn dữ liệu cơ bản là năm 1999 và 2004, dựa trên Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 và 2006 điều tra đến từng tỉnh thành phố của

cả nước Bên cạnh đó, đề tài cũng sử dụng nguồn số liệu từ Niên giám thống kê hàng năm của các tỉnh, thành phố Đồng bằng Sông Cửu Long

Dựa trên số liệu gộp với các quan sát là 13 tỉnh, thành phố Đồng bằng Sông Cửu Long trong giai đoạn 1999-2004, đề tài áp dụng hàm Forecast để mở rộng nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ số đến năm 2007

4 Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Hệ thống quan điểm

- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống và được xem là đặc trưng của Địa lý học Đó là khi xem xét các sự vật hiện tượng địa lý phải đặt chúng trong mối quan hệ về không gian Quan điểm này luôn chiếm được sự đồng thuận cao bởi trong thực tế các sự vật và hiện tượng địa lý luôn luôn có sự phân hóa về mặt không gian, làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luôn đặt các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng Sông Cửu Long trong mối quan hệ không gian của vùng và của vùng với các vùng khác trong cả nước để so sánh và đánh giá

- Quan điểm hệ thống: Con người và sự phát triển con người, cũng như các quá trình vận động, phát triển kinh tế - xã hội không phải là một quá trình đơn lẻ, độc lập

mà còn gắn kết với các quá trình vận động tự nhiên, xã hội khác Chúng là bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng, do đó, phải xem xét trên quan điểm hệ thống

- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Các sự vật hiện tượng trong quá trình vận động

và phát triển của mình không chỉ biến đổi về mặt không gian mà còn có sự thay đổi theo thời gian Đặc biệt là vấn đề con người luôn có sự đa dạng và biến đổi phức tạp

Sự phát triển con người từ quan niệm, nhận thức, bản chất, thái độ đối xử với vấn đề

Trang 7

này trong quá khứ luôn có sự ảnh hưởng nhất định đến quá trình đánh giá trong hiện tại

và tương lai Do đó, việc nghiên cứu đề tài luôn được xem xét trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại – tương lai để làm rõ hơn bản chất của vấn đề theo thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác

- Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững: Quá trình phát triển của con người luôn chịu ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài Đồng thời con người cũng có những tác động làm biến đổi môi trường xung quanh Để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của con người trong quá trình phát triển của mình cần phải quán triệt quan điểm sinh thái

và phát triển bền vững khi nghiên cứu vấn đề Phát triển con người phải đi đôi với phát triển kinh tế, công bằng xã hội và phát triển môi trường bền vững, mục đích cuối cùng

là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Đây là một phương pháp rất quan trọng trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài Trên cơ sở sưu tầm nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chúng ta tiến hành chọn lọc và xử lý nguồn thông tin, số liệu đáng tin cậy nhất phục vụ hiệu quả cho đề tài

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: dựa trên việc phân tích nguồn tài liệu đã

có cũng như những nhận định quan sát từ thực tế, chúng ta mới có cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu Từ đó, rút ra được những nội dung tổng hợp nhất, đầy

đủ nhất đáp ứng được những nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đặt ra

- Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Đây là phương pháp đặc trưng của khoa học Địa

lí Sử dụng phương pháp này giúp cho các vấn đề nghiên cứu được cụ thể, trực quan và toàn diện hơn Các bản đồ trong đề tài được thành lập bằng phần mềm Mapinfo 7.5, dựa trên cơ sở các dữ liệu đã thu thập và xử lý Ngoài ra, đề tài còn thể hiện các mối quan hệ địa lí thông qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ

- Phương pháp khảo sát: là phương pháp cần thiết để tăng thêm độ tin cậy của các nguồn tài liệu thu thập và tính khách quan cho đề tài

- Phương pháp lượng hoá: làm tăng tính định lượng trong khi lập luận nghiên cứu các sự vật, hiện tượng địa lý, sẽ làm giảm đi sự suy đoán định tính

Trang 8

- Phương pháp dự báo: Đề tài sử dụng phương pháp dự báo dựa trên cơ sở tính toán từ các số liệu đã thu thập được và sự phát triển có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong quá khứ, hiện tại và tương lai

- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện đề tài, để đảm bảo tính khoa học và đưa ra được những dự báo chính xác, hợp lí cần phải tham khảo ý kiến của các chuyên gia, những nhà nghiên cứu về con người, nguồn nhân lực, về kinh tế học giáo dục

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu này thực sự có ý nghĩa và mang tính thực tiễn, tính nhân văn cao, vì các lý do sau:

- Giải thích một cách khoa học mức đóng góp của tăng trưởng kinh tế vào việc tăng lên của chỉ số HDI; cũng như biểu đạt phần đóng góp của nhân tố giáo dục vào chỉ số HDI Sự đóng góp là hợp lý hay không;

- Nhận định được tiềm năng của giáo dục có thể tác động vào sự gia tăng của thu nhập kinh tế;

- Tạo một cơ sở lý luận khoa học vững chắc để giải quyết các vấn đề này Có những biện pháp thúc đẩy, tăng cường nhằm nâng cao chỉ số HDI trong tương lai, làm cho cuộc sống mọi người dân tốt đẹp hơn

- Có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp, các ngành chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội; trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy…

6 Cấu trúc của luận văn

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế

và phát triển giáo dục ở Đồng bằng Sông Cửu Long

Chương 3: Một số định hướng cơ bản nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người

ở Đồng bằng Sông Cửu Long

Kết luận

Trang 9

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 QUAN NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN

Từ bản chất sinh học của mình, con người khi được sinh ra đã luôn khiếp sợ cái đói Khi đã chế ngự được phần nào cái đói, con người lại luôn bị ám ảnh bởi cái nghèo Có thể nói nghèo đói luôn là kẻ thù rình rập con người suốt lịch sử phát triển của mình cho đến hôm nay Và đến tận năm 2015, người ta tính rằng dù có giảm được một nửa số người trên thế giới sống dưới mức 1 USD/ngày thì vẫn còn khoảng

900 triệu người ở các nước đang phát triển còn phải sống trong cảnh vô cùng nghèo khó 1 Chính vì lẽ đó mà từ hàng ngàn năm nay, con người và cả xã hội luôn lấy sự giàu có làm mục tiêu phấn đấu

1.1.1 Quan niệm phát triển kinh tế

Trong chiến lược phát triển của mình, các chính phủ đã từng lấy việc mở rộng năng lực sản xuất của cải vật chất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu Tăng trưởng kinh tế không chỉ được xem là chìa khóa của sự phát triển mà còn

bị đánh đồng với tiến bộ xã hội Nhằm lượng hóa sự phát triển này, các khái niệm

tổng sản phẩm quốc gia (GNP – Gross National Product) hoặc tổng sản phẩm trong nước (GDP – Gross Domestic Product) trên đầu người đã ra đời vào những

năm 60 của thế kỷ 20 Trong bất cứ kế hoạch phát triển quốc gia nào, chỉ số GDP/người cũng được tính toán kỹ càng nhất và được đưa lên hàng đầu Trên

trường quốc tế, chỉ số trên đã sớm trở thành tiêu chí duy nhất để phân loại các quốc gia, xếp quốc gia này vào nhóm nước đã phát triển hay xếp quốc gia kia vào nhóm nước đang phát triển Bất bình đẳng xã hội, sự nghèo khó cùng cực của một bộ

phận dân cư, sự xuống cấp của môi trường tự nhiên và xã hội… tất cả đều được chấp nhận như là cái giá phải trả cho sự phát triển, nói cho chính xác hơn là trả cho

sự tăng trưởng Tuy nhiên thực tế cho thấy tại nhiều quốc gia, GDP/người tăng nhưng thất nghiệp và nghèo đói cùng cực cũng tăng theo hoặc không giảm; khoa

1

Báo cáo phát triển con người 2001 – Đổi mới vì sự phát triển con người Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

2001, trang 28

Trang 10

học kỹ thuật phát triển giúp con người bay lên cung trăng nhưng tỷ lệ người mù chữ, người không có nước sạch, người không được hưởng các dịch vụ y tế tối thiểu cũng tăng; vệ tinh truyền hình biến thế giới thành “ngôi làng” nhưng phần lớn cư dân lại đói thông tin và bị tước mất cơ hội để phát triển;… Truớc những nghịch lý trên, quan niệm rằng cứ tăng thu nhập đầu người là có thể đem lại sự phồn vinh cho quốc gia đã sụp đổ Hơn nữa, một quốc gia có GDP/người cao chưa hẳn là xây dựng được một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – một ước mơ từ ngàn năm của loài người Người ta nhận ra rằng thật là nông cạn và phiến diện khi đo trình độ phát triển của một xã hội mà chỉ dùng tiêu chí là GDP/người, tỷ lệ tăng GDP hàng năm hay các chỉ tiêu về của cải tiện nghi vật chất

Đến những năm 70, người ta chuyển sang quan niệm tăng trưởng phải có phát triển, hiểu là tăng trưởng nguồn thu nhập kinh tế phải kéo theo những biến đổi tích

cực trong đời sống xã hội và đời sống con người, cả vật chất lẫn tinh thần Vấn đề tăng trưởng kinh tế được gắn với vấn đề phát triển văn hóa – xã hội, phát triển con

người Từ đó, phát triển bền vững dần trở thành tư tưởng trung tâm trong nhận thức

về phát triển kinh tế - xã hội Phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế, tăng nguồn vốn, đó còn là bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên của trái đất mà thế hệ chúng ta đang “vay” của thế hệ sau, đó còn là bảo vệ sự đồng thuận của cộng đồng trong việc định hướng và chia sẽ những giá trị xã hội, bảo vệ sự ổn định xã hội

Việc nhân loại chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng sang mô hình phát triển bền vững đòi hỏi trước hết phải có những nhận thức mới, sâu sắc hơn về phát triển và sau đó hình thành những công cụ đo đạc mới, sử dụng tiêu chí mới, khắc phục được tính phiến diện của tiêu chí tăng trưởng GDP/người

Nhà kinh tế Theodor Schoultz (giải thưởng Nobel kinh tế 1979), người đã đưa

ra khái niệm vốn con người (Human Capital), quan niệm rằng nền kinh tế của mỗi

nước tồn tại và phát triển vừa nhờ vốn vật chất – tư bản vật chất – như tài nguyên, đất đai, vừa nhờ vốn con người Môn phái của Schoultz cho rằng sự đầu tư vào giáo

dục sẽ tạo ra vốn con người và loại tư bản này cũng giá trị chẳng kém tư bản vật chất Nhờ giáo dục mà con người thành chủ sở hữu của hai nhân tố: lao động sống

Trang 11

(chủ yếu là năng lực thể chất) và tư bản người (vốn con người) là năng lực trí tuệ của mỗi cá nhân Mỗi nhân tố này tạo ra phần nhất định trong thu nhập cá nhân Trong hai nhân tố này thì năng lực trí tuệ là quan trọng nhất Người ta đã cố gắng đưa ra một hàm số biểu thị sự tăng trưởng kinh tế như sau:

Q = F (K, L, H, A)

trong đó: K là vốn vật chất (Capital)

L là lực lượng lao động (Labour Force)

H là vốn con người (Human Capital)

A là nhân tố tổng hợp gồm thông tin, tri thức, vốn xã hội (mức độ đoàn kết xã hội, tinh thần sẵn sàng hành động – những yếu tố tạo ra sức mạnh tổng hợp trong quan hệ giữa nhà nước với công dân) và vốn tổ chức (được đặc trưng bằng các luật lệ, quy chế hoạt động)

Đến thập kỷ 80 ra đời khái niệm nguồn lực con người (Human Resource)

Nguồn lực con người được quan niệm là tổng thể tiềm năng lao động của một đất nước, một cộng đồng, gồm cả dân số trong và ngoài “độ tuổi lao động” Nguồn nhân lực cần được quản lý, chăm sóc và phát triển từ tuổi ấu thơ, tuổi vị thành niên, tuổi lao động và cả sau tuổi lao động Phát triển nguồn nhân lực không chỉ là phát triển thể lực (sức người) và trí lực (vốn người) mà là sự phát triển toàn diện thể lực, trí lực, tâm lực, thái độ sống và lao động, hiệu quả lao động Muốn phát triển nguồn lực con người mạnh mẽ, cần chú ý 5 yếu tố:

- Giáo dục và đào tạo

- Sức khỏe và dinh dưỡng

- Môi trường

- Việc làm

- Tự do chính trị và kinh tế

Trong 5 yếu tố này thì giáo dục và đào tạo là quan trọng nhất

1.1.2 Quan niệm phát triển con người

Năm 1990, lần đầu tiên một cách hiểu mới về phát triển được công bố trong

báo cáo của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Báo cáo phát triển

Trang 12

con người (Human Development Report-HDR) Báo cáo đã được mở đầu bằng đoạn sau: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Và mục đích của phát triển là để tạo ra môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, mạnh khỏe và sáng tạo Chân lý đơn giản này rất hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính” 2 Lời mở đầu này đã chính thức tuyên chiến với quan niệm lạc hậu về phát triển đã ngự trị suốt

một thời gian dài và đưa con người từ vị trí là một nhân tố sản xuất góp phần làm tăng trưởng kinh tế, là một động lực kinh tế hướng đến vị trí con người là trung tâm

- vừa là động lực vừa là mục tiêu đích thực của phát triển

1.1.2.1 Triết lý con người là trung tâm của UNDP

Theo UNDP, mục tiêu của phát triển không chỉ là phát triển kinh tế hoặc xã hội mà chính là phát triển con người Lịch sử đã ghi nhận những trường hợp có phát triển trong kinh tế nhưng không có phát triển xã hội hoặc tưởng rằng có phát triển

xã hội nhưng con người lại bị gạt ra bên lề của sự phát triển đó

Quan niệm phát triển con người có 5 đặc trưng cơ bản:

- Một là đặt con người ở trung tâm sự phát triển;

- Hai là con người không chỉ là phương diện mà là mục tiêu của phát triển;

- Ba là nâng cao vị thế của người dân từ chỗ chỉ là đối tượng hưởng thụ một cách thụ động thành quả của sự phát triển trở thành thành viên tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động có ý nghĩa quyết định đến cuộc sống của mình;

- Bốn là tạo lập sự bình đẳng về cơ hội cho mọi người dân, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch đồng thời tạo lập sự công bằng giữa các thế hệ và tính bền vững về môi trường;

- Năm là quan điểm phát triển con người mang tính toàn diện vì một quá

trình mở rộng cơ hội lựa chọn của mọi người dân về tất cả các mặt của

cuộc sống từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường

2

UNDP HDR 1990 Http://hdr.undp.org/reports:

Trang 13

Tại sao mở rộng cơ hội lựa chọn lại chính là phát triển con người?

Nhà kinh tế học E Wayne Nafziger giải thích như sau: “Cái phân biệt giữa

người và động vật là ở sự kiểm soát lớn hơn của con người đối với môi trường của họ

và quyền tự do lựa chọn lớn hơn của họ, chứ không phải ở chỗ họ hạnh phúc hơn

Việc kiểm soát môi trường của con người, trên lý thuyết, là một mục tiêu quan trọng giống như hạnh phúc” 3 Cần lưu ý là vì không có một quan niệm đồng nhất về hạnh phúc và không thể có mối quan tâm giống nhau trong những con người khác nhau nên việc mở rộng cơ hội lựa chọn cho con người chính là tạo điều kiện để con người vươn tới cuộc sống có ý nghĩa nhất, thú vị nhất theo nhận thức của chính mình Tính nhân văn của vấn đề mở rộng cơ hội lựa chọn chính là ở điểm này

Thế nào là mở rộng cơ hội lựa chọn của mọi người?

Phát triển con người là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn được tạo ra bởi việc

mở mang các năng lực và các hoạt động của con người Năng lực được UNDP

quan niệm là khả năng đạt đến các mục tiêu được lựa chọn và thực hiện các chức năng có liên quan một cách đầy đủ, hiệu quả và lâu dài Các năng lực cần được mở

rộng bao gồm các năng lực sinh thể (trước hết là sức khỏe) và các năng lực tinh thần (trước hết là tri thức) Sau đó là năng lực tham gia, năng lực tổ chức thực hiện và

năng lực hưởng thụ kết quả Nhận thức như vậy giúp chúng ta thấy tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe và giáo dục ở gia đình và cộng đồng đối với việc mở mang, bồi dưỡng năng lực con người

Các hoạt động cần được mở rộng bao gồm các hoạt động lao động và nghỉ ngơi Như vậy mở rộng các hoạt động sẽ làm cho con người có khả năng sử dụng tốt hơn năng lực sinh thể và tinh thần của mình cả trong công việc lẫn nghỉ ngơi (C.Mác đã từng ví von rằng thời gian rỗi rãi chính là không gian để phát triển nhân cách) Con người phải được sống trong môi trường tự nhiên và xã hội mà ở đó khả năng sáng tạo, được sống khỏe mạnh, thọ lâu, được học hành, quyền tự do chính trị

và quyền tự do cá nhân không ngừng tăng lên

3

Kinh tế học của các nước phát triển E.Wayne Nafzinger Nxb Thống kê Hà Nội, 1998, trang 65

Trang 14

Quan niệm phát triển đầy tính nhân văn về con người không chủ trương sự

phát triển mang tính bình quân, ai cũng như ai mà hướng tới việc tạo ra sự bình đẳng về cơ hội cho tất cả mọi người, phân bố năng lực công bằng hơn trong các

cộng đồng dân cư Chính vì vậy, nhà quản lý xã hội cần quan tâm sâu hơn, có biện pháp tích cực hơn đối với các nhóm người “yếu thế” và dễ bị tổn thương trong dân

cư Đó là những người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc ít người, cư dân vùng sâu, vùng xa, phụ nữ… Việc đảm bảo yêu cầu được ăn, mặc, ở, trị bệnh, được cung cấp thông tin cho các nhóm người nói trên chính là nhằm bảo đảm việc phát triển các năng lực cơ bản cho họ, rút ngắn dần sự bất bình đẳng trong việc lựa chọn cơ hội phát triển, phân bổ năng lực công bằng hơn trong các nhóm dân cư khác nhau

Có thể tóm lược quan niệm của UNDP về phát triển con người như sau:

 Phát triển con người là sự phát triển của con người, do con người thực hiện và vì con người

 Phát triển con người vừa nâng cao năng lực lựa chọn của con người vừa mở rộng cơ hội lựa chọn của con người

 Phát triển con người gắn liền với quá trình dân chủ hóa xã hội, với sự phát triển bền vững của cộng đồng, tổ chức cho mọi công dân tích cực,

chủ động tham gia vào các quá trình xã hội, làm cho vốn xã hội, vốn tổ chức mà mình là thành viên không ngừng phát triển

 Phát triển con người nhằm đáp ứng không ngừng các nhu cầu của con người từ ăn, mặc, ở đến các nhu cầu được giao lưu, được tự khẳng định,

được tiến bộ, được sáng tạo

 Phát triển con người cần phải được đo đạc, được lượng hóa thông qua những chỉ số, từ các chỉ số cơ bản về thu nhập, giáo dục, tuổi thọ đến

các chỉ số khác của đời sống văn hóa, của sự an toàn của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội,

UNDP đã cố gắng chọn một thước đo cũng “đơn giản” như GDP nhưng khắc

phục được thiếu sót của thước đo ấy Thước đo mới phải tính đến các khía cạnh xã hội của đời sống con người Ba yếu tố quan trọng sau đây đã được UNDP lấy làm

Trang 15

tiêu chí đo đạc để tham gia vào công thức tính chỉ số phát triển con người HDI Ba tiêu chí đó là:

Ấn Độ, có bang còn tự đo đạc HDI Nhiều chính phủ đã lấy HDI làm căn cứ để đề xuất chính sách và chiến lược phát triển quốc gia

Tuy nhiên cần lưu ý một điều là các chuyên gia UNDP vẫn khuyên các nước trong quá trình tự tính HDI nên bổ sung hoặc thay thế các thành phần cơ bản trong công thức tính bằng những thành phần khác phù hợp hơn với tình hình thực tế của từng quốc gia

Triết lý con người là trung tâm của UNDP còn được tiếp tục phát triển lên tầm cao hơn trong Tuyên bố Thiên niên kỷ ra đời tháng 9 năm 2000 tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc ở New York Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals – viết tắt là MDG) được 189 nguyên thủy quốc gia (trong đó có Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương) thông qua tại hội nghị này là một kế hoạch mang tính toàn cầu được các chính phủ cam kết thực hiện bằng nhiều hoạt động rộng lớn trong đó có hoạt động phát triển con người MDG xác định một hệ thống tổng hợp 8 mục tiêu ưu tiên của các chính phủ trên lĩnh vực kinh tế - xã hội với một hệ thống các nhiệm vụ được lượng hóa trong 18 chỉ tiêu với 48 chỉ số giám sát sự tiến bộ trong từng giai đoạn

Trang 16

Triết lý của MDG gắn kết chặt với triết lý con người là trung tâm Đó là nâng cao các giá trị tự do, bình đẳng, đoàn kết, khoan dung, tôn trọng môi trường Đó là nâng cao quyền con người, mở rọng sự lựa chọn, phát triển kinh tế và xã hội gắn liền với công bằng, hợp tác toàn cầu để cùng phát triển

1.1.2.2 Quan điểm vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam

Triết lý phát triển con người của UNDP nhanh chóng tìm được sự cộng hưởng

ở Việt Nam là nhờ bắt gặp truyền thống “thương người như thể thương thân” của người Việt Nam, lý tưởng giải phóng con người của Đảng Cộng sản Việt Nam cùng

di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại

Trong Di chúc viết năm 1969, Hồ Chí Minh mở đầu một cách hết sức tự nhiên bằng câu “Đầu tiên là công việc về con người” Vốn là một người “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” nên Chủ tịch Việt Nam đã thể hiện tư tưởng chăm lo cho con người xuyên suốt trong mọi hoạt động ở bất kỳ hoàn cảnh nào, thời kỳ nào của cách mạng Việt Nam

Tháng 9 năm 1945, tại phiên họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Người đã nhắc nhở: “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để giành độc lập… chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân đã được

ăn mặc no đủ” và chỉ đạo phải thực hiện ngay 4 mục đích”: Làm cho dân có ăn; Làm cho dân có mặc; Làm cho dân có chỗ ở; Làm cho dân có học hành

Có thể nói triết lý của UNDP những năm 90 về con người là sự thừa kế những

tư tưởng của các nhà nhân văn lớn của thế giới, trong đó có Hồ Chí Minh Vào năm

1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định rằng chính sách nội chính của Chính phủ “chỉ có 3 điều mà thôi:

a Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc, đủ ăn;

b Mở mang giáo dục để cho ai nấy cũng biết đọc, biết viết;

c Thực hành dân chủ để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do” và tiếp sau đó nói rõ “chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có

Trang 17

một điều là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”

Người có nhắc nhở cán bộ phải “động viên toàn thể nhân dân hăng hái thi hành chính sách đã định” Những tư tưởng nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo cho dân có cái ăn, được học hành, được hưởng quyền dân chủ, về hợp tác cùng phát triển với các nước sau đó nửa thế kỷ lại đã được diễn đạt dưới hình thức khác và phong phú hóa thêm trong Báo cáo MDG lần thứ nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Quan điểm vì con người được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam Năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ trong Báo cáo Chính trị trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII: “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức

mạnh của nhân tố con người và vì con người Kết hợp hài hòa giữa sự phát triển

kinh tế với sự phát triển xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội là động lực phát triển kinh tế Quan điểm vì con người này đã được Hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ trong điều 2: “Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân…”

Hội nghị lần thứ tư BCHTƯ Đảng khóa VII đã đúc kết quan điểm nhân văn vì con người của Đảng như sau: “tất cả là do con người, tất cả vì hạnh phúc con người, chúng ta coi con người là nhân tố quyết định, là động lực to lớn, là chủ thể sáng tạo mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội; đồng thời, coi hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chúng ta”

Quan điểm phát triển con người còn được tiếp tục thể hiện sâu hơn khi Hội nghị lần thứ năm BCHTƯ khóa VIII xác định rằng “… không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể

có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững”

Trang 18

1.1.3 Quan niệm phát triển giáo dục

Giáo dục được xem là quốc sách hàng đầu, là nền tảng cơ bản để phát triển bền vững cho một quốc gia, dân tộc Vì giáo dục chính là trụ cột của một quốc gia để tạo dựng, giữ gìn và phát triển hệ giá trị xã hội

Ngoài chức năng bao trùm trên, giáo dục còn mang một nhiệm vụ không kém phần quan trọng, đó là đảm bảo sự tồn tại và phát triển hay cụ thể hơn là hiện thực hóa quyền bình đẳng về cơ hội vào đời và tạo dựng cuộc sống của mỗi cá nhân trong

xã hội Bởi, để đạt được điều đó thì họ phải có cơ hội, ai cũng như ai, tiếp thu những giá trị, tri thức và kỹ năng mà nền giáo dục đã đưa lại cho họ

Phát triển giáo dục không chỉ dừng lại phục vụ cho những cái hiện tại cần, phản ánh những cái hiện tại đang diễn ra mà cao hơn, thiêng liêng hơn là giáo dục phải xây dựng một nhận thức về hình ảnh của xã hội ngày mai, tạo ra một khả năng tư duy về phương thức nhanh chóng đi tới xã hội đó

Giáo dục đi trước thời đại không phải là giáo dục xa rời thực tế Thực tế mà giáo dục phải gắn chặt là thực tế động, là thực tế tiến hóa Giáo dục mà gắn với thực

tế thấp, tức là những mặt thực tế đã bộc lộ những dấu hiệu lạc hậu thì giáo dục không thể có tác động thúc đẩy, nếu không nói là tác động kìm hãm

Và giáo dục không chỉ là một phúc lợi Dĩ nhiên giáo dục có mang lại một cuộc sống tinh thần phong phú cho đông đảo quần chúng Song tính năng của giáo dục không chỉ có thế mà chủ yếu là làm nền tảng, làm động lực cho sự phát triển kinh tế –

xã hội Có thể nói không có một thành tựu nào mà không bắt nguồn từ kết quả của giáo dục Ngày trước khi nền kinh tế nước ta còn thấp kém, tiêu biểu là hình ảnh con trâu đi trước cái cày đi sau và một vài nghề thủ công thô sơ thì người lao động mù chữ hay chỉ mới thoát nạn mù chữ cũng vẫn có thể điều hành sản xuất được Nhưng ngày nay, khi chúng ta đang ra sức công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì không

có giáo dục, nền kinh tế mới không thể tồn tại và phát triển được Theo logic đó, ta có thể khẳng định ngược lại: giáo dục không phục vụ, không thúc đẩy được kinh tế thì giáo dục cũng sẽ bị đào thải Đó là một yêu cầu khách quan, là tín hiệu của thời đại,

đó không phải là ý muốn chủ quan của bên nào hay của các nhà quản lý xã hội

Trang 19

1.2 CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI

Để đo lường kết quả và đánh giá thành tựu phát triển con người, Báo cáo phát triển con người năm 1990 và các Báo cáo tiếp theo của UNDP đã đưa ra một loạt chỉ số Chỉ số tổng hợp nhất được đưa ra từ năm 1990 (và được hiệu chỉnh lại năm

1999) là Chỉ số phát triển con người (Human development index – HDI)

Chỉ số phát triển con người là chỉ số tổng hợp phản ánh sự phát triển của con người trên các phương diện thu nhập (thể hiện qua tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người), tri thức (thể hiện qua chỉ số học vấn) và sức khoẻ (thể hiện qua tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh) Chỉ số này được phát triển bởi một kinh tế gia người Pakistan là Mahbub ul Haq vào năm 1990

Chỉ số HDI đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:

1 Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được đo bằng Tuổi thọ trung bình (đơn vị tính: năm)

2 Học vấn: được đo bằng Tỷ lệ người lớn biết chữ (đơn vị tính: %) và Tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học, đại học (đơn vị tính: %) Từ năm 1995 trở về trước chỉ tiêu này chưa được sử dụng, thay vào đó là chỉ tiêu Số năm học trung bình)

3 Mức sống: được đo bằng GDP thực tế bình quân đầu người (đơn vị tính: PPP/USD)

Hình 1.1: Sơ đồ mô tả tổng quát cách xây dựng chỉ số phát triển con người

Trang 20

Chỉ số HDI là một thước đo tương đối tổng hợp, vượt ra khỏi khía cạnh kinh

tế thuần tuý về sự phát triển, bổ sung cho thước đo GDP, dẫu quan trọng, nhưng còn phiến diện và sai lệch Có thể nói, với HDI, việc đánh giá về thành tựu phát triển chân thực hơn tính mục tiêu của nó Theo thời gian, HDI không chỉ phản ánh trạng thái và những tiến bộ về phát triển con người, mà còn là một căn cứ để xác định và lựa chọn các mục tiêu và chính sách phát triển

HDI là một chỉ số còn tương đối đơn giản, không bao quát hết tính phong phú, nhiều mặt của sự phát triển con người Nó chỉ phản ánh gián tiếp, do đó chưa đầy

đủ và còn bỏ qua một số khía cạnh có liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người như chính trị, văn hoá, môi trường hay mức độ tham gia của người dân HDI của một quốc gia chỉ là một chỉ số trung bình, do đó, cũng như GDP, nó có thể che lấp các quá trình phân phối, tình trạng bất bình đẳng, hay sự khác biệt về phát triển con người giữa các vùng và các nhóm dân cư Nó có thể không làm nổi bật được những thách thức cần được ưu tiên giải quyết của một quốc gia trong tiến trình phát triển Các khía cạnh chất lượng của các yếu tố cấu thành HDI cũng khó có thể phản ánh đầy đủ: trình độ giáo dục thật ra không chỉ thể hiện bằng tỷ lệ biết chữ hay số năm đi học mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất lượng giáo dục, khả năng

và cơ hội lựa chọn của người học, đặc biệt với giáo dục bậc cao Nhận xét này cũng

có thể áp dụng cho các yếu tố khác của HDI

Tuy nhiên, cho đến nay, chỉ số phát triển con người HDI vẫn là một chỉ số tốt nhất được dùng để đánh giá sự phát triển con người Chỉ số này dù chỉ được biểu diễn bởi một con số nhưng nó phản ánh tổng hợp thành tựu kinh tế - xã hội cả về số lượng và chất lượng, là một thước đo mang tính nhân văn có ý nghĩa thời đại để quản lý phát triển kinh tế - xã hội cộng đồng

1.2.1 Tính các chỉ số thành phần của chỉ số HDI

Quy tắc chung để tính các chỉ số thành phần là sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa (còn gọi là các giới hạn mục đích hay các giá trị trên) cho từng chỉ số và áp

Giá trị tối đa – giá trị tối thiểu Chỉ số thành phần =

Trang 21

Các giá trị tối đa và tối thiểu (giá trị biên) được đặt ra với từng chỉ tiêu thành phần Các giá trị tối đa phản ánh các mục tiêu phát triển và các giá trị tối thiểu là những cận dưới của sự phát triển

Bảng 1.1: Các giá trị biên để tính chỉ số HDI

GDP thực tế bình quân đầu người (PPP USD) 40.000 100

1.2.1.1 Chỉ số tuổi thọ trung bình

Tuổi thọ trung bình của dân số là số năm trung bình mà một đứa trẻ khi sinh ra

có thể sống được nếu như trong cuộc đời của mình, đứa trẻ đó có mức độ chết (nguy cơ chết) theo độ tuổi như mức độ chết theo tuổi (tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi) của thời kỳ lập bảng sống

Bảng sống là một biểu thống kê bao gồm những chỉ tiêu mô tả một cách hoàn thiện nhất mức độ chết của dân số Nhờ bảng sống ta có thể mô tả “trật tự chết” của một tập hợp dân số trong cuộc đời kể từ khi sinh ra

Tuổi thọ trung bình của dân số là một trong những chỉ tiêu cơ bản của bảng sống, được tính bằng cách lấy tổng số năm mà toàn bộ thế hệ sống được (tổng số năm người sống T0) chia cho tổng số sinh ban đầu của thế hệ đó (I0)

Chỉ số tuổi thọ bình quân đo thành tựu tương đối về tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh của một quốc gia hay địa phương Công thức tính chỉ số tuổi thọ bình quân như sau:

Chỉ số tuổi thọ trung bình =

1.2.1.2 Chỉ số giáo dục

Chỉ số phát triển giáo dục (kí hiệu E1) của một cộng đồng phản ánh trạng thái phát triển giáo dục cộng đồng trong mối quan hệ với các khía cạnh của phát triển kinh tế - xã hội

Tuổi thọ bình quân thực tế - 25

85 - 25

Trang 22

Kinh tế học giáo dục xuất phát từ quan điểm “Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển” nên coi chỉ số E1 vừa biểu thị tình trạng phúc lợi giáo dục – một phúc lợi quan trọng mà cư dân cộng đồng được thụ hưởng vừa biểu thị tiềm năng của giáo dục có thể tác động vào sự gia tăng của thu nhập kinh tế.

Theo cách đo hiện nay mà Chương trình của Liên hiệp quốc UNDP đề xuất và được nhiều nước chấp nhận thì E1 của một cộng đồng được đo bằng tổng số của tỷ

lệ người lớn biết chữ (%) với quyền số 2/3 và tỷ lệ nhóm dân từ 6-23 tuổi (%) đi học đúng độ tuổi ở các bậc tiểu học, trung học và đại học (bao gồm cả cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đã tốt nghiệp phổ thông) với quyền số 1/3

Chỉ số giáo dục = 2/3 chỉ số người lớn biết chữ + 1/3 chỉ số nhập học tổng hợp

Hay E 1 = (a x 2/3) + (b x 1/3)

với a: tỷ lệ người lớn biết chữ được hiểu là tỷ lệ % người từ 15 đến 55 tuổi được công nhận thoát nạn mù chữ Nhằm có dữ liệu để phân tích tình trạng biết chữ của người lớn, người ta cố gắng không những chỉ xác định tỷ lệ trên theo từng địa phương (tỉnh thành, quận huyện thị, vùng thành thị, vùng nông thôn) mà còn theo giới tính, theo dân tộc, theo từng độ tuổi (15-19, 20-24, 25-29,…), theo tôn giáo, theo nhóm nghề… Cơ sở dữ liệu tốt nhất để đưa vào phân tích là số liệu Tổng điều tra dân số được tiến hành 10 năm 1 lần vào ngày 1 tháng 4 năm cuối cùng mỗi thập

kỷ Trong các năm còn lại, số liệu của điều tra mẫu suy rộng sẽ đảm bảo độ chính xác cao hơn số liệu báo cáo về người mù chữ của các phường, xã

b: tỷ lệ đi học của nhóm dân từ 6-23 tuổi Trong điều kiện thực tế của Việt Nam, do những khó khăn trong vấn đề điều tra trong phạm vi từng địa phương nên tỷ lệ nhập học các cấp chỉ tính tỷ lệ % đi học của 3 cấp tiểu học, trung học cơ

sở, trung học phổ thông trong dân cư từ 6 đến 17 tuổi, không tính tỷ lệ học đại học

Do cách tính này nên tỷ lệ nhập học các cấp của Việt Nam tính được khá cao

Trong đó:

Tỷ lệ người lớn biết chữ thực tế - 0

100 - 0 Chỉ số người lớn biết chữ =

Trang 23

Với cách tính này thì E1 có Max = 1 và Min = 0

Phân loại chỉ số phát triển giáo dục thành 3 mức sau:

E1 ≥ 0,75: mức cao 0,5< E1 < 0,75: mức trung bình

E1 < 0,5: mức thấp

1.2.1.3 Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP

Tổng sản phẩm trong nước - GDP là giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong khoảng thời gian một năm Thuật ngữ “hàng hóa

và dịch vụ cuối cùng” được hiểu theo nghĩa không tính giá trị hàng hóa và dịch vụ

sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất ra sản phẩm

Khi so sánh các số liệu thống kê kinh tế giữa các nước, các số liệu trước hết phải được chuyển về cùng một đơn vị tiền tệ Để so sánh mức độ GDP thực tế tính trên đầu người giữa các nước trước hết GDP thực tế của các nước phải được tính theo tỷ giá trao đổi theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity – PPP) Phương pháp chuyển đổi GDP thực tế của các nước theo tỷ giá PPP loại trừ được sự khác biệt về mức giá giữa các nước Qua đó cho phép so sánh các giá trị thực tế về thu nhập giữa các nước

Cách tính GDP bình quân đầu người theo USD sức mua tương đương:

ERP CPI N

GDP GDP

r p

p

us p trong đó:

GDPusp : Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh p theo USD sức mua

tương đương

GDPp : Tổng sản phẩm trong tỉnh của tỉnh p theo VNĐ

Np : Tổng dân số của tỉnh p (người)

ERP : Tỷ giá giữa VNĐ và USD tính theo sức mua tương đương

Tỷ lệ nhập học tổng hợp thực tế - 0

100 - 0 Chỉ số nhập học tổng hợp =

Trang 24

CPIr : Chỉ số giá tiêu dùng của vùng r

Chỉ số thu nhập hay chỉ số GDP được tính bằng chỉ tiêu GDP thực tế bình quân đầu người theo sức mua tương đương Trong chỉ số HDI, thu nhập đóng vai trò là đại diện cho mọi thước đo khác về sự phát triển con người chưa được phản ánh trong các thước đo về tuổi thọ hay kiến thức GDP bình quân đầu người đạt đến một mức độ nhất định là có thể thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người Vượt lên trên giới hạn đó, thì tác dụng của thu nhập không tăng lên theo tỷ lệ thuận mà sẽ hạn chế dần Do đó, thu nhập sẽ được điều chỉnh vì để đạt được một mức độ đáng kể về

sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoản thu nhập vô hạn Do đó

từ năm 1999 khi tính chỉ số thu nhập sẽ dùng hàm logarit để điều chỉnh (từ 1990 đến 1998 sử dụng công thức chiết khấu khác)

Chỉ số thu nhập đầu người =

(GDP tính theo phương pháp sức mua tương đương qui ra dollar Mỹ)

1.2.2 Tính chỉ số HDI

Khi tính được các chỉ số thành phần thì việc tính chỉ số HDI sẽ rất đơn giản

Đó là giá trị trung bình chung của cả 3 chỉ số thành phần trên Chỉ số HDI là số trung bình cộng của các số sau: chỉ số tuổi thọ trung bình, chỉ số giáo dục và chỉ số GDP thực tế bình quân đầu người

HDI = 1/3 (chỉ số tuổi thọ trung bình + chỉ số giáo dục + chỉ số GDP thực tế

bình quân đầu người)

Lưu ý: Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục, GDP và HDI đều nhận giá trị từ 0 đến 1

Giá trị của các chỉ số này càng gần tới 1 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng càng cao (với 1 là thứ hạng cao nhất), ngược lại, các chỉ số càng gần 0 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng càng thấp

log (GDP/ng) – log (100) log (40000) – log (100)

Trang 25

Hình 1.2: Sơ đồ cấu trúc của chỉ số HDI

1.3 MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC CHỈ SỐ

Chúng ta có thể phân tích mối tương quan giữa các chỉ số dưới nhiều góc độ khác nhau như: so sánh xếp hạng của các chỉ số; xem xét chênh lệch giá trị của các chỉ số và so sánh với giá trị trung bình của tổng thể; tính hệ số giữa các chỉ số hay phân tích hồi quy các chỉ số dưới dạng phương trình…

1.3.1 Chỉ số phát triển kinh tế GDP và chỉ số phát triển con người HDI

Hệ số giữa chỉ số phát triển kinh tế GDP và chỉ số phát triển con người HDI

Tuổi thọ trung bình (năm)

Tỷ lệ đi học các cấp (%, với quyền số 1/3)

Tỷ lệ biết chữ của người dân

từ 15 tuổi trở lên (% với quyền số 2/3)

Giáo dục

Mức sống

Sức khoẻ

Trang 26

1.3.2 Chỉ số phát triển giáo dục E 1 và chỉ số phát triển con người HDI

Tương quan giữa chỉ số phát triển giáo dục E1 và chỉ số phát triển con người

HDI biểu thị qua hệ số (

H

E1

) Giá trị của hệ số này biểu đạt phần đóng góp của nhân

tố giáo dục vào chỉ số phát triển con người của cộng đồng

- Nếu ở một cộng đồng có chỉ số phát triển giáo dục E1 0,75 và

05 ,

thì cộng đồng cần lưu ý cải thiện trạng thái phát triển giáo dục

để cư dân được nâng cao mức thụ hưởng giáo dục trong tương quan với các nhân tố tham gia vào chỉ số phát triển con người

Trên thế giới hiện nay một số nước dù có chỉ số HDI ở mức tương đối cao (H

1.3.3 Chỉ số phát triển kinh tế GDP và chỉ số phát triển giáo dục E 1

Hệ số giữa chỉ số phát triển kinh tế GDP và chỉ số phát triển giáo dục E1 (

1

E

K

): phản ánh tình trạng tương thích của giáo dục so với phát triển kinh tế của cộng đồng Trạng thái phát triển giáo dục của một cộng đồng có tính bền vững khi chỉ số phát triển giáo dục E1 ở mức 0,75 trở lên, đồng thời chỉ số E1và chỉ số GDP luôn luôn phải xấp xỉ với nhau Khi đó giáo dục và kinh tế khớp nhịp nhau trong động thái phát triển; phát triển giáo dục không vượt quá xa hoặc không tụt hậu lại sau so với phát triển kinh tế Điều đó có nghĩa

1

E K

dao động xung quanh mức “1”

Trang 27

Kinh tế học giáo dục phân thành các chỉ báo sau:

thì động thái phát triển kinh tế và giáo dục

có tính tương thích trung bình, sự phát triển của giáo dục có xu thế đi vào bền vững

thì động thái phát triển kinh tế và giáo dục

có tính tương thích thấp, sự phát triển giáo dục tuy có giá trị cao song chưa thật bền vững

1.4 KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VỀ NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG CHỈ SỐ HDI

1.4.1 Braxin: Kinh nghiệm về việc sử dụng bản đồ phát triển con người trong

xác định nguồn lực tài chính và ngân sách trong các kế hoạch phát triển

Khi Báo cáo phát triển con người 1996 mới đang trong quá trình hoàn thiện, các chuyên gia đã thử nghiệm sử dụng dữ liệu của Báo cáo phát triển con người để xây dựng Atlas phát triển con người Năm 1997, loại Atlas thứ nhất với tên gọi:

Điều kiện sống ở bang Minas Gerais, được xuất bản, bao gồm một loạt các bản đồ

với các chỉ báo về trình độ phát triển con người cho các thành phố trong bang Minas Gerais – bang lớn nhất ở Braxin (thời điểm đó có 721 thành phố với xấp xỉ 50 triệu dân) Một năm sau, theo quy trình thử nghiệm vừa nêu, năm 1998, loạt Atlas thứ hai được xuất bản, bao gồm tất cả các chỉ báo về phát triển con người của 4.491 thành phố, 558 khu vực, 27 bang và 5 vùng lớn ở trên toàn lãnh thổ Braxin

Trang 28

Các Atlas diễn giải này đều thể hiện trên đó 38 chỉ số của 5 lĩnh vực xã hội cơ bản: 1) giáo dục (tỷ lệ biết chữ và đi học); 2) y tế (triển vọng sống); 3) nhà ở (nguồn nước và hệ thống thoát nước); 4) thu nhập (bất bình đẳng và dân cư sống ở mức nghèo khổ) và 5) tỷ lệ trẻ em tử vong Các chỉ số xã hội cơ bản này đều được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu và dễ điều chỉnh khi cần cập nhật và phát triển

Hiệu quả Atlas phát triển con người của Braxin còn thể hiện ở việc phổ biến linh hoạt, được sao chép bằng các bản điện tử trên các đĩa CD, phát hành rộng rãi trong cộng đồng Việc quảng cáo rộng rãi trên báo chí đã gây nên nhiều tranh luận sôi nổi về những phát hiện của Atlas phát triển con người Đây đã từng là chủ đề

“nóng” của hơn 50 tờ báo trên khắp lãnh thổ Braxin Sự theo dõi hàng năm về HDI cho thấy rõ mối quan tâm về những dữ liệu như vậy đang diễn ra giữa các tờ báo lớn và các chương trình phát sóng truyền hình

Nhờ cung cấp những dữ liệu có khả năng diễn giải cao, chỉ số lại đơn giản nên Atlas phát triển con người của Braxin đã thu hút được sự quan tâm lớn của chính phủ và của rộng rãi cộng đồng Trước hết, chính quyền liên bang đang sử dụng Atlas để làm chỉ tiêu phấn đấu trong chi tiêu xã hội theo chương trình “Alvorada Program” (được Bộ Trợ giúp xã hội quản lý) Chương trình này được phát triển khi nhận được những phản ứng và chỉ trích của cộng đồng rằng chính phủ đã quá tập trung vào phát triển kinh tế mà không quan tâm đúng mức đến các vấn đề xã hội Giống như Chương trình 135 ở Việt Nam, chương trình này ủng hộ trước tiên những đề xướng làm giảm đói nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống ở những thành phố nghèo nhất ở Braxin

Ngoài ra, chính phủ liên bang đã dùng HDI như một nguyên tắc chỉ đạo cho việc chi tiêu phát triển xã hội trong ngân sách quốc gia năm 2001 (ước tính khoảng 15,2 tỷ USD) Bản đồ HDI dùng để chọn ra những thành phố nghèo nhất để trang bị máy tính và cổng internet miễn phí, để ưu tiên chăm sóc sức khoẻ miễn phí, phân phối bữa ăn sáng miễn phí Ở cấp bang, Atlas phát triển con người được dùng để giúp định hướng lại chính sách phát triển của bang Như ở Minas Gerais, chính quyền lập ra luật làm thay đổi tiêu chí phân bổ thu nhập thuế dịch vụ và thuế giá trị

Trang 29

gia tăng giữa các thành phố trong bang Trên cơ sở thu thuế sẽ nổ lực đầu tư vào y

tế, giáo dục, vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn thiên nhiên và các vấn đề xã hội khác, đặc biệt có lợi cho những thành phố nghèo nhất bang Ngoài ra, theo Luật Trách nhiệm xã hội, bang Minas Gerais và Sao Paulo đã yêu cầu sử dụng Chỉ số Trách nhiệm xã hội kết hợp với HDI để giúp xác định nhu cầu phát triển và đầu tư tài chính của bang

Một đặc điểm nữa là không giống như hầu hết các quốc gia khác, kết quả lập Atlas phát triển con người của Braxin đã được nhiều tổ chức tư nhân sử dụng Hãng bảo hiểm lớn nhất đất nước Atlantica Boavista căn cứ HDI để tính toán số tiền đóng bảo hiểm sinh mạng Hãng sản xuất ô tô General Motors đã dùng bản đồ về thứ tự HDI lựa chọn vị trí đặt nhà máy tại Rio Grande do Sul, một bang có HDI cao nhất cùng với trình độ nguồn nhân lực cao…

1.4.2 Trung Quốc: đưa mục tiêu phát triển con người vào hoạch định chính sách

xây dựng “Xã hội chủ nghĩa hài hoà” và “phát triển theo tầm nhìn khoa học”

Về bản chất, xã hội hài hoà rất gần với phát triển con người của UNDP, được Đảng Cộng sản Trung Quốc định nghĩa với những đặc điểm nổi bật là: trên cơ sở dân chủ, coi con người là yếu tố quan trọng hàng đầu, tuân thủ những nguyên tắc của nền văn minh nhân loại và tôn trọng các quy luật tự nhiên Xã hội hài hoà là xã hội trong đó người dân hoàn toàn có thể phát huy năng lực và sáng tạo của mình để cạnh tranh lành mạnh cùng phát triển, mọi người đều được hưởng và chia sẻ của cải

xã hội mà công cuộc cải cách và phát triển mang lại, đồng thời thúc đẩy phát triển mối quan hệ gần gũi gắn bó giữa người dân và chính phủ Xây dựng xã hội hài hoà

là một giải pháp để khắc phục những vấn đề bất cân bằng trong phát triển: phân bổ nguồn lực không đồng đều, bất bình đẳng trong thu nhập, nạn tham nhũng và những thiếu hụt trong hệ thống pháp luật, đồng thời để các hoạt động xã hội đều phải mang lại lợi ích cho sinh kế, đời sống tinh thần và sự phát triển của người dân Trong xã hội hài hoà, môi trường chính trị luôn được giữ ổn định, tạo điều kiện xây dựng một nền kinh tế phồn vinh, người dân được sống trong hoà bình và làm việc trong điều kiện thuận lợi, phúc lợi xã hội không ngừng được cải thiện

Trang 30

Khía cạnh quan trọng nhất của quan điểm phát triển theo tầm nhìn khoa học chính là phát triển coi con người là yếu tố quan trọng hàng đầu, và yêu cầu cơ bản của phát triển theo tầm nhìn khoa học chính là phát triển toàn diện, cân bằng và bền vững Ba chiều cạnh này có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với nhau và hợp thành một tổng thể hữu cơ với đặc trưng cơ bản chính là nhằm đạt kết quả phát triển kinh

tế - xã hội nhanh và vững chắc

Quan điểm phát triển theo tầm nhìn khoa học tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI (năm 2004) và lấy dân làm gốc, phát triển một cách toàn diện, hài hoà và bền vững Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cũng nêu rõ: Trung Quốc sẽ kiên trì lấy quan điểm phát triển theo tầm nhìn khoa học để thống lĩnh toàn cục phát triển kinh tế - xã hội, nắm lấy thời cơ chiến lược quan trọng trong 20 năm đầu của thế kỷ XXI để xây dựng một xã hội khá giả ở mức độ cao hơn cho nhân dân Trung Quốc Đây là ý nghĩa chỉ đạo của quan điểm phát triển theo tầm nhìn khoa học Quan điểm này được đưa ra trên cơ sở kế thừa những tư tưởng quan trọng về phát triển của tập thể ba thế hệ lãnh đạo của Trung Quốc Ý nghĩa đầu tiên của quan điểm phát triển theo tầm nhìn khoa học là “phát triển hạt nhân là lấy dân làm gốc”, yêu cầu cơ bản là toàn diện, hài hòa và bền vững Phương pháp cơ bản là phải chú ý đến “quy hoạch thống nhất” Những trình bày mới của Hồ Cẩm Đào về phát triển theo tầm nhìn khoa học đã thể hiện một cách tập trung xu thế mới của sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của Trung Quốc, nắm bắt một cách chính xác yêu cầu mới và phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc khi bước vào thế kỷ mới

 Cách đo đạc phát triển con người của Trung Quốc

Ngay từ những năm 1990, các nhà lãnh đạo và các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã nhận thấy sự hạn chế của cách thức đo lường truyền thống Chẳng hạn, phương pháp đánh giá sự phát triển thông qua GDP bình quân đầu người chỉ đơn thuần cho thấy sự tăng trưởng về vật chất mà không phản ánh được các khía cạnh của văn hoá, xã hội và tinh thần Dựa trên nguyên tắc cơ bản mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra tại Đại hội lần thứ XVI và nhằm khắc phục hạn chế của cách

Trang 31

thức đo lường trước đó, tháng 12 năm 2005, tại Hội thảo quốc tế “Xã hội khá giả và chất lượng sống của Trung Quốc vào thế kỷ XXI”, các nhà khoa học Trung Quốc đã công bố một hệ thống tiêu chí đánh giá, đo lường phát triển Hệ thống này gồm 42 tiêu chí phản ánh một cách toàn diện và đồng bộ các mặt của đời sống xã hội từ tầm

vĩ mô đến vi mô, từ cá nhân đến quốc gia, từ kinh tế đến văn hoá (xem phụ lục 4) Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng thận trọng cho rằng ở các cộng đồng khac nhau có thể vận dụng linh hoạt hệ đo lường này thông qua việc nhấn mạnh hơn hay

mở rộng biên độ các chỉ số tuỳ thuộc đặc điểm của mỗi giai đoạn, mỗi vùng miền, cũng như các yếu tố văn hoá truyền thống Dựa trên hệ thống này mà các cộng đồng, các tỉnh, thành phố sẽ biết cách tự đánh giá cũng như so sánh với các cộng đồng khác Mặc dù vẫn còn những tranh luận, nhưng các chuyên gia quốc tế đều thống nhất rằng đây là một hệ thống đánh giá khá toàn diện hơn các hệ thống khác,

Hệ thống đo lường này được chia làm năm nhóm: phát triển kinh tế, điều kiện sống

cơ bản, cơ cấu xã hội, môi trường bền vững và chất lượng sống Trong 42 tiêu chí này vẫn có những tiêu chí truyền thống như GDP, cũng có những tiêu chí đã xuất hiện trong các hệ thống đo lường của các quốc gia, tổ chức khác

Như vậy, nhìn vào hệ thống đo lường này, chúng ta nhận thấy Trung Quốc đang

cố gắng tìm ra con đường đi riêng cho mình, không còn đề cao quá mức tăng trưởng kinh tế và tiêu dùng mà kết hợp hài hoà với các khía cạnh khác của phát triển

Trang 32

Vùng ĐBSCL có vị trí địa lý kinh tế thuận lợi trong giao lưu trong nước và quốc tế Đối với trong nước, điểm nhấn nổi bật là Vùng nằm liền kề với Vùng Kinh

tế trọng điểm phía Nam – là vùng kinh tế động lực lớn nhất của cả nước Đối với quốc tế, Vùng nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải, hàng không quốc

tế quan trọng, giữa Nam Á và Đông Á cũng như với châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương, vị trí này hết sức quan trọng cho giao lưu quốc tế

ĐBSCL nằm trong lưu vực sông Mekong dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, có diện tích lưu vực 795.000 km2, trong đó vùng Châu thổ 49.367 km2 ĐBSCL là phần cuối cùng

Trang 33

của Châu thổ sông Mekong, bao gồm 13 tỉnh thành là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ Tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79% diện tích toàn Châu thổ và bằng 5% diện tích toàn lưu vực sông Mekong, chiếm 12,3% diện tích tự nhiên của cả nước và có khoảng 17,5 triệu người, chiếm 20,6% dân số của cả nước

ĐBSCL có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Với tiềm năng nông nghiệp to lớn, trong những năm qua, ĐBSCL luôn đóng góp 50% tổng sản lượng lương thực, quyết định thực hiện thành công chiến lược an ninh lương thực Quốc gia và chiếm chủ đạo trong xuất khẩu gạo, trung bình mỗi năm từ 3,5-4,5 triệu tấn Giá trị sản xuất thủy sản chiếm hơn 66,0% của cả nước; chiếm hơn 71,4% diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản; 53,6% sản lượng và khoảng 60% về giá trị xuất khẩu thủy sản cả nước ĐBSCL cũng là vùng sản xuất cây ăn trái tập trung lớn nhất cả nước với 3/4 về diện tích và 80% về sản lượng

Trong thời gian qua, bằng nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, kinh tế của vùng ĐBSCL ngày càng khởi sắc, quy mô kinh tế ngày càng lớn, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện Tổng sản phẩm của vùng ĐBSCL đến năm 2005 chiếm 15,2% GDP của cả nước, đứng sau vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng Sông Hồng (39,3% và 22,8%)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng ĐBSCL giai đoạn sau luôn cao hơn giai đoạn trước và hơn mức trung bình của cả nước Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,9%/năm giai đoạn 1996-2000 (cả nước 6,9%/năm) và đạt 10,4%/năm giai đoạn 2001-2005 (cả nước 7,5%/năm)

Cơ cấu kinh tế của vùng ĐBSCL có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ Tỷ trọng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đang có xu hướng gia tăng Cơ cấu kinh tế theo ngành đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp

và tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp Đến năm 2005, tỷ trọng của các ngành phi nông nghiệp chiếm khoảng 53,0% trong tổng sản phẩm vùng ĐBSCL

Trang 34

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân các tỉnh ĐBSCL

Đơn vị: % Thời kì 1996-2000 Thời kì 2001-2005

GDP KVI KVII KVIII GDP KVI KVII KVIII

Cả nước 6,9 4,3 10,6 5,8 7,5 4,0 11,0 6,1 ĐBSCL 7,9 5,1 12,7 11,3 10,4 7,0 15,8 12,7

Long An 7,6 5,6 14,1 7,3 9,4 6,0 17,0 8,6 Đồng Tháp 6,9 3,7 14,9 14,4 9,9 7,4 17,7 12,1

An Giang 6,9 2,0 11,4 11,6 8,9 5,2 11,8 11,2 Tiền Giang 8,1 4,6 10,2 14,6 9,0 5,1 16,7 11,3 Vĩnh Long 6,6 4,0 10,6 10,2 8,6 5,6 14,6 10,4 Bến Tre 8,3 8,7 8,9 6,6 9,0 5,7 14,1 14,7 Kiên Giang 8,0 6,3 11,7 9,0 11,1 7,8 15,5 13,9 Cần Thơ 8,5 1,7 16,4 11,6 13,5 8,1 17,3 13,6

Trà Vinh 7,2 5,6 7,8 13,4 10,6 8,2 18,0 14,8 Sóc Trăng 9,3 7,7 15,6 10,6 10,3 8,2 15,0 12,7 Bạc Liêu 10,3 7,9 14,2 14,6 15,7 13,9 19,2 16,7

Cà Mau 8,3 5,8 10,5 14,7 11,1 6,4 15,0 17,5

Nguồn: Tính toán từ Niên giám thống kê các tỉnh ĐBSCL

(KVI: Nông lâm ngư nghiệp, KVII: Công nghiệp-xây dựng, KVIII: Dịch vụ)

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế các tỉnh ĐBSCL

Trang 35

Hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được đầu tư nâng cấp, đáp ứng tốt hơn cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Giao thông đường bộ và giao thông đường thuỷ đều được chú ý phát triển; nhiều tuyến quốc lộ, tỉnh lộ đã được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới Quốc lộ 1A đang được triển khai mở rộng giai đoạn 2, đang khởi công xây dựng một số tuyến mới N1, N2 song song với trục Bắc Nam quốc lộ 1A, mở rộng tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp, tuyến Nam Sông Hậu Các cụm, tuyến dân cư cho đồng bào vùng ngập lũ đã được tập trung chỉ đạo, từng bước góp phần giải quyết ổn định chỗ ở cho nhiều hộ sống trong vùng ngập sâu

Đời sống nhân dân được cải thiện và ngày một nâng cao Tỷ lệ hộ nghèo giảm

từ 27,03% năm 2001 xuống còn 5,18% năm 2005 Số hộ nông thôn được cung cấp điện đạt 89,7%, được sử dụng nước sạch đạt trên 60% Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm xuống còn 22% (mục tiêu là 22-25%), tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng

là 22% Tuổi thọ trung bình toàn vùng là 72,1 năm

Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của vùng ĐBSCL vẫn còn thấp hơn

so với mức chung của cả nước Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn còn chậm, chưa thật ổn định và chưa tác động mạnh mẽ đến tạo việc làm mới trong khu vực phi nông nghiệp Kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực nhà nước chiếm khoảng 97,0% trong tổng sản phẩm toàn vùng nhưng chủ yếu là quy mô nhỏ, lạc hậu và tỷ trọng giảm không đáng kể trong 10 năm qua Kinh tế nông nghiệp mặc dù chiếm tỷ trọng lớn song mức độ tác động của cơ giới hóa, công nghiệp hóa vào nông nghiệp còn ở mức thấp; cộng thêm chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh và biến động của giá cả nên sản xuất nông nghiệp chưa bền vững Các ngành dịch vụ phục vụ cho sản xuất chưa thực sự phát triển Hàm lượng khoa học trong các sản phẩm còn thấp, tính cạnh tranh chưa cao, năng suất lao động thấp Các ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động chưa phát triển mạnh, công nghiệp nông thôn hình thành tự phát và chiếm tỷ trọng rất nhỏ bé Tỷ lệ đô thị hoá của vùng ĐBSCL tăng chậm chỉ tăng từ 17,6% vào năm 2000 lên 20,9% năm 2005, chậm so với tốc độ đô thị hoá của toàn quốc (tương ứng là 24,2% và 26,9% trong cùng thời gian này) Cơ sở hạ tầng sản xuất

Trang 36

còn yếu, thêm vào đó trình độ kỹ thuật của người lao động rất thấp, là yếu tố cản trở việc thu hút đầu tư nước ngoài vào ĐBSCL

Chất lượng nguồn nhân lực, mặt bằng dân trí của vùng thấp hơn nhiều mức bình quân cả nước Tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt 16,43%, thấp hơn nhiều

so với mục tiêu đề ra là 20-25% và so với cả nước là 24,8% Giải quyết việc làm trong 5 năm mới đạt 1,475 triệu người, thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 1,8-2 triệu người Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,9%, cao hơn mức phấn đấu là dưới 4% Số học sinh trung học chuyên nghiệp tính trên 1 vạn dân là 24,6 Toàn quốc có 6% dân số trong độ tuổi lao động có bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp nhưng ĐBSCL chỉ có 3,3% Số sinh viên trên 1 vạn dân là 51 người, chỉ đứng cao hơn vùng Tây Bắc Đặc biệt, tỷ lệ bỏ học ở cả 3 cấp học vẫn còn khá cao và có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây Các tỉnh tỷ lệ học sinh bỏ học cao là Cà Mau (18,67%), An Giang (14,34%), Bạc Liêu (13,23%), Hậu Giang (10,19%)

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC CHỈ SỐ

2.2.1 Chỉ số phát triển con người vùng ĐBSCL

Chỉ số HDI của vùng ĐBSCL đã được cải thiện trong giai đoạn 1999-2004 Chỉ số HDI đã tăng 4,93%, từ mức dưới 0,67 năm 1999 lên khoảng 0,70 vào năm

2004 Như vậy, sự phát triển con người vùng ĐBSCL đã có bước tiến đáng kể, được Báo cáo phát triển con người Việt Nam xếp vào nhóm chỉ số phát triển con người cao (HDI ≥ 0,7) Tuy nhiên, mức tăng HDI của vùng ĐBSCL vẫn còn thấp hơn mức tăng trung bình của cả nước là 6,1%

Điều đáng lưu ý là mức tăng HDI cho đến nay là kết quả của sự gia tăng chỉ ở 2 chỉ số cấu thành – GDP bình quân đầu người (tính theo USD PPP) và giáo dục Chỉ

số tuổi thọ thay đổi rất thấp, khác hẳn với tình hình chung của cả nước là có sự gia tăng ở tất cả các chỉ số cấu thành Cho thấy tình trạng cải thiện sức khỏe y tế giai đoạn 1999-2004 ở ĐBSCL chưa mang lại hiệu quả trong việc cải thiện chỉ số HDI

Trang 37

Bảng 2.3: Đóng góp của các chỉ số thành phần vào tốc độ tăng HDI vùng ĐBSCL

1999 2004 Tốc độ tăng

(%)

Đóng góp (điểm %)

Tỷ trọng đóng góp (%)

HDI 0,669 0,689 0,702 0,731 4,93 6,10

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam, Tổng cục Thống kê

Chỉ số GDP bình quân đầu người của ĐBSCL tăng nhanh nhất, hơn 15% và đóng góp 3,49 điểm phần trăm, hay 70,7% vào tốc độ tăng HDI Trong khi đó, chỉ

số giáo dục tăng chậm hơn, xét theo cả giá trị tuyệt đối và tương đối Kết quả là chỉ

số này chỉ đóng góp 1,49 điểm phần trăm, hay 30,3% vào tốc độ tăng HDI, nhỏ hơn nhiều so với đóng góp của chỉ số GDP bình quân đầu người Kết quả về đóng góp của giáo dục khu vực ĐBSCL dường như không gây bất ngờ, nếu xét về thực chất

và mối quan ngại của xã hội trong những năm qua về các chương trình cải cách và chất lượng dạy và học của ngành giáo dục – đào tạo

Hơn nữa, ĐBSCL vẫn chưa tận dụng hết tiềm năng, nếu xét về thu nhập bình quân đầu người Mặc dù có mức tăng trưởng ấn tượng, chỉ số GDP bình quân đầu người năm 2004 vẫn bị coi là dưới mức trung bình, nghĩa là thấp hơn 0,6 Do đó, tỷ trọng đóng góp của chỉ số GDP vào chỉ số HDI chỉ tăng từ 22,4% năm 1999 lên 24,7% năm 2004, vẫn thấp hơn mức bình quân cả nước 25,5%

Ngược lại, các chỉ số về tuổi thọ và giáo dục lại có tỷ trọng tương đối cao Tuy

có thu nhập thấp, ĐBSCL đã quyết tâm thúc đẩy và phổ cập giáo dục Nhờ có quan điểm này cùng việc thực hiện nhiều biện pháp chính sách của Đảng và Chính phủ, người dân đã có thể tiếp cận giáo dục dễ dàng hơn Tăng trưởng GDP tạo điều kiện tăng đầu tư xã hội vào giáo dục chỉ bổ sung thêm cho thành công này Nhìn chung, xét theo giá trị tuyệt đối chỉ số phát triển con người ĐBSCL, giáo dục vẫn có đóng góp đáng kể 38% Tuy nhiên, tỷ trọng của giáo dục đóng góp vào chỉ số HDI vẫn thấp hơn mức trung bình cả nước 38,8%, cao hơn vùng Đông Nam Bộ 36,2% (do chỉ số GDP đã lấn phần đóng góp)

Trang 38

Bảng 2.4: Tỷ trọng của các chỉ số thành phần vào chỉ số HDI vùng ĐBSCL

Đơn vị: %

Chỉ

số HDI

Chia ra

Chỉ

số HDI

Chia ra Chỉ số

GDP

Chỉ số giáo dục

Chỉ số tuổi thọ

Chỉ số GDP

Chỉ số giáo dục

Chỉ số tuổi thọ

Cả nước 100,0 23,5 36,4 39,8 100,0 25,5 38,8 35,6

ĐB Sông Hồng 100,0 21,2 37,3 41,0 100,0 24,2 39,2 36,5 Tây Bắc 100,0 18,9 40,2 40,8 100,0 21,8 39,3 38,7 Đông Bắc 100,0 19,2 37,4 43,2 100,0 22,4 41,4 36,1 Bắc Trung Bộ 100,0 18,6 37,8 43,3 100,0 21,3 42,1 36,5

DH Nam Trung Bộ 100,0 20,7 37,5 41,9 100,0 23,5 40,6 36,0 Tây Nguyên 100,0 22,1 35,3 42,5 100,0 22,2 42,8 34,6 Đông Nam Bộ 100,0 27,1 35,5 37,7 100,0 29,5 36,2 34,1

ĐBSCL 100,0 22,4 38,4 39,4 100,0 24,7 38,0 37,5

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam

Khái quát toàn cảnh giai đoạn 1999-2004, khu vực ĐBSCL tụt 1 hạng, hiện đứng thứ 5 trong 8 vùng cả nước về chỉ số HDI Chỉ số thu nhập bình quân đầu người vẫn giữ nguyên hạng 3/8 Chỉ số tuổi thọ tăng hạng đáng kể, từ vị trí thứ 6 lên

vị trí thứ 3 trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Điều đáng ngạc nhiên

là chỉ số giáo dục lại tụt xuống thấp, chỉ đứng trên vùng Tây Bắc

Bảng 2.5: Xếp hạng các chỉ số vùng ĐBSCL so với cả nước

1999 2004

Chỉ

số HDI

Chia ra

Chỉ

số HDI

Chia ra Chỉ

số GDP

Chỉ số giáo dục

Chỉ số tuổi thọ

Chỉ

số GDP

Chỉ số giáo dục

Chỉ số tuổi thọ

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Báo cáo phát triển con người Việt Nam

Trong khi đó, Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) luôn đứng đầu cả nước về chỉ

số giáo dục, đảm bảo thứ hạng của chỉ số tuổi thọ, chỉ số kinh tế trong giai đoạn vừa

Trang 39

qua Xem xét tổng quát hai đồng bằng của cả nước cho ta thấy, ĐBSCL còn thua xa ĐBSH về các mặt văn hóa xã hội, đặc biệt là cách biệt khá rõ về tình hình phát triển giáo dục Điều này có thể thấy rõ hơn qua bảng số liệu chi tiêu cho giáo dục

Chi tiêu trung bình cho giáo dục vùng ĐBSCL khoảng 14,5 ngàn đồng/người/tháng tương đương 174 ngàn đồng/người/năm; trong khi đó, ở ĐBSH con số này đạt gần gấp đôi Tỷ trọng cũng chỉ chiếm 4,33% trong tổng chi tiêu một nhân khẩu, đứng trên vùng Tây Bắc Điều đáng quan ngại là thu nhập bình quân đầu người của ĐBSCL không phải là thấp, đứng thứ 3 cả nước, nhưng phần chi tiêu dành cho giáo dục lại chiếm rất khiêm tốn

Bảng 2.6: Chi tiêu cho giáo dục bình quân 1 tháng của một nhân khẩu

Chi tiêu (1.000 đồng)

Tỷ trọng trong tổng chi tiêu

Nguồn: Số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2004

2.2.2 Chỉ số phát triển con người các tỉnh thành vùng ĐBSCL

Chỉ số phát triển con người của các tỉnh thành ĐBSCL là khá đều nhau Chênh lệch giữa tỉnh có HDI cao nhất và tỉnh thấp nhất khá nhỏ, năm 1999 là 0,047 và năm

2004 khoảng chênh lệch này là 0,041 Trong thời gian qua, Vĩnh Long vẫn là tỉnh đứng đầu khu vực về chỉ số HDI, hiện nay là 0,721 nhưng vẫn chưa bằng mức trung bình cả nước 0,731 Tỉnh có chỉ số HDI thấp nhất năm 1999 là Đồng Tháp 0,648; năm 2004 là Sóc Trăng 0,680

Đến năm 2004, 7/13 tỉnh thành có HDI xếp vào nhóm chỉ số phát triển con người cao (HDI ≥ 0,7 theo Báo cáo phát triển con người Việt Nam) Đó là các tỉnh Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Cần Thơ và Bến Tre Trong khi đó, năm 1999 chưa có tỉnh nào thuộc khu vực ĐBSLC được xếp vào

Trang 40

nhóm này Cho thấy sự nỗ lực rất lớn trên mọi bình diện kinh tế - xã hội nhằm tăng lên đáng kể chỉ số HDI

Trong ba nhóm chỉ số thành phần thì giá trị chỉ số GDP là thấp nhất và giữa các tỉnh thành không có sự khác biệt lớn, chưa tỉnh nào mang tính đột phá Tuy nhiên, năm 1999 khoảng chênh lệch giữa các tỉnh với nhau không rõ nét như năm 2004 Cao nhất khu vực là Kiên Giang 0,47 so với tỉnh thấp nhất là Đồng Tháp 0,41 với biên độ 0,06 Trong khi đó, năm 2004 Cần Thơ có chỉ số GDP cao nhất là 0,58 so với Đồng Tháp 0,46 thì biên độ này là 0,12, cao gấp đôi năm 1999 Đồng Tháp qua một thời kỳ dài tăng trưởng và phấn đấu nhưng vẫn đứng cuối bảng về chỉ số thu nhập bình quân đầu người ở khu vực ĐBSCL

Chia ra Chỉ số

GDP

Chỉ số giáo dục

Chỉ số tuổi thọ

Chỉ số GDP

Chỉ số giáo dục

Chỉ số tuổi thọ

Nguồn: Báo cáo phát triển con người Việt Nam 1999-2004

Chỉ số GDP của Việt Nam nói chung và của các tỉnh ĐBSCL nói riêng vẫn xếp vào nhóm chậm phát triển (< 0,6) Do đó, về góc độ cải thiện mức sống dân cư đồng bằng còn gặp nhiều khó khăn và thách thức

Về mặt giá trị tuyệt đối, chỉ số thành phần giáo dục đều tăng trưởng ở 13 tỉnh thành, song sự biến động này khá nhỏ Năm 1999, Sóc Trăng có chỉ số giáo dục thấp nhất là 0,74, đến năm 2004 chỉ tăng thêm 0,04 hiện đạt là 0,78 và chỉ đứng trên An

Ngày đăng: 22/03/2013, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (chủ biên) (2008), Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam
Tác giả: Đặng Quốc Bảo (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
2. Bảo trợ xã hội – Báo cáo phát triển Việt Nam 2008 (6-7 tháng 12 năm 2007), (Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn Các nhà Tài trợ cho Việt Nam), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo trợ xã hội – Báo cáo phát triển Việt Nam 2008
3. Ban Chỉ đạo quốc gia thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) – Tổ Công tác liên ngành CPRGS, Việt Nam tăng trưởng và giảm nghèo - Báo cáo thường niên 2004-2005 (tháng 11 năm 2005), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tăng trưởng và giảm nghèo - Báo cáo thường niên 2004-2005
6. Hướng đến tầm cao mới – Báo cáo phát triển Việt Nam 2007 (14-15 tháng 12 năm 2006), (Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn Các nhà Tài trợ cho Việt Nam ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đến tầm cao mới – Báo cáo phát triển Việt Nam 2007
9. Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng (2008), Địa lý Kinh tế xã hội Việt Nam thời kì hội nhập, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý Kinh tế xã hội Việt Nam thời kì hội nhập
Tác giả: Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Hồ Sĩ Quý, Một số vấn đề phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (về kết quả nghiên cứu của đề tài KH-CN cấp nhà nước KX.05.01) (2007), Tạp chí thông tin Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Tác giả: Hồ Sĩ Quý, Một số vấn đề phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (về kết quả nghiên cứu của đề tài KH-CN cấp nhà nước KX.05.01)
Năm: 2007
15. Tổng cục thống kê, Dự án VIE/97/P14, Nxb Thống kê, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án VIE/97/P14
Nhà XB: Nxb Thống kê
18. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2001), Báo cáo phát triển con người VN 2001 – Đối mới và sự nghiệp phát triển con người (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người VN 2001 – Đối mới và sự nghiệp phát triển con người
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (1999), Phát triển con người từ quan niệm đến chiến lược và hành động (Sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người từ quan niệm đến chiến lược và hành động
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
20. Ngô Doãn Vịnh (chủ biên) (2005), Bàn về phát triển kinh tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về phát triển kinh tế
Tác giả: Ngô Doãn Vịnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
21. Viện Chiến lược phát triển (tháng 11/2006), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL đến năm 2020
22. Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và đầu tư (08/2001), Cơ sở khoa học phục vụ xây dựng đề án phát triển đào tạo nguồn nhân lực đến năm 2010 đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học phục vụ xây dựng đề án phát triển đào tạo nguồn nhân lực đến năm 2010 đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
23. Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (2006), Phát triển con người Việt Nam 1999-2004 – Những thay đổi và xu hướng chủ yếu, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển con người Việt Nam 1999-2004 – Những thay đổi và xu hướng chủ yếu
Tác giả: Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
4. Bộ Giáo dục và đào tạo (18/12/2008), Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020 Khác
5. Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 10 năm 2005), Chỉ số phát triển con người HDI Thành phố Hồ Chí Minh 1999-2004 Khác
7. Kỷ yếu hội thảo của các tác giả Đặng Quốc Bảo, Trương Thị Thúy Hằng Khác
8. Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển KT-XH và bảo đảm an ninh quốc phòng vùng ĐBSCL thời kỳ 2001 – 2010 Khác
11. Quyết định 173/2001/QĐ-TTg ngày 06/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2001 – 2005 Khác
12. Quyết định 492/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL Khác
13. Quyết định số 20/2006/QĐ-TTg ngày 20/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ mô tả tổng quát cách xây dựng chỉ số phát triển con người - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1.1 Sơ đồ mô tả tổng quát cách xây dựng chỉ số phát triển con người (Trang 19)
Hình 1.2: Sơ đồ cấu trúc của chỉ số HDI - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của chỉ số HDI (Trang 25)
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế các tỉnh ĐBSCL - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế các tỉnh ĐBSCL (Trang 34)
Bảng 2.3: Đóng góp của các chỉ số thành phần vào tốc độ tăng HDI vùng ĐBSCL - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.3 Đóng góp của các chỉ số thành phần vào tốc độ tăng HDI vùng ĐBSCL (Trang 37)
Bảng 2.7: Chỉ số HDI các tỉnh thành vùng ĐBSCL - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.7 Chỉ số HDI các tỉnh thành vùng ĐBSCL (Trang 40)
Hình 2.2: Chỉ số phát triển con người của 64 tỉnh thành năm 2004 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.2 Chỉ số phát triển con người của 64 tỉnh thành năm 2004 (Trang 42)
Bảng 2.9: Tỷ trọng đóng góp của các chỉ số thành phần vào chỉ số HDI   các tỉnh vùng ĐBSCL - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.9 Tỷ trọng đóng góp của các chỉ số thành phần vào chỉ số HDI các tỉnh vùng ĐBSCL (Trang 46)
Hình 2.5: Tương quan theo xếp hạng HDI và GDP của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.5 Tương quan theo xếp hạng HDI và GDP của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 (Trang 49)
Hình 2.6: Tương quan theo xếp hạng HDI và GDP của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.6 Tương quan theo xếp hạng HDI và GDP của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 (Trang 50)
Hình 2.7: Chênh lệch xếp hạng chỉ số HDI và GDP năm 2004 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.7 Chênh lệch xếp hạng chỉ số HDI và GDP năm 2004 (Trang 51)
Hình 2.8: Tương quan theo giá trị HDI và GDP của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.8 Tương quan theo giá trị HDI và GDP của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 (Trang 53)
Hình 2.9: Tương quan theo giá trị HDI và GDP của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.9 Tương quan theo giá trị HDI và GDP của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 (Trang 54)
Bảng 2.13: Tương quan giữa chỉ số E 1  với chỉ số HDI theo xếp hạng - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2.13 Tương quan giữa chỉ số E 1 với chỉ số HDI theo xếp hạng (Trang 57)
Hình 2.11: Tương quan theo xếp hạng HDI và E 1  của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.11 Tương quan theo xếp hạng HDI và E 1 của 12 tỉnh thành ĐBSCL năm 1999 (Trang 58)
Hình 2.12: Tương quan theo xếp hạng HDI và E 1  của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 - Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2.12 Tương quan theo xếp hạng HDI và E 1 của 13 tỉnh thành ĐBSCL năm 2004 (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w