1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

175 482 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển Dịch Cơ Cấu Vốn Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Vùng Kinh Tế Trọng Điểm Phía Nam
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Dung
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Văn Phan
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Địa Lý Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mỹ Dung

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mỹ Dung

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM

Chuyên ngành: Địa Lý học

Mã số: 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS ĐẶNG VĂN PHAN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Đặng Văn Phan - người đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn Qua đây, tác giả cũng trân trọng cảm ơn các cơ quan: Viện Kinh tế Thành phố

Hồ Chí Minh, Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, tài liệu và thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu

Cuối cùng, tác giả xin lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp

đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mỹ Dung

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta đi lên từ điểm xuất phát thấp Sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới (1986), nền kinh tế tuy đã khởi sắc nhưng trình độ phát triển vẫn còn nhiều hạn chế Đứng trước xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, để tránh nguy cơ tụt hậu, việc hội nhập của nước ta vào nền kinh tế thế giới nói chung và khu vực nói riêng nhằm

bổ sung nguồn vốn phát triển kinh tế - xã hộilà nhu cầu cấp thiết

Trong 20 năm qua (1988 – 2007), bên cạnh nguồn vốn trong nước, nước ta đã thu hút được hơn 80 tỉ USD vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direst Investment - FDI) Đây là nguồn vốn quan trọng góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Nhận thấy vai trò quan trọng của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chính phủ đã đề ra Nghị quyết 09/2001/NQ – CP ngày 28/8/2001 và chỉ thị 19/2001/CT – TTg ngày 28/8/2001 nhằm tăng cường thu hút, nâng cao hiệu quả đầu tư nước ngoài (ĐTNN) thời kỳ

2001 – 2005: “đầu tư vào những địa bàn có nhiều lợi thế để phát huy vai trò vùng động lực”- Địa bàn có nhiều lợi thế ở đây có thể hiểu là địa bàn, vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) Tính đến tháng 4 năm 2009, Việt Nam có 4 vùng kinh tế trọng điểm: VKTTĐ Phía Bắc, VKTTĐ miền Trung, VKTTĐ phía Nam và VKTTĐ đồng bằng sông Cửu Long (thành lập ngày 16/4/2009) Trong đó, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) là vùng có vị trí chiến lược trong phát triển kinh tế, có khả năng mở rộng giao lưu liên kết với các vùng khác trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho vùng cũng như cả nước nhanh chóng hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới Trong thời gian qua, VKTTĐPN là địa bàn thu hút vốn FDI nhiều nhất cả nước Từ năm 1988 – 2007, vùng đã thu hút được hơn 50% tổng vốn đăng ký của cả nước, giữ vai trò động lực, đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước

Đến nay, có thể đánh giá đây là địa bàn có khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên đáng kể cả về số lượng dự án lẫn vốn đầu tư Tuy nhiên, các dự án và vốn đầu tư này có sự biến đổi trong thời gian qua

Trang 5

Nhằm đánh giá một cách tương đối khách quan và đầy đủ về tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như sự thay đổi về cơ cấu vốn FDI, tìm ra những mặt mạnh, mặt yếu của vùng kinh tế trọng điểm này trong việc thu hút và sử dụng vốn FDI Từ đó, đưa ra những định hướng nhằm thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn vốn này trong tương lai, phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của vùng Chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” góp một phần nhỏ trong việc phát triển

kinh tế của vùng cũng như cả nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

 Về nội dung: chuyển dịch cơ cấu vốn FDI theo ngành, theo lãnh thổ, theo đối tác và theo hình thức đầu tư

 Về không gian: địa bàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

 Thời gian: Giai đoạn 1996 – 2007 (đặc biệt từ 2000 – 2007).Tuy nhiên do tình hình đầu tư nước ngoài năm 2008 và đầu năm 2009 có nhiều biến động, vì vậy cũng

sẽ xem xét một cách tổng quan trên cơ sở định hướng cho các năm sau

Trang 6

4 Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Hệ thống quan điểm

4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đây là quan điểm cơ bản, truyền thống của Địa Lý học Trong thực tế, các sự vật hiện tượng địa lý luôn có sự phân hóa không gian làm cho chúng có sự khác biệt giữa nơi này với nơi khác Do đó, khi nghiên cứu sự chuyển dịch vốn FDI tại VKTTĐPN phải tìm hiểu mối quan hệ bên trong lãnh thổ và mối quan hệ giữa lãnh thổ nghiên cứu với các lãnh thổ lân cận

4.1.2 Quan điểm hệ thống

Chuyển dịch cơ cấu vốn FDI là một bộ phận của sự phát triển kinh tế - xã hội Tác động tích cực của sự chuyển dịch cơ cấu này góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng lãnh thổ và cả nước VKTTĐPN là một trong những vùng kinh tế đầu tàu, động lực có vai trò thúc đẩy sự phát triển các vùng kinh tế khác và cả nước Vì vậy, khi nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu vốn FDI trong VKTTĐPN cần xem xét, đánh giá và phân tích nó trong sự phát triển tổng thể của hệ thống kinh tế - xã hội hoàn chỉnh

4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Quan điểm này chú ý đến khía cạnh địa lý lịch sử Các yếu tố địa lý không chỉ biến đổi trong không gian mà biến đổi cả theo thời gian Do đó, việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu vốn FDI tại VKTTĐPN trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai sẽ làm rõ bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo được tính logic, khoa học và chính xác khi nghiên cứu

4.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững

Con người luôn chịu tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người đã làm biến đổi tự nhiên, gây

ra những vấn đề môi trường nghiêm trọng Cho nên, khi nghiên cứu cần phải quán triệt quan điểm sinh thái và phát triển bền vững để đề ra những giải pháp nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội, tài nguyên môi trường và vấn đề phát triển bền vững

Trang 7

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Thu thập và phân tích các tài liệu, văn bản, số liệu liên quan đến FDI trong phạm

vi cả nước và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

- Kế thừa các nguồn tư liệu có sẵn

- Phương pháp thống kê và phương pháp so sánh

- Sử dụng phương pháp hệ thống thông tin địa lý (GIS), excel và powerpoint để

vẽ và xử lí các số liệu, biểu đồ, lược đồ

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Nhìn lại những thành tựu và hạn chế trong thu hút vốn FDI tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong thời gian qua một cách cụ thể thông qua việc phân tích

sự chuyển dịch cơ cấu vốn FDI của vùng kinh tế này

- Tìm ra một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng tốt hơn nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của vùng và

cả nước

6 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một đề tài mới, được nhiều nhà khoa học quan tâm và tiến hành nghiên cứu

Một trong số đó là:

- Đề tài: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Thành phố Hồ Chí Minh – tình trạng và giải pháp” (do TSKH Trần Trọng Khuê, TS Trương Thị Minh Sâm, PGS.TS Đặng Văn Phan và các cộng sự thực hiện)

- Đề tài: “Đánh giá vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế

- xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” (do Thạc sỹ Nguyễn Văn Quang chủ nhiệm – Thạc sỹ Cao Ngọc Thành phó chủ nhiệm cùng các cộng sự thực hiện, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2005)

- Đề tài: “Định hướng thu hút đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh” (do Thạc sỹ Nguyễn Văn Quang chủ nhiệm cùng các cộng sự thực hiện, Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, 2007)

Trang 8

- Đề tài : “Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển các ngành và các lĩnh vực của Thành phố Hồ Chí Minh” (Nguyễn Thị Hoài Phương, luận văn Thạc sỹ địa lý, 2006)

- Đề tài : “Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Bà Rịa – Vũng Tàu” (Lê Thị Nga, luận văn Thạc sỹ địa lý, 2008)

Ngoài ra, còn có nhiều bài báo, phóng sự nhận định về tình tình thu hút, thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin, gợi mở các vấn đề mang tính khái quát

Nhìn chung các nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài đều tập trung vào việc nghiên cứu ở một địa phương cụ thể (đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh) hoặc trên diện rộng cả nước Tác giả chưa thấy nghiên cứu nào về đầu tư trực tiếp nước ngoài

ở các vùng hoặc vùng kinh tế trọng điểm Trong khi thời gian qua, nguồn vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào các vùng kinh tế này Trong đó không thể không kể đến vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là vùng luôn chiếm tỉ trọng lớn trong thu hút đầu tư nước ngoài Thiết nghĩ, việc tìm hiểu sự chuyển biến về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm này có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” không ngoài mục đích trên

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương chính sau:

Chương 1: FDI đối với sự phát triển của cả nước và vùng kinh tế trọng điểm

Trang 9

PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 - FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CẢ NƯỚC

VÀ VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM

1.1.Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm FDI

Theo Qũy Tiền tệ Quốc Tế (International Monetary fund, IMF), Đầu tư trực

tiếp nước ngoài (Foreign Direst Investment, FDI) là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (derest investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (derest

invesment enterprise) trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải là

10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI

Theo Ủy ban Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD): “Đầu

tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp nhân hoặc một thể nhân nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp FDI hoặc chi nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”

Quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam theo qui định tại

điều 2 chương I, Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi, bổ sung năm 2005 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của luật này”

 Như vậy, FDI thực chất là sự đầu tư của tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước ngoài nhằm mục đích thu được lợi nhuận cao hơn qua việc tổ chức hoạt động kinh doanh tại nước đầu tư

1.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu FDI

Cơ cấu kinh tế bao gồm các cơ cấu cơ bản là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng kinh tế - biểu hiện một phần các cơ cấu trên là cơ cấu lao động, cơ cấu xuất nhập khẩu, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu vốn đầu tư…

Trang 10

Để hiểu khái niệm chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trước hết cần làm rõ khái niệm vốn đầu tư và khái niệm cơ cấu

 Vốn đầu tư là vốn để thực hiện dự án đầu tư bao gồm vốn pháp định và vốn vay (Vốn pháp định của doanh nghiệp có vốn ĐTNN là mức vốn phải có để thành lập doanh nghiệp được ghi trong điều lệ doanh nghiệp –Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi, bổ sung năm 2005)

 Cơ cấu [37, tr.15,16]

- Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng chung tổng thể

- Là một phạm trù triết học, khái niệm cơ cấu được biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ

lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành của hệ thống Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định Cơ cấu là thuộc tính của hệ thống

- Cơ cấu biểu thị cấu trúc của một hệ thống, gồm nhiều bộ phận, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau; cơ cấu biểu hiện mối quan hệ về tỷ trọng giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể hoặc tỷ lệ giữa các bộ phận với nhau, bộ phận này tăng thì bộ phận kia giảm và ngược lại

 Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: là một phạm trù kinh tế, thể hiện tỷ trọng của từng yếu tố vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo các tiêu thức khác nhau trong tổng thể hoặc tỷ lệ của từng yếu tố so với một yếu tố khác được tính bằng phần trăm

Cơ cấu vốn FDI thường thể hiện qua:

- Cơ cấu vốn FDI theo ngành

- Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư

- Cơ cấu vốn FDI theo đối tác đầu tư

- Cơ cấu vốn FDI theo lãnh thổ

 Chuyển dịch cơ cấu vốn FDI là sự thay đổi qua thời gian về tỷ trọng vốn FDI của từng bộ phận (các ngành, các hình thức đầu tư, các đối tác đầu tư và lãnh thổ)

Trang 11

trong tổng số dự án và vốn đầu tư theo một không gian, thời gian nhất định và diễn

ra theo xu hướng nào đó (tăng lên hoặc giảm đi …)

1.1.3 Khái niệm vùng kinh tế trọng điểm [38, tr.21]

Vùng kinh tế trọng điểm là một bộ phận lãnh thổ quốc gia, hội tụ các điều kiện

và yếu tố phát triển thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, giữ vai trò động lực, đầu tàu lôi kéo sự phát triển chung của cả nước

Vùng kinh tế trọng điểm (hay vùng kinh tế động lực) là một trong những loại vùng kinh tế - xã hội, được hình thành và phát triển ở nước ta từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX cho đến nay

Về nguyên tắc, vùng kinh tế trọng điểm phải là vùng hội tụ đầy đủ nhất các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội và đóng vai trò quyết định đối với nền kinh

tế cả nước Lãnh thổ được gọi là vùng kinh tế trọng điểm phải đảm bảo được các yêu cầu chủ yếu sau đây (Ngô Doãn Vịnh, 2003):

- Hội tụ đầy đủ các thế mạnh về vị trí địa lí, về tự nhiên, kinh tế - xã hội, tập trung tiềm lực mạnh về kinh tế và có khả năng hấp dẫn các nhà đầu tư

- Có đóng góp lớn trong cơ cấu GDP của đất nước và tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh cho các vùng khác nếu được đầu tư thỏa đáng

- Có thể có được tích lũy đầu tư để tái sản xuất mở rộng, tạo nguồn thu ngân sách lớn cho Nhà nước

- Có khả năng thu hút các ngành mới về công nghiệp, dịch vụ để từ đó nhân rộng

ra các vùng khác và cả nước

Về lãnh thổ, vùng kinh tế trọng điểm bao gồm phạm vi nhiều tỉnh, thành phố Ranh giới của nó tất nhiên không phải bất biến, mà có sự thay đổi theo thời gian Số lượng cũng như phạm vi của vùng thay đổi theo yêu cầu chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử Vùng kinh tế trọng điểm là đối tượng trọng điểm về đầu tư nhằm tạo ra “cú hích” cho toàn bộ nền kinh tế của cả nước

Trang 12

1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài [44, tr.22, 23]

Các chủ ĐTNN phải đóng góp một số tối thiểu vào vốn pháp định theo qui định của từng quốc gia Luật Đầu tư nước ngoài của Việt Nam qui định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp tối thiểu 30% vốn pháp định của dự án

- Quyền quản lí, điều hành các doanh nghiệp (DN) tuỳ thuộc vào mức độ góp vốn Nếu góp 100% vốn thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ ĐTNN điều hành quản lý

- Lợi nhuận của các chủ đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và được phân chia theo tỉ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi nộp thuế và trả lợi tức cổ phần

- FDI được thực hiện thông qua việc xây dựng DN mới, mua lại toàn bộ hay từng phần của DN đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hay sáp nhập các DN với nhau

- FDI không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức, kinh nghiệm quản lí và tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía nhận đầu tư

- FDI hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của công ty đa quốc gia

1.2.2 Phân loại FDI [8, tr.62,63]

Có hai cách phân loại FDI: theo dạng và theo mục đích

1.2.2.1 Phân loại theo dạng

- Đầu tư mới (Greenfield Investment)

 Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp có sẵn trong nước Đây là phương thức các quốc gia nhận FDI thích nhất vì tạo thêm được công ăn việc làm cho người trong nước, nâng cao sản lượng, chuyển giao kỹ thuật cao cấp, đồng thời tạo được mối liên hệ trao đổi với thị trường thế giới

Trang 13

 Những mặt yếu của đầu tư mới là có thể “bóp nghẹt” sản xuất trong nước vì nhờ khả năng cạnh tranh cao hơn về kỹ thuật và hiệu qủa kinh tế, đồng thời làm khô cạn tài

nguyên trong nước Ngoài ra, một phần lợi nhuận sẽ chảy ngược về công ty mẹ

- Sáp nhập và tiếp thu (Mergers and acquisitions)

 Xảy ra khi tài sản của một doanh nghiệp trong nước được chuyển giao cho một

doanh nghiệp nước ngoài Hình thức chuyển giao có thể là một sự sáp nhập (merge)

giữa một công ty trong nước và một công ty nước ngoài để tạo thành một doanh nghiệp với một tư cách pháp nhân mới DN mới này bắt đầu có tính cách đa quốc gia Trường hợp sáp nhập với công ty nước ngoài, phần FDI được tính là phần tài trợ mà công ty trong nước được nhận từ bộ phận mà công ty nước ngoài rót vào

 Hình thức chuyển giao thứ hai là bán đứt công ty trong nước cho công ty nước ngoài Trong trường hợp này, FDI được tính là những khoản đầu tư từ công ty mẹ qua cho công ty con trong nước

 Theo nhiều ý kiến, FDI qua hình thức sáp nhập và chuyển nhượng không có lợi nhiều cho quốc gia sở tại bằng hình thức đầu tư mới Lý do thứ nhất là thông thường, tiền DN trong nước hưởng khi bán cơ sở được trả bằng cổ phiếu của công ty nước ngoài, do đó không có tác dụng xoay vòng thúc đẩy kinh tế ngay lập tức Thứ hai là toàn bộ lợi nhuận sẽ chuyển về công ty mẹ Quốc gia sở tại chỉ được hưởng phần tạo công ăn việc làm cho dân, một ít nghĩa vụ thuế và tạo

việc làm cho các kỹ nghệ ngoại vi (externalities)

- FDI hàng ngang (horizontal FDI)

Công ty nước ngoài đầu tư trực tiếp cùng ngành nghề

Ví dụ: Công ty Intel đầu tư nhà máy sản xuất chip điện tử giống như ở bên Mỹ

- FDI hàng dọc (Vertical FDI)

Đây là trường hợp công ty nước ngoài đầu tư nhằm cung cấp hàng hoá cho công

ty trong nước (backward vertical FDI) hay bán các sản phẩm công ty trong nước làm ra (forward vertical FDI)

Trang 14

1.2.2.2.Phân loại theo mục đích

- Tìm tài nguyên và lao động rẻ tiền

Đây là dạng FDI tiêu biểu nhất nhằm vào các quốc gia đang phát triển như Trung Đông, Châu Phi, Đông Âu và các nước Đông Nam Á mà Việt Nam là một trong những mục tiêu quan trọng

Tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ tiền là những “mặt hàng” các công ty nước ngoài rất “mê” ở các quốc gia đang phát triển với mức sinh hoạt còn thấp

- Tìm thị trường tiêu thụ

Là những đầu tư trực tiếp nước ngoài nhắm vào việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty chủ quản Điển hình nhất là đầu tư FDI của công ty Coca – Cola và Pepsi – Cola vào Trung Quốc, Ấn Độ hay Việt Nam

- Tìm hiệu qủa kinh doanh

Đây là một dạng FDI thường thấy ở các quốc gia đã phát triển, chẳng hạn như cộng đồng các quốc gia Châu Âu Lúc này, nguồn đầu tư FDI nhằm nâng cao hiệu qủa kinh tế và trao đổi khoa học kỹ thuật lẫn nhau

1.2.3 Các hình thức đầu tư [30, tr.10 -13; 41 – 53]

FDI được thực hiện chủ yếu qua 3 hình thức cơ bản:

- Hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Doanh nghiệp liên doanh

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Tuỳ theo điều kiện từng quốc gia, các hình thức đầu tư trên được áp dụng ở mức

độ khác nhau

1.2.3.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation contract)

Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thỏa thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất – kinh doanh ở nước nhận đầu tư, trên cơ sở qui định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm

và phân chia kết qủa kinh doanh cho các bên tham gia

Trang 15

Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh ký Thời hạn có hiệu lực của hợp đồng do các bên thỏa thuận và được cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y

Trong các loại hình FDI, hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, không đòi hỏi vốn lớn, các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời hạn hợp đồng thường ngắn Các nhà ĐTNN có ít tiềm lực thường thích loại này

1.2.3.2 Doanh nghiệp liên doanh (Join Venture Company)

Do các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỉ lệ góp vốn Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo luật pháp nước nhận đầu tư Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia, với

DN liên doanh trong phạm vi phần vốn của mình trong vốn pháp định Tỷ lệ góp vốn của bên nước ngoài hay của các bên nước ngoài do các bên liên doanh thỏa thuận (Theo Luật ĐTNN của Việt Nam, vốn góp của bên nước ngoài không thấp hơn 30% vốn pháp định của DN liên doanh và trong quá trình hoạt động không được giảm vốn pháp định Đối với các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng tại các vùng kinh tế - xã hội khó khăn, các dự án đầu tư vào miền núi, vùng sâu, vùng xa, các dự

án trồng rừng tỷ lệ này có thể thấp hơn 20% nhưng phải được cơ quan cấp giấy phép đầu tư chấp thuận)

Doanh nghiệp liên doanh là loại hình được nước chủ nhà ưa chuộng vì có điều kiện để học tập kinh nghiệm quản lí, đào tạo lao động, nhanh chóng có chỗ đứng trên thị trường thế giới Tuy nhiên áp dụng hình thức này đòi hỏi DN của nước chủ nhà phải có khả năng góp vốn, có đủ trình độ tham gia quản lý DN với người nước ngoài thì nước chủ nhà mới đạt được hiệu qủa mong muốn

1.2.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài

Là DN thuộc sở hữu của nhà ĐTNN (Tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài)

do nhà ĐTNN thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết qủa sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo

Trang 16

hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo luật pháp của

nước chủ nhà

Đặc điểm chủ yếu của loại hình này là:

- Chủ ĐTNN bỏ ra toàn bộ vốn đầu tư đủ để duy trì sản xuất kinh doanh tại Việt Nam (kể cả phần xây dựng cơ sở vật chất ban đầu)

- Chủ đầu tư thuê đất của chính phủ Việt Nam

- Chủ đầu tư thuê và trả lương cho các chuyên gia Việt Nam và nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài lúc đầu không được người nước ngoài ưa thích vì họ muốn chia sẻ rủi ro với nước chủ nhà, còn nước chủ nhà cũng không thích vì muốn chia sẻ lợi ích, học tập kinh nghiệm quản lý được hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, hình thức này ngày càng được các chủ đầu tư ưa thích vì được tự mình quản lý và hưởng lợi nhuận do kết qủa đầu tư tạo ra (Chủ đầu tư phải làm tròn nghĩa vụ tài chính với nước chủ nhà) còn nước chủ nhà không phải lúc nào cũng có thể tham gia góp vốn thành lập DN liên doanh Vì vậy đối với những dự án đầu tư vốn lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu, độ mạo hiểm cao và không đòi hỏi tham gia quản lý sát sao quá trình vận hành các kết qủa đầu tư (như dự án dầu khí, các dự

án xây dựng hạ tầng cơ sở kỹ thuật) thì thường buộc phải để nhà ĐTNN đầu tư 100%

1.2.3.4 Các hình thức đầu tư khác: hợp đồng xây dựng, khai thác, chuyển giao BOT, BTO, BT

Ngoài ba hình thức trên, các nước chủ nhà còn áp dụng các hình thức khác như: Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (B.O.T), xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (B.T.O) và xây dựng – chuyển giao (BT)

Hình thức B.O.T (Built – Operate – Transfer): các chủ đầu tư chịu trách nhiệm

xây dựng, kinh doanh công trình trong một thời gian đủ để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý Sau khi dự án kết thúc, toàn bộ công trình sẽ được chuyển giao cho nước chủ nhà mà không thu bất kỳ một khoản tiền nào

Hình thức B.T.O (Built– Transfer– Operate): Sau khi xây dựng xong, nhà đầu

tư chuyển giao cho nước chủ nhà Chính phủ nước chủ nhà dành cho nhà đầu tư

Trang 17

quyền kinh doanh công trình đó một thời gian nhất định để thu hồi đủ vốn đầu tư và

có lợi nhuận hợp lý

Hình thức B.T (Built– Transfer): sau khi xây dựng xong, chủ đầu tư chuyển

giao công trình đó cho nước chủ nhà, nước chủ nhà sẽ tạo điều kiện cho nhà ĐTNN thực hiện dự án khác để thu hồi đủ vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lí

1.2.4 Vai trò của FDI

- Góp phần tăng trưởng kinh tế

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Giải quyết việc làm cho người lao động

- Chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lí tiên tiến

- Mở rộng thị trường, giao lưu với quốc tế, tăng kim ngạch xuất khẩu

- Đóng góp vào ngân sách nhà nước…

1.3 Bối cảnh quốc tế và trong nước đối với việc thu hút FDI

1.3.1 Bối cảnh quốc tế

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ đã phá vỡ hàng rào ngăn cách địa giới của các quốc gia Sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia cùng với sự phân công lao động quốc tế và sự ảnh hưởng của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế như WTO, IMF, WB …đã tác động đến sự điều chỉnh chính sách của nhiều quốc gia theo chuẩn mực quốc tế

Từ những năm 1990, xu hướng mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế đã chi phối chính sách của mọi quốc gia Hiện nay, hội nhập và liên kết kinh tế là một xu hướng tất yếu mang tính thời đại

Phạm vi hợp tác trong các hiệp định thương mại tự do ngày càng được mở rộng, bao gồm cả những vấn đề tự do hoá đầu tư, hợp tác, chuyển giao công nghệ Những hình thức thương mại mới như thương mại điện tử sẽ trở nên phổ biến, làm thay đổi những quan niệm truyền thống Thị trường tài chính ngày càng được quốc tế hoá, tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới được dự báo sẽ tăng lên

do ảnh hưởng của sự chuyển dịch các dòng vốn trên thế giới

Trang 18

Xét trên phương diện đầu tư, luân chuyển vốn cho thấy nhu cầu mở rộng phạm

vi hoạt động và mở rộng khu vực đầu tư của các nhà đầu tư ở các nước phát triển đang là mối quan tâm của nhiều quốc gia

Nếu đầu thế kỷ XX, trên 70% vốn đầu tư tư bản đổ vào các nước chậm và đang phát triển để khai thác tài nguyên của các nước này với tư cách là thuộc địa, thì sau chiến tranh thế giới thứ hai, khu vực Tây Âu là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nhất Thời gian này, Tây Âu thu hút đến 158 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó ½ là vốn của

Mỹ nhằm khôi phục lại Châu Âu bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh thế giới Ngày nay, các nước công nghiệp phát triển vẫn là vùng thu hút vốn đầu tư nhiều nhất: năm 1999, các nước công nghiệp phát triển chiếm 76,5% tổng số vốn đầu tư FDI của thế giới, trong khi đó các nước đang phát triển chiếm ¾ dân số nhưng chỉ chiếm 23,5% vốn đầu tư FDI Trong những năm gần đây và dự báo của những năm tới, tỷ trọng FDI của các nước công nghiệp phát triển sẽ giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao so với các nước đang phát triển

Bảng 1.1: Tình hình và dự báo vốn đầu tư FDI vào

các nhóm nước trên thế giới

Tổng vốn FDI Đầu tư vào

các nước phát triển

Đầu tư vào các nước đang phát triển

Năm Tổng giá trị

(Tỷ USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (Tỷ USD)

Tỷ Trọng (%)

Giá trị (Tỷ USD)

Tỷ Trọng (%)

Nguồn: UNCTAD – World Investment Prospests to 2010 [40, tr.28]

Theo Tổ chức Thương mại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD), đầu tư nước ngoài giảm trong 3 năm đầu của thập kỷ mới nhưng đã tăng mạnh trở lại trong những năm gần đây (năm 2005 tăng 19,1% so với năm 2004; năm 2006 tăng 28%

so với năm 2005) Mức vốn FDI trung bình hằng năm trên thế giới tăng từ 93,8 tỷ USD những năm 80 tăng lên 388,3 tỷ USD trong những năm 90 và tăng lên 541,5 tỷ

Trang 19

USD trong nửa cuối những năm 90 Hiện nay, vốn FDI trên thế giới đã tăng lên hàng ngàn tỷ USD Dự kiến đến năm 2010 là 1541 tỷ USD Cũng theo UNCTAD,

từ nay đến 2020, nguồn vốn đầu tư đang có xu hướng đổ vào các nước đang phát triển nhất là những nền kinh tế mới nổi, có tốc độ tăng trưởng cao

Thị trường mới nổi là thị trường của các nước đang phát triển, tiến hành công nghiệp hoá và mở cửa kinh tế để hội nhập với khu vực và thế giới Ở châu Á, nước

có thị trường mới nổi là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…; Châu Mỹ Latinh: Braxin, Achentina, Mêhicô…; Châu Âu: Nga, Thỗ Nhĩ Kỳ…Năm 2004, vốn FDI vào thị trường mới nổi là 146,8 tỷ USD; năm 2005 là 185,7 tỷ USD Những nước mới nổi nhận được nhiều FDI nhất là Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam

Giống như UNCTAD, báo cáo của Viện Nghiên cứu Tài chính Quốc tế (IFF) năm 2007 cũng khẳng định vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ gia tăng vào những nền kinh tế đang nổi Trong những năm tới, IFF cũng đưa ra những dự báo khả quan rằng nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp tục gia tăng mạnh mẽ trong những năm tiếp theo cùng với sự phát triển của thị trường vốn, mặc dù nền kinh tế toàn cầu đang có xu hướng tăng trưởng chậm lại

Năm 2008, kinh tế thế giới suy giảm mạnh, tốc độ tăng trưởng thấp Theo IMF, tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới chỉ đạt 3,7% thấp hơn 1,3% so với 5% năm 2007 và thấp hơn 1,4% so với mức tăng 5,1% năm 2006

Năm 2009, các cơ quan nghiên cứu kinh tế trên toàn thế giới đều thống nhất nhận định: kinh tế thế giới suy giảm nghiêm trọng, bức tranh kinh tế thế giới tiếp tục ảm đạm IMF đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2009 từ 3,9% trong

dự báo hồi tháng 7/2008 xuống còn 2,2% (con số của WB là 0,9%) mức thấp nhất trong bảy năm qua Cụ thể là tại các nước đang phát triển, con số này sẽ giảm xuống còn 5,0% và ở mức tăng trưởng âm tại các nước phát triển (kinh tế Mỹ giảm sâu:

âm 0,7%; Nhật Bản và EU âm khoảng 0,5%) Việc suy thoái kinh tế diễn ra mạnh

mẽ ở các nước có nền kinh tế phát triển, một số nước có nền kinh tế phát triển sẽ tăng trưởng âm lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Cơ quan quốc gia

Trang 20

về nghiên cứu kinh tế (NBER) của Mỹ đã nhận định: nền kinh tế Mỹ bắt đầu suy thoái từ tháng 12/2007 Năm 2009, nền kinh tế Mỹ - nền kinh tế lớn nhất thế giới tăng trưởng âm 0,7% thay vì mức tăng 0,1% đưa ra hồi tháng 10/2008

Sự suy giảm của nền kinh tế thế giới đã tác động đến nền kinh tế các nước qua các kênh thương mại, đầu tư nước ngoài UNCTAD chỉ rõ: khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới khiến cho “làn sóng sáp nhập công ty” chững lại Giá trị sáp nhập và mua lại xuyên biên giới (M&A) giảm đáng kể, khoảng 30% đạt hơn 1.000 tỷ USD

so với 1.630 tỷ USD năm 2007 Điều này đã dẫn đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới năm 2008 suy giảm, đạt khoảng 1.600 tỷ USD, giảm 10% so với mức 1.833 tỷ USD năm 2007 Tăng trưởng kinh tế 2009 giảm mạnh ở các nước phát triển cũng là cơ hội cho các nước đang phát triển thu hút FDI của thế giới trong năm này, trong đó có Việt Nam

1.3.2 Bối cảnh trong nước

Toàn cầu hoá là một xu thế lớn, một mặt cho phép nước ta tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài (đặc biệt là về vốn, công nghệ và thị trường), mặt khác đặc nền kinh tế nước ta vào thế bị cạnh tranh quyết liệt bởi các nền kinh tế phát triển hơn trong khu vực và trên thế giới

Việt Nam bắt đầu tham gia quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực từ đầu năm 1987 theo tinh thần “Nghị quyết đổi mới” của Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam (12 – 1986)

Với chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ với thế giới, Việt Nam đã

có những quan hệ hợp tác kinh tế với các khối, các trung tâm kinh tế mạnh như EU, Nhật Bản, quan hệ song phương với các nước Châu Á Các nước đã từng là bạn bè trước đây; với các tổ chức phi chính phủ vốn đang rất có uy tín trong giai đoạn toàn cầu hoá (Câu lạc bộ Paris, diễn đàn Davos, Vancouver); với các tổ chức chính trị - kinh tế - văn hoá – xã hội lớn của Liên Hợp Quốc (UNDP, UNESSCO, UNICEF, UNCTAD, FAO…) Đến nay, Việt Nam chính thức là thành viên của ASEAN, APEC, ASEM Và WTO Đó là điều kiện thuận lợi để mở rộng hợp tác quốc tế, xúc tiến thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trang 21

Đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa (CNH, HĐH), xây dựng nền kinh tế tự chủ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Quá trình này đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, không những từ trong nước mà còn từ nước ngoài Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, trong đó có đề ra nhiệm

vụ “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn

vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu qủa nguồn FDI”.[19,tr.204, 205]

Chủ truơng hợp tác với nước ngoài nhằm tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lí, thị trường xuất khẩu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đã được xác định và cụ thể hoá trong các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới Văn bản pháp qui đầu tiên qui định về đầu tư nước ngoài là Nghị định số 115/CP ngày 14/4/1977 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Sau đó được nâng cấp lên thành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Qua hai lần sửa đổi và bổ sung năm 1990 và năm 1992, đến năm 1996 Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài mới tại Việt Nam, sau đó lại được sửa đổi bổ sung năm 2000 Năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư mới áp dụng chung cho cả đầu tư trong nước và nước ngoài Sự thay đổi này một mặt thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với qui luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời, khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc

tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập nâng cao khả năng thu hút và sử dụng có hiệu qủa vốn đầu tư nước ngoài Sau năm lần sửa đổi, bổ sung Luật ĐTNN của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo luật thông thoáng, hấp dẫn, về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư

Trang 22

thuận lợi ở Việt Nam mà không có sự khác biệt đáng kể so với các nước kinh tế thị trường truyền thống

Bằng chứng là hiện nay đã có 82 nước và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 80 tỷ USD Trong đó, các nước Châu Á chiếm 69,1%, các nước thuộc EU chiếm 16,2%; các nước Châu Mỹ chiếm 11,8% (riêng Hoa Kỳ chiếm 4%)

Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu

tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (tính cả vốn tăng thêm) Trừ các dự án

đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD

Năm 2008, mặc dù nền kinh tế thế giới bị suy giảm nhưng dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam không giảm mà lại gia tăng đột biến lên đến 71,7 tỷ USD, tăng hơn 3 lần so với năm 2007 Điều đó đã khẳng định vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao

Năm 2009, nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục suy giảm mạnh nhưng Việt Nam vẫn được đánh giá là điểm đầu tư hấp dẫn của khu vực do Việt nam có nền chính trị - xã hội ổn định, tốc tộ tăng trưởng kinh tế cao trong các năm qua (ngày 20/04/2009, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam – bà Victoria Kwakwa đã lên tiếng công nhận Việt Nam có triển vọng phát triển kinh tế vững chắc và là điểm đầu tư đầu triển vọng), các thị trường đang phát triển nhanh và đồng bộ, cơ sở hạ tầng kinh

tế - xã hội được xây dựng ngày càng tốt hơn để đáp ứng nhu cầu phát triển.Sáu tháng đầu năm 2009, Việt Nam đã thu hút được 306 dự án đầu tư mới và tăng vốn cho 68 dự án với tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 8.871,05 triệu USD

Hơn hai mươi năm qua, FDI đã giữ vai trò trọng yếu trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cải thiện cán cân thanh toán, góp phần tăng cường năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thông thị trường sản phẩm,

Trang 23

gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận không nhỏ lao động trong nước Vì thế, trong tương lai Việt Nam cần có chính sách thu hút và sử dụng hợp lí hơn nguồn vốn này để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước nhà để đến năm

2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

1.4 FDI đối với sự phát triển kinh tế của cả nước và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

1.4.1 FDI đối với sự phát triển kinh tế của cả nước [6, tr.15 – 19]

Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất

Trang 24

Bảng 1.2: Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực FDI/ Tổng vốn

đầu tư phát triển của cả nước

Năm Tổng vốn đầu tư

(Tỷ đồng)

Vốn đầu tư từ khu vực FDI (Tỷ đồng)

Tỷ trọng vốn đầu tư khu vực FDI/ Tổng vốn đầu tư

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2007 [48]

Vốn FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước Từ năm

1991-2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong đó: 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng 4,3%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%) Nhờ vậy, đến năm 2000 tổng sản phẩm trong nước tăng gấp hơn 2 lần năm 1990; 5 năm 2001-2005: tốc độ tăng GDP đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ tăng 7%); Năm 2006 đạt 8,17% (nông - lâm – ngư nghiệp tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,37%, dịch vụ tăng 8,29%) và năm 2007 đạt 8,48% (nông - lâm – ngư nghiệp tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 8,6%)

Trang 25

- FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp

Trong 20 năm qua FDI đóng một vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và cho ngành công nghiệp nói riêng, trong đó từng bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của quốc gia, góp phần phát triển các ngành công nghiệp

và tạo công ăn việc làm cho người lao động Nhiều công trình lớn đã hoàn thành đưa vào sản xuất, phát huy hiệu quả đầu tư, nhiều công trình trọng điểm làm cơ sở cho tăng trưởng giai đoạn sau đó được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các công trình điện, dầu khí, công nghiệp nặng, công nghiệp phục vụ xuất khẩu

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn FDI cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH, tăng tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn FDI trong ngành công nghiệp qua các năm (từ 23,79% vào năm 1991 lên 43,7% năm

2004 và 2005, 44,2% năm 2006)

FDI đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may… Hiện FDI đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp (dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa), 60% cán thép, 33% hàng điện tử, 76% dụng cụ y tế chính xác, 49% sản phẩm da giày, 55% sản lượng sợi, 25% hàng may mặc

FDI đã góp phần hình thành và phát triển trong cả nước hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương đất đai kém màu mỡ

Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn FDI trong các năm qua tăng liên tục Năm 1996 chiếm 26,5% đến năm 2000 đạt 41,3% Trong 5 năm từ

2001 - 2005 chiếm trung bình 42,7% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước Cụ thể tỷ trọng trên tăng từ 41,5% vào năm 2001 lên 43,7% vào năm 2005; năm 2006

Trang 26

chiếm 44.2% so với cả nước Đặc biệt, một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc ) tỷ lệ này đạt đến 65 -70% giá trị sản xuất công nghiệp của địa bàn

Bảng 1.3: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực FDI/ Giá trị

sản xuất công nghiệp cả nước

Năm Giá trị sản xuất

công nghiệp

cả nước (Tỷ đồng)

Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực vốn FDI (Tỷ đồng)

Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực FDI/ Giá trị sản xuất công nghiệp cả nước

Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2007 [48]

- FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ

FDI góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy Nhất là sau khi Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech )

Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực FDI cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực Hầu hết các

Trang 27

doanh nghiệp có vốn FDI áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ

Trong nông – lâm - ngư nghiệp, FDI đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới

- Tác động lan tỏa của FDI đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế

Hiệu quả hoạt động của DN FDI được nâng cao qua số lượng các doanh nghiệp tăng vốn đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất Đồng thời, có tác động lan tỏa đến các thành phần khác của nền kinh tế thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn FDI với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp có vốn FDI Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các doanh nghiệp trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành Mặt khác, các DN FDI cũng tạo động lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa

- FDI đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và các cân đối vĩ mô

Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn FDI vào ngân sách ngày càng tăng Thời kỳ 1996-

2000, không kể thu từ dầu thô, các doanh nghiệp FDI đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm Riêng 2 năm 2006

và 2007 khu vực kinh tế có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt trên 3 tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996 - 2000 và bằng 83% thời kỳ 2001 - 2005

FDI tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc và nguyên, vật liệu

- FDI góp phần giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Thời kỳ 1996 - 2000, xuất khẩu của khu vực FDI đạt 10,6 tỷ

Trang 28

USD (không kể dầu thô), tăng hơn 8 lần so với 5 năm trước, chiếm 23% kim ngạch xuất khẩu cả nước; năm 2000 chiếm 25%, năm 2003 chiếm 31%; tính cả dầu thô thì

tỷ trọng này đạt khoảng 54% năm 2004 và chiếm trên 55% trong các năm 2005,

2006 và 2007

FDI chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc…Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới

Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, FDI đã tạo ra nhiều khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế 4, 5 sao cũng như các khu du lịch, nghỉ dưỡng đáp ứng nhu cầu khách du lịch quốc tế, góp phần gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ

Bên cạnh đó, FDI còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng

có trình độ cao, có tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao và có tác phong công nghiệp hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức, kinh nghiệm quản lý tiên tiến

Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI tại Việt Nam cũng đã thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường

Trang 29

trong nước và quốc tế Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có vốn FDI đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các

vị trí quản lý doanh nghiệp cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại

- FDI góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới

FDI đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và

đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư Đến nay, Việt Nam là thành viên chính thức của ASEAN, APEC, ASEM và WTO Nước ta cũng đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, trong đó có Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ (BTA), Hiệp định tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện

 Về mặt môi trường

Theo kết quả điều tra năm 2002 (của Viện Quản lý kinh tế Trung ương), đa số các doanh nghiệp có vốn FDI tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả môi trường tốt hơn so với số đông các doanh nghiệp trong nước (có 77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam) Đáng chú ý là 60% doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực chế biến thực phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước thải đúng tiêu chuẩn (so sánh với tỷ lệ 10% của các doanh nghiệp trong nước)

Trang 30

dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được đầu tư nước ngoài

Các nhà ĐTNN trong khi lựa chọn địa điểm để triển khai dự án đầu tư thường tập trung vào những nơi có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thuận lợi, do đó các thành phố lớn, những địa phương có cảng biển, cảng hàng không, các tỉnh đồng bằng là nơi tập trung nhiều dự án FDI nhất Trong khi đó, các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, những địa phương cần được đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, mặc

dù chính phủ và chính quyền địa phương có những ưu đãi cao hơn nhưng không được các nhà đầu tư quan tâm

Tình trạng đó đã dẫn đến một nghịch lý, những địa phương có trình độ phát triển cao thì thu hút được FDI nhiều, do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt quá tốc độ tăng trưởng trung bình của cả nước Trong khi đó, những vùng có trình độ kém phát triển thì có ít dự án FDI, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp

Đối với các ngành nghề cũng xảy ra tình trạng tương tự, các nhà ĐTNN chỉ đầu

tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các nhà ĐTNN

- Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chưa được giải quyết kịp thời

FDI ở nước ta đã thu hút được hàng nghìn doanh nghiệp của các nước và vùng lãnh thổ khắp thế giới Điều đó cho thấy tính hấp dẫn của môi trường đầu tư ở Việt Nam, đồng thời cũng thể hiện tính đa dạng của các nền văn hóa trong quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong các doanh nghiệp FDI

Các tranh chấp lao động là khó tránh, đặc biệt trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động, hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh Nhìn chung người chủ thường trả công cho người lao động thấp hơn cái

mà họ đáng được hưởng, không thỏa đáng với nhu cầu của người lao động Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến tình trạng đình công bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp

Trang 31

- Sự yếu kém trong chuyển giao công nghệ

Nhìn chung công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp FDI thường cao hơn mặt bằng công nghệ cùng ngành và cùng loại sản phẩm tại nước ta

Tuy vậy, một số trường hợp các nhà ĐTNN đã lợi dụng sơ hở của pháp luật Việt Nam, cũng như sự yếu kém trong kiểm tra giám sát tại các cửa khẩu nên đã nhập vào Việt Nam một số máy móc thiết bị có công nghệ lạc hậu thậm chí là những phế thải của các nước khác Tính phổ biến của việc nhập máy móc thiết bị là giá cả đươc ghi trong hóa đơn thường cao hơn giá trung bình của thị trường thế giới Nhờ vậy một số nhà ĐTNN có thể lợi dụng để khai tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh với Việt Nam

Việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam được thực hiện thông qua các hợp đồng và được cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ chuẩn

y Tuy vậy, đây là một hoạt động cực kỳ khó khăn đối với các nước tiếp nhận đầu tư nói chung, kể cả Việt Nam, bởi khó có thể đánh giá chính xác giá trị thực của từng loại công nghệ trong những ngành khác nhau, đặc biệt trong những ngành công nghệ cao Do vậy, thường phải thông qua thương lượng theo hình thức mặc cả đến khi hai bên có thể chấp nhận được, thì ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ

- Ô nhiễm môi trường

Mặc dù các doanh nghiệp FDI đã có lắp đặt thiết bị xử lí nước thải đúng tiêu chuẩn nhưng việc vận hành thì chưa liên tục, hệ thống này chỉ được sử dụng khi có đoàn kiểm tra đến do chi phí cho việc vận hành còn tốn kém Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc gây ô nhiễm môi trường từ các doanh nghiệp FDI trong thời gian qua

1.4.2 FDI đối với sự phát triển kinh tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Trong những năm qua, VKTTĐPN có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nền kinh

tế phát triển năng động vào bậc nhất trong cả nước Một trong những nguyên nhân

cơ bản dẫn đến thành công này là do vùng đã tạo ra được môi trường thuận lợi cho việc huy động các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước Trong thời gian qua, vùng

Trang 32

đã thu hút được trên 40 triệu USD Nguồn vốn này đã có những tác động nhất định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng

Mặt tích cực

 Đối với tăng trưởng kinh tế

Trong 5 năm (1996 – 2000), tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt 179,8 nghìn

tỷ đồng, chiếm 40,3% tổng vốn đầu tư xã hội của cả nước Trong đó, vốn đầu tư khu vực FDI của vùng cũng đã lên tới 70,3 nghìn tỉ đồng chiếm 39,2% tổng vốn đầu

tư xã hội toàn vùng và chiếm 56,6% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả nước Thời kỳ 2000 – 2005, tổng vốn đầu tư của vùng đã tăng lên với tốc độ nhanh chóng Năm 2000, tổng số vốn đầu tư của vùng là 38.702,3 tỉ đồng (chiếm 25,6% vốn đầu tư của cả nước), đến năm 2005 đã đạt 111.022 tỉ đồng (tăng gấp 2,9 lần), chiếm 32,4% cả nước Đóng góp vốn đầu tư của FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội

có sự biến chuyển biến qua các năm

Bảng 1.4: Vốn đầu tư phát triển khu vực FDI của VKTTĐPN

Trang 33

Bảng 1.5: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm

(Tỉ đồng)

Tốc độ tăng trưởng GDP của vùng (%)

GDP khu vực FDI (Tỉ đồng)

Tốc độ tăng trưởng GDP khu vực FDI (%)

Nguồn: Tính toán của tác giả

Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực FDI

13.11 12.06 10.8

10.29

10.8 12.07

Tốc độ tăng trưởng GDP khu vực FDI (%)

%

Năm

Trang 34

FDI vẫn cao hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP của vùng, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng

Vốn FDI đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng Tốc độ tăng trưởng GDP của vùng tăng bình quân giai đoạn 2000 – 2007 là 10,83% (Tốc độ tăng trưởng GDP khu vực FDI tăng bình quân 10,10%) Trong đó khu vực nông – lâm - ngư nghiệp tăng 6,53%; công nghiệp xây dựng tăng 11,32%; dịch vụ tăng11,43%

Bảng 1.6: Tỉ trọng GDP của khu vực FDI trong GDP chung của vùng

(Tỉ đồng)

GDP khu vực FDI (Tỉ đồng)

Tỉ trọng GDP khu vực FDI/ GDP vùng (%)

Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh, thành của VKTTĐPN năm 2000 – 2007

Năm 2000, GDP của vùng đạt 156.273 tỉ đồng, chiếm 35,4% GDP của cả nước Năm 2005, đạt 356.036 tỉ đồng (trong đó đóng góp từ khu vực FDI là 133.767 tỉ đồng) tăng gấp 1.9 lần năm 2000 (chiếm 42,4% so với cả nước) Năm 2007, đạt 473.419 tỉ đồng (đóng góp từ khu vực FDI 166.476 tỉ đồng) chiếm 41,4% so với cả nước Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có mức đóng góp khá quan trọng cho tổng giá trị GDP của vùng Tỷ trọng đóng góp bình quân luôn trên 30% trong GDP của vùng

 Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Nhìn chung, từ năm 2000 – 2007 cơ cấu kinh tế của vùng có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỉ trọng trong nông nghiệp, tăng dần tỉ trọng trong công nghiệp và dịch vụ Giai đoạn 2000 – 2005, nông nghiệp giảm 2,26%, công nghiệp tăng 4,75%,

Trang 35

dịch vụ giảm 2,49% Giai đoạn 2005 – 2007, nông nghiệp và công nghiệp giảm, dịch vụ tăng Cụ thể: so với năm 2005, năm 2007 ngành nông nghiệp giảm 0,18%, công nghiệp giảm 2,57%, dịch vụ tăng 2,75% Sự chuyển dịch này diễn ra đúng hướng với sự nghiệp CNH – HĐH của Việt Nam nói chung và của vùng nói riêng

Có được sự chuyển dịch cơ cấu trên, bên cạnh nguồn vốn của nhà nước và tư nhân,

sự đóng góp của nguồn vốn đầu tư nước ngoài cũng không kém phần quan trọng

Bảng 1.7: Cơ cấu GDP theo ngành của vùng qua các năm

Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh, thành của VKTTĐPN năm 2000 – 2007

Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế có xu hướng giảm trong khu vực kinh tế Nhà nước, tăng trong khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài

Năm 2005 so với năm 2000, khu vực kinh tế Nhà Nước giảm 3,16%, khu vực tư nhân tăng 0,9% nhưng thấp hơn khu vực có vốn FDI, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 3,08% Năm 2006, khu vực có vốn FDI đóng góp vào GDP chiếm 39,58% chiếm vị trí số 1 trong cơ cấu thành phần kinh tế Năm 2007, khu vực này đạt 35,32% giảm 4,26% so với năm 2006 và đứng hàng thứ 2 sau thành phần tư nhân do tốc độ giải ngân còn chậm so với vốn đầu tư trong năm Tuy nhiên, đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn cao hơn so với khu vực kinh tế Nhà nước 8,57% (năm 2007)

Trang 36

Bảng 1.8: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế 2000 – 2007 của vùng

Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh, thành của VKTTĐPN năm 2000 – 2007

Hình 1.2: Biểu đồ cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế

Năm 2001

Trang 37

FDI đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp nói riêng Trong những năm qua, FDI đã từng bước trở thành nguồn đầu tư quan trọng của vùng, góp phần phát triển và nâng cao giá trị sản xuất ngành công nghiệp của vùng

Bảng 1.9: Tỉ trọng Giá trị SXCN của khu vực FDI trong

giá trị SXCN chung của vùng 2000 - 2007

Năm

Giá trị SXCN của vùng (Tỉ đồng)

Giá trị SXCN khu vực FDI (Tỉ đồng)

Tỉ trọng Giá trị SXCN khu vực FDI/ Giá trị SXCN vùng (%)

Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh, thành của Vùng năm2000 – 2007

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp trung bình của vùng giai đoạn 2000 – 2007 đạt 11,32% Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI đóng góp một phần đáng kể Đóng góp của khu vực này bình quân giai đoạn 2000 – 2007 là 55,88% giá trị sản xuất công nghiệp của vùng Cụ thể tỷ trọng trên tăng từ 51,8% năm 2000 lên 58,0% năm 2005 và tăng lên 58,5% năm 2006; năm 2007, tuy có giảm xuống, chiếm 57,5% nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao (trên 50%) trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của vùng, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp của vùng nói riêng và cả nước nói chung

SXCN: Sản xuất công nghiệp

Trang 38

Giá trị sản xuất công nghiệp của vùng và khu vực FDI tăng liên tục Năm 2005 giá trị sản xuất công nghiệp của vùng đạt 601.116 tỉ đồng tăng gấp 3,42 lần so với năm 2000; Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI năm 2005 cũng tăng gấp 3,82 lần so với năm 2000 Năm 2006 giá trị sản xuất công nghiệp của vùng đạt 741.531 và năm 2007 đạt 873.431 tăng lần lượt gấp 1.23 lần; 1.45 lần so với năm

2005 Trong 2 năm này giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI cũng tăng tương ứng là 1,25; 1,44 lần so với năm 2005

 Đối với xuất khẩu

Bảng 1.10: Giá trị kim ngạch xuất khẩu của vùng giai đoạn 1996 – 2007

Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh, thành của VKTTĐPN năm 1996 – 2007

Trong những năm qua, vùng có tốc độ tăng trưởng kinh kế cao, giá trị xuất khẩu

và giá trị xuất khẩu khu vực FDI của vùng nhìn chung là tăng theo thời gian Năm

2000 giá trị xuất khẩu của vùng đạt 13.300.567 ngàn USD tăng gấp 2,29 lần so với giá trị xuất khẩu năm 1996, năm 2005 tăng gấp 2,25 lần so với năm 2001 và năm

Trang 39

2007 tăng gấp 1,4 lần so với năm 2005 Trong khi đó đóng góp của khu vực FDI trong xuất khẩu cũng tăng lên đáng kể Năm 2000 tăng gấp 5,34 lần so với năm

1996, năm 2005 tăng gấp 2,25 lần so với năm 2001 và năm 2007 tăng gấp 1,7 lần so với năm 2005 Giá trị xuất khẩu trong khu vực FDI tăng bằng hoặc hơn giá trị xuất khẩu của vùng trong cùng giai đoạn Điều đó, chứng tỏ FDI cũng đóng góp một phần không nhỏ vào giá trị xuất khẩu chung của vùng Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI trong kim ngạch xuất khẩu của vùng tăng từ 10% năm 1996 lên 23,31% năm 2000, 29,72% năm 2005 và 36,26% năm 2007

 Thúc đẩy chuyển giao công nghệ

FDI góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào VKTTĐPN thông qua việc đầu tư phát triển các ngành kinh tế như viễn thông, thăm dò, khai thác dầu khí, điện tử, tin học…đặc biệt là trong thời gian gần đây Thành phố Hồ Chí Minh

đã thu hút được hàng loạt các dự án lớn trong đó có tập đoàn Intel (Hoa Kỳ) đầu tư lắp ráp và kiểm định chip bán dẫn tại khu công nghệ cao

Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực đầu tư nước ngoài cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến trong nước và tương đương với các nước trong khu vực Trong điều kiện hiện nay, vai trò quan trọng của vùng là phải chuyển trọng tâm FDI vào những ngành công nghệ cao thông qua các khu công nghệ cao và trung tâm phần mềm để thu hút vốn đầu tư, công nghệ, lao động kỹ thuật từ nước ngoài

 Đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước

Cùng với sự phát triển các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại địa bàn VKTTĐPN, mức đóng góp của khu vực kinh tế FDI vào ngân sách nhà nước ngày càng tăng Trong các năm từ 2000 – 2005, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt 226.785 tỉ đồng, riêng 2 năm 2006 và 2007 đạt 151.076 tỉ đồng Nguồn vốn đáng kể này đã có tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế trong vùng

Trang 40

Bảng 1.11: Thu ngân sách từ khu vực FDI của VKTTĐPN

 Đối với lao động, việc làm

VKTTĐPN là địa bàn phát triển năng động nên có sức hút rất lớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Tính đến cuối năm 1995, toàn vùng đã có 764 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với gần 9,35 tỉ USD, chiếm 60% tổng số vốn đầu tư của vùng và 52,2% tổng vốn đăng ký của cả nước (không kể 21 dự án về dầu khí với 1,13 tỉ USD, vốn đăng ký) Trong đó TP Hồ Chí Minh có 506 dự án với trên 5,8 tỉ USD, Đồng Nai có 145 dự án với 2,38 tỉ USD, Bà Rịa Vũng Tàu có 46 dự án với

761 triệu USD (không tính dầu khí), Bình Dương có 48 dự án với 319 triệu USD, Bình Phước có 10 dự án với số vốn 100 triệu USD, Tây Ninh có 9 dự án với 157,8 triệu USD, Long An có 5 dự án

Thời kỳ 2000 – 2005, toàn vùng đã có 3021 dự án đầu tư trực tiếp từ nước ngoài với số vốn đăng ký lên tới 24.120 triệu USD Chính nguồn vốn này đã có tác động nhất định trong việc mở rộng thị trường, tạo thêm nhiều công ăn việc làm và nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động

Ngày đăng: 22/03/2013, 14:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3: Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực FDI/ Giá trị   sản xuất công nghiệp cả nước - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 1.3 Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực FDI/ Giá trị sản xuất công nghiệp cả nước (Trang 26)
Bảng 1.5: Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 1.5 Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm (Trang 33)
Bảng 1.6: Tỉ trọng GDP của khu vực FDI trong GDP chung của vùng - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 1.6 Tỉ trọng GDP của khu vực FDI trong GDP chung của vùng (Trang 34)
Bảng 1.8: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế 2000 – 2007 của vùng - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 1.8 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế 2000 – 2007 của vùng (Trang 36)
Bảng 1.11: Thu ngân sách từ khu vực FDI của VKTTĐPN - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 1.11 Thu ngân sách từ khu vực FDI của VKTTĐPN (Trang 40)
Bảng 1.12: Số lượng lao động trong công nghiệp   khu vực FDI của VKTTĐPN - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 1.12 Số lượng lao động trong công nghiệp khu vực FDI của VKTTĐPN (Trang 41)
Hình 2.1: Lược đồ vị trí vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Hình 2.1 Lược đồ vị trí vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Trang 45)
Bảng 2.3: Tỷ lệ lao động có việc làm của vùng phân theo   trình độ chuyên môn kỹ thuật - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 2.3 Tỷ lệ lao động có việc làm của vùng phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (Trang 59)
Bảng 2.4: Tỷ trọng GDP của VKTTĐPN so với GDP cả nước  NĂM - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 2.4 Tỷ trọng GDP của VKTTĐPN so với GDP cả nước NĂM (Trang 61)
Hình 2.3: Biểu đồ biểu hiện tỷ trọng GDP của vùng so với GDP cả nước - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Hình 2.3 Biểu đồ biểu hiện tỷ trọng GDP của vùng so với GDP cả nước (Trang 62)
Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của VKTTĐPN, năm 2007 - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Bảng 2.5 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của VKTTĐPN, năm 2007 (Trang 62)
Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện GDP/người của VKTTĐPN và cả nước - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện GDP/người của VKTTĐPN và cả nước (Trang 65)
Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện số lượng dự án đầu tư vào ba VKTTĐ  năm 1996, 2000 - 2007 - Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Hình 2.5 Biểu đồ thể hiện số lượng dự án đầu tư vào ba VKTTĐ năm 1996, 2000 - 2007 (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w