1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo

91 1,7K 17
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Tác giả Lê Thị Lợi
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Xuân Hậu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Địa Lý Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHẠM XUÂN HẬU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Sau hơn ba năm học tập, nghiên cứu khoa học tại phòng Khoa học – Công nghệ và Sau Đại Học trường Đại học

Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, nay luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Địa Lý học với đề tài:

“NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO (TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU) hoàn thành; tác giả xin trân trọng cám ơn:

Các thầy cô giáo khoa Địa Lý trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, trang

bị cho em nhiều kiến thức về lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong suốt 3 năm học giúp em có đủ kiến thức và sự tự tin để nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Thầy Phạm Xuân Hậu – Viện trưởng Viện Giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn tận tình cho em

từ khâu xác định đề tài, sửa chữa đề cương nghiên cứu đến cách thiết kế các bảng số liệu…Bên cạnh đó thầy

có nhiều ý tưởng giúp em giải quyết được nhiều khúc mắc và phát hiện ra hướng phát triển luận văn của mình; thầy đã hiểu, thông cảm và chia sẻ với em rất nhiều giúp em vượt qua khó khăn để hoàn thành luận văn – em xin cám ơn thầy một lần nữa!

Thạc sĩ Lê Xuân Aí – giám đốc Vườn quốc gia Côn Đảo đã cung cấp cho em rất nhiều kiến thức về Côn Đảo; tư vấn cho em các giải pháp quý báu về phát triển bền vững du lịch Côn Đảo

Các Thầy, cô và các anh chị phòng Sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Ban giám hiệu trường Đại học Hồng Bàng, trường THPT Tân Bình, giới thiệu và tạo điều kiện thuận lợi để tôi được yên tâm học tập tốt

Sở Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, phòng du lịch huyện Côn Đảo, phòng kinh tế và Vườn quốc gia Côn Đảo đã cung cấp cho tôi những tài liệu quý báu phục vụ luận văn

Gia đình, bạn bè đã động viên khích lệ tôi trong suốt khóa học và nghiên cứu

Do giới hạn về thời gian, tài liệu, trình độ, những khó khăn khách quan và chủ quan khác luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn

Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!

Lê Thị Lợi

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DLBV : Du lịch bền vững

GDP : Tổng thu nhập quốc dân

PGS.TS : Phó giáo sư tiến sĩ

IUCN : Qũy bảo tồn thiên nhiên

UNWTO : Tổ chức Du lịch thế giới

WTTC : Hiệp hội lữ hành quốc tế

WCED : Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới

VNAT : Ủy ban Kinh tế Trung ương

UBND : Ủy ban Nhân dân

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những thập niên gần đây, du lịch - ngành công nghiệp không khói có tốc độ phát triển cực nhanh trên toàn thế giới Nó trở thành nguồn thu hút ngoại tệ lớn của nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển

Ngày nay, du lịch trở thành nhu cầu thiết thực không thể thiếu trong cuộc sống của con người khi mà: cuộc sống vất chất của họ ngày càng được nâng cao; thời gian nhàn rỗi nhiều hơn do chính sách điều chỉnh về lao động của chính phủ các nước; xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện cho việc vượt ranh giới các quốc gia dễ dàng hơn; đời sống đô thị đầy tiếng ồn, bụi bặm và

sự căng thẳng trong công việc…đã làm xuất hiện nhu cầu được hưởng thụ, giải trí đồng thời nâng cao hiểu biết của mình về lịch sử, văn hoá của các dân tộc trên thế giới, sự kỳ bí của thiện nhiên… Vì thế, con người đến với du lịch ngày càng nhiều

Theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) và Hiệp hội lữ hành quốc tế (WTTC), năm 2000 thu nhập của ngành du lịch chiếm tới 10,7%GDP của toàn thế giới; năm 2006 là 11,5% Tổ chức Du lịch thế giới nhận định rằng, số khách du lịch quốc tế năm 2005 là 720 triệu lượt người thì đến năm 2010 sẽ là 1100 triệu lượt người và năm 2020 sẽ là 1600 triệu lượt người (nguồn: www.worldtourism.org)

Ngành du lịch đại diện cho một trong năm lĩnh vực xuất khẩu lớn nhất cho 83% quốc gia và là nguồn ngoại tệ chính cho 38% quốc gia trên thế giới (Conservation International 2003)

Ngành du lịch và lữ hành hỗ trợ 200 triệu công việc trên toàn thế giới Đến 2010, dự kiến số công việc được hỗ trợ từ ngành này sẽ tăng lên 250 triệu (WTTC and WEFA, 2000)

Cùng với sự phát triển của du lịch thế giới, ngành du lịch Việt Nam ngày càng được quan tâm

và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước: năm 2008, Việt Nam đã đón được 4,2 triệu lượt

khách quốc tế và 20 triệu lượt khách nội địa, doanh thu đạt 60 tỉ đồng(Theo Báo cáo Tổng kết công tác

2008 của TCDL) Dự báo năm 2010, nước ta sẽ đón 5,5 - 6 triệu lượt du khách quốc tế và 25 -26 triệu

lượt khách du lịch nội địa; thu nhập từ du lịch sẽ đạt 4 - 4,5 tỉ đô la Mĩ (nguồn: chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010, tạp chí du lịch Việt Nam, 8/2002)

Tuy nhiên, hơn bất cứ hoạt động nào khác, ngành du lịch rất phụ thuộc vào chất lượng của môi trường, tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên nhân văn Nhưng du lịch lại mang đặc tính phát triển nhanh, ngắn hạn và "bùng nổ" - đặc biệt ở các nước đang phát triển, làm tổn hại đến tài sản của chính mình: sự phá huỷ, xuống cấp nghiêm trọng tài nguyên du lịch; môi trường bị suy thoái và tác

động tiêu cực đến các hoạt động kinh tế - xã hội khác Vậy "Làm thế nào để ngành du lịch được phát

triển bền vững?" là câu hỏi đã được đặt ra và thu hút sự quan tâm của những người làm du lịch của tất

cả các nước trên thế giới

Trang 5

Bản thân là công dân của một nước có tiềm năng lớn về du lịch nhưng chưa được khai thác bao nhiêu; lại được học về Địa lý Du lịch, tôi hiểu vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đồng thời cùng trăn trở với những người làm du lịch trước câu hỏi

"Làm thế nào để ngành Du lịch được phát triển bền vững?" bởi một số nơi có tiềm năng du lịch lớn ở

nước ta khai thác chưa hiệu quả, mang nặng tính tự phát và có nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng Là người làm công tác giáo dục bộ môn Địa lý trong đó có Địa lý Du lịch , tôi tự hỏi có bao nhiêu người

(kể cả những người trực tiếp tham gia hoạt động Du lịch) hiểu được "Thế nào là Du lịch bền vững?",

"Các nguyên tắc phát triển bền vững Du lịch là gì?" và “Làm thế nào để phát triển bền vững Du

lịch?” Để củng cố lý thuyết về phát triển bền vững Du lịch trong một phạm vi không gian nhất định;

đồng thời góp phần nhỏ trong việc nghiên cứu sự phát triển bền vững du lịch quê hương Côn Đảo - nơi được thế giới biết đến với cái tên "địa ngục trần gian", với hệ sinh thái tự nhiên rừng - biển đa dạng hầu như còn nguyên vẹn thuộc diện bảo tồn, chưa chịu tác động của các ngành kinh tế khác và là nơi đáp ứng được xu thế du lịch hiện đại của thế giới: Du lịch Sinh thái, tôi chọn:"NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH Ở HUYỆN CÔN ĐẢO (TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU)"làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Địa lý học của mình

Luận văn được hoàn thành với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Xuân Hậu - Viện trưởng Viện giáo dục thành phố Hồ Chí Minh, sự đóng góp ý kiến quý báu của thạc sĩ Lê Xuân Ái - giám đốc Vườn quốc gia Côn Đảo và sự giúp đỡ nhiệt tình của phòng du lịch huyện Côn Đảo, phòng

Du lịch Vườn quốc gia Côn Đảo Tôi xin chân thành tri ân

Đây là công trình nghiên cứu khoa học về Du lịch bền vững dưới góc nhìn của người làm công tác giáo dục nên chắc chắn có nhiều thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của quý vị

2 Mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa của đề tài

2.1 Mục tiêu:

- Xác lập cơ sở khoa học nghiên cứu sự phát triển bền vững du lịch

- Thấy được tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch của huyện Côn Đảo

- Xây dựng định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch Côn Đảo đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ mới

2.2 Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến phát triển bền vững du lịch

- Phân tích, đánh giá sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến ngành Du lịch huyện Côn Đảo

- Điều tra thực trạng hoạt động Du lịch huyện Côn Đảo từ năm 1996 - 2007

- Đánh giá tính bền vững của ngành du lịch huyện Côn Đảo và lợi thế so sánh du lịch địa phương với các địa phương khác trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 6

- Dựa vào đặc điểm tài nguyên và các điều kiện liên quan, đưa ra các định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo

2.3 Ý nghĩa của đề tài:

- Củng cố lý thuyết về phát triển bền vững du lịch

- Xây dựng cơ sở lý thuyết phát triển bền vững du lịch cho huyện Côn Đảo

- Hiểu đúng khái niệm “phát triển bền vững” để đưa ra định hướng và giải pháp hợp lý

3 Lịch sử nghiên cứu:

Cho tới nay, chưa có một báo cáo quy hoạch hay chiến lược nào để định hướng phát triển bền

vững cho du lịch Côn Đảo Năm 2004, Ủy ban Kinh tế Trung ương triển khai dự án “Phát triển Côn

Đảo”, và VNAT cũng hoàn thành báo cáo “Định hướng Phát triển Du lịch Côn Đảo” Những tài liệu

này đánh giá sơ bộ về tiềm năng du lịch của Côn Đảo, đồng thời tổng kết về tình hình hoạt động du lịch của huyện Những vấn đề được quan tâm bao gồm “huy động sức lực” để phát triển du lịch cùng với việc quan tâm tới nguồn tài nguyên đất và nước trên quần đảo Những báo cáo này cũng đưa ra những giải pháp cho việc phát triển du lịch cũng như khẳng định quy hoạch du lịch đóng vai trò then chốt

4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài:

- Nội dung nghiên cứu:

 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững du lịch

 Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch của huyện Côn Đảo

 Định hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo

- Thời gian: từ năm 1996 đến năm 2007

- Không gian: toàn huyện Côn Đảo

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận:

5.1.1 Quan điểm và chính sách sách phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước:

Nghị quyết Đại hội Trung ương Đảng lần thứ IX và X đều khẳng định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Mục tiêu phấn đấu của nhà nước là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Đồng thời Nhà nước cũng có những chính sách phát triển du lịch thể hiện trong điều 6, chương I - Luật Du Lịch Việt Nam (năm 2005) như sau:

- Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi năng lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước

- Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tính dụng đối với các tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực sau:

 Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch

Trang 7

 Tuyên truyền, quảng bá du lịch

 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

 Nghiên cứu, đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch

 Hiện đại hoá các hoạt động du lịch

 Xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; nhập khẩu phương tiện cung cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và du lịch quốc gia

 Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo

- Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch

5.1.2 Quan điểm hệ thống lãnh thổ:

Phát triển du lịch ở bất kỳ cấp vùng hoặc trung tâm nào cũng phải là một phần cấu thành không thể tách rời trong hệ thống du lịch chung của cả nước Các hệ thống lãnh thổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng phân hệ, giữa các phân hệ du lịch trong một hệ thống với nhau và các môi trường xung quanh, giữa các hệ thống lãnh thổ du lịch cùng cấp và khác cấp, giữa hệ thống lãnh tổ du lịch và hệ thống kinh tế - xã hội Quan điểm hệ thống còn đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu các hệ sinh thái đặc thù với sự phân hoá theo lãnh thổ từ cấp quốc gia đến cấp vùng và điểm Mặc khác, các đối tượng nghiên cứu của sinh thái cần được xác định trên một lãnh thổ để phân tích, nghiên cứu tìm ra những sự khác biệt và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau

5.1.3 Quan điểm phát triển du lịch bền vững:

Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của toàn nhân loại trong thế

kỷ XXI Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai Vì vậy quan điểm phát triển này cần được soi sáng, vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch trong nghiên cứu phát triển du lịch

5.1.4 Quan điểm tổng hợp:

Trang 8

Quan điểm tổng hợp là quan điểm truyền thống của địa lý học nói riêng và nghiên cứu tự nhiên nói chung được xét dưới hai góc độ khác nhau:

- Nghiên cứu đồng bộ toàn diện về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch đứng từ góc độ tự nhiên và nhân văn, các yếu tố kinh tế, sự phân bố, quy luật phân bố và biến động của chúng, những mối quan hệ tương tác chế ngự lẫn nhau giữa các yếu tố hợp phần của các tổng thể địa lý

- Sự kết hợp, phối hợp có quy luật, có hệ thống trên cơ sở phân tích đồng bộ và toàn diện các yếu

tố hợp phần của các thể tổng hợp lãnh thổ du lịch, phát hiện và xác định những đặc điểm đặc thù của các thể tổng hợp lãnh thổ địa lý

5.1.5 Quan điểm môi trường – sinh thái:

Du lịch hiện nay đã thật sự trở thành một ngành kinh tế, mà hoạt động kinh tế rõ ràng phải tính đến lợi ích và chi phí Những lợi ích thu về trong hoạt động du lịch không chỉ có ý nghĩa kinh tế và văn hoá mà còn phải tính đến lợi ích về môi trường Do đó phải tính đến những thiệt hại về môi trường, các

hệ sinh thái ở các điểm - tuyến du lịch do tác động của hoạt động du lịch Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển bền vững du lịch bởi sự tồn tại của loại hình du lịch này phụ thuộc hoàn toàn vào tình trạng của các hệ sinh thái và môi trường

5.1.6 Quan điểm viễn cảnh - lịch sử: quan điểm này thể hiện ở chỗ:

- Chú ý tới khía cạnh địa lý, lịch sử khi xác định tổ chức không gian du lịch trên phạm vi khu vực

và cả nước nói chung

- Phân tích quá trình hình thành và phát triển điểm - tuyến du lịch trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể

5.2 Các phương pháp nghiên cứu:

5.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống:

Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học Phương pháp này được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong nghiên cứu tự nhiên và tổ chức khai thác lãnh thổ du lịch Phát triển bền vững có liên quan chặt chẽ tới các điều kiện tự nhiên, kinh tế -

xã hội; vì vậy, trong nghiên cứu đây là phương pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

5.2.2 Phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn:

Công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu về tài nguyên, cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch và các tài liệu liên quan khác; đối chiếu

và lên danh mục cụ thể từng địa danh, thể loại liên quan du lịch và sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việc hình thành tổ chức không gian du lịch

Trang 9

đánh giá tỷ lệ doanh thu; tỷ trọng và mức tăng trưởng du lịch nói chung để đưa ra bức tranh chung về hiện trạng

5.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ:

Phương pháp này cho phép thu thập những nguồn thông tin mới phát hiện phân bố trong không gian của các đối tượng nghiên cứu Bản đồ còn là phương tiện để cụ thể hoá, biểu đạt kết quả nghiên cứu về cấu trúc, đặc điểm và phân bố không gian của các đối tượng du lịch

Đây là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu bất kỳ tổ chức không gian lãnh thổ du lịch nào, đặc biệt là khi nghiên cơ sở khoa học cho sự phát triển bền vững du lịch nói chung và tổ chức không gian hoạt động du lịch nói riêng

Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành với việc thể hiện sự phân bố lãnh thổ của các khu bảo tồn thiên nhiên, các hệ sinh thái đặc thù, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật Phương bản đồ sẽ đặc biệt có hiệu quả khi sử dụng công nghệ GIS (Geographic Information System - hệ thông tin địa lý) để phân tích đánh giá tiềm năng du lịch căn cứ vào mức độ quan trọng và phân hoá lãnh thổ của các tài nguyên và điều kiện có liên quan cũng như để phân tích phát hiện các mối quan hệ trong tổ chức không gian du lịch

Phương pháp điều tra xã hội học bao gồm các bước: xác định các vấn đề cần điều tra, thiết kế bảng hỏi, lựa chọn khu vực và đối tượng để điều tra, thời gian tiến hành điều tra, xử lý các kết quả điều tra

5.2.6 Phương pháp dự báo và phương pháp chuyên gia:

Đề tài nghiên cứu có nhiệm vụ rất quan trọng là xác lập cơ sở khoa học để tổ chức phát triển bền vững du lịch của huyện Côn Đảo Vì vậy phương pháp dự báo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu, tổ chức hướng khai thác xây dựng các điểm, tuyến du lịch; sử dụng tài nguyên du lịch một cách hiệu quả Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững du lịch là

dự báo về nguồn khách, cơ cấu khách và thị trường khai thác khách; dự báo về khả năng đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các điểm du lịch bổ trợ; dự báo về phát triển cơ sở hạ tầng, mức tăng trưởng và phát triển của ngành du lịch

Trang 10

Phương pháp chuyên gia nhằm thu thập những ý kiến đóng góp để đề tài mang tính khách quan, đảm bảo kết quả của đề tài có giá trị khoa học và thực tiễn cao, vì vậy phương pháp này cũng hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề tài

Trang 11

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU

Năm 1925, Hiệp hội Quốc tế các tổ chức Du lịch được thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bước ngoặt trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về Du lịch Đầu tiên, Du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân họăc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh

Năm 1985, I.I.Pirogionic đưa ra khái niệm: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong

thời gian nhàn rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức về văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá

Tháng 6/2005, Tổng cục Du lịch Việt Nam ban hành luật Du lịch (có hiệu lực từ 1.1.2006) và

đưa ra khái niệm: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú

thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định

UNWTO thì cho rằng: Du lịch theo nghĩa hành động được định nghĩa là một hoạt động di

chuyển vì mục đích giải trí, tiêu khiển và tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này Người đi Du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80 km trong khoảng thời gian 24 giờ với mục đích giải trí tiêu khiển

Còn nhiều khái niệm khác nữa về Du lịch, song tôi cho rằng khái niệm về Du lịch của Tổng cục

Du lịch Việt Nam đầy đủ và ngắn gọn nhất

1.1.2 Sự phát triển bền vững:

Cụm từ "phát triển bền vững" có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào thế kỷ XIX,

nhưng mãi đến thập niên 80 của thế kỷ XX mới được phổ biến rộng rãi

Năm 1980, IUCN cho rằng: "phát triển bền vững phải cân nhắc đến việc khai thác các nguồn

tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau”

Trang 12

Năm 1987, Uỷ ban Môi trường và phát triển thế giới WCED do bà Groharlem Brundtland thành

lập đã công bố thuật ngữ "phát triển bền vững" trong báo cáo "tương lai của chúng ta" như sau: “phát

triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của những thế hệ mai sau”

Theo hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất năm 1992, được tổ chức Riodejaneiro thì: "phát triển

bền vững được hình thành trong sự hoà nhập, xen cài và thoả hiệp giữa ba hệ thống là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã hội"

Ngày nay, hầu như tất cả các quốc gia đều đề cập đến "phát triển bền vững" trong quá trình hoạch định chính sách và quản lý phát triển kinh tế với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển

Đối với Việt Nam, "phát triển bền vững" đựơc thể hiện trong chỉ thị 36/CT của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 25.6.1998: mục tiêu và các quan điểm cơ bản của phát triển bền vững chủ yếu dựa vào hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hợp lý tài nguyên như một cấu thành không thể tách rời của phát triển bền vững

1.1.3 Du lịch bền vững:

Khái niệm du lịch bền vững (Sustainable tourism) được xuất hiện vào năm 1996, trên cơ sở cải

tiến và nâng cấp khái niệm về du lịch mềm của những năm 90 và thật sự gây được sự chú ý rộng rãi Mặc dù chưa đạt đến giai đoạn chín muồi, nhưng nó cũng thể hiện được điểm đặc trưng cơ bản của DLBV, đó là : DLBV không chỉ cổ vũ cho hoạt động du lịch ít gây tổn hại cho môi trường mà còn thu hút và đòi hỏi sự tham gia của tất cả các thành tố của ngành công nghiệp du lịch: các tổ hợp khách sạn toàn cầu, các tổ chức du lịch lữ hành, các khách sạn nhỏ bé biệt lập, với mục tiêu: sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ văn hoá và phúc lợi cộng đồng địa phương; tạo lập sự công bằng trong nội bộ và giữa các thế hệ

"Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên, các đặc điểm văn hoá kèm theo (có thể

là cả trong quá khứ và hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương" -

(World Conservation Union, 1996)

Cũng trong thời gian này, Hội đồng Du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) khái niệm: "Du lịch

bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng Du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai"

Trang 13

Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta

có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống (Hens L.1998)

Theo quan điểm của Tổng cục Du lịch Việt Nam, phát triển Du lịch phải được định hướng và quản lí theo phương châm: kết hợp hài hoà nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất

và tiêu dùng Du lịch; khai thác, sử dụng hợp lí và phát triển tài nguyên Du lịch tự nhiên; chú trọng bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị của tài nguyên du lịch nhân văn; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; tránh hiện đại hoá hoặc làm biến dạng môi trường, cảnh quan di tích; xây dựng và giữ gìn môi trường xã hội lành mạnh; đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đặc biệt là ở các đô thị du lịch và các điểm tham quan du lịch

Như vậy, du lịch bền vững không phải là trào lưu du lịch mà đó là cương lĩnh phát triển du lịch của thời đại

1.1.4 Điểm du lịch:

Các nhà nghiên cứu và lập pháp đã đưa điểm du lịch vào Pháp lệnh Du lịch được chủ tịch nước

ký và công bố vào tháng 2.1999, theo đó "điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả

năng thu hút khách du lịch"

Như vậy theo Pháp lệnh Du lịch, "điểm du lịch" là khái niệm tương đối mở, không hạn chế về quy mô lãnh thổ Đồng thời với khái niệm trên, "điểm du lịch" có thể bao gồm:Điểm tài nguyên (tiềm năng), nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn và có khả năng thu hút khách song có thể chưa đưa vào khai thác; và điểm chức năng - nơi các tài nguyên du lịch đã được khai thác đưa vào phục vụ nhu cầu khách

du lịch (tức là đã có sức thu hút khách du lịch)

Tuy nhiên khái niệm trên vẫn để ngỏ vấn đề "quy hoạch" đối với điểm du lịch Trong trường hợp lãnh thổ điểm du lịch được quy hoạch thì sự khác biệt với khái niệm "khu du lich" được xác định

ngay trong Pháp lệnh Du lịch, theo đó "khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch…, được quy hoạch đầu

tư phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng của du khách…" là chưa rõ ràng Trong thực tế cuộc

sống, hai khái niệm này thường được sử dụng một cách vô thức mà chưa có sự phân biệt rõ ràng

Trang 14

Tuyến du lịch có thể là tuyến du lịch tổng hợp (liên kết các điểm du lịch chức năng khác nhau), hoặc tuyến du lịch chuyên đề (liên kết các điểm du lịch có chức năng, sản phẩm du lịch tương đồng)

Tuyến du lịch là một khái niệm không hạn chế bởi ranh giới hành chính Các tuyến du lịch có thể được xây dựng phát triển trong một đơn vị hành chính (trong trường hợp có các điểm du lịch cần thiết phân bố trọn trong đơn vị hành chính đó), song trong nhiều trường hợp, tuyến du lịch được phát triển trên lãnh thổ xuyên ranh giới hành chính (lien xã, liên huyện, liên tỉnh/thành phố), thậm chí xuyên quốc gia Trong xu thế hội nhập hợp tác cùng phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch thì các tuyến du lịch liên vùng như vậy thường chiếm ưu thế Điều này cũng làm tăng đáng kể sức hấp dẫn của các tuyến du lịch

1.2 Những điều kiện cơ bản và nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững Du lịch :

1.2.1 Những điều kiện cơ bản để phát triển bền vững Du lịch:

Để ngành du lịch phát triển một cách bền vững cần những điều kiện sau:

1.2.1.1 Sự đa dạng của tài nguyên du lịch

Đối với tài nguyên thiên nhiên, gắn với nó là loại hình du lịch sinh thái, đòi hỏi tính đa dạng sinh học cao

Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh thái, đa dạng di truyền và đa dạng loài

Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống và mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu…đó là các hệ sinh thái (eco - systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc một số loài sinh vật (theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại hội nghị thượng đỉnh Rio De Janeiro về môi trường)

Đối với tài nguyên nhân văn bao gồm những di tích lịch sử, di tích cách mạng, những công trình văn hoá, kiến trúc… kể cả những giá trị văn hoá truyền thống cần được giữ gìn, bảo tồn để mỗi điểm

du lịch mang nét độc đáo riêng tạo sự hấp dẫn đa dạng cho ngành du lịch

1.2.1.2 Sự am hiểu về du lịch

Người làm công tác du lịch đặc biệt là các nhà điều hành, hướng dẫn viên du lịch và dân địa

phương phải thật am hiểu - đây cũng là một trong những nguyên tắc của du lịch bền vững

Sự am hiểu ở đây bao gồm hiểu về tài nguyên du lịch (các đặc điểm sinh thái tự nhiên, văn hoá cộng đồng), tác động tiềm ẩn của hoạt động du lịch đối với tài nguyên - môi trường và cả ngoại ngữ Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch Muốn vậy cần phải có chiến lược giáo dục thật hiệu quả đặc biệt đối với cộng đồng địa phương về những kiến thức về

du lịch và bảo vệ môi trường Vì hơn ai hết chỉ có họ mới ý thức được quyến lợi họ được hưởng và bảo

vệ môi trường du lịch chính là bảo vệ cuộc sống của chính họ Họ cũng là những người truyền đạt những kiến thức đó đến du khách hiệu quả nhất Từ đó tất cả các lực lượng tham gia du lịch, dân bản

Trang 15

địa cùng nhau bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, là điều kiện quan trọng để du lịch phát triển một cách bền vững

Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết

gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên và môi trường Họ chỉ đơn giản tạo cho du khách một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, để đạt được nền du lịch bền vững, các nhà điều hành du lịch phải có được

sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, cộng đồng địa phương và các lực lượng bảo vệ môi trường với mục đích bảo vệ lâu dài các giá trị tự nhiên, nhân văn, văn hoá địa phương và môi trường; cải thiện cuộc sống , nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với du khách

1.2.1.3 Đảm bảo về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch

Giao thông vận tải: đảm bảo nhu cầu đi lại cho du khách từ đất liền ra Côn Đảo và ngược lại; đến các điểm du lịch

Thông tin liên lạc: đảm bảo để du khách liên lạc với gia đình, người thân

Điện, nước: cung cấp đầy đủ cho các hoạt du lịch và sinh hoạt cho du khách

Cơ sở lưu trú: chất lượng và phù hợp với môi trường du lịch của địa phương

Các dịch vụ du lịch khác: ăn, uống, mua sắm…phải đảm bảo trên tinh thần tươi sống, an toàn

vệ sinh thực phẩm, giá cả phù hợp

1.2.1.4 Tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa"

Nhằm hạn chế tới tới mức tối đa tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên du lịch và môi

trường, đạt đến nền du lịch bền vững, cần tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về "sức chứa"

Khái niệm "sức chứa" được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội học Tất cả những khía cạnh này có liên quan đến lượng khách ở một thời điểm trong cùng địa điểm

Đứng trên góc độ vật lý: "sức chứa" ở đây được hiểu là số lượng tối đa du khách mà khu

vực đó có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ

Đứng ở góc độ sinh học: sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn sẽ vượt

quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra Sức chứa này sẽ đạt tới khi số lượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã, làm cho hệ sinh thái xuống cấp (ví dụ: làm phá vỡ tập quán kết bầy, làm đất bị xói mòn…); tài nguyên nhân văn bị tổn hại và các giá trị truyền thống dần mai mọt, mất đi

Đứng ở góc độ tâm lý: Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá bản

thân du khách cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Nói cách khác mức độ thoả mãn của du khách giảm xuống quá mức bình thường do tình trạng quá tải

Trang 16

Đứng ở góc độ xã hội: sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà ở đó bắt đầu xuất hiện

những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội, kinh tế - xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, bị xâm nhập

Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này, năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình

độ và phương tiện quản lý…) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được nhu cầu của du khàch, làm mất khả năng quản lý kiểm soát hoạt động của khách và kết quả sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả tính định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực Mặt khác mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm

Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là "quan niệm" về sự "đông đúc" của các nhà nghiên cứu khác nhau sẽ khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau Rõ ràng, để đáp ứng yêu cầu này của du lịch, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể và căn cứ vào đó sẽ có những quyết định về quản lý Điều này cần được tiến hành với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau phù hợp với tâm lý và quan niệm của

họ

1.2.1.5 Thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của du khách

Việc thoả mãn nâng cao nhu cầu hiểu biết của du khách về tự nhiên, văn hoá bản địa thường rất khó khăn song lại là nhu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch Vì vậy những dịch

vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan

1.2.2 Những nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững du lịch:

1.2.1.1 Sử dụng các nguồn lực một cách bền vững

Việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và xã hội là tối cần thiết, nó sẽ khiến cho việc kinh doanh phát triển lâu dài

Tất cả các hoạt động kinh tế đều liên quan tới việc sử dụng các nguồn tài nguyên (thiên nhiên

và nhân văn) Nhiều nguồn trong đó không thể đổi mới, tái chế hay thay thế được

Phát triển bền vững chủ trương ủng hộ việc lưu lại cho các thế hệ tương lai một nguồn tài nguyên thiên nhiên không kém hơn so với cái mà các thế hệ trước được hưởng Ngăn ngừa những thay đổi không thể tránh được đối với tài sản môi trường không có khả năng thay thế, ngăn chặn sự mất đi của tầng ôzôn và các loài sinh vật, sự phá hoại chức năng thiết yếu của các hệ sinh thái điều này cũng

có nghĩa là việc tính tới các dịch vụ được môi trường thiên nhiên cung cấp, những dịch vụ này không phải là "hàng hoá cho không" mà phải được tính vào chi phí các hoạt động kinh tế

Trang 17

Các nguyên tắc như vậy cũng được áp dụng đối với tài nguyên nhân văn Cần trân trong các nền văn hoá địa phương, truyền thống dân tộc, kế sinh nhai và đất đai người ta dựa vào để sống

Việc sử dụng bền vững, bảo tồn và bảo vệ các nguồn lực này là vấn đề sống còn đối với việc quản lý hợp lý mang tính toàn cầu và cũng mang ý nghĩa kinh doanh tích cực

1.2.1.2 Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du lịch

Sự tiêu thụ quá mức sẽ dẫn tới sự huỷ hoại môi trường toàn cầu và đi ngược lại với sữ phát triển bền vững Kiểu tiêu thụ này là đặc trưng của những nước có nền công nghiệp phát triển và lan rộng rất nhanh trên toàn cầu

Sự tiêu dùng tài nguyên môi trường và các tài nguyên khác một cách lãng phí, không cần thiết

đã gây ra sự ô nhiễm và xáo trộn về văn hoá, xã hội Sự phớt lờ hoặc không quản lí chất thải của các công trình mà dự án triển khai không có đánh giá tác động đến môi trường làm cho môi trường xuống cấp lâu dài, khó khắc phục Vì thế cần "phạt ô nhiễm" đối với các công trình trên

Phát triển bền vững chủ trương việc để lại cho thế hệ tương lai sự đa dạng cả về thiên nhiên và nhân văn không ít hơn những gì thế hệ trước được thừa hưởng Nhận thức được rằng thay đổi về môi trường sinh học, văn hoá, kinh tế là kết cục không tránh khỏi của bất cứ loại hình phát triển nào

Chiến lược Bảo Tồn Thế Giới (1980) nhấn mạnh sự cần thiết bảo tồn đa dạng nguồn gien Từ

đó mục đích đã được mở rộng, trong đó có sự đa dạng các cơ cấu chính trị, kinh tế - xã hội và các nền văn hoá

1.2.1.4 Hợp nhất du lịch vào quá trình quy hoạch

Hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ hoạch định chiến lược cấp quốc gia và địa phương, tiến hành đánh giá tác động môi trường làm tăng khả năng tồn tại lâu dài của ngành du lịch

Các mâu thuẫn quyền lợi, sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên và tình trạng quá phụ thuộc có thể tránh hay giảm thiểu được bằng cách hợp nhất lĩnh vực này với lĩnh vực khác dựa trên hai qui tắc: quy hoạch chiến lược dài hạn và đánh giá tác động môi trường

Khuôn khổ hoạch định có tính chiến lược cho phép đánh giá các tác động của sự phát triển đối với các điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường ở cả cấp địa phương và khu vực trong khuôn khổ ngắn trung và dài hạn

Trang 18

Đánh giá tác động môi trường được tiến hành trong các giai đoạn lập kế hoạch và thực hiện của

dự án sẽ làm giảm thiểu tổn hại đối với môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội Đánh giá tác động của môi trường bao gồm tác động gián tiếp và trực tiếp của con người đối với các hệ động - thực vật, đất đai, nguồn nước, khí hậu và cảnh quan; và cả tác động qua lại của các nhân tố này với các tài nguyên nhân văn Tuy nhiên sự đánh giá này mới diễn ra chủ yếu ở Cộng đồng Châu Âu, phần lớn các nước còn lại đang trong giai đoạn thử nghiệm

1.2.1.5 Hỗ trợ kinh tế địa phương

Ngành du lịch hỗ trợ được các hoạt động kinh tế địa phương, tính đến các giá trị và chi phí về mặt môi trường thì mới bảo vệ được nền kinh tế địa phương và tránh được sự tổn thất về môi trường

Sự tăng trưởng kinh tế thể hiện qua sự tăng trưởng của Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) mà biểu hiện của nó là các giá trị hàng hoá trên thị trường; còn giá trị các loại hình dịch vụ và tài nguyên môi trường không được tính, dẫn đến tình trạng huỷ hoại môi trường

Sự phát triển bền vững, một mặt thoả mãn nhu cầu và phúc lợi của con người đồng thời vẫn duy trì và cải thiện môi trường Lưu tâm đến chức năng kinh tế và việc đánh giá tác động đến môi trường của các dự án đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng

Cốt lõi của sự phát triển kinh tế bền vững là tính không phụ thuộc, ngày càng phát triển và đa dạng Nó đòi hỏi sự tái thiết lập hệ thống thị trường để hợp lý hoá các dịch vụ ở góc độ môi trường và các chi phí sản xuất có tính xã hội rộng lớn hơn

Hoạt động kinh tế quan tâm đến môi trường cũng là quan tâm đến lợi ích quần chúng địa phương

1.2.1.6 Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương

Việc tham gia của cộng động địa phương vào Du lịch sẽ không chỉ mang lại lợi ích cho họ và môi trường mà còn nâng cao chất lượng Du lịch

Sự tham gia của cộng đồng địa phương là rất cần thiết để phát triển hợp lý và bền vững Ngược lại sự phát triển bền vững sẽ đáp ứng được nhu cầu của dân bản địa bảo vệ môi trường thiên nhiên và văn hoá của họ Để đạt được mục tiêu đó, cần có chiến lược phát triển phù hợp của địa phương sở tại

Để sự tham gia của cộng đồng địa phương thật sự hiệu quả, cần có chiến lược giáo dục bài bản, khoa học và cho phép họ tham gia vào quá trình hoạch định và tiến hành các chiến lược phát triển

1.2.1.7 Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng có liên quan

Sự đồng lòng giữa công nghiệp Du lịch với cộng đồng địa phương, các tổ chức và các cơ quan khác nhau là rất cần thiết, đồng thời cùng nhau giải toả các mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi

Tham khảo ý kiến quần chúng nhằm tranh thủ sự quan tâm của họ trong việc dung hoà giữa phát triển kinh tế (đặc biệt là công nghiệp) và sự tác động tiềm ẩn của nó lên môi trường tự nhiên, xã hội và

Trang 19

văn hoá Đó là việc làm cần thiết để đánh giá một dự án phát triển, các biện pháp để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tối đa hoá sự đóng góp của quần chúng địa phương

Thiếu sự tham khảo ý kiến giữa cơ quan nhà nước và cộng đồng địa phương có thể đưa đến sự thù địch và đối kháng thậm chí khó có thể giải quyết được các mâu thuẫn về quyền lợi

Các cộng đồng địa phương trên toàn thế giới nếu được trang bị kiến thức đầy đủ, họ sẽ là những người quan tâm nhất và đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường của chúnh mình

Phát triển bền vững là tính đến các nhu cầu hiện tại, tương lai và phúc lợi của con người dựa trên sự lựa chọn, hiểu biết về những chi phí phát triển môi trường, xã hội và văn hoá Tham khảo ý kiến mang tính chất then chốt vì nó hàm nghĩa trao đổi thông tin, ý kiến, đánh giá và hành động dựa vào kỹ năng, kiến thức và các nguồn lực địa phương

1.2.1.8 Đào tạo nhân viên

Việc đào tạo nhân viên trong đó có lồng ghép vấn đề Du lịch bền vững vào thực tiễn công việc, cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương vào mọi cấp sẽ làm tăng chất lượng sản phẩm du lịch

một lực lượng lao động được đào tạo và có kỹ năng thành thạo không những đem lại lợi ích về kinh tế cho ngành mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch việc đào tạo đúng mức và nhận thức của người học về tầm quan trọng và tính chất phức tạp của du lịch góp phần nâng cao lòng tự hào nghề nghiệp, sự tự tin và tự nguyện công tác của nhân viên; nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, lòng tin vào tính hiệu quả của tất cả các cấp đối với sự phát triển của ngành du lịch

Việc đào tạo phải bao gồm cả giáo dục đa văn hoá nhằm tăng cường hiểu biết cho học viên giúp

họ đem lại sự hài lòng cao nhất cho du khách

Đào tạo và sử dụng nhân viên là người địa phương, đặc biệt là các cán bộ tổ chức và các hướng dẫn viên du lịch sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho ngành

Sự phát triển bền vững nhấn mạnh đén tăng cường giáo dục nhằm mục đích nâng cao sự phồn vinh về kinh tế - xã hội Giáo dục nâng cao nhận thức về quản lý môi trường là then chốt cho sự phát triển tổng hợp bền vững cần phải bao hàm những vấn đề về xã hội, văn hoá và kinh tế

1.2.1.9 Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm

Việc tiếp thị cung cấp thông tin cho du khách một cách đầy đủ và có trách nhiệm sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hoá, xã hội của địa phương đồng thời làm tăng thêm sự thoả mãn cho du khách

Tiếp thị và quảng cáo là vũ khí lợi hại giúp bán thành công bất cứ sản phẩm nào Phát triển bền vững dựa trên sự tiếp thị đầy đủ và trung thực các thông tin về sản phẩm góp phần nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên, nhân văn và mức sống (có tính đến giá thành của những giá trị về môi trường)

chiến lược tiềp thị đối với du lịch bền vững bao gồm việc xác định, đánh giá và luôn rà soát lại mặt cung của tài nguyên du lịch và những nguồn lực khác, đồng thời luôn quan tâm đến cán cân cung - cầu

Trang 20

Sự tăng trưởng của du lịch và sự hoán vị của các điểm tham quan tạo nên sự cạnh tranh trong tiếp thị du lịch

1.2.1.10 Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu

Thường xuyên tiến hành công tác nghiên cứu và giàm sát ngành công nghiệp du lịch thông qua việc sử dụng và phân tích hiệu quả các số liệu là cần thiết trong việc giải quyết những vấn đề tồn đọng, mang đến lợi ích cho các điểm tham quan, cho ngành và cả khách hàng

để ngành du lịch phát triển và tồn tại một cách bền vững, điều cốt yếu là có dự đoán vấn đề và nắm được trước chi phí giải quyết vấn đề Tốc độ phát triển nhanh của du lịch tại những khu vực dễ bị tổn thương về mặt môi trường, kinh tế và xã hội; mà những khu vực này thường khó thu thập số liệu

Vì thế cần cấp bách nghiên cứu cơ bản hơn nữa để đảm bảo không chỉ cho hiệu quả kinh doanh mà cho

cả sự phát triển bền vững trong mối quan hệ với cơ chế chính sách, với việc bảo vệ tài nguyên - môi trường Việc nghiên cứu toàn diện đòi hỏi sự phối hợp giữa ngành du lịch với các trường đại học, các viện nghiên cứu, chính phủ, các tổ chức phi chính phủ về tiềm năng, kỹ năng nghiên cứu và tổ chức cũng như thiện chí về chính trị, sự trung thực và sự cam kết về nghiệp vụ

1.2.3 Những điều kiện và chỉ tiêu cơ bản để xây dựng các điểm, tuyến du lịch

1.2.3.1 Những điều kiện cơ bản để xây dựng các điểm, tuyến du lịch:

- Tài nguyên du lịch:

Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề quan yrọng cơ bản để xây dựng nên các điểm, tuyến du lịch Điều này đã được khẳng định ngay trong pháp lệnh du lịch: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch"

Bên cạnh những tài nguyên đã và đang được khai thác để thoả mãn nhu cầu du lịch, nhiều tài nguyên du lịch còn tồn tại ở dạng tiềm năng do:

 Chưa được nghiên cứu điều tra và đánh giá đầy đủ

 Chưa có nhu cầu khai thác do khả năng "cầu" còn thấp

 Tính đặc sắc của tài nguyên thấp hoặc chưa đủ tiêu chuẩn cần thiết để khai thác hình thành các sản phẩm du lịch

 Các điều kiện để tiếp cận và các phương tiện để khai thác hạn chế, do đó chưa có khả năng hoặc gặp nhiều khó khăn trong khai thác

 Chưa đủ khả năng đầu tư để khai thác

Trong thực tế, ở nước ta, nhiều di tích văn hoá lịch sử, lịch sử cách mạng mặc dù đã được xếp hạng sonh chưa được khai thác phục vụ du lịch; nhiều khu rừng nguyên sinh với tính đa dạng sinh học cao, nhiều bãi biển đẹp ở miện Trung, nhiều lễ hội… vẫn chưa đầy đủ điều kiện đưa vào khai thác và

sử dụng

Trang 21

Ngoài tài nguyên du lịch, nhân tố quan trọng cơ bản để xây dựng các điểm,tuyến du lịch còn có các yếu tố khác như vị trí địa lý, các điều kiện tự nhiên như mưa, gió, sương mù, dòng chảy…Các yếu

tố này trong nhiều trường hợp quyết định mức độ sử dụng tài nguyên và ảnh hưởng rất nhiều đến sức hấp dẫn của các điểm, tuyến du lịch

- Cơ sở hạ tầng du lịch

Nếu tài nguyên du lịch là yếu tố cơ sở quan trọng để tạo nên các điểm, các trung tâm, các vùng

du lịch, qua đó hình thành các tuyến du lịch thì cơ sở hạ tầng du lịch là yếu tố đảm bảo cho việc khai thác những giá trị tài nguyên đó hình thành nên các điểm/khu du lịch Đặc biệt cơ sở hạ tầng du lịch

mà trực tiếp là hệ thống giao thông là điều kiện không thể thiếu để hình thành nên các tuyến du lịch

Cơ sở hạ tầng du lịch bao gồm:

Hệ thống và phương tiện giao thông:

Đây được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu bởi hoạt động du lịch gắn liền với sự di chuyển của du khách từ nơi cư trú đến các điểm tham quan Hệ thống giao thông ở đây không chỉ là hệ thống đường (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không) mà còn bao gồm cả các d9ầu mối giao thông như sân bay, nhà ga, bến cảng, các cửa khẩu quốc tế

Hệ thống cung cấp điện:

Đối với hoạt động du lịch, điện là nguồn năng lượng không thể thiếu đảm bảo sinh hoạt của khách du lịch và các dịch vụ du lịch có liên quan Trong du lịch bền vững luôn khuyến khích các nguồn năng lượng tự nhiên tại chỗ như các máy thuỷ điện nhỏ, pin mặt trời… thân thiện môi trường

Hệ với thống cấp, thoát nước:

Là yếu tố cơ sở hạ tầng du lịch không thể thiếu trong hoạt động du lịch vì nó đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của du khách Hệ thống cấp nước và xử lý nước thải trong hoạt động du lịch luôn là yếu tố được coi trọng khi xây dựng các điểm/khu du lịch Đối với phát triển bền vững du lịch vấn đề

xử lý nước thải là đặc biệt quan trọng vì nước thải sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái và ô nhiễm môi trường, huỷ hoại ngay nguồn tài nguyên chính mà điểm du lịch đó khai thác và phát triển

Hệ thống thông tin liên lạc:

Đảm bảo hệ thống hạ tầng thông tin liên lạc để đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc với bạn bè, người thân thậm chí còn duy trì các mối liên hệ công việc mà người đó đảm nhận trong thời gian đi du lịch là rất quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động du lịch

Ngoài những yếu tố hạ tầng cơ sở du lịch cơ bản trên, một số yếu tố khác cũng cần được lưu ý bao gồm: hạ tầng tài chính, hạ tầng y tế … để đáp ứng nhu cầu của hoạt động du lịch

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là những yếu tố trực tiếp tham gia vào việc hình thành các sản phẩm du lịch, có ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch, vì vậy chúng có vai trò quan trọng trọng trong việc xây dựng các điểm, tuyến du lịch

Trang 22

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở vật chất của ngành du lịch và cơ sở vật chất của một số ngành dịch vụ có liên quan

Những yếu tố cơ bản của hệ thống cơ sở vật chất du lịch bao gồm:

Cơ sở lưu trú du lịch là: "cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ khách

du lịch Cơ sở lưu trú du lịch gồm khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu"(pháp lệnh du lịch 1999) Đây được xem như loại cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cơ bản thuộc hệ thống dịch vụ của ngành

Cơ sở thể thao, vui chơi giải trí: đáp ứng nhu cầu thư giãn, vui chơi giải trí và tái tạo sức khoẻ

cho du khách những cơ sở này bao gồm các công trình thể thao, các công viên vui chơi giải trí ngoài cơ sở lưu trú…

Các công trình thông tin, văn hoá, biểu diễn nghệ thuật như trung tâm văn hoá - thông tin,

rạp chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ nghệ thuật, phòng trưng bày triển lãm…Đây đồng thời cũng là những công trình phúc lợi xã hội

Các cơ sở dịch vụ bảo trợ khác như hiệu rửa ảnh, trạm xăng dầu, hiệu cắt tóc, hiệu sửa chữa

đồng hồ…Thực chất đây là các cơ sở dịch vụ xã hội tham gia vào các hoạt động cung ứng dịch vụ thoả mãn nhu cầu của khách du lịch

1.2.3.2 Những chỉ tiêu cơ bản để xây dựng các điểm, tuyến du lịch

Việc xây dựng các điểm và qua đó là các tuyến du lịch thường dựa trên những chỉ tiêu cơ bản sau:

- Vị trí của điểm du lịch:

Vị trí tương đối của điểm du lịch với thị trường cung cấp khách có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng phát triển hoạt động du lịch ở điểm du lịch đó thực tế cho thấy những điểm du lịch có tài nguyên du lịch với mức độ hấp dẫn tương đồng thì điểm du lịch nào có vị trí gần với thị trường cung cấp khách hơn thì việc xây dựng phát triển điểm du lịch đó sẽ thuận lợi hơn

Xác định mức độ thuận lợi để xây dựng phát triển các điểm du lịch ở góc độ khoảng cách từ thị trường nguồn đến vị trí điểm du lịch, trên cơ sở thực tiễn hoạt động du lịch thường sử dụng 4 cấp:

Rất thuận lợi: khoảng cách từ 10 - 100 km, thời gian đi đường ít hơn 3 giờ và có thể sử dụng từ

2 - 3 phương tiện vận chuyển thông dụng

Khá thuận lợi: khoảng cách 100 - 200 km, thời gian đi đường ít hơn 5 giờ và có thể sử dụng từ

2 - 3 phương tiện vận chuyển thông dụng

Thuận lợi: khoảng cách từ 200 - 500 km, thời gian đi đường ít hơn 12 giờ và có thể sử dụng 1 -

2 phương tiện vận chuyển thông dụng

Kém thuận lợi: khoảng cách trên 500 km, thời gian đi đường hơn 24 giờ và có thể sử dụng từ 1

- 2 phương tiện vận chuyển thông dụng

- Độ hấp dẫn của điểm du lịch:

Trang 23

Độ hấp dẫn của điểm du lịch là chỉ tiêu mang tính tổng hợp các yếu tố như tính hấp dẫn của cảnh quan được nhiều du khách công nhận; sự thích hợp của khí hậu; tính đặc sắc và độc đáo của các đối tượng tham quan du lịch…Độ hấp dẫn này thường được chia thành 4 cấp:

Rất hấp dẫn: có ít nhất trên 5 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 5 di tích đặc sắc và

những tài nguyên du lịch khác để có thể phát triển được ít nhất 5 loại hình du lịch

Khá hấp dẫn: có ít nhất 3 - 5 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 2 di tích đặc sắc và

những tài nguyên du lịch khác để có thể phát triển được từ 3 - 5 loại hình du lịch

Hấp dẫn: có ít nhất 1- 2 cảnh quan đẹp được thừa nhận; có ít nhất 1 di tích đặc sắc và những tài

nguyên du lịch khác để có thể phát triển được 1 -2 loại hình du lịch

Kém hấp dẫn: có cảnh quan đơn điệu và chỉ có thể phát triển được 1 loại hình du lịch

- Điều kiện cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch:

Đây được xem là chỉ tiêu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển điểm, tuyến du lịch với 4 mức độ khác nhau:

Rất tốt: điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đồng bộ, đạt tiêu chuẩn quốc

tế Với điều kiện này, việc khai thác các tiềm năng để phát triển các điểm, tuyến du lịch rất thuận lợi đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách ở trình độ cao

Khá tốt: có cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật đồng bộ, đủ tiện nghi, đạt tiêu chuẩn quốc gia

Trung bình: có được một số cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chát kỹ thuật đạt tiêu chuẩn quốc gia

nhưng không đồng bộ

Kém: điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém, không đồng bộ

- Thời gian hoạt động của điểm du lịch:

Thời gian hoạt động của điểm du lịch được xác định bởi khoảng thời gian thích hợp về các điều kiện khí hậu, thời tiết đối với sức khoẻ và đảm bảo an toàn cho du khách cũng như điều kiện thuận lợi

để đưa khách đi du lịch theo chương trình

Thời gian hoạt động du lịch quyết định tính chất thường xuyên hay mùa vụ của hoạt động du lịch, từ đó tác động đến kế hoách khai thác, đầu tư và hoạt động kinh doanh du lịch tại các điểm, tuyến

du lịch Để tiện lợi trong việc xem xét chỉ tiêu này trong tổng thể các chỉ tiêu liên quan đến việc xây dựng phát triển các điểm, tuyến du lịch, việc đánh giá thời gian hoạt động của điểm du lịch cũng có thể chia làm 4 cấp:

Rất dài: có trên 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và có ít nhất trên

180 ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người

Khá dài: có từ 150 - 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và có từ 120

- 180 ngày có điều kiện khí hậu phù hợp với sức khoẻ con người

Dài: có từ 100 - 150 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và có từ 90 - 120

ngày có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người

Trang 24

Ngắn: có dưới 100 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động du lịch và dưới 90 ngày

có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người

- Sức chứa của điểm du lịch:

Sức chứa của điểm du lịch phản ánh khả năng và quy mô triển khai hoạt động của điểm du lịch

mà không nảy sinh những tác động tiêu cực đến tài nguyên, môi trường và xã hội Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững du lịch

Trong thực tế, việc xác định "sức chứa" của một điểm du lịch rất khó bởi cần triển khai việc quan trắc bằng thực nghiệm Trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ này được thực hiện bằng việc kế thừa

có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các nước, đặc biệt các nước trong khu vực nơi có những điều kiện tương đồng hoặc bằng kinh nghiệm thực tiễn

Sức chứa (chỉ khả năng tiếp nhận khách) của điểm du lịch cũng thường được chia thành 4 cấp:

Rất lớn: trên 1.000 lượt khách/ngày

Khá lớn: từ 500 - 1.000 lượt khách/ngày

Trung bình: từ 100 - 500 lượt khách/ngày

Nhỏ: dưới 100 lượt khách/ngày

Tuy nhiên có thể nhận thấy sức chứa của điểm du lịch phụ thuộc rất nhiều vào qui mô lãnh thổ của điểm du lịch đó

- Tính bền vững của điểm du lịch:

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tồn tại, tự phục hồi của các thành phần tự nhiên của điểm du lịch trước áp lực tác động của hoạt động du lịch, hoặc các tác động tự nhiên, kinh tế - xã hội khác Tính bền vững này cũng được chia thành 4 cấp:

Rất bền vững: Không có thành phần tự nhiên nào bị phá huỷ, nếu có chỉ mức độ không đáng kể

và được phục hồi lại sau một thời gian ngắn Hoạt động du lịch không bị ảnh hưởng và có thể diễn ra liên tục

Khá bền vững: Có từ 1 - 2 thành phần tự nhiên bị phá huỷ ở mức độ nhẹ và có khả năng tự

phục hồi Hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên

Bền vững trung bình: Có 1 -2 thành phần tự nhiên bị phá huỷ nặng cần đến sự can thiệp của

con người mới có khả năng phục hồi Hoạt động du lịch bị hạn chế

Kém bền vững: Có từ 1- 2 thành phần tự nhiên bị phá huỷ nặng cần đến sự can thiệp của con

người Song khả năng phục hồi hạn chế và kéo dài Hoạt động du lịch bị gián đoạn

Tính bền vững của các điểm du lịch phụ thuộc nhiều vào tính nhạy cảm, dễ phá huỷ của các hệ sinh thái Ví dụ, hệ sinh thái san hô rất dễ bị phá huỷ và quá trình phục hồi tự nhiên rất lâu trong khi

hệ sinh thái rừng khô hạn hoặc rừng tràm ít nhạy cảm trước những tác động và quá trình phục hồi nhanh hơn khi bị phá huỷ

Trang 25

Để đánh giá mức độ quan trọng (hấp dẫn, có khả năng thu hút khách cao) và khả năng phát triển (có tài nguyên đặc sắc, dễ tiếp cận, hoạt động thuận lợi, khả năng tồn tại cao) của các điểm du lịch, thường các chỉ tiêu trên được đánh giá cho điểm theo trọng số (tuỳ thuộc vào quan điểm đánh giá) và được tổng hợp lại Điểm du lịch nào có điểm càng cao thì càng có vai trò quan trọng và khả năng phát triển càng tốt Căn cứ vào đánh giá này, các nhà đầu tư và quản lý sẽ quyết định về mức đầu tư xây dựng phát triển điểm du lịch tương xứng với tiềm năng của nó

Căn cứ vào số lượng các điểm du lịch đạt yêu cầu đầu tư xây dựng phát triển và phân bố hợp lý của chúng trong không gian, việc xây dựng các tuyến du lịch cũng sẽ được quyết định

1.2.4 Các phương pháp đánh giá tính bền vững của du lịch

1.2.4.1 Phương pháp phân tích SWOT

Mục đích của việc đánh giá là để xác định rằng việc phát triển du lịch có thể đóng góp vào công tác bảo tồn và xoá đói giảm nghèo, duy trì các tiêu chí phát triển bền vững, nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng và tính thực tế về giá trị kinh tế

SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities và Threats) là phương pháp phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và những đe doạ Đây là một khung lập kế hoạch mà thông qua đó các cộng đồng có thể nêu lên những ưu tiên, xác định mối quan tâm về du lịch như là một hoạt động triển vọng cho việc tạo thu nhập, sự sẵn sàng của cộng đồng cũng như những trăn trở của họ đối với việc phát triển du lịch địa phương

1.2.4.2 Phương pháp thống kê các điểm thu hút

Thành lập danh sách các điểm thu hút trong khu bảo tồn

Các điểm thu hút tự nhiên: phong cảnh đẹp (các bãi biển, hang động, thác nước…), những sinh vật quý hiếm (chim, rùa…) Đa dạng sinh học và những điều kiện tự nhiên khác có khả năng thu hút du khách rất lớn

Các thu hút về văn hoá: những mô hình về cách sống truyền thống, các nghi lễ, các lễ hội tôn giáo, các lễ hội và các sự kiện lớn khác, nghệ thuật và thủ công, ẩm thực…; các hoạt động kinh tế địa phương như: khai thác cá, làm muối, nông nghiệp…không những tạo sự hấp dẫn cho du khách mà còn cho phép du khách tìm hiểu và hỗ trợ văn hoá địa phương

Các điểm thu hút về lịch sử và di sản: các pháo đài, chiến luỹ, bảo tàng , nhà thờ, chùa chiền, lăng tẩm, các kiến trúc đặc biệt, các điểm khảo cổ, các tượng đài kỷ niệm, các địa đạo, nhà tù…

Các hoạt động giải trí: chạy tàu thuỷ, đi bộ, leo núi, đạp xe đạp, cắm trại, chèo thuyền, bơi lội…

Trang 26

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN CÔN ĐẢO (BÀ

RỊA – VŨNG TÀU)

2.1 Khái quát huyện Côn Đảo

Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Bịa - Vũng Tàu, có toạ độ địa lý là: 8o34' - 8o4' vĩ độ Bắc và

106o31' - 106o43' kinh độ Đông Côn Đảo cách Vũng Tàu 185km, thành phố Hồ Chí Minh 230km, cửa sông Hậu (Cần Thơ) khoảng 83km

Côn Đảo cách đường hàng hải Quốc tế (trục Bắc – Nam) 60km Từ Côn Đảo, ngược lên phía Bắc đến Nga, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan Nếu xuôi xuống Nam là đến các nước Đông Nam Á như: Singapore, Indonesia, Malaysia, Campuchia, Thailand Trong tương lai, kênh đào KRA ở Thailand được mở nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, mở ra trục Đông – Tây thì Côn Đảo sẽ nằm ở ngã tư giao thông biển quốc tế

Quần đảo Côn Đảo, với diện tích tự nhiên toàn huyện khoảng 7.678 ha, nằm ngoài khơi vùng

biển phía Đông Nam Việt Nam; bao gồm 16 hòn đảo: (Côn Sơn, Hòn Bà, Hòn Bảy Cạnh, Hòn Cau, Hòn Bông Lan, Hòn Vung, Hòn Trọc, Hòn Trứng, Hòn Tài Lớn, Hòn Tài Nhỏ, Hòn Trác Lớn, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Tre Lớn, Hòn Tre Nhỏ, Hòn Anh, Hòn Em ) với diện tích khác nhau trong đó Côn Sơn

(còn gọi là Côn Lôn hay Côn Đảo – 1977, có diện tích 5.150 ha) là hòn đảo lớn nhất có cư dân sinh

sống

Đảo Côn Sơn gồm 3 khu vực:

- Khu vực Cỏ Ống – nằm ở phía Bắc đảo bao gồm sân bay, căn cứ quân sự và một làng nhỏ

- Thị trấn Côn Đảo là khu trung tâm của đảo và là khu trung tâm hành chính và thương mại Ở đây tập trung phần lớn các khu dân cư, các cơ sở vật chất du lịch

và phần lớn các di tích lịch sử như các nhà tù và các tượng đài; cung cấp nguồn nước sạch và các phương tiện cho các tàu đánh cá

- Khu Bến Đầm: là cảng cá, cảng thương mại của Côn Đảo

Các hòn đảo có khả năng phát triển du lịch:

- Hòn Bảy Cạnh - Bao gồm một trạm kiểm lâm, ngọn hải đăng, các tuyến đường

đi bộ và các bãi biển lớn

- Hòn Cau, Hòn Tài, Hòn Trác, Hòn Bà, Hòn Trọc, Hòn Tre Lớn, Hòn Tre Nhỏ vẫn còn rất nguyên sơ với những bãi biển đẹp và sự đa dạng sinh học rừng - biển Huyện Côn Đảo có tiềm năng thế mạnh để phát triển du lịch, khai thác chế biến hải sản, phát triển cảng biển, dịch vụ dầu khí và hàng hải Bờ biển dài 200km, có nhiều bãi tắm đẹp tuyệt vời như bãi Đất Dốc, Bãi Cạnh, bãi Đầm Trầu, bãi Hòn Cau, bãi Hòn Tre Thêm vào đó là vườn Quốc gia Côn

Trang 27

Đảo diện tích gần 6.000ha trên đất liền và 14.000ha mặt biển với nhiều loại cây và thú quý hiếm Nói đến Côn Đảo, ai cũng biết nơi đây có hệ thống nhà tù khủng khiếp của Pháp, Mỹ với nhiều trại giam lớn như: trại Phú hải, Phú Sơn, Phú Tường, Phú Bình, Chuồng Cọp, Chuồng Bò cùng khu nhà Chúa Đảo và khu nghĩa trang Hàng Dương - nơi chôn cất hơn 20.000 tù nhân chủ yếu là các chiến sĩ cách mạng trong hai thời kỳ kháng chiến Môi trường sống ở Côn Đảo rất trong lành, nhiệt độ bình quân khoảng 26 – 270C mát mẻ quanh năm Tất cả những điều kể trên là tiềm năng du lịch của Côn Đảo với các loại hình phong phú như: Du lịch tắm biển nghỉ ngơi, du lịch tham quan di tích lịch sử, du lịch sinh thái (lặn, câu cá, leo núi, tham quan rừng biển, sinh vật biển ) Hàng năm Côn Đảo đón hàng trăm nghìn lượt khách đến du lịch Đến với Côn Đảo, du khách được nghỉ ngơi tại những cơ sở lưu trú đầy đủ tiện nghi như: khách sạn Phi Yến, Sài Gòn Tourist, nhà khách Vườn Quốc Gia Côn Đảo

Ngoài du lịch, Côn Đảo còn là trung tâm ngư trường khai thác hải sản của Tỉnh và phía Nam Trung Ương và tỉnh đã xây dựng cảng cá Bến Đầm dài 336m cho tàu 2.000 tấn cập bến Riêng huyện Côn Đảo cũng có đội tàu khá lớn, hàng năm đánh bắt khoảng 10.000 tấn hải sản các loại

Những năm gần đây, cuộc sống và sinh hoạt của người dân ở Côn Đảo có phần khởi sắc Đường

sá, sân bay, bến cảng đang đợc trùng tu Ngư trường Côn Đảo sôi động hẳn bởi các dịch vụ hậu cần nghề cá Tàu các tỉnh, có lúc cập vào Côn Đảo từ 5000 đến 6000 chiếc Du khách trong và ngoài nước đến Côn Đảo ngày càng nhiều Hiện tại, ngoài hai tuyến bay từ Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) và Vũng Tàu, Côn Đảo còn có 5 chiếc tàu lớn loại 100 giường nằm và 3 tàu chở hàng từ 50 đến

250 tấn Đến Côn Đảo, ngoài giờ làm việc nghỉ ngơi, du khách có thể dạo quanh quần đảo, chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ thú mà thiên nhiên đã ban tặng riêng cho nơi này và có thể tìm được rất nhiều thông tin của quá khứ chứa đựng trong mỗi di vật trên hòn đảo còn nhiều bí ẩn này

Theo quy hoạch tại Bến Đầm sẽ xây dựng 3 cảng: cảng hải sản ở khu vực nước sâu 6 – 8m đã hoàn thành, cảng Dịch vụ kỹ thuật dầu khí ở khu vực nước 8 – 15m, cảng Hải quân ở cửa họng Đầm

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo

Thiên nhiên và lịch sử đã tạo nên một Côn Đảo nổi tiếng cả trong và ngoài nước Nhiều chuyên gia khoa học quốc gia và quốc tế khi đặt chân lên Đảo, họ không khỏi ngỡ ngàng, xúc cảm trước vẻ đẹp và các giá trị của quần đảo Họ đánh giá rằng, Côn Đảo không chỉ là di sản lịch sử cách mạng, văn hoá mà còn là di sản thiên nhiên với sự kết hợp hài hoà, đa dạng, độc đáo giữa rừng và biển tạo nên bức tranh sơn thuỷ hữu tình

2.2.1 Các nhân tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:

Trang 28

2.2.1.2 Tài nguyên du lịch:

Tài nguyên rừng:

Tổng diện tích Vườn quốc gia Côn Đảo (phần rừng núi) là 5.990,7 ha, trong đó diện tích đất có rừng là 4.897,7 ha, đất không có rừng là 622 ha và đất khác là 471 ha

Trong diện tích đất rừng thì rừng cây gỗ lá rộng có diện tích 4.778 ha, rừng tre có diện tích 109

ha và rừng ngập mặn 18 ha Các đảo ở đây đều được che phủ bằng thảm thực vật rừng có độ che phủ tới 92% diện tích tự nhiên, bắt đầu từ mép nước biển lên đến đỉnh núi Rừng và tài nguyên rừng Côn Đảo có những đặc điểm như sau:

- Hệ sinh thái rừng của Vườn quốc gia Côn Đảo thuộc Hệ sinh thái rừng Nhiệt Đới Hải Đảo, với hai kiểu rừng chính:

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

+ Kiểu rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới

- Về thành phần thực vật:

+ Qua kết quả điều tra thành phần thực vật rừng ở Vườn quốc gia Côn Đảo các năm 1993,1997

và 2000 của Phân viện điều tra Quy hoạch Rừng II TP.HCM đã thống kê được 1.077 loài thuộc 640 chi của 160 họ thực vật bậc cao có mạch, trong đó: cây gỗ 420 loài, cây bụi 273 loài, dây leo 137 loài, cây

cỏ 137 loài, khuyết thực vật 53 loài và thực vật phụ sinh 20 loài

+ Các loài thực vật trên đai diện cho nhiều vùng trong cả nước như:

* Đại diện cho hệ thực vật bản địa miền Bắc Việt Nam gồm có các loài cây trong họ Xoan (Meliaceae) tiêu biểu là loài Lát hoa (Chukrasia tabularis) đây là loài cây gỗ lớn, thuộc nhóm thực vật quý hiếm phân bố rộng trong rừng hỗn loài ở các tỉnh Miền Bắc nước ta, nhưng ở các tỉnh Nam Bộ hầu như ít gặp

* Đại diện cho các loài thực vật ở miền Đông Nam Bộ là những loài cây gỗ lớn như: các loài cây trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Tử vi (Lythraceae) Trong đó có loài Dầu Côn Sơn (Dipterocarpus condorensis) đây là loài cây gỗ lớn, thuộc loài thực vật đặc hữu của Vườn quốc gia Côn Đảo và phân bố tự nhiên trên đảo Côn Sơn

* Đại diện cho thực vật vùng đồng bằng sông Cửu Long như Đước xanh (Rhizophora mucronata), Mắm trắng (Avicennia alba), Vẹt dù (Brughiera gymnorhiza), Cóc vàng (Lumnitzera racemosa)…đại diện cho rừng ngập mặn và cây Tràm (Melaleuca cajeputi) đai diện cho rừng ngập nước úng phèn

- Tính đa dạng của thực vật rừng:

+ Đa dạng về nguồn gien:

* Nguồn gien hệ thực vật di cư: Đại diện của 4 hệ thực vật di cư xâm nhập là Hệ thực vật Malaixia - Inđonexia có họ Dầu (Dipterocarpaceae) với 7 loài; hệ thực vật Ấn Độ - Miến Điện có 3 họ đặc trưng: Họ Tử vi (Lythraceae) 12 loài, họ Bàng (Combretaceae) 9 loài, họ Gòn (Bombaceae) 3 loài;

Trang 29

Hệ thực vật Himalaya - Vân Nam - Quí Châu Trung Hoa có 5 họ đặc trưng: Họ Re (Lauraceae) 16 loài,

họ Đỗ quyên (Ecicaceae) 1 loài; hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa có 6 họ đặc trưng: Họ Đậu (Fabaceae) 84 loài, họ Ba Mảnh Vỏ (Euphorbiaceae) 67 loài, họ Thị (Ebenaceae) 12 loài, họ Cà Phê (Rubiaceae) 68 loài, họ Cỏ (Poaceae) 30 loài, họ Xoài (Anacardiaceae) 14 loài

* Nguồn gen thực vật Cổ xưa (Cổ nhiệt đới và á nhiệt đới) gồm đại diện của một số loài thực vật trong các họ đặc trưng sau: Họ Na (Annonaceae), họ Bứa (Clusiaceae), họ Trung quân (Acistroladaceae), họ Chuối (Musaceae), họ Dứa dại (Pandanaceae); thực vật cổ á nhiệt đới, với 6 họ đặc trưng: Họ Thiên tuế (Cycadaceae) 4 loài, họ Re (Lauraceae) 16 loài, họ Chè (Theaceae) 8 loài, họ

Đỗ quyên (Ecicaceae) 1 loài

* Nguồn gien quý hiếm và đặc hữu: Những loài quý hiếm: Lát hoa (Chukrasia tabularia), Găng néo (Manilkara hexandra), Quăng lông (Alangium salvifolium)…Từ phía Nam lên là luồng thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Malaixia - Indonexia với đặc trưng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae)

Trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã được phát hiện ở Côn Đảo thì có 44 loài được các nhà khoa học tìm thấy đầu tiên ở Côn Đảo gồm: Cây gỗ 14 loài, dây leo 6 loài, Tiểu mộc 10 loài, Cỏ

13 loài, Khuyết thực vật 1 loài Trong đó có 11 loài được lấy tên “Côn Sơn” đặt tên cho loài: Bui Côn Sơn (Ilex condorensis), Gội Côn Sơn (Amoora poulocondorensis), Thạch trang Côn Sơn (Petrocosmea condorensis), Xà căn Côn Sơn (Ophiorrhiza harrisiana var condorensis), Đọt sành Côn Sơn (Pavetta condorensis), Lấu Côn Sơn (Psychotria condorensis), Xú hương Côn Sơn (Lasianthas condorensis), Thiệt thủ Côn Sơn (Glossogyne condorensis), Kháo Côn Sơn (Machilus thunbergii sieb-et-var condorensis), Dầu Côn Sơn (Dipterocarpus condorensis), Đậu Khấu Côn Sơn (Miristica guatterifolia)

+ Đa dạng về công dụng: Các loài thực vật rừng của Vườn quốc gia Côn Đảo ngoài khả năng cung cấp gỗ, củi; thì chúng còn các công dụng khác như cây có khả năng làm dược liệu có 98 loài (Trong đó có 4 loài có số lượng lớn như Ngũ gia bì (Schfflera), Thiên niên kiện (Homolomena occulta), Chay lan (Ochrosia oppositifolia), Gõ sữa (Ba gạc) (Rauwolfia reflexa) Cây có thể sử dụng làm cây cảnh 90 loài, trong đó có 18 loài thuộc họ Phong lan (Orchidaceae), nhiều loài có khả năng cho nhựa, tanin, làm thực phẩm cho người và động vật gồm hoa quả, thân dễ

- Về thành phần động vật: Khu hệ động vật có xương sống trên cạn ở Vườn quốc gia Côn Đảo

đã thống kê được 160 loài thuộc 65 họ, 32 bộ Trong đó, thú có 29 loài thuộc 16 họ, 10 bộ; Chim có 85 loài thuộc 32 họ, 17 bộ; Bò sát có 38 loài thuộc 13 họ, 4 bộ; ếch nhái có 8 loài thuộc 4 họ, 1 bộ

Nhóm Động vật đặc hữu của Côn Đảo: Có 3 loài Động vật đặc hữu của Côn Đảo Đó là những loài cần quan tâm bảo vệ đặc biệt vì chỉ còn có ở đây như: Sóc mun (Callosciurus sp) Loài chưa định tên, song có thể nói là loài mới, ở Việt Nam mới chỉ gặp Sóc mun ở Côn Đảo; Sóc đen Côn Đảo (Rafuta bicolor condorensis): Loài phụ, chỉ có Côn Đảo; Thạch sùng Côn Đảo (Cyrtod tylus condorensis) cũng chỉ mói biết ở Côn Đảo Loài này còn tương Đối phổ biến

Nhóm động vật qúy hiếm: Thú có 11 loài, Chim có 8 loài, Bò sát 12 loài

Trang 30

Tài nguyên sinh vật biển :

Vùng biển Côn Đảo được đưa vào danh sách “các vùng được ưu tiên bảo vệ cao nhất” trong hệ thống các vùng bảo vệ biển của ngân hàng thế giới

Theo Viện Hải Dương Học Nha Trang và Hải Phòng thì vùng biển Côn Đảo có sự giàu có về mật độ và phong phú về loài sinh vật bậc nhất Việt Nam, nhiều rạn san hô còn mang tính nguyên thủy cao, các cuộc khảo sát về sinh vật biển gần đây các chuyên gia hàng đầu thế giới về chuyên ngành luôn tìm ra các loài sinh vật mới cho thế giới và Việt Nam

Khu hệ sinh vật biển đã thống kê được có 1.493 loài trong đó : Thực vật ngập mặn (Mangro forest) 23 loài, Rong biển (Algae) 127 loài, Cỏ biển (Seagrass) 11 loài, thực vật Phù du (Phytoplankton)157 loài, động vật Phù du (Zooplankton) 115 loài, San hô (Coral) 342 loài, thân mềm (Mollusa) 187 loài, cá rạn san hô (Coral reef fishes) 202 loài, Giáp xác (Crustacea) 116 loài , Da gai (Echiodermarta) 75 loài, Giun nhiều tơ (Polycheta) 130 loài, thú và bò sát biển 8 loài

Kết quả nghiên cứu đã thống kê được ở thuỷ vực Côn Đảo có tới 44 loài là nguồn gien cực kỳ quí hiếm của biển Việt nam và đã được đưa vào Sách đỏ Chúng bao gồm: 02 loài rong, 02 loài thực vật ngập mặn, 03 loài san hô, 12 loài thân mềm, 01 loài giáp xác, 04 loài da gai, 07 loài cá, 07 loài bò sát, 05 loài chim và 01 loài thú

Biển Côn Đảo có 3 hệ sinh thái chính: hệ sinh thái rừng ngập mặn có diện tích là 18 ha, hệ sinh thái cỏ biển có diện tích khoảng 200 ha, hệ sinh thái các sạn san hô có diện tích khoảng 1.000 ha

+ Hệ sinh thái san hô: Hệ sinh thái san hô phát triển rất mạnh ở vùng bao quanh Vườn Quốc gia Côn Đảo, với 342 loài, 61 giống, 17 họ Có thể nói thành phần loài khu hệ san hô Côn Đảo phong phú

và đa dạng vào loại nhất, nhì của Việt Nam Các giống san hô chiếm ưu thế là Acropora, Porites, Pachyseris, Montipora, Panova, hệ sinh thái rạn san hô chứa đựng sự đa dạng cao các loài cá và các loài thủy sinh vật khác ; là sinh cảnh đẻ trứng, ương nuôi ấu trùng, kiếm ăn của nhiều loài sinh vật biển của khu vực biển Đông Nam Việt Nam và của cả khu vực Đông Nam Á Rạn san hô còn có tầm quan trọng trong việc điều hòa, cân bằng lượng Oxy trong nước biển và bảo vệ bờ biển Côn Đảo

+ Hệ sinh thái cỏ biển: Qua khảo sát nghiên cứu vùng biển Côn Đảo có 11 loài cỏ biển chiếm 84,61 % tổng số loài hiện nay đã biết ở Việt Nam (13 loài), nhiều hơn của Singapo 04 loài và nhiều hơn Brunei 06 loài Sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái cỏ biển có vài trò quan trọng là nguồn thức ăn chính của Dugong dugon một lòai thú quý hiếm ở biển Ở vùng biển Côn Ðảo có 8 - 12

cá thể Dugong dugon, đây là loài thú biển ăn thực vật lớn nhất còn tồn tại và được thế giới đặc biệt quan tâm, hiện nay chỉ còn thấy ở Côn Đảo và Phú Quốc

+ Hệ sinh thái rừng ngặp mặn: số loài thực vật ngập mặn ở Côn Đảo đã được xác định là 23 loài, các loài chiếm ưu thế là Đước Đôi (Rhizophora apiculata),Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Đước xanh (Rhizophora mucronata)

Ngoài ra vùng biển Côn Đảo còn có bò sát và thú biển:

Trang 31

- Thú biển: Vùng biển Côn Đảo thường xuất hiện 3 loài thú: Delphin mõm dài (Stenella longirostris), Cá voi xanh (Balaenoptera musculus) và Dugong dugon hay còn gọi là Bò biển (seacow) Đây là 3 lòai thú biển cần quan tâm bảo vệ, đặt biệt có loài thú Dugong dugon đã tồn tại từ lâu ở Côn Đảo nhưng đến năm 1995 mới được phát hiện Hiện nay Dugong là đối tượng được quan tâm bảo vệ trên phạm vi toàn cầu

- Bò sát biển: bao gồm các loài rùa biển và rắn biển Rùa biển: có 2 loài với số lượng lớn đang sinh sống và lên đẻ hàng năm ở Vườn Quốc gia Côn Đảo là : Chelonia mydas (vích) và Ertmochelys imbricata (đồi mồi) Vùng biển Côn Đảo cũng là sinh cảnh kiếm ăn của loài Rùa da (Dermochelys coriacea), Quản đồng (Lepidochelys olivacea) Với 14 bãi đẻ của rùa biển, hàng năm về Côn Đảo làm

tổ với số lượng khoảng 300 cá thể rùa mẹ, đây là quần thể rùa được đánh giá chiếm 70 - 80% số rùa biển làm tổ/năm ở toàn vùng biển Việt Nam

2.2.1.3 Tài nguyên khí hậu:

Côn Đảo nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chịu ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa Tây Nam, mạnh nhất vào khoảng tháng 9, 10 biển động rất mạnh, tàu thuyền khó đi lại; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; lượng mưa trung bình: 2.200mm; độ ẩm trung bình: 80%

Do có biển bao bọc xung quanh nên nhìn chung khí hậu Côn Đảo trong lành, mát mẻ, nhiệt độ trung bình từ 26 - 27oC => thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng Tuy nhiên, sự thất thường của khí hậu đã làm cho ngành du lịch của huyện Côn Đảo manh tính mùa vụ rõ rệt

2.2.1.4 Tài nguyên nước:

Ở Côn Đảo, chỉ có đảo Côn Sơn và hòn Cau có nước ngọt Địa hình Côn Đảo chủ yếu là núi đồi,

có khoảng 60 con suối ngắn, nhỏ chảy tạm thời vào mùa mưa Song ở đây có mạch nước ngầm rất sạch

và hồ chứa nước Quang Trung khá lớn cung cấp đủ nước cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác

2.2.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội:

2.2.2.1 Dân cư, lao động:

- Dân cư- xã hội:

Trước năm 1975 cư dân trên Côn Đảo là các gia đình của các công chức của chế độ chính quyền Sài Gòn trước đây giám sát các tù nhân chiến tranh và chính trị

Tính đến năm 2005, Côn Đảo có số dân khoảng 5.500 người, phần lớn là dân nhập cư

Dân cư tập trung chủ yếu ở đảo Côn Sơn - đây cũng là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hoá của huyện Côn Đảo

Về thành phần dân tộc: Kinh: chiếm 98,1%; Khơme chiếm 1,7%; Êđê chiếm 0,1% và Tày chiếm 0,1%

Trang 32

Côn Đảo chỉ có một cấp chính quyền (cấp huyện và các phòng ban chuyên môn), không có cấp

xã hoặc cấp thấp hơn Chính quyền cấp huyện trực tiếp chỉ đạo 09 khu dân cư và các đơn vị sản xuất

- Lao động:

Trong 5500 người, Côn Đảo có 3901 người trong độ tuồi lao động (chiếm 70,93%), trong đó: công viên chức Chính phủ (60%), nông dân (20%), cung cấp các dịch vụ (17%) và ngư dân (3%); số người chưa tới tuổi lao động là 1420 người (chiếm 25,87%) ; số người quá tuổi lao động 179 người (chiếm 3,2%)

Dịch vu – Du lịch đạt 81.934 triệu đồng, tốc độ tăng trung bình hàng năm đạt 17,96%

Công nghiệp – xây dựng đạt 35.520 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 12,23%

Nông – lâm – ngư nghiệp đạt 24.661 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 2,71%

Về cơ cấu kinh tế của huyện giai đoạn 2001 – 2005 như sau:

Dịch vụ - Du lịch chiếm 57,66%

Công nghiệp và xây dựng chiếm 24,99%

Nông – lâm – ngư chiếm 17,35%

(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu)

2.2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn:

Nhân dân Việt Nam và một phần du khách quốc tế biết đến Côn Đảo với biệt danh là “Địa ngục trần gian”

Ngày 29-4-1979, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra quyết định số 54/VH.QĐ đặc cách công nhận khu

di tích lịch sử Côn Đảo và công nhận đây là một trong những khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia Tại Hội nghị ngày 23-8-1998 do UBND tỉnh chủ trì đã thông qua đề án quy định khu vực bảo vệ

Di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo với 20 địa điểm di tích trong tâm Sau đây tôi xin giới thiệu một số di tích được khai thác du lịch nhiều:

- Nhà tù Côn Đảo

Trang 33

Hệ thống nhà tù được thiết lập theo Nghị định ngày 1-2-1862 của đô đốc Bonard để giam những người cộng sản

Trong hơn nữa thế kỷ đầu, nhà tù Côn Đảo chỉ có một trại giam (Bagne NoI) Banh II được khởi công xây dựng năm 1917, đưa vào sử dụng năm 1928 Banh III tiếp tục được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 1939 Banh phụ của Banh III cùng 2 dãy Chuồng Cọp được sử dụng năm 1944

Trong 20 năm sau cùng của nhà tù này Mỹ nguỵ đã tăng quy mô từ 4 trại lên 8 trại, mỗi trại rộng từ 10.000 đến 25.000m2 cùng hàng chục trại phụ với 20 hầm đá, 14 xà lim, 31 gian biệt lập Chuồng Bò, 120 Chuồng Cọp Pháp, 384 Chuồng Cọp Mỹ và hàng chục khu biệt lập nhất thời để duy trì an ninh (phụ lục )

- Cầu Tàu 914 :

Cầu Tàu được khởi công xây dựng vào năm 1873, mở rộng và sửa chữa nhiều lần cho đến gần một thế kỷ sau mới có dạng như ngày nay Cầu Tàu là nơi ghi dấu bước chân lưu đầy đầu tiên của hàng chục vạn người tù lên hòn đảo tù này, với tất cả nỗi tủi nhục của trận đòn phủ đầu từ Cầu Tàu về trại giam Hàng vạn người chỉ một lần đặt chân lên đây rồi vĩnh viễn nằm lại Côn Đảo và 914 là số người

đã chếttrong lúc xây dựng Cầu Tàu

- Nghĩa trang Hàng Dương:

Nghĩa trang Hàng Dương là nghĩa trang lớn nhất tại Côn Đảo và được xem là “Bàn thờ Tổ quốc” Đây là nơi chôn cất hàng vạn chiến sĩ cách mạng và người yêu nước Việt Nam qua nhiều thế hệ

bị tù đày, kéo dài từ năm 1862 đến năm 1975, trong nhà tù Côn Đảo của chính quyền thuộc địa Pháp,

và sau này là chính quyền Việt Nam Cộng hòa Họ đã chết dưới sự tàn bạo của cai ngục và hoàn cảnh sống khắc nghiệt tại nhà tù

- Miếu Bà Phi Yến:

Bà Phi Yến, theo truyền thuyết được một con vượn và một con hổ cứu ra khỏi hang và về sống với dân làng Cỏ Ống để trông nom mộ Hoàng tử Cải Một lần, bị kẻ xấu xúc phạm bà đã tự tử để thủ tiết với chồng Nhân dân trên đảo vô cùng thương tiếc, đã lập nên ngôi miếu để thờ bà Năm 1861, Pháp sau khi chiếm đảo đã quyết định di toàn bộ dân vào đất liền để xây nhà tù Ngôi miếu bị đổ nát Năm 1958, nhân dân trên đảo xây dựng lại ngôi miếu trên nền cũ

2.3 Thực trạng phát triển du lịch huyện Côn Đảo

2.3.1 Xây dựng bộ máy tổ chức quản lý du lịch

- Trước năm 2000 huyện Côn Đảo chưa có bộ phận riêng biệt quản lý các hoạt động du lịch

- Ngày 14/02/2001 UBND huyện ban hành quyết định số 51/QĐ.UB về thành lập Ban chỉ đạo phát triển du lịch của huyện

Trang 34

- Ngày 15/03/2001 UBND ra quyết định số 90/QĐ.UB về thành lập Trung tâm điều hành du lịch của huyện Tuy nhiên do ảnh hưởng các quy định về biên chế là huyện “đặc thù” nên đa số cán bộ của Ban chỉ đạo và Trung tâm đều là cán bộ kiêm nhiệm, chưa có văn phòng, kinh phí và trang thiết bị cho các tổ chức hoạt động nên hiệu quả đem lại chưa cao

- Ngày 25-10-2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 264/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển kinh tế - xã hội huyện Côn Đảo đến năm 2020 Mà trọng tâm của Đề án là biến Côn Đảo trở thành khu kinh tế - du lịch và dịch vụ hiện đại, đặc sắc tầm cỡ khu vực và quốc tế Sau khi Đề án phát triển kinh tế - xã hội Côn Đảo được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt, Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập Ban quản lý phát triển Côn Đảo trực thuộc ủy ban nhân dân tỉnh nhằm tổ chức triển khai thực hiện Đề án

- Hiện tại chức năng quản lý du lịch do Ban Quản lý các khu du lịch của UBND huyện Côn Đảo đảm nhiệm bao gồm thu thập các số liệu thống kê và xem xét các hồ sơ dự án phát triển du lịch Sở

du lịch tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đóng vai trò hỗ trợ Ban Quản lý phát triển Côn Đảo được thành lập năm 2006 hỗ trợ cho việc quản lý du lịch trên đảo bằng việc xem xét các đề án và hồ sơ dự án phát triển du lịch trước khi chuyển đến các cơ quan chính quyền chức năng Mặc dù vậy không có một tổ chức nghề nghiệp hay một cơ quan chính quyền chuyên trách việc quản lý hay phát triển du lịch tại Côn Đảo Mối quan hệ giữa các cơ quan liên quan, Vườn quốc gia Côn Đảo, Ban Quản lý phát triển Côn Đảo và tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tương đối yếu và hiện tại chưa có quy hoạch và quản lý phát triển

du lịch một cách tổng hợp

-

2.3.2 Thực trạng phát triển du lịch của Côn Đảo từ 1996 đến năm 2007

2.3.2.1 Về khách du lịch:

Bảng 2 1 Tình hình tăng trưởng khách du lịch đến Côn Đảo từ năm 1996 – 2007

Năm Khách nội địa (lượt người) Khách quốc tế (lượt người) Tổng số (lượt người)

Trang 35

2007 16.055 1.445 17.500

(Nguồn: Bảng baó cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển du lịch hàng năm của Huyện Côn Đảo)

Trong hơn thập kỷ vừa qua số lượng khách du lịch đến Côn Đảo đã tăng rất nhanh từ 1.563 lượt khách năm 1996 lên gần 17.500 năm 2007. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm về khách từ năm

2001 rất ổn định và đạt gần 10%/năm Khách du lịch nội địa chiếm phần lớn tổng lượng khách đến Côn Đảo và chỉ 1/10 (gần1800 lượtkhách) là khách quốc tế

Hình 2.2 Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch đến Côn Đảo từ năm 1996 - 2007

BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG KHÁCH DU LỊCH

1445 1546

 Khách du lịch quốc tế:

Đa số khách quốc tế đến Côn Đảo để thư giãn vào các kỳ nghỉ và một phần nghiên cứu khoa học Khách phương Tây phần lớn họ đến từ Pháp, Thụy Sỹ, Đức, Hoa Kỳ; khách Châu Á, họ đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc Họ là những người trẻ tuổi (từ 20 đến 40 tuổi) và chủ yếu du lịch tự

do theo kiểu Tây Balô hay các nhóm khách nhỏ đi theo các tour du lịch

Du khách quốc tế đến với Côn Đảo để khám phá thiên nhiên hoang dã là chính Một số rất ít cựu chiến binh đến Côn Đảo để thăm lại chiến trường xưa

 Khách du lịch nội địa

Gần một nửa (45%) khách du lịch nội địa tới Côn Đảo trong các kỳ nghỉ, khoảng 40% tới đảo

để thăm bạn bè và họ hàng, 10% tới đảo là đi công tác và 5% còn lại tới đảo vì các lý do khác như sinh viên đi thực tập, học sinh cắm trại về nguồn Phần lớn khách du lịch nội địa đến từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Vũng Tàu họ đi theo tour

Trang 36

Khác với du khách quốc tế, phần lớn khách du lịch nội địa tới Côn Đảo là để thăm quan các khu di tích lịch sử văn hóa; việc nghỉ biển chỉ là mục đích phụ Ngoài ra, còn có những đoàn du khách nội địa là cựu chiến binh thăm lại chiến trường xưa

Bảng2 2 Tỉ trọng khách du lịch đến Côn Đảo so với tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu

Du khách đến Bà Rịa-

Vũng Tàu (lượt người)

Du khách đến Côn Đảo(lượt người)

Tỉ trọng du khách đến Côn Đảo so với Bà Rịa-Vũng Tàu (%) Năm

(Nguồn: Bảng baó cáo tình hình kinh doanh du lịch hàng năm của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Huyện Côn Đảo)

Nhìn chung, tỷ trọng khách du lịch đến Côn Đảo so với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là rất thấp (chưa tới 1%) Từ năm 1997 đến năm 2007, tỷ trọng khách nội địa tăng nhưng chậm (từ 0,12% lên 0,28% - tăng gấp hơn hai lần), còn tỷ trọng khách quốc tế tăng rất nhanh (từ 0,04% lên 0,66% - tăng 16,5 lần) điều này mở ra triển vọng lớn cho ngành du lịch Côn Đảo đặc biệt đối với thị trường khách quốc tế

2.3.2.2 V ề doanh thu:

Bảng 2.3: Doanh thu từ du lịch Côn Đảo từ năm 1996 - 2007

Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007

Doanh thu (triệu đồng) 320 1.379 1.347 2.151 3.835 2.066 2.846 3.031 4.375 5.000 9.847 13.500

Doanh thu không ngừng tăng theo từng năm Vào 1996 doanh thu mới chỉ có 320 triệu, đến năm

2000 đã là 3000 triệu đồng Và gần đây đã có sự gia tăng rất nhanh, lên đến 13.500 triệu đồng Đặc biệt

từ năm 2005 trở lại đây doanh thu tăng rất nhanh: từ 5000 triệu đồng lên 13.500 triệu đồng, gần gấp 3 lần

Trang 37

Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưỏng về doanh thu của ngành du lịch Côn Đảo từ năm 1996 -

Doanh thu từ du lịch của

Côn Đảo (Triệu đồng)

Huyện Côn Đảo)

So với doanh thu du lịch của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, doanh thu du lịch của Côn Đảo chiếm tỷ trọng rất thấp (cao nhất là 3,51% năm 2005), đây là thời gian diễn ra Festival biển ở Côn Đảo Điều đó chứng tỏ ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chưa đầu tư đúng mức cho ngành du lịch Côn Đảo Tiềm năng du lịch Côn Đảo rất lớn nhưng chưa khai thác bao nhiêu

Sau sự kiện Festival, Côn Đảo được quảng bá rất mạnh mẽ, doanh thu du lịch cũng tăng khá nhanh (từ

5 tỷ đến gần 10 tỷ đồng).Tuy nhiên tỷ trọng so với doanh thu du lịch của tỉnh thì giảm còn chưa đến 1% Vì thế Tỉnh cần có chiến lược đầu tư phát triển du lịch Côn Đảo một cách kịp thời nhằm chống

Trang 38

lãng phí tài nguyên du lịch thêm nữa đồng thời góp phần phát triển kinh tế địa phương, góp phần nâng cao mức sống cho người dân Côn Đảo

Bảng 2.5: Tỉ trọng doanh thu du lịch Côn Đảo so với GDP(theo giá hiện hành) của huyện Côn Đảo

(Nguồn: Bảng baó cáo tình hình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội và kinh doanh du lịch hàng năm-từ năm

Mặc dù Côn Đảo có tiềm năng du lịch rất lớn nhưng tỷ trọng của ngành so với GDP Côn Đảo còn rất thấp (cao nhất vào năm 2007 cũng chỉ đạt gần 17%)  ngành du lịch Côn Đảo chưa được đầu tư khai thác bao nhiêu; song tỷ trọng tăng theo thời gian nhưng với tốc độ khá nhanh (gần 6,5 lần – giá trị tuyệt đối và hơn gấp 2 lần - giá trị tương đối) chứng tỏ ngành du lịch Côn Đảo rất có triển vọng và ngày càng khai thác hiệu quả hơn, tuy nhiên vẫn chưa xứng với tiềm năng của huyện

2.3.2.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật du lịch

- Giao thông:

Hiện nay, việc đi lại giữa Côn Đảo và đất liền chỉ bằng hai cách: đường hàng không và đường thủy

Hàng không: sân bay Cổ Ống thực hiện mỗi ngày 1 chuyến bay từ thành phố Hồ Chí Minh đến

Côn Đảo và ngược lại, mỗi chuyến vận chuyển được khoảng 60 – 70 hành khách

Hiện tại, Công ty Dịch vụ Hàng không Việt Nam (VASCO) thực hiện lịch bay 6 chuyến 1 tuần tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Côn Đảo Thông thường các chuyến bay cất hạ cánh vào buổi sáng trừ ngày thứ 7 VASCO hiện đang sử dụng máy bay ATR-72, 64 hành khách trên tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Côn Đảo Mặc dù vậy, các chuyến bay luôn kín chỗ bởi các hành khách thường xuyên, những người sống ở trên đất liền tới Côn Đảo để làm việc và ngược lại, gây nhiều khó khăn cho khách du lịch Hiện nay, việc tổ chức các đoàn tour lớn tới Côn Đảo còn khó khăn do nhiều lý do và một trong những lý do đó là giá vé khứ hồi thành phố Hồ Chí Minh – Côn Đảo khá cao xấp xỉ 85 đô la Mỹ

Đường thủy: Hiện đảo có 2 tàu là Côn Đảo 9 và Côn Đảo 10 chạy tuyến Vũng Tàu - Côn Đảo

và ngược lại Mỗi tàu chạy mỗi ngày một chuyến Mỗi chuyến khoản được 200 hành khách

Cảng Bến Đầm là cảng lớn của Côn Đảo Cảng này dùng để phục vụ nghề cá, hành khách và các hoạt động chuyên chở hàng hóa Công suất hàng năm của Cảng Bến Đầm đạt khoảng 5000 tàu thuyền và được công nhận là 1 chi nhánh của cảng quốc tế Vũng Tàu Ngoài Cảng Bến Đầm, còn có 1 cầu tàu tại Vịnh Côn Sơn gần thị trấn Côn Đảo – cầu tàu 914 - Cầu tàu này chủ yếu được sử dụng cho

Trang 39

các dịch vụ du lịch như tàu đưa khách tới các đảo ngoài khơi để tham quan, lặn biển và các tàu cá của người dân địa phương

Đường bộ: tổng chiều dài của hệ thống đường bộ trên Đảo xấp xỉ 85km Trục đường chính

chạy từ sân bay Cỏ Ống (nằm ở phía Bắc của đảo Côn Sơn) tới Cảng Bến Đầm (nằm ở phía Nam) chạy qua thị trấn Côn Đảo Gần đây huyện Côn Đảo đã nâng cấp hệ thống đường xá cũng như các phương tiện vận tải biển và tăng lịch xe đón tiễn khách tới sân bay Hầu hết khách du lịch thuê xe đạp hoặc xe máy để đi lại trên đảo Hệ thống giao thông kết nối khá tốt các khu du lịch chính và có thể coi là đáp ứng được các nhu cầu phát triển du lịch trong tương lai

- Điện:

Hiện nay điện được cấp cho đảo Côn Sơn bởi 2 máy phát chạy dầu diezel với tổng công suất 4,7

Mê ga Oát, đáp ứng được nhu cầu sử dụng điện hiện nay trên đảo ước tính khoảng 1,2 Mê ga Oát Các khu vực dân cư sinh sống tại Côn Đảo đều được sử dụng điện, với giá điện trung bình là 900 đồng/

kW Tuy nhiên, các máy điện tại Côn Đảo khá cũ kỹ nên việc cấp điện không ổn định, có thể ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng điện cho du lịch trong tương lai

Trước hàng loạt dự án về du lịch, để đáp ứng nhu cầu về năng lượng điện tăng đột biến trong thời gian tới Mới đây, UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chấp thuận đề nghị của một tập đoàn Thuỵ Sĩ

về việc triển khai nghiên cứu và chuẩn bị các thủ tục để thực hiện lập dự án điện gió, công suất 7 MW cho huyện Côn Đảo Theo kế hoạch xây dựng nhà máy điện gió công suất 7MW tại Côn Đảo do tập đoàn Aerogie.plus (Thụy Sỹ) phác thảo, vốn đầu tư ước tính khoảng 19 triệu đô la Mỹ Và vào đầu tháng 08/2008 vừa rồi Bộ Công thương vừa quyết định sẽ triển khai các dự án đầu tư phát triển năng lượng tái tạo (Diezel – Gió – Mặt trời) tại các huyện đảo trong cả nước Huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong 4 huyện đảo được chọn Mục tiêu của dự án là thúc đẩy phát triển kinh tế, cung cấp nguồn năng lượng đầy đủ, đáng tin cậy Tổng nguồn vốn của dự án vào khoảng 65,5 triệu USD, trong đó vốn ODA là 60 triệu USD, hỗ trợ vốn ODA không hoàn lại là 2,5 triệu USD, vốn đối ứng của các tỉnh là 3 triệu USD Thời gian thực hiện từ năm 2009 đến 2013

- Nước:

Nước sinh hoạt và sản xuất trên đảo Côn Sơn chủ yếu được cấp từ hai nguồn: nước ngầm và nước trên mặt Các đảo ngoài khơi chủ yếu sử dụng nước mưa hoặc nước đưa từ đảo Côn Sơn sang Theo nghiên cứu, khả năng cấp nước từ nguồn nước trên mặt và nước ngầm trên đảo có thể đạt 5000

m3/ngày.Tuy nhiên hiện tại chỉ mới khai thác được 2000 m3/ngày trong đó tiêu thụ hết 1816m3/ngày, bao gồm cả 550 m3/ngày cấp cho sản xuất đá để phục vụ nghề cá Nhu cầu sử dụng nước của khách du lịch thường cao hơn nhiều so với nhu cầu của người dân địa phương, vì vậy việc cung cấp nước sạch cũng sẽ gây trở ngại lớn cho phát triển du lịch trong tương lai tại Côn Đảo

- Thông tin liên lạc

Trang 40

Côn Đảo đã được phủ sóng điện thoại và chất lượng sử dụng rất tốt Hiện có 3 mạng điện thoại

di động phủ sóng là Vinaphone, Mobiphone và Viettel Ngoài ra có mạng cố định không dây của Viettel Cuối tháng 8/2007 Côn Đảo đã kết nối Internet tốc độ cao ASDL Ngoài ra, Côn Đảo còn có đài phát thanh và truyền hình

- Cơ sở lưu trú:

Theo báo cáo của Ban Quản lý phát triển Côn Đảo, Côn Đảo hiện có 10 cơ sở lưu trú với 150 phòng có sức chứa 435 khách Trong đó có một khách sạn đạt chuẩn 3 sao: Sài Gòn - Côn Đảo (Phụ lục 1)

Côn Đảo không có hệ thống xếp hạng cơ sở lưu trú chính thức nào Ở đây, chất lượng giữa cơ

sở lưu trú và các dịch vụ cung cấp có sự khác nhau đáng kể Hiện Côn Đảo có 2 khu du lịch đang được xây dựng và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2010 Khi hoàn thành, công suất hàng ngày của các cơ sở lưu trú sẽ đạt xấp xỉ 310 phòng với 544 giường Nhiều nhà đầu tư đã đề xuất hàng loạt các dự án xây dựng các khách sạn khu du lịch bãi biển lớn nhưng vẫn chưa có dự án nào được phê duyệt

Các cơ sở lưu trú đều nằm trên đảo Côn Sơn và không có cơ sở lưu trú nào nằm trên các đảo khác Tuy nhiên Vườn quốc gia Côn Đảo thỉnh thoảng cho phép các nhóm khách thăm quan nhỏ, chủ yếu là sinh viên, các nhà nghiên cứu được nghỉ qua đêm tại các trạm kiểm lâm hoặc cắm trại tại bãi biển trên đảo Hòn Cau

Công suất sử dụng các cơ sở lưu trú không cao (khoảng 30%/năm) Tuy nhiên có những thời điểm trong năm chẳng hạn trong các mùa nghỉ hè hay dịp lễ thì các cơ sở lưu trú đạt hết công suất

Giá phòng các khu du lịch trên Côn Đảo khá cao: từ 20 đô la Mỹ cho tới 80 đô la Mỹ / đêm và giá phòng nhà nghỉ thường dưới 15 đô la Mỹ Ước tính rằng khách du lịch chi tiêu gần nửa ngân sách của họ cho dịch vụ lưu trú

Ngày đăng: 22/03/2013, 14:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá (Chủ biên), Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long (2006), Tài nguyên Môi trường và Phát triển bền vững, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên Môi trường và Phát triển bền vững
Tác giả: Lê Huy Bá (Chủ biên), Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
2. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
3. Bùi Thị Ngọc Yến (2006), Quy hoạch Du lịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch Du lịch
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Yến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. WWF, Cục Môi trường (1998), “Bên kia chân trời xanh”, Báo cáo tham luận các nguyên tắc du lịch bền vững Sách, tạp chí
Tiêu đề: WWF, Cục Môi trường (1998), “Bên kia chân trời xanh”
Tác giả: WWF, Cục Môi trường
Năm: 1998
5. Khoa học Lịch sử Bà Rịa – Vũng Tàu (1996), Lịch sử Bà Rịa – Vũng Tàu, trang 13  trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử Bà Rịa – Vũng Tàu
Tác giả: Khoa học Lịch sử Bà Rịa – Vũng Tàu
Năm: 1996
6. UBND Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ban chỉ đạo Phát triển Du lịch (2003), Đề án Phát triển Du lịch Huyện Côn Đảo giai đoạn 2003 – 2010, trang 10, 11, 12, 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án Phát triển Du lịch Huyện Côn Đảo giai đoạn 2003 – 2010
Tác giả: UBND Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Ban chỉ đạo Phát triển Du lịch
Năm: 2003
7. Vườn Quóc gia Côn Đảo và Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II (12 – 1999), Dự án Phát triển Du lịch Sinh thái Vườn Quốc gia Côn Đảo, trang 5  trang 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Phát triển Du lịch Sinh thái Vườn Quốc gia Côn Đảo
8. UBND Huyện Côn Đảo, Ban Quản lý các khu Du lịch (2007). Báo cáo tình hình thực hiện đầu tư của các Dự án du lịch trên địa bán Huyện Côn Đảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND Huyện Côn Đảo, Ban Quản lý các khu Du lịch (2007)
Tác giả: UBND Huyện Côn Đảo, Ban Quản lý các khu Du lịch
Năm: 2007
12. Thủ tướng Chính phủ (2005), quyết định phê duyệt đề án phát triển KT – XH huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ (2005)
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2005
9. Ban Quản lý các khu Du lịch Côn Đảo, Báo cáo kết quả hoạt động Du lịch trong các năm từ năm 1996 đến năm 2007 Khác
10. Dave Bamford, Phạm Trung Lương, Lê Văn Lành, .. (2008). Chiến lượcđịnh hướng phát triển Du lịch bền vững cho Côn Đảo, thời kỳ 2008 – 2012 Khác
11. Lập kế hoạch Du lịch bền vững cho các khu bảo tồn biển trong biển Đông Khác
13. Website Du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 14. Website Côn Đảo Natianal Park Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1. Tình hình tăng trưởng khách du lịch đến Côn Đảo từ năm 1996 – 2007 - Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Bảng 2. 1. Tình hình tăng trưởng khách du lịch đến Côn Đảo từ năm 1996 – 2007 (Trang 34)
Hình 2.2. Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch đến Côn Đảo từ năm 1996 - 2007 - Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Hình 2.2. Biểu đồ tăng trưởng khách du lịch đến Côn Đảo từ năm 1996 - 2007 (Trang 35)
Bảng 2.3: Doanh thu từ du lịch Côn Đảo từ năm 1996 - 2007 - Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Bảng 2.3 Doanh thu từ du lịch Côn Đảo từ năm 1996 - 2007 (Trang 36)
Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưỏng về doanh thu của ngành du lịch Côn Đảo từ năm 1996 -  2007 - Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Hình 2.4 Biểu đồ thể hiện sự tăng trưỏng về doanh thu của ngành du lịch Côn Đảo từ năm 1996 - 2007 (Trang 37)
Bảng 2.4: Tỉ trọng doanh thu du lịch Côn Đảo so với doanh thu du lịch của tỉnh  Bà Rịa-Vũng Tàu - Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Bảng 2.4 Tỉ trọng doanh thu du lịch Côn Đảo so với doanh thu du lịch của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Trang 37)
Bảng 2.5: Tỉ trọng doanh thu du lịch Côn Đảo so với GDP(theo giá hiện hành) của huyện  Côn Đảo - Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Bảng 2.5 Tỉ trọng doanh thu du lịch Côn Đảo so với GDP(theo giá hiện hành) của huyện Côn Đảo (Trang 38)
Bảng 2.7: Tác động của ngành du lịch đối với kinh tế Côn Đảo trong hiện tại và tương lai - Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch huyện Côn Đảo
Bảng 2.7 Tác động của ngành du lịch đối với kinh tế Côn Đảo trong hiện tại và tương lai (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w