1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps

32 384 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phía bên rìa mảng thành tạo trục sống núi và các trục tách dãn các vật chất manti từ dưới sâu được phun trào lên, phía bên rìa mảng phá hủy các rãnh sâu đại dương các mảng được hình t

Trang 1

Chương 2

Hình thái đáy đại dương

Với các sinh viên trong một số ngành khoa học trái đất hiện đại chưa được làm quen với khái niệm về kiến tạo mảng và sự tách dãn đáy biển, thì việc tìm hiểu các sơ đồ trên hình 2.1 và 2.2 sẽ rất khó khăn đối với họ

Hình 2.1: Sơ đồ phân bố của các mảng thạch quyển, sống núi đại dương,

máng sâu đại dương và vị trí các chấn tâm động đất trên toàn cầu Ranh

giới tương đối giữa các mảng được xác định dựa trên các kết qủa nghiên

cứu thăm dò trong một thời gian dài và thể hiện trên hình vẽ bằng các

đường đứt nét Hiện có tất cả 7 mảng lớn (ký hiệu bằng chữ cái lớn), 6

mảng nhỏ (ký hiệu bằng chữ cái nhỏ) và một số mảng rất nhỏ khác

không được minh họa ở đây Chiều dài và hướng của các mũi tên trên

Trang 2

hình vẽ biểu diễn vận tốc chuyển động tương đối và hướng di chuyển

giữa các mảng với đơn vị tính là một vài triệu năm Mảng Châu Phi được

giả thiết là không chuyển động Độ dài mũi tên trong phần chú thích

tương đương với vận tốc 5cm/năm

Hình 2.2: Sơ đồ mô phỏng một số khái niệm về kiến tạo mảng Các mảng

thạch quyển hay còn gọi là quyển rắn (bao gồm vỏ đại dương, vỏ lục địa

và manti trên) phần lớn có bề dày dao động từ 100 – 250km Dưới lớp

quyển rắn là quyển mềm có độ dẻo lớn hơn Phía bên rìa mảng thành tạo

(trục sống núi và các trục tách dãn) các vật chất manti từ dưới sâu được

phun trào lên, phía bên rìa mảng phá hủy (các rãnh sâu đại dương) các

mảng được hình thành bị cuốn chìm xuống dưới manti Các mảng

thường có xu hướng trượt chờm lên nhau tại vị trí rìa thành tạo

Để giúp các bạn nhớ lại những phần lý thuyết đã học, đồng thời bổ sung thêm một số kiến thức cơ bản liên quan tới chủ đề này, trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn một số đặc điểm địa chất chính liên quan đến những qúa trình được mô phỏng ở các hình vẽ trên

1 Bề dày lớp vỏ cứng bao phủ bên ngoài trái đất hay còn gọi là thạch

quyển có thể đạt tới 250km trên lục địa và gần 100km dưới đại dương Thành

phần chính của lớp vỏ này chủ yếu là Peridotite, đó là một loại đá rắn chắc

được hình thành ở Manti trên Phần trên cùng của thạch quyển là vỏ trái đất,

phía bên dưới thạch quyển là một lớp yếu hơn, lớp này kết hợp với Manti dưới tạo thành quyển mềm, chính nhờ lớp quyển này, các mảng thạch quyển mới có thể di chuyển được

2 Trên lục địa, bề dày trung bình của vỏ trái đất là 35 km, tại khu vực núi cao bề dày này có thể đạt tới 90km Thành phần chủ yếu của lớp vỏ này là granit

3 So với vỏ lục địa, vỏ đại dương có bề dày mỏng (7 - 8km ) và mật độ lớn hơn Thành phần chính của nó là bazan (vỏ đại dương được đề cập trong chương này thuộc kiểu vỏ phun trào - chúng được hình thành từ hoạt động macma tại trục tách dãn và không bao gồm lớp trầm tích nằm trên)

Trang 3

4 Phần lớn các vỏ đại dương đều nằm dưới mực nước biển trong khi vỏ lục

địa nằm ở các bậc độ cao lớn hơn nhiều Theo kết qủa nghiên cứu từ trường, lớp

vỏ ngoài cùng của trái đất có xu hướng cân bằng trọng lực do sự điều chỉnh độ cao giữa các khu vực có độ nổi khác nhau

Đặc điểm hình thái nào trên hình 1.11 tương đương với rìa mảng thành tạo

và rìa mảng phá hủy được mô tả trên hình 2.1 và hình 2.2?

5 Hệ thống các rìa thành tạo hay nói cách khác, hệ thống các trục tách dãn

đáy biển là tiền thân của các gờ sống núi đại dương Đó là các dải sống núi trải dài liên tục qua tất cả các đại dương lớn trên thế giới và là nơi lớp thạch quyển

đại dương sinh ra

6 Đa số các máng sâu đại dương và vòng cung đảo (phần lớn tập trung ở

Thái Bình Dương) là nơi mảng đại dương bị hút chìm và chui xuống manti Sự

hình thành của dãy núi cao Ampine - Himalayan có thể coi là bằng chứng về sự xung đột giữa các mảng lục địa và các pha hút chìm mới xảy ra gần đây tính theo thang tuổi địa chất (trong vòng khoảng 150 triệu năm)

7 Cứ sau vài trăm nghìn năm đến vài triệu năm, các cực từ trường của trái

đất lại bị đảo và qúa trình này liên tiếp xảy ra trong suốt quãng thời gian kéo dài ít nhất là gần 100 triệu năm (trước đó, chu kỳ thời gian xảy ra đảo từ biến

đổi ít có quy luật hơn) Sự biến đổi luân phiên liên tục giữa qúa trình “thuận từ”

và “nghịch từ” là nguyên nhân hình thành các dải “sọc từ” song song với hướng phát triển của các rìa thành tạo trên đáy đại dương Dựa vào những biến đổi đảo

từ, người ta có thể xác định được tuổi tương đối của vỏ đại dương và so sánh thời gian hình thành của trục tách dãn đáy biển trong các đại dương khác nhau

8 Rất ít khi có thể tìm thấy vỏ đại dương có tuổi già hơn 160 triệu năm trong phần lớn các đại dương Điều đó chứng tỏ các đại dương ngày nay có tuổi trẻ hơn rất nhiều so với tuổi của trái đất (4.600 triệu năm) và chúng không ngừng bị biến đổi bởi nhiều nguyên nhân khác nhau:

(a) Những thay đổi về hình dạng và kích thước đại dương do qúa trình di chuyển của các mảng Ngày nay, ấn Độ Dương (AĐD) và Đại Tây Dương (ĐTD) vẫn liên tục được mở rộng bởi hoạt động của các trục tách dãn nhưng không có qúa trình hút chìm Riêng đối với Thái Bình Dương (TBD) thì ngược lại, càng ngày TBD càng bị thu hẹp do tốc độ các qúa trình hút chìm xảy ra nhanh hơn qúa trình tách dãn Nếu tính theo thang tuổi địa chất thì các qúa trình di chuyển này xảy ra với tốc độ khá lớn, trung bình có thể đạt tới vài cm/năm như trên ví dụ hình 2.1

(b) Những biến đổi về độ sâu của đáy đại dương do các các hoạt động như (i)

sự co lại của đất đá khi bị nguội lạnh (xem mục 2.3.2) hoặc (ii) sự tích tụ và trầm

đọng của trầm tích lục nguyên, hoặc (iii) sự xói mòn và hình thành các canhon ngầm do tác động của dòng bùn hoặc (iv) sự cân bằng đẳng tĩnh

Trang 4

Hình 2.3 (a) Qúa trình phun trào của các vật chất manti từ quyển mền tại

trục sống núi đại dương là nguồn gốc sinh thành ra lớp thạch quyển đại

dương mới Do các chuyển dịch ngang xảy ra trong quá trình này, nhiệt

độ nóng chảy của dung nham phun trào sẽ bị giảm dần khi vượt qua

điểm bức xạ của các khoáng vật điện từ có trong đất đá và “đông” lại

theo hướng các đường từ lực Trái đất

2.1 Đặc điểm chính của đáy Đại dương

Hình 2.4: Sự phân bố các bậc độ cao - sâu của bề mặt trái đất (a) Biểu

đồ thể hiện các bậc độ cao - sâu hiện tại (b) Cao đồ đường cong: xây

dựng trên cơ sở đường cong luỹ tích Đây không phải hình vẽ mặt cắt

qua bề mặt trái đất, mà là đường cong biểu diễn độ chênh lệch phần

trăm giữa các mực độ cao - sâu khác nhau trên bề mặt trái đất

Hình 2.4 cho thấy gần một nửa địa hình bề mặt trái đất nằm ở các bậc độ cao là 0-1km và độ sâu là 4-5km, phần còn lại chủ yếu nằm ở các bậc độ sâu khoảng vài trăm m dưới mực nước biển

Trang 5

Câu hỏi 2.1 (a) Phần địa hình bề mặt trái đất nằm dưới mực nước biển chiếm bao nhiêu phần trăm?

(b) Dựa vào độ chênh lệch phần trăm giữa các bậc độ cao - sâu của địa hình

bề mặt trái đất trong sơ đồ trên Hãy cho biết những hậu qủa có thể xảy ra khi nước biển dâng cao 100m?

(c) Giả sử bán kính trung bình của trái đất là 6370km (R) thì tổng các bậc

địa hình bề mặt trái đất nằm trên trục tung sẽ bằng bao nhiêu % R?

Có thể nói, hai đặc điểm địa hình nổi bật nhất trên đáy đại dương là hệ thống các trục sống núi với thung lũng địa hào kéo dài gần như liên tục qua tất cả các đại dương lớn trên thế giới và hệ thống các máng sâu (đặc biệt là ở TBD) Dọc theo trục sống núi (còn gọi là trục tách dãn), thạch quyển đại dương mới liên tục được hình thành và bị đẩy ra xa trục Sau đó, chúng sẽ lần luợt bị cuốn xuống dưới quyển mềm khi tiến tới gần vị trí các máng sâu do sức căng bề mặt trái đất bị níu nghiêng thành đới hút chìm

Nằm xen giữa trục sống núi và máng sâu là các bồn trầm tích bằng phẳng với sự nhô lên của những dãy núi ngầm đơn lẻ và nhiều dạng hình đồi núi và khối nâng khác, một số trong đó có đỉnh ngoi lên mặt nước tạo thành đảo Bao quanh các lục địa là thềm lục địa, được hình thành do qúa trình tích tụ dày của trầm tích Độ sâu phổ biến của thềm lục địa là 200m, đôi khi thấp hơn, nhưng chiều rộng của chúng thì không giống nhau, có nơi thì khá rộng, có nơi thì rất hẹp

Một đặc điểm tương đối quan trọng khác cần chú ý chính là độ sâu của các

đại dương và giá trị độ sâu trung bình của tất cả đại dương lớn thế giới được đề cập trong bảng 2.1 Hình 2.5 là sơ đồ mặt cắt địa chấn kéo dài từ phía nam ĐTD tới Nam Mỹ (tham khảo thêm hình 1.11), trên đó thể hiện đầy đủ các dạng địa hình chiếm diện tích lớn (xem bảng 2.1) Trong các mục tiếp theo, chúng tôi sẽ có

sự mô tả kỹ hơn từng yếu tố địa hình trên đáy đại dương, bắt đầu từ rìa lục địa

Bảng 2.1: Các thông số đặc trưng của đáy đại dương

Đại dương

thế giới Diện tích đại dương

của thềm và sườn lục địa

Trang 6

Hình 2.5: Mặt cắt bề mặt trái đất khu vực nằm giữa Nam Mỹ và Châu Phi

Hình phóng đại 100 lần theo chiều đứng

2.2 Rìa lục địa

Có hai kiểu rìa lục địa đã được xác định trước khi thuyết kiến tạo mảng ra

đời Đó là kiểu rìa Đại Tây Dương và rìa Thái Bình Dương

Các rìa lục địa kiểu ĐTD nhìn chung đều có phần thềm lục địa tương đối rộng và phần chân lục địa trải dài (hình 2.5 và bảng 2.1) Các hoạt động kiến tạo

ở đây xảy ra ít, do vậy chúng được gọi là rìa ổn định hoặc rìa thụ động Kiểu

rìa này thường xuất hiện khi xảy ra qúa trình phân tách lục địa và hình thành

đại dương mới Lục địa bị chia tách và đáy đại dương liền kề đều nằm trong cùng một mảng kiến tạo Những phần vỏ lục địa nếu bị tách rời độc lập sẽ hình thành

các tiểu lục địa Một số tiểu lục địa có thể nằm hoàn toàn dưới mực nước biển

(khi lớp vỏ lục địa bị mỏng hơn bình thường như các khu vực Rockall Bank và Seychelles Plateau), hoặc hình thành các khối đảo lớn như đảo Madagascar

Đặc trưng của rìa lụa địa kiểu TBD là sự thế chỗ của các máng sâu dưới chân sườn lục địa (hình 2.5) Kết qủa thống kê trong bảng 2.1 cho thấy, diện tích phần chân lục địa quanh TBD rất nhỏ trong khi diện tích các máng sâu lại rất

Trang 7

lớn và lớn hơn nhiều so với các đại dương khác Ngày nay, kiểu rìa này đã được

xác nhận và được gọi là rìa địa chấn hay rìa tích cực do sự xuất hiện thường

xuyên của các hoạt động địa chấn (ví dụ như động đất) Đây là kiểu rìa được hình thành bởi sự va chạm giữa mảng đại dương với mảng lục địa tại đới hút chìm, trong trường hợp này, lục địa và đáy đại dương liền kề thuộc hai mảng khác nhau Các rìa địa chấn xuất hiện vòng cung đảo được hình thành tại ranh giới giữa hai mảng đại dương – ví dụ điển hình sẽ được chúng tôi đề cập ở phần tiếp theo Rìa lục bao quanh AĐD chủ yếu thuộc kiểu rìa ĐTD, ngoại trừ khu vực máng sâu Java nằm ở phía đông bắc (hình 1.11 và 2.1)

2.2.1 Rìa lục địa ổn định

Kiểu rìa này phát triển do sự dãn căng của vỏ trái đất dẫn đến qúa trình phân tách lục địa và tích tụ trầm tích sau đó Mặt cắt qua một vùng rìa ổn định gần tương tự như trong hình 2.6 Theo đó, kiểu rìa này có hình thái một thung lũng nguyên sinh, trên mặt cắt ngang hình dạng của chúng được xác định nhờ tập hợp các đứt gẫy tạo ra sự sụt lún của lớp vỏ và sự che phủ của trầm tích hình thành nên đới thềm, sườn và chân lục địa Tất cả những dấu hiệu nhận biết trên mặc dù được xem là đặc điểm chung của kiểu rìa ổn định, nhưng vẫn có thể gặp những biến thể khác nhau ở từng khu vực khiến các loại rìa thuộc kiểu này không bao giờ giống nhau hoàn toàn nếu xét chi tiết

Hình 2.6: Mặt cắt ngang qua một vùng rìa lục địa ổn định được phóng

đại theo chiều đứng Các chi tiết của mặt cắt bề mặt sẽ được mô tả ở

hình 2.7 và phần bài viết liên quan

Câu hỏi 2.2 (a) Tại các vùng rìa ổn định vỏ lục địa mỏng hơn bình thường Vậy tại sao lớp vỏ này lại có thể bị lún xuống?

(b) Dựa vào hình 2.7, hãy xác định ranh giới tương đối giữa vỏ lục địa và vỏ

đại dương ?

Hình 2.6 cho thấy phần lớn các trầm tích cấu thành thềm lục địa đều nằm lại trên lớp vỏ lục địa bị dãn mỏng (tham khảo câu hỏi 2.2 (b)) Chiều rộng của thềm lục địa có thể đạt tới 1500km, địa hình bề mặt của chúng nhìn chung khá bằng phẳng với građien góc nghiêng trung bình là 0,10 (hình 2.7) Trên bề mặt thềm ở một vài nơi, có thể quan sát thấy những sóng cát nhấp nhô, đôi khi cao tới một vài m do ảnh hưởng của dòng chảy, nhưng đó chỉ là những dạng địa hình tạm thời

Trang 8

Độ sâu của thềm lục địa – tại vị trí thềm đổ – như trên hình 2.7 – là từ 20 – 500m, trung bình là khoảng 130m Chiều rộng của chúng dao động từ 20 – 100km, độ sâu phần chân sườn nằm trong khoảng 1,5 – 3,5km So với thềm lục

địa, sườn lục địa có građien độ dốc lớn hơn nhiều, trung bình khoảng 40 và là dạng địa hình ngầm dốc nhất trên đáy đại dương - nơi mà có độ nghiêng nhỏ hơn nhiều so với bề mặt đất Đối với các rìa lục địa trẻ mới hình thành, sườn lục địa gần như dựng đứng bởi góc dốc ban đầu bao giờ cũng khá lớn Ví dụ như sườn lục

địa trong vịnh California có độ dốc lớn hơn 200, đây là một vịnh trẻ mới được hình thành cách đây khoảng 4 triệu năm nên nó chưa bị tác động bởi các qúa trình xói mòn và trầm tích xảy ra ven rìa ĐTD suốt hơn 100 triệu năm qua

ở nhiều khu vực, chẳng hạn như vùng Western Approaches (nằm ở phía nam và tây của bán đảo nước Anh), bề mặt sườn lục địa bị chia cắt bởi các canhon ngầm Các canhon này đóng vai trò giống như các kênh dẫn trầm tích xuống vùng đáy sâu của đại dương Phần lớn các canhon có đỉnh nằm trên thềm lục địa và đa số trong chúng là cửa của các con sông lớn trên lục địa Nhìn chung các canhon đều có trắc diện ngang hình chữ V, trông gần giống như các thung lũng sông trên đất liền, song chúng được hình thành do hoạt động xói mòn của các dòng trầm tích bùn Đó là loại dòng chảy chứa nước và trầm tích xáo trộn với nhau, do vậy chúng có tỉ trọng nặng hơn nước biển nên có thể trượt trên bề mặt các sườn thoải với một vận tốc đủ lớn để có thể cào mòn thành các canhon

Khi các dòng bùn chạm tới chân của sườn lục địa, vận tốc của chúng bị suy giảm và bắt đầu chuyển sang qúa trình tích tụ tạo thành các nêm trầm tích - hình thành chân lục địa Độ dốc của dạng địa hình này nhỏ hơn nhiều so với sườn lục địa, trung bình là 10 Chiều rộng của chúng phụ thuộc vào chiều dài, cường độ hoạt động của các dòng bùn và năng lượng xói mòn của các dòng chảy trong hoàn lưu đại dương, cực đại có thể đạt tới 600km Đôi khi trên bề mặt chân lục địa vẫn quan sát thấy những rãnh nhỏ còn sót lại do các dòng bùn tiếp tục kéo lê tới vùng nước sâu đại dương (hình 2.7)

2.2.2 Rìa lục địa địa chấn và các cung đảo

Qúa trình hình thành của các rìa địa chấn bao giờ cũng liên quan đến hoạt

động của các máng sâu đại dương, nơi vỏ đại dương bị hút chìm xuống quyển mềm Vì vậy các rìa này được gọi là rìa phá hủy

Những vị trí thường phát triển các máng sâu là:

1 Tại các rìa lục địa có các dãy núi lửa nằm ven bờ, nơi thạch quyển đại dương chui xuống bên dưới lục địa

2 Tại các vòng cung đảo, nơi một mảng thạch quyển đại dương chui xuống bên dưới mảng đại dương khác

Dựa trên những kiến thức vừa được cung cấp, theo bạn điều gì có thể xảy ra khi dòng bùn mang trầm tích tới các rìa địa chấn và sườn lục địa tại các rìa địa chấn khác gì so với sườn lục địa tại các rìa ổn định?

Trang 9

Tại rìa địa chấn, trầm tích mà các dòng bùn vận chuyển ra vùng đáy sâu đại dương sẽ bị giữ lại trong các máng sâu nằm ở chân sườn lục địa Do vậy sườn lục

địa ở đây thường có địa hình dốc hơn so với sườn lục địa của rìa ổn định (điều này giải thích vì sao diện tích phần chân lục địa của TBD rất hẹp – xem bảng 2.1)

Điểm khác nhau này có thể quan sát rất rõ trên hệ thống máng sâu Peru - Chile, một đới hút chìm được hình thành do qúa trình hút chúi của mảng đại dương Nazca và một phần mảng Nam Cực xuống bên dưới bờ biển phía tây của Nam Mỹ (hình 2.1) kèm theo sự dâng trồi của dãy Andes nằm ven bờ Những biểu hiện đặc trưng cho qúa trình này là sự gia tăng của các hoạt động địa chấn, núi lửa và những biến đổi bất thường của địa hình theo trọng lực (ví dụ địa hình

âm là các máng sâu, địa hình dương là các vòng cung núi lửa) tạo nên đặc điểm riêng của kiểu rìa mảng phá hủy Hình 2.8 cho thấy máng sâu Peru- Chi lê là một hệ thống kéo dài không liên tục, theo một số nhà nghiên cứu, sự gián đoạn này là không bình thường, có thể nguyên nhân chính là do sự sụt lún sâu của một số đỉnh núi ngầm hoặc các dãy núi địa chấn nhỏ nằm gần đó (mục 2.5.2, 2.5.4)

Câu hỏi 2.3 Xét hình 2.8 và 2.9

(a) Chiều rộng thềm lục địa và hình thái sườn lục địa tại khu vực rìa địa chấn có đặc điểm như thế nào?

(b) Theo bạn sườn lục địa có phải là dạng địa hình dốc nhất so với các yếu tố

địa hình khác trên rìa ổn định hay không?

ở một vài trường hợp (ví dụ như mặt cắt 1 và 2 trên hình 2.9) sự khác nhau

về độ sâu và độ rộng của lòng máng có thể liên quan đến tốc độ hút chìm, chẳng hạn tốc độ hút chìm càng lớn thì lòng máng càng sâu và càng hẹp Ngoài ra, sự khác nhau của ba mặt cắt cũng có thể do những nguyên nhân khác

Vậy theo suy luận riêng của bạn, nguyên nhân nào có thể gây ra sự khác nhau giữa mặt cắt 2 và 3 trên hình 2.9?

Nhiều khả năng cường độ bồi lấp của các qúa trình trầm tích là nguyên nhân chính dẫn đến lòng máng phẳng và rộng trên mặt cắt 3 Nhưng một câu hỏi được đặt ra là tại sao những mặt cắt khác không có các đặc điểm tương tự trong khi tất cả các mặt cắt đều nằm ở những vị trí khá thuận lợi cho việc thu nhận trầm tích từ địa hình dương nằm trên như dãy Andes chẳng hạn?

Chưa có câu trả lời chính xác cho câu hỏi trên, nhưng rất có thể vấn đề này liên quan đến điều kiện khí hậu hiện tại:

Vùng sa mạc Atacama thuộc phần phía bắc của Chile là nơi có lượng mưa trung bình hàng năm nhỏ hơn 0.01m, vì vậy khối lượng trầm tích mang ra đại dương hầu như không đáng kể, độ sâu của vùng lòng máng trên mặt cắt 2 chỉ xấp xỉ khoảng 8 km Nếu càng tiến về phía nam lượng mưa trung bình hàng năm sẽ càng tăng và tăng tới 4m nên lượng trầm tích được mang tới và đổ dồn

Trang 10

xuống lòng máng khá lớn và gần như lấp đầy tại những vùng lòng máng nằm trong khoảng vĩ độ 500nam

Nói chung, cấu tạo trầm tích trong các lòng máng đều thể hiện những dấu hiệu biến dạng bởi ảnh hưởng của các chuyển động kiến tạo tích cực Cụ thể là

sự xuất hiện của hệ thống các đứt gãy kéo dài trên bề mặt thành máng ngoài giáp đại dương do sự uốn cong của mảng đại dương khi bị chúi xuống đới hút chìm Thành máng trong do có sự lưu bám của các lớp trầm tích ngoằn ngoèn

được cào ra từ mảng đại dương nên có xu hướng nghiêng ra phía đại dương Những đặc điểm này có thể quan sát thấy trên mặt cắt địa chấn hình 2.10

Tuy nhiên, khối lượng trầm tích thuộc mảng đại dương được lưu lại trên thành máng bên trong chỉ là một lượng nhỏ không đáng kể, những phần còn lại

đều bị đẩy xuống Manti theo mảng hút chìm Tỉ lệ tương đối giữa hai phần trầm tích này nói chung không giống nhau ở tất cả mọi nơi Chính qúa trình hút chìm

và nóng chảy của các vật chất cấu thành mảng đại dương cùng lớp trầm tích nằm trên đã dẫn đến sự ra đời và phát triển của các dãy núi lửa trên bờ lục địa (ví dụ dãy Andes)

Câu hỏi 2.4 Quan sát hình 2.10 bạn sẽ thấy trần tích đáy đại dương bị bào

ra thành từng lát kế tiếp nhau Vậy theo bạn các lát trầm tích được nạo ra trước

sẽ nằm ở phần trên hay phần dưới thành máng bên trong?

Hình 2.10: Mặt cắt địa chấn qua vùng máng sâu Trung Mỹ (nằm ở phần

phía bắc máng Peru-Chile) với những đường cắt thể hiện rõ đã cho thấy

hướng kéo dài của các đứt gãy dọc theo chiều nghiêng của thành máng

ngoài và hướng xô dịch của các đứt gãy ngang trên thành máng trong

Hình phóng đại 1,5 lần theo trục đứng

Vòng cung đảo là dạng địa hình gần giống như các dãy núi kiểu Andes,

nhưng là sản phẩm của qúa trình hút chúi của một mảng đại dương xuống dưới một mảng dại dương khác Kết qủa cuối cùng là sự ra đời của các cung đảo núi lửa phía trên đới hút chìm và máng sâu Điều quan trọng là sự xuất hiện của các cung đảo bao giờ cũng kèm theo qúa trình hình thành một đáy đại dương mới nằm xen giữa cung đảo với lục địa và được gọi là biển rìa hay biển sau cung đảo

Đây là một qúa trình tách dãn đáy biển do tác động của môi trường nén ép sinh

ra bởi sự hội tụ của hai mảng Qúa trình này đồng thời cho thấy chuyển động các mảng luôn có mối quan hệ với sự tương tác phức tạp giữa các lực và các hoạt

động Macma, nhưng cụ thể diễn ra như thế nào thì vẫn còn là vấn đề cần nghiên

Trang 11

cứu thêm ở nhiều khu vực phía tây của TBD, người ta tìm thấy một vài hệ thống các cung đảo và biển rìa là sản phẩm của quá trình phân tách liên tục của các cung đảo có tuổi già hơn

Trong phần tiếp theo, chúng tôi sẽ mô tả các đặc điểm hình thái vùng đáy sâu đại dương để giúp bạn đọc hình dung được diễn biến của qúa trình tách dãn

đáy biển và sự hình thành của lớp vỏ đại dương mới

2.3 Sống núi đại dương

Các sống núi đại dương được xem là một đặc điểm địa hình quan trọng nhất trên đáy đại dương vì đó là nơi hình thành lớp vỏ đại dương mới - rìa xây dựng Dựa vào giới hạn ngoài tương đối của chúng, người ta xác định được tỉ lệ diện tích của hệ thống sống núi đại dương hiện tại có thể chiếm tới 33% tổng diện tích của đáy đại dương (bảng 2.1) và chúng chiếm một thể tích lớn trong đáy đại dương (hình 2.5)

Dọc theo đới trung tâm của các trục sống núi có thể quan sát thấy sự xâm nhập và phun trào của vật liệu macma bazan do tác động của qúa trình phân tách các mảng ở hai bên sườn Tốc độ của qúa trình tách dãn đáy biển có thể đối xứng hoặc không đối xứng qua trục sống núi, nhưng tốc độ dịch chuyển trung bình của các mảng thì giống nhau và hướng tách dãn của chúng thì gần như vuông góc với các trục sống núi

2.3.1 Hình thái của các sống núi đại dương

Nói chung các đặc trưng hình thái của sống núi đại dương đều có liên quan tới tốc độ tách dãn Hình 2.11 là mặt cắt hình thái của sống núi có tốc độ tách dãn chậm (khoảng 1-2cm/năm như trục sống núi ngầm giữa ĐTD) và tốc độ tách dãn nhanh (khoảng 6-8cm/năm như trục sống núi phía đông TBD)

Hình 2.11: Mặt cắt hình thái (theo hướng đông – tây) vùng sống núi nằm

giữa ĐTD và đông TBD (xem câu hỏi 2.5) Hình phóng đại 50 lần

Câu hỏi 2.5 Các đặc điểm chính của hai sống núi nói trên sẽ được tóm tắt ở phần dưới Sau khi đọc xong phần tóm tắt và tham khảo thêm mặt cắt trên hình 2.11, hãy trả lời câu hỏi a và d

Hệ thống sống núi giữa ĐTD có phần thung lũng trung tâm rộng khoảng 30km và sâu khoảng 1-2km, nhưng đối với hệ thống sống núi đông TBD thì đặc

25-điểm này không lặp lại Độ dốc sườn núi tính từ đỉnh núi giảm dần theo tỉ lệ 1 0

Trang 12

trên 100m đối với sống núi giữa ĐTD và 1 trên 500m đối với sống núi đông TBD

(a) Mặt cắt nào mô tả sống núi ĐTD và sống núi đông TBD?

(b) Hệ thống sống núi nào có bề mặt địa hình ghồ ghề hơn?

(c) Độ dốc trung bình của sườn sống núi so với rìa lục địa như thế nào?

(d) Sống núi Carlsberg ở phía bắc AĐD có tốc độ tách dãn trung bình là 2cm/năm Vậy mặt cắt nào trên hình 2.11 sẽ tương tự với mặt cắt qua hệ thống sống núi này?

1-Hình 2.12: Mặt cắt mô tả chi tiết hình thái phần thung lũng trung tâm của

sống núi giữa ĐTD ở 47 0 và 22 0 bắc (mặt cắt 1,2), sống núi Gorda ở đông

bắc TBD (3) và sống Carlsberg ở tây bắc AĐD (4) Hình phóng đại gấp 5

lần theo trục đứng

Xét mặt cắt qua ba sống núi trên (hình 2.12) cho thấy thành bên trong của vùng thung lũng trung tâm được hình thành bởi các đứt gãy có bề mặt nghiêng

về phía trục Thành bên ngoài hay còn gọi là sườn núi có bề mặt các đứt gãy cắm

ra phía ngoài trục (ví dụ phần cuối bên phải của mặt cắt 2, 3) Hoạt động của các

đứt gãy đoạn tầng là nguyên nhân làm cho bề mặt hình thái của lớp vỏ sống núi trở nên thô ráp và ghồ ghề

2.3.2 Mối tương quan tuổi và độ sâu của các sống núi đại dương

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống sống núi đại dương

là độ sâu của chân núi tăng theo tuổi lớp thạch quyển nằm dưới (hình 2.13) và khoảng cách của nó so với trục sống núi Mối tương quan này có được là do tính chất biến đổi của lớp thạch quyển khi bị đẩy ra khỏi trục sống núi, nơi nó sinh

Trang 13

ra Nói chung, các thạch quyển nằm gần trục bao giờ cũng có nhiệt lượng lớn hơn

so với những thạch quyển nằm xa trục, vì vậy chúng thường rất nhẹ và xốp nên

có độ nổi cao hơn so với thạch quyển đã bị mất nhiệt và xẹp xuống sau hàng triệu năm hình thành Người ta có thể dựa vào sơ đồ đường cong biểu diễn mối quan hệ tuổi - độ sâu để xác định tuổi tương đối của lớp vỏ đại dương nằm ở một

độ sâu nhất định, từ đó làm cơ sở thành lập các bản đồ cổ độ sâu phục vụ cho qúa trình nghiên cứu đáy đại dương

Tuy nhiên xung quanh mối tương quan này vẫn còn một vài bấp cập:

1 Mối tương quan tuổi - độ sâu không thể cho biết tuổi của lớp thạch quyển

đại dương già hơn 100 triệu năm vì các lớp này đã bị mất đi gần hết lượng nhiệt

được hình thành và đạt tới trạng thái cân bằng nhiệt, biểu hiện ở sự kéo ngang của đường cong

2 Bản thân các sống núi có độ sâu biến đổi theo tốc độ tách dãn (các sống tách dãn nhanh thường sâu hơn các sống tách dãn chậm) Độ sâu trung bình của trục sống núi phía đông TBD khoảng 2,7km, và trục sống núi giữa ĐTD là 2,5km

Hình 2.13: Đường cong biểu diễn mối tương quan giữa tuổi và độ sâu

của lớp vỏ đại dương theo lý thuyết và theo thực tế Đường liền nét thể

hiện các kết qủa nghiên cứu qua các điểm khảo sát Đường đứt nét là

đường cong lý thuyết được tính toán dựa trên giả thiết về sự tăng giảm

nhiệt của lớp thạch quyển khi các mảng thạch quyển bị nguội dần khi

Trang 14

rời xa trục sống núi Một số dị thường từ thể hiện qua các dãy sọc từ

trên đáy đại dương được xắp xếp đối xứng qua trục sống núi

2.4 Đứt gãy biến dạng và đới nứt vỡ

Các trục sống núi có thể bị xô lệch so le theo hướng phát triển của các đứt gãy biến dạng (hình 1.11) hình thành do qúa trình trượt ngang của hai mảng đại dương với nhau Do vậy, hướng kéo dài của mỗi đứt gãy có dạng cung vòng tròn nhỏ có tâm là đỉnh trục xoay tương đối giữa hai mảng và có hướng song song với hướng dịch chuyển của các mảng (hình 2.14) Những đứt gãy này được gọi là biến dạng vì chúng là đoạn nối giữa hai điểm đầu và cuối của các đoạn sống núi liên tiếp, nơi mà các chuyển động tách dãn bắt đầu chuyển sang các chuyển động trượt ngang

Do chuyển động của các mảng là sự cọ sát giữa hai bên thành nên các đứt gãy xuất hiện ở đây được xếp vào loại hoạt động địa chấn tích cực Một vấn đề cần chú ý là, các đứt gãy này chỉ xuất hiện tại ranh giới giữa các mảng và kết thúc tại hai đầu kết nối với các đoạn trục sống núi so le Những khu vực kế cận chịu ảnh hưởng phát triển kéo dài của đứt gãy biến dạng nằm trong giới hạn một mảng đơn, không có các chuyển động ngang và không có cường độ hoạt động

địa chấn mạnh được gọi là đới nứt vỡ (hình 2.14)

Hình 2.14: Các đứt gãy biến dạng và đới nứt vỡ đều là những cung tròn

nhỏ có tâm nằm trên đỉnh trục xoay tương đối giữa các mảng Tốc độ

tách dãn liên quan đến vận tốc góc quay và khoảng cách so với đỉnh

trục xoay Tốc độ tách dãn tỉ lệ với khoảng cách so với đỉnh trục xoay và

độ dài của mũi tên trong hình vẽ

Nếu phần thũng lũng nguyên sinh được hình thành giữa hai lục địa có hướng phát triển lệch góc với hướng chuyển động của hai mảng thì các trục tách dãn sẽ có xu hướng phân chia thành các đoạn trục song song và so le với nhau như trên hình minh họa 2.15 Sự xuất hiện của những đới nứt vỡ yếu xuất hiện trên các mảng tách dãn có thể tác động tới sự phát triển của những đứt gãy lớn

Trang 15

tại vị trí đó, chẳng hạn như sự tách rời của mảng lục địa Nam Mỹ ra khỏi mảng Châu Phi đã chi phối sự hình thành của Đại Tây Dương qua xích đạo

Hình 2.15: Qúa trình phân tách của một lục địa với những vết nứt mảnh

ban đầu tạo điều kiện cho những đứt gãy lớn phát triển Các đứt gãy này

nằm ngang giữa các đoạn sống núi và tạo nên đới nứt vỡ bao quanh

phía ngoài đới tách dãn Nói chung các trục sống núi đều có xu hướng

nằm vuông góc với hướng tách dãn mặc dù không phải lúc nào cũng

vậy

Hình 2.16: Độ cao của đáy biển ở hai cánh của đứt gãy và đới nứt vỡ có

sự chênh lệch nhau và điều này đã dẫn đến sự hình thành của các bề

mặt vách dốc đứng

Sự có mặt của đứt gãy biến dạng và đới nứt vỡ trên đáy đại dương được coi là những dạng địa hình độc lập và được mô tả là các vách và bề mặt dốc đứng ngầm Dựa vào mối quan hệ tuổi-độ sâu ở mục 2.3.2, người ta có thể lý giải được

Trang 16

nguồn gốc ủa chúng (hình 2.16) Đó là do sự chênh lệch về tuổi của các thạch quyển nằm ở hai phía của một đứt gãy hoặc đới nứt vỡ đã dẫn đến sự khác nhau

về độ sâu của bề mặt đáy đại dương Đới nứt vỡ hoàn toàn không phải là đới hoạt

động địa chấn vì chẳng qua đó là kết qủa của qúa trình hạ thấp không đều nền

đáy đại dương ở hai bên đới nứt vỡ do tốc độ nguội lạnh và sụt lún khác nhau của các mảng thạch quyển sau khi được hình thành Nói chung, đới hoạt động này chỉ sinh ra những động đất có cường độ rất nhỏ Các hoạt động sụt lở kèm theo rung chuyển nhỏ có thể xảy ra dọc theo đới nứt vỡ nằm gần rìa lục địa bởi

sự chênh lệch về khối lượng trầm tích ở hai cánh đới nứt vỡ do khối lượng tải khác nhau của các con sông

Về cơ bản, đứt gãy biến dạng trên đáy đại dương khác hẳn với kiểu đứt gãy

xê dịch ngang trên lục địa: những chuyển động chính xảy ra dọc theo đứt gãy biến dạng luôn có sự đối ngược biểu hiện qua sự sắp đặt đối xứng so le của các

đoạn sống núi (hình 2.14 và 2.16)

Những đứt gãy biến dạng lớn lại chính là rìa mảng ổn định (ví dụ đứt gãy San Andreas nằm ở phía đông bắc của nước Mỹ hay đứt gãy Alpine ở New Zealand, hình 2.1) bởi vì tại đó không có các đới hút chìm hay qúa trình tách dãn bên lề Ngoài trừ một số khu vực đặc biệt đã được biết đến như phần ranh thuộc

ĐTD của hai mảng Châu âu và Châu Phi vẫn được xem là một đứt gãy biến dạng lớn (hình2.1) mặc dù không thuộc kiểu rìa ổn định Tại đuôi của đứt gãy này ở hướng tây, giáp hệ thống sống núi giữa ĐTD, xuất hiện một bộ phận tách dãn nhỏ với kiểu xê dịch ngang, nhưng kèm theo sự tách mở khe nứt làm xuất lộ phần macma ở manti trên dẫn đến qúa trình phun trào dung nham lava dọc theo đứt gãy Do đó, người ta đã đặt tên cho nó là “biến dạng khe hở” Càng tiến

về phía đông (gần Gibraltar), hoạt động của hệ thống đứt gãy càng giống kiểu rìa mảng ổn định với các chuyển dịch ngang đơn thuần chiếm ưu thế Tại những khu vực thuộc Địa Trung Hải mà đứt gãy này cắt qua luôn tìm thấy dấu vết của

đới hút chìm trên hệ thống các chuyển động ngang Với những đứt gãy quy mô nhỏ hơn cũng có thể xuất hiện những đặc điểm riêng đáng chú ý, song điển hình nhất vẫn là sự phát triển của bộ phận tách dãn nhỏ Kiểu đứt gãy biến dạng khe

hở nói chung không phổ biến ở trục sống núi đại dương (hình 2.17)

Ngày đăng: 10/08/2014, 10:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thái đáy đại dương - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình th ái đáy đại dương (Trang 1)
Hình 2.3 (a) Qúa trình phun trào của các vật chất manti từ quyển mền tại - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.3 (a) Qúa trình phun trào của các vật chất manti từ quyển mền tại (Trang 4)
Hình 2.12: Mặt cắt mô tả chi tiết hình thái phần thung lũng trung tâm của - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.12 Mặt cắt mô tả chi tiết hình thái phần thung lũng trung tâm của (Trang 12)
Hình  2.13:  Đường  cong  biểu  diễn  mối  tương  quan  giữa  tuổi  và  độ  sâu - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
nh 2.13: Đường cong biểu diễn mối tương quan giữa tuổi và độ sâu (Trang 13)
Hình 2.15: Qúa trình phân tách của một lục địa với những vết nứt mảnh - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.15 Qúa trình phân tách của một lục địa với những vết nứt mảnh (Trang 15)
Hình 2.17: Một đứt gãy biến dạng nếu phát triển vuông góc với các đoạn - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.17 Một đứt gãy biến dạng nếu phát triển vuông góc với các đoạn (Trang 17)
Hình 2.18: Mặt cắt địa hình qua vùng đồng bằng biển thẳm, chân lục địa - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.18 Mặt cắt địa hình qua vùng đồng bằng biển thẳm, chân lục địa (Trang 18)
Hình  2.19:  Mặt  cắt  địa  chấn  qua  một  phần  của  vùng  đồng  bằng  biển - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
nh 2.19: Mặt cắt địa chấn qua một phần của vùng đồng bằng biển (Trang 19)
Hình  2.21:  Bốn  chuỗi  núi  ngầm  và  đảo  núi  lửa  nằm  trên  TBD, các  khối - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
nh 2.21: Bốn chuỗi núi ngầm và đảo núi lửa nằm trên TBD, các khối (Trang 22)
Hình 2.22: Sơ đồ mô phỏng sự hình thành của một chuỗi đảo núi lửa khi - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.22 Sơ đồ mô phỏng sự hình thành của một chuỗi đảo núi lửa khi (Trang 22)
Hình 2.23 cho thấy hai vùng nổi bật ở nam ấn Độ Dương. Các dữ liệu này đã - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.23 cho thấy hai vùng nổi bật ở nam ấn Độ Dương. Các dữ liệu này đã (Trang 24)
Hình 2.23: (b) Bản đồ độ sâu được thành lập dựa trên bộ số liệu khảo sát - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.23 (b) Bản đồ độ sâu được thành lập dựa trên bộ số liệu khảo sát (Trang 25)
Hình 2.23: (c) Bản đồ dị thường bề mặt geoid vùng nam Thái Bình Dương - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
Hình 2.23 (c) Bản đồ dị thường bề mặt geoid vùng nam Thái Bình Dương (Trang 25)
Hình  2.23:  (d)  Bản  đồ  đẳng  sâu  vùng  nam  Thái  Bình  Dương  được  xây - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
nh 2.23: (d) Bản đồ đẳng sâu vùng nam Thái Bình Dương được xây (Trang 27)
Hình  2.25:  Hình  vẽ  giản  lược  mô  tả  khu  vực  nghiên  cứu  được  đề  cập - Cấu trúc và các qúa trình hình thành đại dương ( Nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội ) - Chương 2 pps
nh 2.25: Hình vẽ giản lược mô tả khu vực nghiên cứu được đề cập (Trang 32)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w