1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt

24 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 420,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế độ thủy động lực hồ chứa và ảnh hưởng của nó đến sự hình thành bờ Các nhân tố thuỷ động lực chính chi phối sự phát triển bờ hồ chứa bao gồm dao động mực nước, sóng gió, dòng chảy,

Trang 1

thuỷ vực có diện tích mặt nước nhỏ nhất Chính xác hơn là sự

thành tạo thuỷ vực hồ dạng kéo dãn hoặc ô van trong phần hoạt

động thuỷ lực gần thân đập [135 136]

Các thông báo trên đây về sự thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ

cho phép tìm các thông số mô hình đường bờ cân bằng [62, 64,

121, 146], được sử dụng khi thiết kế các công trình cố định ven

bờ, xây dựng các bãi nhân tạo và các biện pháp khác phục vụ

ven bờ các thuỷ vực nhân tạo đã xây dựng cũng như để dự báo

sự phát triển bờ trong tương lai

Chương 2 Chế độ thủy động lực hồ chứa và ảnh hưởng của nó đến sự

hình thành bờ

Các nhân tố thuỷ động lực chính chi phối sự phát triển bờ

hồ chứa bao gồm dao động mực nước, sóng gió, dòng chảy, chế

độ băng và nước ngầm

Chế độ thuỷ văn là tập hợp các thành phần, tức là các hiện tượng, quá trình thể hiện dưới dạng các biến đổi mực nước hồ chứa theo thời gian: nhiều năm, mùa, ngày ở trên đập (chế độ mực nước), lưu lượng nước (chế độ dòng chảy), các hiện tượng băng hà (chế độ băng hà) v.v

Cường độ ngập và tiêu các khu vực gần bờ và bờ hồ chứa phụ thuộc vào tiến trình thay đổi mực nước và biên độ của nó Sóng gió và dòng chảy kết hợp với các nhân tố khác xác định cường độ hoạt động năng lượng Các chỉ số này càng tác động mạnh đến bờ càng cần thiết phải tăng cường sức lực và thời gian để hạ các tác động xấu của chúng khi vận hành lâu dài hồ chứa

2.1 Chế độ mực nước Chế độ dao động mực nước trong trường hợp tổng quát

được xác định bởi dạng điều tiết tồn tại ở đối tượng xem xét Phụ thuộc vào thể tích hồ chứa và mục đích khai thác kinh tế

Trang 2

của nó mà chia ra các loại điều tiết ngày, mùa và nhiều năm,

thậm chí là hỗn hợp như điều tiết tuần - ngày (hồ chứa

Osipovits) Hồ chứa vùng rừng phần Âu của đất nước có hầu

hết các dạng điều tiết dòng chảy Tuy nhiên số lượng lớn nhất

các thuỷ vực nhỏ nhân tạo thực hiện việc điều tiết mùa Trong

số các hồ chứa điều tiết nhiều năm có thể tách ra hồ chứa Vilei,

Pliavin, Kegum, Riga, còn điều tiết mùa là các hồ chứa Zaslav,

Viatra, Vonkovits, điều tiết ngày - Osipovits, Trigirin

Chế độ mực nước được đặc trưng tổng quát bằng sự thay

đổi mực nước, biên độ và độ bảo đảm (tính lặp lại) của chúng

Không phụ thuộc vào dạng điều tiết, biên độ dao động mực nước

(hiệu giữa vị trí mực nước cao nhất và thấp nhất) trong điều

kiện các hồ chứa nhỏ không vượt quá 1,5 m Chỉ có ở hồ chứa

Vilei biên độ đạt tới 3 m

Sự vận hành hồ chứa và tiếp theo là các điều kiện thành

tạo vùng bờ thường rất khác nhau ở các đối tượng nước phân bố

phân tán và nhảy cóc ở một mức độ nào đó điều này được giải

thích bởi sự khác biệt lớn về các điều kiện thuỷ động lực và sự

điều tiết dòng chảy sông ngòi

Chế độ mực nước các hồ chứa nhỏ được vận hành riêng biệt

không phụ thuộc vào sự hiện diện của các hồ chứa khác trên lưu

vực có nét đặc thù riêng Cũng như các thuỷ vực tự nhiên biên

độ dao động mực nước (A) trong thời kỳ nhiều năm là một đặc

trưng nhận dạng rõ nét của chế độ mực nước và phản ánh mối

quan hệ với diện tích (F) của lưu vực A = f(F) Vì chế độ mực

nước là một trong các nhân tố luỹ tích thành tạo vùng đường

bờ hồ chứa nên đối với nó cần được nhận dạng

Theo tính chất dao động mực nước hồ chứa được chia

thành ba dạng: chế độ mực nước ổn định, ổn định trung bình và

không ổn định Trong nền tảng định dạng này chứa các đặc trưng định lượng nhiều năm kết hợp với dạng điều tiết cũng như có tính đến dạng hình thái của chúng (bảng 2.1)

Bảng 2.1 Dạng và kiểu hồ chứa theo chế độ mực nước

Hồ chưa nhỏ, điều tiết ngày,tuần

(Ia) (Saligor, Osipovitr Gat)

20 5 10 15 45-70

Với chế độ mực

nước ổn định (II)

Hồ chứa nhỏ, vừa, chủ yếu là điều

tiết mùa (IIa) (Liuban, Tregirin)

70 20 30 45 50-60

Hồ chứa trung bình chủ yếu điều

tiết mùa (IIIa) (Zaslav, )

100 35 50 50 35-55 Với chế độ mực

nước không ổn

định (III) Hồ chứa trung bình điều tiết

nhiều năm (IIIb) (Vilei)

200 60 100 100 35-55

Hồ chứa có chế độ mực nước ổn định (Ia) gồm các hồ chứa thuỷ điện nhỏ điều tiết mùa và ngày với biên độ dao động mực nước trung bình nhiều năm gần 20 cm Sự thay đổi hàng tháng của mực nước không vượt quá 5 cm / tháng Việc làm trơn các giá trị mực nước cực đại diễn ra đồng thời với chế độ làm việc của công trình thuỷ điện Đa số hồ chứa dạng này thực hiện việc

điều tiết ngày hoặc tuần - ngày Chỉ riêng ở Bạch Nga đếm được

10 hồ chứa thuỷ điẹn nhỏ dạng hồ và sông đặc trưng bởi chế độ mực nước ổn định Khi công trình thuỷ điện ngừng hoạt động chế độ mực nước phụ thuộc hoàn toàn vào dòng chảy sông ngòi

và các chỉ số đo đạc hình thái lòng chảo hồ chứa

Hồ chứa với chế độ mực nước ổn định trung bình (IIa) phân

Trang 3

biệt bởi sự hiện diện bởi thời kì trước lũ và lũ xuân rất rõ ràng

Vào các tháng hè thu diễn ra sự hạ mực nước hồ chứa xuống 5 -

40 cm thấp hơn mực nước nhiều năm trung bình Sự thay đổi

nhiều năm của mực nước đạt tới 50 cm Đối với hồ chứa dạng

này đặc trưng cho sự chênh lệch tháng trung bình khoảng 3 - 4

lần vượt chênh lệch ở các hồ chứa với chế độ mực nước ổn định

Tiến trình chung của mực nước giống chế độ mực nước của

nhiều hồ

Dạng hồ chứa với chế độ mực nước không ổn định gồm hai

tiểu dạng: các hồ chứa không lớn điều tiết mùa (IIIa) và hồ

chứa trung bình với điều tiết nhiều năm (IIIb)

Các hồ chứa không lớn điều tiết mùa với chế độ mực nước

không ổn định có biên độ dao động trung bình nhiều năm hơn 1

m và với các giá trị thực nghiệm nhiều năm đạt tới 50 cm

(Zaslav, Krasnoslobod, Lepel) Cường độ dao động mực nước

khoảng 1,5 - 2 lần cao hơn so với hồ chứa với chế độ mực nước

ổn định trung bình Độ lệch trung bình tháng xấp xỉ 1 Các hồ

chứa điều tiết nhiều năm kích thước trung bình phân biệt với

mọi dạng khác bởi các giá trị cực đại của các đặc trưng nhiều

năm (Vilei) Tiểu dạng thứ hai có sự thay đổi cực trị nhiều năm

của mực nước vượt tiểu dạng trước một cấp Hồ chứa đặc trưng

bởi sự hạ mực nước trước lũ, lũ xuân và hạ nhịp nhàng mực

nước hè thu

Hiện nay trong tài liệu công bố khá đầy đủ chế độ mực

nước hàng loạt các hồ chứa lớn và ảnh hưởng của nó tới quá

trình hình thành bờ [1, 42] Tuy nhiên phân tích các đặc điểm

và tính chất chế độ mực nước các hồ chứa nhỏ hầu như chưa

được phản ánh trong các tài liệu hiện tại

Như đã nhận thấy ở trên, chế độ mực nước hồ chứa phụ

thuộc vào mục đích khai thác kinh tế của chúng, chế độ vận hành, tỷ số giữa nhu cầu dùng nước và cấp nước và dạng điều tiết

Hồ chứa vùng rừng của nước ta được sử dụng với mục đích tổng hợp và nông nghiệp, hơn nữa trong trường hợp đầu cũng có một nhà sử dụng thống soái và xác định luôn tính chất điều tiết Theo dạng điều tiết có thể phân loại hồ chứa: điều tiết nhiều năm - đói với việc cấp nước công nghiệp (dạng thung lũng), điều tiếi mùa - đối với việc cấp nước nông nghiệp, tưới tiêu, ngư nghiệp ( dạng hồ, sông, triều), điều tiết ngày - hồ chứa thuỷ

điện

Các đặc trưng chủ yếu của chế độ mực nước hồ chứa gây

ảnh hưởng đến sự hình thành bờ là tính chất thay đổi chung của mực nước, biên độ của chúng và thời gian nước đứng Trong

số các mực nước đặc trưng có thể tách ra mực nước hoạt động tức là mực nước ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi bờ và hình thành bãi cạn và thường là gần với mực nước chuẩn hiệu dụng

để nhận được các đặc trưng chế độ mực nước và phân tích nó người ta dựng các đồ thị tần số và suất đảm bảo trong thời kỳ vận hành qua 22 hồ chứa và đã thành lập bảng biên độ dao

động mực nước trong năm và thời kỳ không đóng băng

Ngoài việc phân tích thuỷ văn, nhờ máy tính điện tử thực hiện việc xử lý thống kê các thông tin trong việc tính toán các thông số các đường cong phân bố ( hệ số biến đổi Cv và bất đối xứng Cs) Coi thông tin ban đầu sử dụng khi tính toán là các giá trị vị trí trung bình chục ngày của mực nước ở tuyến trên

đập hồ chứa trong thời gian vận hành

Kết quả phân tích biên độ dao động và độ đảm bảo mực nước hoạt động được chia thành hai nhóm thuỷ vực (bảng 2.2)

Trang 4

Hồ chứa với biên độ dao động mực nước lớn hơn 0,5 m và

suất đảm bảo của mực nước hoạt động nhỏ, hồ chứa với dao

động mực nước bé (0,1 - 0,5) nhưng suất đảm bảo mực nước hoạt

động lớn, cũng như các hồ chứa với giá trị biên độ lớn và suất

đảm bảo của mực nước hoạt động lớn Loại hồ thuỷ triều được

liệt vào nhóm cuối cùng trước tiên

Suất đảm bảo của mực nước hoạt động đối với hồ chứa

nhóm thứ nhất chiếm khoảng 20 %, đối với hồ chứa nhóm thứ

hai khoảng 60%

Sự khác biệt về thời gian và chu kỳ của mực nước hoạt

động trực tiếp ảnh hưởng tới cường độ tái lập, hình dạng và kích

thước phần ngập của bãi cạn, đặc biệt trên giai đoạn hình thành

mặt cắt bờ tái lập

Trên cơ sở phân tích tính chất phân bố tần số và suất đảm

bảo của mực nước hồ chứa, khác biệt theo mục đích kinh tế và

dạng điều tiết và các mặt cắt bờ, nhận được trên cơ sở các quan

trắc đều đặn nhiều năm theo hàng loạt hồ chứa đã làm rõ được

các đặc điểm tác động của chế độ mực nước lên quá trình bờ

Đã xác định được rằng, với các giá trị biên độ dao động

mực nước bé và suất đảm bảo của mực nước hoạt động cao quá

trình tái lập diến ra mạnh hơn khoảng 1,5 lần so với các hồ

chứa có biên độ dao động mực nước lớn Điều này trước hết biểu

thị ở cường độ lấn bờ Ngoài ra, trong trường hợp này mặt cắt

tái lập dạng cổ điển tất nhiên có chỗ hõm, bãi bồi, sụt độ sâu

đường bờ, khi đó giống như trên các hồ chứa có dao động mực

nước lớn, lát cắt bãi cạn có thể có các thành tạo thứ sinh (bậc,

Với các dao động mực nước bé, bề mặt bãi bằng phẳng rộng tới 10 m, khi đó giống như ở các hồ chứa có dao động mực nước

Trang 5

lớn, bãi cạn rộng hơn nhiều (tới 30 m) Trong vùng chia cắt bề

mặt của nó được phủ bởi hàng loạt kiểu vi địa hình song song

với vùng cắt phù hợp với trạng thái mực nước trung gian.Trên

các hồ chứa thuỷ triều với mực nước hoạt độngcao hơn dao động

mực nước diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (trong vòng một

vài ngày), và chỉ ảnh hưởng lên lát cắt cân bằng - phần ngập

nước của bãi Nó có dạng cong và trong hàng loạt các trường hợp

- bề mặt không bằng phẳng, khúc khuỷu

Chế độ mực nước các hồ chứa nhỏ vận hành kiểu bậc thang

có thể phân tích qua thí dụ các hồ bậc thang Svislov (Bạch Nga)

và Daugava (Latvia)

Hồ bậc thang Svislov nằm trong phạm vi lãnh thổ ngoại ô

Minsk và Mogilev và trong một phần thành phố Minsk Nó gồm

các hồ chứa Zaslav, Krưnhixa, Đrozdư, hồ Komsomon, hồ chứa

Tridzov Hồ chứa hiện nay được sử dụng trong việc cấp nước kỹ

thuật, nước uống, làm ẩm thành phố Minsk, phục vụ điều

dưỡng và vệ sinh sông Svislov trong phạm vi thành phố cũng

như để câu cá và năng lượng Các chỉ số đặc trưng cơ bản của

mực nước dẫn trên bảng 2.3 Biên độ dao động mực nước lớn

nhất ở hồ chứa Zaslav, lượng cấp nước trung bình nhiều năm

của nó theo tài liệu quan trắc đạt 1,2 - 1,5 m

Đối với hồ chứa bậc thang Daugava (sông tây Dupna) đặc

trưng bới sự liên hệ chặt chẽ của chế độ mực nước với công tác

thuỷ điện Các trạm thuỷ điện làm việc luân phiên trong các

thời gian ngắn (một vài giờ trong ngày), thực hiện sự điều tiết

ngày của dòng chảy Các đặc điểm điều tiết dòng chảy này đã

xác định chế độ mực nước của hồ chứa bậc thang

Bảng 2.3 Đặc trưng chế độ mực nướcmột số hồ chứa bậc thang Svislots

Biên độ dao động mực nước nhiều năm trung bình, m

Hồ chứa Dạng

Dạng điều tiết theo thiết kế Trong

năm

Thời kỳ không băng

Suất đảm bảo mực nước hoạt

động %

Krinhixa Sông bãi bồi Mùa 0,23 0,08 60

Đrozư Sông bãi bồi Mùa 0,10 0,05 96

Để thuận tiện chế độ mực nước hồ chứa bậc thang đã được phân tích trong mười năm gần đây (1975 - 1985) Đã xác định

được rằng, độ lặp lại của mực nước cực đại chiếm 51 - 66% số lượng quan trắc chung trên tất cả hồ chứa bậc thang (bảng 2.4)

Đa số mực nước cực đại (42 - 54%) diễn ra trong thời kỳ nhận nước mùa xuân, vào mùa thu giảm đi 2 lần Mực nước cực tiểu thường nằm vừo thời kỳ mùa hè (46%) Gần 39% mực nước cực tiểu rơi vào thời kỳ mùa thu, khi mà sóng gió hoạt động mạnh trên các bãi cạn đang hình thành Trong bảng 2.4 phản ánh độ lặp lại của mực nước cực đại và cực tiểu trong thời kỳ chục năm (1975 - 1984) và riêng cho năm đặc trưng 1979

Phân tích chế độ mực nước ba hồ chứa của bậc thanh Daugava cho phép lấy ra các nét đặc trưng nhất của nó:

- tính ổn định của mực nước hồ chứa bậc thang từ khi nhận nước mùa xuân đến thời kỳ mùa hè (kiệt);

- vị trí kiệt ổn định của mực nước các hồ chứa Riga và Kegum trong nửa cuối mùa hè và mùa thu;

Trang 6

- dao động mực nước khi xả đột ngột và xả trong vòng 3 - 5

ngày của các hồ chứa Riga và Kegum trong thời kỳ nhập lưu từ

lưu vực và thời kỳ có mưa khí quyển

- khẳng định dao động ẩm lãnh thổ lưu vực của hồ chứa

bậc thang cao (Pliavin)

Dao động mực nước ngày trên hồ chứa Pliavin là 0,5 - 2,0

m Chế độ dòng chảy mùa xác định biên độ lớn nhất của dao

động mực nước sông Daugava Mực nước cực đại đạt tới 72,1 m,

cực tiểu 67,5 m Mực nước lớn chiếm 40% mực nước cực đại chu

kỳ ngày Sự hạ cực đại mực nước đạt đến 5 - 6 m hoặc hơn xác

định vào tháng 6 các năm 1969 và 1980 Trong thời kỳ bảo

dưỡng mực nước thấo nhất diễn ra vào tháng 6, tháng 7 hoặc

tháng 9, tháng 10 Sự nâng mực nước kèm theo sự giảm độ rộng

bãi cạn và tăng độ sâu dọc bờ

Hồ chứa Kegum có biên độ dao động mực nước nhỏ hơn và

tiến trình mực nước mềm mại hơn (0,5 - 1,5 m) Trong tiến trình

mực nước năm thấy rõ cực đại mùa xuân kéo dài 3 - 4 tháng

Đới xói lở các sườn bờ nằm trong phạm vi 32,2 m ( thời kỳ xuân

hè) và 31,2 m (mùa thu)

Liên quan đến sự biến dạng mạnh mẽ dòng chảy trong các

hồ chứa Pliavin và Kegum, ở hồ chứa Riga sự thay đổi mùa của

mực nước thể hiện yếu hơn Tại đây quan sát thấy sự hạ mực

nước không lớn lắm vào tháng 7, tháng 8 ( gần 0,7 - 0,8 m) Tuy

nhiên sự hạ mực nước ngày của hồ chứa đạt tới 2,3 m Ranh giới

xói lở ácc sườn nằm trong khoảng mực nước từ 17,3 - 18,2 m

Các đường cong đảm bảo mực nước hồ chứa bậc thang

được thành lập chứng tỏ rằng ranh giới các đới xói lở sườn các

bờ tương ứng với mực nước suát đảm bảo 5% khi cấp đủ nước

có và suất đảm bảo 95% khi hồ chứa làm việc hết công suất

Bảng 2.4 Độ lặp lại của mực nước cực đại và cực tiểu trong thời kỳ quan

trắc 1975 - 1985 trên các hồ chứa bậc thang Đaugava

(theo số liệu của Ia S Probocs)

Số lưu lượng cực đại (% của tổng số)

Hồ chứa Số ngày

quan trắc 75-85

mùa xuân 75-85

mùa thu 75-85

mùa xuân 75-85

mùa thu 75-85

Riga 53 16 39 26 22 11

2.2 Sóng gió Các đặc điểm của chế độ gió vùng rừng bị chi phối bởi hoàn lưu chung khí quyển Đới này nằm về phía bắc của lưỡi cao áp - trục Voeicov, cho nên mùa hè thống trị hướng gió tây bắc và hướng nam Ưu thế của các dòng khí hướng tây liên quan tới sự vận chuyển không khí từ Đại tây dương vĩ độ cao sang phía

đông và sự hoạt động hoàn lưu có nguồn gốc front cực và cận cực Trong thời kỳ chuyển tiếp, đặc biệt là mùa xuân (tháng 4, tháng 5) có khả năng xuất hiện gió các hướng khác

Sự phát triển gió dọc bờ xác định sự định hình lòng chảo

Trang 7

hồ chứa Đối với hồ chứa Daugava, lòng chảo của nó được định

hình từ đông bắc đến tây nam, ảnh hưởng lớn đến bờ tây là gió

hướng nam, tây nam, tây và đông nam, còn bờ đông là các gió

hướng bắc, đông bắc, tây bắc và đông Trong các hồ chứa vùng

rừng kéo dài theo phương kinh tuyến hoặc lân cận gây xói lở bờ

đông

Tốc độ gió trung bình tháng lớn nhất ( 4 - 5 m/s) ghi nhận

vờ thời kỳ mùa đông Vào mùa hè tốc độ gió 2 - 3 m/s chiếm lĩnh

khắp nơi Trạng thái lặng gió chiếm 8 - 12% các trường hợp và

thường quan sát thấy vào mùa hè, về ban đêm thường xuyên

hơn ban ngày Như vậy, theo số liệu của 60 trạm khí tượng ở

Bạch Nga trong một năm có 5 - 10 ngày tốc độ gió lớn hơn 15

m/s Trong phạm vi vùng rừng có những khu vực quan sát thấy

sự tăng mạnh hoạt động của gió Thí dụ, ở tây nam và phía bắc

Bạch Nga có thể tìm thấy hai vùng hoạt động gió mạnh : vùng

Sarcovsin - Vitebsk - Doksinx, nơi có tốc độ gió trung bình năm

là 4,2 - 1,3 m/s, và số ngày có gió mạnh là 15, cònn trong vùng

Tháng Mười - Gomel số ngày gió mạnh là 20, còn vận tốc gió

trung bình năm là 4,0 m/s Khác với các vùng nói trên, phần còn

lại của lãnh thổ Bạch Nga đặc trưng bởi sự khác biệt không lớn

trong chế độ gió

Quan trắc sự thay đổi của gió, thu được bởi các tác giả khi

tiến hành các khảo sát dài hạn tại hàng loạt hồ chứa vùng rừng

cho phép xác định các đặc điểm của nó Tài liệu gốc là các kết

quả quan trắc thực nghiệm trên các hồ chứa Vilei và Zaslav từ

năm 1975 đến năm 1979 , cũng như là các số liệu trạm khí

tượng lục địa, Vilei và Minsk nằm cách các hồ chứa tương ứng

là 4,5 và 10 kilomet

Theo số liệu của trạm khí tượng Vilei trong phạm vi hồ

chứa Vilei độ lặp lại lớn nhất là gió hướng tây và tây nam Số

trường hợp xuất hiện gió các hướng khác khác nhau không nhiều lắm Thường hay gặp nhất là gió có tốc độ 10 m/s

Quan trắc chế độ gió trong phạm vi ảnh hưởng của hồ chứa chướng tỏ về sự biến dạng của nó trên mặt nước, mà đầu tiên là nằm trong sự thay đổi hướng các quan trắc chỉ ra rằng sự kéo dài hồ chứa từ tây sang đông chi phối sự phân bố đồng đều gió trong các lưới tây nam - tây - đông bắc - và giảm hẳn các số trường hợp gió hướng đông và nam

Do sự thay đổi của mặt đệm lưu vực xây dựng hồ chứa có gió đi qua làm thay đổi cả vận tốc của nó Sự tăng tốc độ gió diễn ra do sự giảm lực kháng của mặt đệm cũng như là hậu quả của sự khác biệt các tầng phân hoá nhiệt các lớp không khí trên mặt đất và trên thuỷ vực kể cả ảnh hưởng phụ của gradien

áp suất Cộng thêm vào sự thay đổi hướng gió là sự định hình thung lũng sông Vilei, phạm vi ngập và dân cư quanh bờ hồ chứa

Quan hệ tuyến tính giữa tốc độ gió đo ở độ cao 2,0 m trên

bề mặt thuỷ vực vàv tốc độ gió quan trắc tại các trạm khí tượng

được viết bởi phương trình

28 1 375

có vận tốc 3 m/s Giảm hơn 30% số lần lặng gió trên thuỷ vực

Để xác định hệ số chuyển đổi khi tính lại vận tốc gió theo

số liệu các trạm khí tượng lục địa và số liệu đo đạc trên mặt nước thuỷ vực lân cận ( trên mặt nước 2,0 m) đề xuất một đồ thị thu được theo số liệu quan trắc thực nghiệm Với vận tốc gió 10 m/s ở độ cao cột trên bề mặt nước hồ chứa cũng gặp các vận tốc

Trang 8

tương tự như vậy

Quan sát gió trong điều kiện có tường chắn gió ở gần đập

và phần hở của thuỷ vực cho phép xác định một số đặc điểm

biến dạng của dòng khí: 1) thuỷ vực càng nông thì ảnh hưởng

của hướng gió và ngay cả đân cư bên bờ hồ đến sự định hình

lòng chảo càng tăng; 2) đối với thủ vực nhỏ tính hở của mặt

nước, dân cư, độ cao sườn ảnh hưởng mạnh đến sự biến dạng gió

hơn là sự bất đối xứng của thung lũng thuỷ vực [70] Quan trắc

ngày đêm về sự biến đổi vận tốc gió quan sát được với đà sóng 3

- 4 km (bảng 2.5) Khi tăng đà sóng đến 6 km, vận tốc gió tiệm

cận đến giá trị ban đầu Sự tăng vận tốc gió ( 5 m/s và hơn nữa)

làm tăng sự biến dạng dòng khí các số liệu dẫn trên chứng tỏ

về chế độ gió không dừng trên khu vực ảnh hưởng của các hồ

chứa nhỏ

Các kết quả khảo sát thực nghiệm của hàng loạt nhà

nghiên cứu [50, 70, 71] khẳng định ảnh hưởng của các nhân tố

địa phương đến tính chất hoạt động của gió khi giảm diện tích

3,00 5,00 6,00

Sóng gió trên thuỷ vực nhỏ có hàng loạt các đặc điểm,

chúng xác định bởi vận tốc gió trên thuỷ vực, đo đạc hình thái

lòng chảo, phân bố độ sâu và tính thoáng của nó Các chỉ số đo

đạc hình thái xác định chiều dài đà và kích thước sóng Đại

lượng thuỷ vực và thể tích nước không lớn trong nó giới hạn kích thước của sóng Thậm chí trong trường hợp, khi mà theo dấu hiệu động học thuỷ vực là sâu, sóng gió trong các hồ chứa nhỏ luôn nhỏ hơn so với hồ lớn trong cùng các điều kiện tạo sóng giống nhau ( λ = 2H)

Trong điều kiện các hồ chứa nhỏ khác với các hồ chứa lớn

và trung bình, độ cao sóng là một hàm của vận tốc gió (ω) và

chiều dài đà sóng (Dp) [47, 53]

),,(

p

n D f

với n và m - các biến phụ thuộc vào đà tương đối D p/ω2 Các

đại lượng n ≥ 1 , m p 5 Kết quả qua trắc sóng trình bằy trong các công trình [17, 78], chứng tỏ rằng độ tăng trưởng của sóng và sự suy thoái diễn ra trong vòng 20 - 30 phút [70] ảnh hưởng của chiều dài đà sóng đến sự tăng các tham số sóng giới hạn trong phạm vi 0 < Dp < 6 Khi đó việc tăng các tham số sóng diễn ra không quá 15% (ω = 5 m/s)

Đã xác định bằng thực nghiệm rằng, đối với các hồ chứa

nhỏ dạng đường tròn, độ dài đà tính toán Dp có thể được xác

định thoe khoảng cách cực đại từ tuyến đang xét đến bờ đối diện không phụ thuộc vào định hình của lòng chảo hồ chứa [49]

, [

Như vậy, sự định hình trục chính của hồ chứa khi tính toán không phải xét tới Thời điểm này là cố định khi tính toán các nguyên tố sóng trên hồ chứa dạng triều [59, 63]

Trang 9

Tham số sóng trong các hồ chứa nhỏ vùng rừng được xác

định theo các quan hệ nhận được khi tiến hành các khảo sát

trên hồ chứa Osipovits [113, 149] Độ cao sóng tính toán suất

đảm bảo 1% được xác định theo quan hệ thực nghiệm khi xử lý

các toán đồ trên hồ chứa Osipovits [70, 149]:

76 0 10 62 0

1% 0,00215 , ω ,

Chu kỳ sóng trung bình τ 1% tương ứng là:

65 0 7 10

1% 0 , 00158 , D ,

với Dp - chiều dài đà sóng; ω10 - vận tốc gió trên thuỷ vực ở độ

cao 10 m

Các quan trắc đều đặn tiến hành trên hồ chứa Zaslav, nơi

có phần sát đập thiết lập điểm đo sóng, cho phép nhận được

hàng loạt các thông tin quan trọng theo quan điểm ước lượng

động lực học các quá trình bờ và nội thuỷ Trong đới này có sự

lặp lại lớn của sóng cao 0,1 - 0,3 m ( với chiều dài đà sóng đến

2,5 km và vận tốc gió trung bình 0,5 m/s) Sóng gió phát triển

mạnh nhất vào thời đoạn tháng 8, tháng 9 Độ cao sóng h1% với

chiều dài đà sóng đến 5,0 km khi đó có thể đạt 1,2 m [50]

Đối với các hồ chứa, nơi tuân thủ quan hệ (h1%/ hD < 0,1

(với h1% - là độ cao sóng 1% trong chế độ quan trắc; hD - độ sâu

trung bình thuỷ vực) và sự hiện diện các trạm khí tượng nằm

cách hồ chứa khoảng 10 km, độ cao sóng được xác định theo

công thức:

Xử lý thống kê các số liệu thu được cho phép xây dựng các

đường cong độ cao sóng và vận tốc gió cũng như tính toán hệ số

biến đổi (C v(h) ; Cv( ω )) và bất đối xứng (C s(h) ; Cs( ω )) theo các

Đối với sự phân bố độ cao sóng và vận tốc gió đặc trưng bởi

sự bất đối xứng dương, có nghĩa là đa số các thành phần của liệt nằm trong vùng giá trị nhỏ

Các giá trị hệ số bất đối xứng nhỏ Cs( ω ) được chỉ ra trên luật phân bố chuẩn và càng khẳng định giả thiết, đã được nói trước đây trong các công trình của V M Iukhnovxa [149], S A

Đvinski [17] và E M Phedulova [122], về sự phụ thuộc của độ cao sóng chỉ vào các tham số Dpω10 Giả thiết này đã trình bày trong các công trình [80, 81], có thể viết dạng phương trình phụ thuộc dưới dạng vô thứ nguyên [50]

Bảng 2.7 Độ lệch ∆h1% sóng h 1% tính toán và quan trắc

Trang 10

G.G Karasaev [33]

V Ph Gusin [16]

10 2

10

1%/ ω f gD / ω

So sánh số liệu quan trắc tự nhiên độ cao sóng và tài liệu

nhận được theo phương pháp G G Karaiseva [33], V Ph Gusin

[16], A P Braslavski [30], cũng như theo SNIP 02.06.87 [119]

và Hướng dẫn [107] được thực hiện theo quan hệ:

( 1 1 ) 1 100

1% h%H h%P /h%P

Các tính toán chứng minh rằng sự trùng hợp tốt nhất giữa

các giá trị quan trắc và tính toán là theo SNIP 02.06.87 [119]

(bảng 2.7)

Quan trắc độ cao và hướng chuyển động của sóng trên hồ

chứa Zaslav chứng minh rằng vận tốc xói lở các sườn bờ phụ

thuộc vào độ lặp lại sóng trùng với hướng gió chủ đạo Phân tích

sự thay đổi theo thời gian của sự tái lập đường bờ (∆St) và vận

tốc gió cực đại trong thời kỳ không đóng băng (ω10) trong nhiều

năm chứng tỏ tính không bảo toàn dạng và tính chất phát triển

chung, là khẳng định ý nghĩa quyết định của sóng gió trong quá

trình tái lập (Hình 2.1) Đối với mỗi hồ chứa chọn ra 1 trạm tiêu

chuẩn có các đặc trưng sóng gần nhất, hình dạng các sườn,

thành phần đất đá và theo đó tiến hành sự so sánh Vận tốc gió

nhận từ trạm khí tượng Minsk Như đã biết, ảnh hưởng của đo

đạc hình thái thuỷ vực đến việc tái lập bờ thể hiện trên các hồ

chứa lớn miền đồng bằng cũng như trên các hồ chứa nhỏ và

gián tiếp thể hiện qua các điều kiện phát triển sóng gió Vậy

nên trên các hồ chứa lớn nh Kiev, Krementruc, Kakhov, có kích

thước tuyến tính lớn, và tương ứng với các điều kiện phát triển sóng gió, sự tái lập bờ đôi khi chiếm hơn 50% toàn bộ đường bờ [81, 151]

Hình 2.1 Sự thay đổi gia tốc tái lập tuyến tính đường bờ (∆St ) và vận tốc gió

(ω 10 ) các hồ chứa Krinhixa (a) và Drozdư (b) 1- sự lùi bờ hàng năm; 2 - vận tốc gió cực đại thời kỳ không đóng băng

Cũng trên các hồ chứa nhỏ sóng gió phát triển chủ yếu là ở phần gần thân đập của thuỷ vực và gây ra tại đó sự phát triển mạnh mẽ quá trình tái lập đường bờ gốc Phần gần đập của các thuỷ vực nhỏ đặc trưng bởi độ rộng cực đại Bmax và tương ứng là chiều dài đà sóng lớn nhất Dmax Khi đó với một và chỉ một vận tốc gió với sự tăng Dmax và tương ứng là độ cao sóng quan sát thấy sự tăng tái lập đường bờ (Hình 2.2) Phân bố độ sâu trong

Trang 11

thuỷ vực (hp) và phần nào dó khi sóng đánh vào bờ mài mòn xác

định các đặc trưng sóng trên bờ bãi cạn, và kết quả là ảnh

hưởng đến cường độ tái lập của chúng

Hình 2.2 Các quan hệ dạng a) F = f(Dp ); b) S = f(D p ) và c) B = f(D p )

F - diện tích hồ chứa MNDBT; S - tái lập tuyến tính bờ; B - chiều rộng phần

b∙i ngập; D p - chiều dài đà sóng

2.3 Các dạng dòng chảy và đặc điểm của chúng

Trong các hồ chứa chia ra các loại dòng chảy dọc bờ và bề

mặt (dòng chảy gió) xuất hiện dưới tác động của gió và dòng

chảy do nhập lưu từ sông đổ vào, tác động của lưu vực, phù sa

trạm, xả nước vào dưới đập v.v [118, 120, 131] Ngoài ra còn

tồn tại dòng dọc bờ có khả năng tải các sản phẩm phá huỷ bờ

Mối quan tâm đặc biệt ở các công trình nghiên cứu dòng chảy

gió và dòng chảy sông trên các hồ chứa nhỏ [51] Chọn 5 hồ

chứa sau làm đói tượng nghiên cứu: Krinhixư, Drozdư, Trizdov

trên sông Svilots, Voncovits trên sông Ptits và Viatra trên sông

Viatra Sơ đồ các hồ chứa dẫn ra trên hình 2.3, còn các đặc trưng hình thái của chúng trong bẳng 2.8 Nghiên cứu chế độ dòng chảy được thực hiện trong thời kỳ không đóng băng Phương pháp quan trắc dựa trên việc xác định vận tốc và hướng dòng chảy cũng như các nhân tố chính ảnh hưởng tới sự phát triển của chúng mà cụ thể là : lưu lượng xả, vận tốc và hướng lan truyền của gió ở độ cao 2,0 m trên bề mặt nước, độ cao và hướng chuyển động của sóng, vị trí mực nước ở tuyến đập trên

Hình 2.3 Phân bố vận tốc trong phạm vi hồ chứa Krinhixa

a - dòng chảy mặt; b - dòng chảy đáy

Lưu lượng nước xả xuống tuyến đập dưới cũng như cao độ

vị trí mực nước tuyến đập trên nhận theo số liệu phục vụ vận hành hồ chứa Để ghi nhận các nguyên tố của gió trong điều kiện thực tế đã sử dụng trạm khí tượng tự động M - 47 và máy

Trang 12

cầm tay MC -3 Hiệu chân sóng được xác định theo thước cực

đại - cực tiểu, vận tốc dòng chảy - nhờ lưu tốc kế GR - 42 và các

phao đo bề mặt và đo sâu theo phương pháp chuẩn [86]

Bảng 2.8 Các đặc trưng đo đạc hình thái hồ chứa

Hồ chứa Diện tích

km 2

Thể tích triệu m 3

Drozdư 2.38 6.38 2.70 0.50 5.10

Trizov 2.80 5.60 2.0 0.50 6.10

Viatra 1.68 5.10 2.0 0.61 5.33

Số thuỷ trực đo sâu trên tuyến thay đổi từ 4 - 9 Trên mỗi

thuỷ trực số điểm đo từ 3 - 5 (bảng 2.9) Theo tài liệu trắc đạc

đã tiến hành dựng các lát cắt dọc của hồ chứa với các phân bố

vận tốc và hướng dòng chảy theo độ sâu, trục động lực học phân

bố của tốc độ cực đại cũng như bình đồ dòng chảy trong toàn bộ

thuỷ vực.Do kết quả xây dựng các phân bố và sơ đồ lan truyền

trở nên rõ ràng rằng tại các hồ chứa nhỏ cần phân biệt hai dạng

dòng chảy: dòng mặt có độ dày từ 1 - 2m và dòng đáy Dòng

chảy mặt (dòng gió) phát sinh và phát triển do tác động của gió

lên bề mặt hồ chứa và chuyển động rối của các lớp nước trên

cùng Phụ thuộc vào hướng gió mà dòng chảy mặt có thể trùng

hoặc không trùng với dòng chảy hồ, luôn hướng về phía đập gây

ra sự phân bố lại vận tốc toàn bộ mặt cắt ướt (xem hình 2.3a)

Vận tốc dòng chảy mặt được xác định bởi vận tốc gió và cường

độ sóng gió Vận tốc dòng chảy mặt chiếm từ 0,01 - 0,33 m/s

Phân tích các phân bố chứng minh rằng dòng chảy mặt có thể

chiếm 1/2 diện tích mặt cắt ướt của hồ chứa, còn sự vận chuyển

mạnh vào lòng chảo hồ chứa được thực hiện trong toàn bộ chiều

dày lớp nước

Bảng 2.9 Phân bố vận tốc dòng chảy theo chiều dài hồ chứa Trizov

Số hiệu tuyến đo

K/c giữa các thuỷ trực

Số thuỷ trực Số điểm trên

thuỷ trực

Độ sâu thuỷ trực, m

Vận tốc dòng chảy, m/s

110 4

đáy

3.0

0.02 mặt 0.02 0,5H 0.02

II - II (phần giữa hồ chứa)

130 2

đáy

3.5

0.07 mặt 0.03 0,5H 0.02

160 3

đáy 0.02

III - III (phần cận đập cách chỗ xả

300 m)

170 4 mặt

3.0

0.02 Trong đó chỉ ra sự phân bố các dòng chảy hồ cực đại theo trục hồ chứa (xem hình 2.3b) Các giá trị vận tốc lớn nhất hiển

Ngày đăng: 10/08/2014, 10:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Dạng và kiểu hồ chứa theo chế độ mực nước - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Bảng 2.1. Dạng và kiểu hồ chứa theo chế độ mực nước (Trang 2)
Bảng 2.2. Các đặc trưng chế độ mực nước hồ chứa - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Bảng 2.2. Các đặc trưng chế độ mực nước hồ chứa (Trang 4)
Bảng 2.3. Đặc trưng chế độ mực nướcmột số hồ chứa  bậc thang Svislots - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Bảng 2.3. Đặc trưng chế độ mực nướcmột số hồ chứa bậc thang Svislots (Trang 5)
Bảng 2.5. Xác định hệ số biến đổi vận  tốc gió trên mặt nước - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Bảng 2.5. Xác định hệ số biến đổi vận tốc gió trên mặt nước (Trang 8)
Hình 2.2  Các quan hệ dạng a) F = f(D p ); b) S = f(D p ) và c) B = f(D p ) - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.2 Các quan hệ dạng a) F = f(D p ); b) S = f(D p ) và c) B = f(D p ) (Trang 11)
Hình 2.3. Phân bố vận  tốc trong phạm vi hồ chứa Krinhixa - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.3. Phân bố vận tốc trong phạm vi hồ chứa Krinhixa (Trang 11)
Bảng 2.9. Phân bố vận  tốc dòng chảy theo chiều dài hồ chứa Trizov - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Bảng 2.9. Phân bố vận tốc dòng chảy theo chiều dài hồ chứa Trizov (Trang 12)
Hình 2.5. Quan hệ giữa vận tốc dòng chảy dọc bờ và vận  tốc gió 2m - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.5. Quan hệ giữa vận tốc dòng chảy dọc bờ và vận tốc gió 2m (Trang 14)
Sơ đồ hoàn lưu thuận và nghịch. - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Sơ đồ ho àn lưu thuận và nghịch (Trang 15)
Hình 2.6. Sự thay đổi chiều dày lớp phủ băng trên các hồ chứa - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.6. Sự thay đổi chiều dày lớp phủ băng trên các hồ chứa (Trang 17)
Hình 2.7. Phân bố lớp phủ băng hà theo các hồ chứa Pliavin (a) và Riga (b) - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.7. Phân bố lớp phủ băng hà theo các hồ chứa Pliavin (a) và Riga (b) (Trang 18)
Hình 2.8.  Sơ đồ phát triển dải đầm lầy b∙i bồi. - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.8. Sơ đồ phát triển dải đầm lầy b∙i bồi (Trang 19)
Bảng 2.12. Các đặc trưng chế độ nước ngầm trong vùng bờc hồ chứa nhỏ - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Bảng 2.12. Các đặc trưng chế độ nước ngầm trong vùng bờc hồ chứa nhỏ (Trang 21)
Hình 2.9. Sự phá huỷ b∙i bờ dưới tác động của nước ngầm - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.9. Sự phá huỷ b∙i bờ dưới tác động của nước ngầm (Trang 22)
Hình 2.10. Tác động của nước ngầm đến độ ổn định bờ các hồ chứa nhỏ - Thành tạo bờ các hồ chứa nhỏ vùng rừng ( Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà nội ) - Chương 2 ppt
Hình 2.10. Tác động của nước ngầm đến độ ổn định bờ các hồ chứa nhỏ (Trang 23)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w