Trong trường hợp cuối cùng, trường vận tốc tuần hoàn ở các dạng phụ và cù lao không gây ra hoạt động xói lở tại các bờ sông do thời gian tác động của nó ngắn lên một đoạn cụ Để minh hoạ
Trang 1Chương 4
n
tố xác định nó
các vấn đề ứng dụng của quá trình lòng sông Thường thay nó là
các
của địa hình lòng sông, nó điều khiển dòng chảy sôn
quan hệ với dòng chảy sông ngòi mùa kiệt
và
ng dẫn
đượ
Các lòng dẫn thẳng ít được nghiên cứu Chúng thường đặc trưng cho các sông ngòi miền núi và bán sơn địa với các dạng
ô lớn của aluvi các sông như vậy dẫn đến việc
thể của
bờ
Hình dạng lòng sông và các nhâ
nh dạng lòng dẫn" (dạng h
ng trong văn bản về lý
thuật ngữ tương đương khái niệm "dạng vĩ mô", "dạng quá
trình lòng sông" Định nghĩa dạng lòng sông còn thiếu ngay cả ở
các tác giả thường xuyên sử dụng khái niệm này [54] Trong khi
đó nó vẫn được dùng trong các văn bản "lòng dẫn ", trong số đó
– khi xây dựng phân loại hình thái và hình thái động lực lòng
dẫn sông ngòi
Dạng lòng dẫn sông ngòi (trên bình đồ) là sự phác hoạ lòng
dẫn xác định bởi các thành thung lũng và/hoặc các nguyên tố
bền vững nhất
g ngòi cả mùa kiệt lẫn mùa lũ Hình dạng lòng sông thường
bị chi phối nởi các dạng lòng dẫn tạo nên trong quá trình lòng
sông, nhưng về sau được củng cố bởi các thành tạo bãi bồi Các
dạng lòng dẫn vĩ mô như thế hình như đã vượt khỏi phạm vi
của chính lòng dẫn
Các dạng trung bình (doi) thường không được phủ bởi bãi
bồi và thảm thực vật, rất hoạt động vào thời kỳ lũ Chúng
thường ổn định theo
chủ yếu được điều kiển bởi nó Cho nên có thể nói về dạng
lòng dẫn mùa kiệt đã phác hoạ dạng trung mô xác định
Được thừa nhận là phân loại dạng lòng dẫn của K I Rosinski, I A Kuzmin [77] với sự hiệu chỉnh của O V Adreev
và I.A Iaroslavxev [6] và Leopold và Iolmen [120]: lò
c chia thành thẳng, uốn khúc và phân nhánh
4.1 Các lòng dẫn thẳng
aluvi phát triển Độ th thành tạo các dạng lòng dẫn và sự biến dạng chủ động của chúng chỉ có thể vào thời kỳ lũ mạnh nhất Vì thế quá trình thành tạo bão bồi không tăng độ ổn định của dạng lòng dẫn Aluvi bãi bồi được gia cố bởi thảm thực vật rất dễ bị bào mòn bởi dòng sôngcó khả năng tải các vật chất cuội sỏi Dạng lòng sông nước lũ được xác định chủ yếu bởi các nhân tố phi lòng dẫn – thạch địa chấn, thường chi phối tính thảng của thành thung lũng trên một khoảng dài Dạng lòng dẫn mùa kiệt ở các sông như vậy được xác định bằng tỷ số của phần đáy ngập của thung lũng sông ngòi và kích thước của dạng (xem hình 3.17)
Việc bảo toàn tính thẳng của các bờ sông được chi phối bởi tính kiên cố chống xói mòn cao của thành bờ gốc và/hoặc vận tốc xáo trộn lớn của dạng lòng dẫn xuôi theo dòng chảy
Trong trường hợp cuối cùng, trường vận tốc tuần hoàn ở các dạng phụ và cù lao không gây ra hoạt động xói lở tại các bờ sông do thời gian tác động của nó ngắn lên một đoạn cụ
Để minh hoạ có thể dẫn ra đây hình thái của lòng dẫn sông Alabugi (Kirgizia) sau đoạn hợp lưu với sông Ptran [63] Sự hiện diện của lòng chảo rộng lớn ở phần phía trên thung lũng sông ngòi dẫn đến việc phần thượng lưu đoạn sông này không có phù
Trang 2sa đáy cuội sỏi Dòng phù sa đáy được hình thành do việc bào
mòn các trầm tích aluvi trên các thềm sông Sự tăng dòng phù
sa đáy theo dọc thung lũng sông với độ dốc đáy thung
lũngkhông đổi (~ 8%) và lượng nước sông (Q=25, ,30 m3
/s) gây nên sự thay đổi hình thái học lòng sông có quy luật Trong
miền thiếu hụt tuyệt đối phù sa vận tốc biến hình thẳng đứng
của lòng sông lớn (gần 0,3 m/năm) Trong hoà tương
đối của dòng chảy bởi phù sa di đáy (lưu lượng riêng trung bình
năm gần 0,5kg/(s.m) cho khả năng tích tụ phù sa và hình thành
các cồn phụ Với vận tốc dịch chuyển các cồn phụ về xuôi 30 –
50 m /năm tạo nên các đoạn sông thẳng Với vận tốc dịch
chuyển nhỏ (10 – 20 m/năm) vận tốc tạo lòng lớn (15–20
cm/năm) dẫn tới tạo thành các lõm cắt ngang Việc bão hoà lòng
sông bởi phù sa di đẩy tiếp tục (tới 190 – 200 ngàn m
miền bão
g Thông thường lòng sông thẳ
Hình thái học và động lực học các con sông uốn khúc liên quan tới một lượng lớn tài liệu lòng dẫn Đối với dạng này của
à địa sinh học và
địa
iều kiện địa chất và địa mạo - địa hình ngu
3
/năm) và
mở rộng đáy thung lũng tới 800 – 1000 m chi phối việc thành
tạo môt lòng sông dạng cù lao phức tạp Các cù lao dịch chuyển
về xuôi với vận tốc 60 –80 m/năm, kết quả là bờ gốc bị bào mòn
với vận tốc không quá 0,5 m/năm và bảo toàn tính thẳng Khi
đó vận tốc bào mòn các dạng lòng sông (trong đó kể cả bãi bồi
có thực vật phủ kín) đạt 25 m/năm
Lòng sông thẳng – hiện tượng trên các sông ngòi miền đồng
bằng rất hiếm, bởi vì ở đây quá trình thành tạo bãi bồi thường
dẫn tới việc phức tạp hoá lòng sôn
ng chỉ quan sát thấy ở các vết nứt và các suối trên đá gốc với
sự kiểm soát cấu trúc của các thành thung lũng Hiếm khi tạo
nên (ở các sông ngòi có bãi bồi) các lòng sông thẳng tự do chiều
dài > 20 40 độ rộng của lòng sông Sự bảo toàn dạng thẳng
của lòng sông trong các điều kiện như vậy là do sự kết hợp đặc
biệt của các nhân tố tạo lòng Trên địa phận châu Âu của Liên
bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết thường xuyên quan sát
thấy sự phát triển của lòng dẫn sông ngòi trong các thung lũng
hồ, trong lòng chảo dòng chảy nước băng tan Các aluvi bãi bồi của các sông hiện đại có độ dày bé, phủ lên lớp aluvi và ít bị xói
lở và lòng dẫn thẳng trong các bờ bãi bồi được xác định bởi các nhân tố thạch học (như là sông Sukhôn ở lòng chảo Kuben) V.V Ivanov [30] đã phân loại các lòng dẫn thẳng bờ bãi bồi mang rất ít các trầm tích đáy ở đây không xét tới các điều kiện thuỷ lực thuận lợi, không tạo nên các con chắn, bãi vắt mà hoàn lưu dòng chảy quanh chúng có thể tạo nên xói lở của bờ bãi bồi
Có thể trên các sông miền đồng bằng việc dịch chuyển phù sa
đáy mạnh bao nhiêu thì việc xói lở các bờ thẳng không diễn ra
do việc cuyển động quá nhanh các thành tạo trầm tích
4.2 Các lòng sông uốn khúc
lòng dẫn đã phân ra các dạng : địa mạo học, v
động lực học nghiên cứu các vấn đề thuỷ lực dòng chảy ở khúc uốn, các đặc trưng cơ bản của động lực đoánong cong và sự xói lở các bờ của chúng
Sự uốn dòng chảy có thể là nguyên sinh theo quan hệ với
địa hình lòng dẫn tạo nên nó Các chỗ uốn nguyên sinh này có thể bị chi phối bởi các đ
yên sinh, thạch học lãnh thổ, nơi dòng chảy đi qua Các
điểm uốn lớn của lòng thác Kargalin sông Terec xuất hiện do sự hoà nhập dòng chảy ở các đoạn trên đồng bằng châu thổ, và các khúc uốn nhỏ hơn được thành tạo giữa các tầng aluvi á sét nặng Khúc uốn lớn sông Iana trên vùng đồi Kular từ 5 - 12 km
về kích thước không tương ứng với lượng nước sông mà tương ứng với độ nâng địa hình bao quanh xứ Kular Sự hiện diện của các khúc uốn nguyên sinh và dòng chảy tuần hoàn do chúng gây
Trang 3nên ảnh hưởng tới hình thái và động lực cả chính các khúc uốn
nguyên sinh lẫn các dạng lòng dẫn phát triển trên đó Khúc uốn
đứt gãy sông Iana trong giới hạn miền đồi Kular trong vòng 1
triệu năm dịch chuyển theo chiều ngang và chiều dọc như là
các thung lũng tự do (với vận tốc 2 - 3 mm/năm), mặc dù lượng
nước sông không tương xứng với kích thước của chúng [71]
Trên sông Iuk (trên cửa Cutrment) độ uốn thung lũng tự do của
các sông với kích thước tương ứng với lượng nước hiện nay của
nó, thay đổi có quy luật theo chiều dài khúc uốn lớn bảo tồn từ
thời kỳ nước lên Trung bình theo đoạn vô thứ nguyên S/S0 (S0 -
độ dài khúc uốn lớn theo lòng dẫn) giá trị góc tới đối với độ uốn
tự do cực đại trên khúc uốn lớn và đạt giá trị cực tiểu ở đỉnh của
nó (Hình 4.1)
Dạng lòng dẫn cong thường xuyên xuất hiện do sự ổn định
dần ácc dạng sóng cát, sự xuất hiện thực vật trên đó và cấu
thành bãi bồi Điều này thấy rõ nhất nếu quan sát sự biến đổi
hình thái học lòng dẫn trên một khoảng thời gian của một và
chỉ một sông Sông Vưtregda ở thượng lưu (cách cửa sông 770
km) đặc trưng bởi đáy lòng dẫn uốn khúc tự do với các băng cát
và sóng cát (Hình 4.2) Khi tăng độ rộng lòng dẫn tới 200 m và
lưu lượng nước trung bình năm tới 140 m3
/s ở đoạn lòng cong trên các băng sóng cát tạo nên các đụn cát phân bố kiểu bàn cờ
với các bước nhỏ hơn bước thung lũng từ 2 - 2,5 lần Các đụn
này được cấu tạo từ các sóng cát có bước nhỏ hơn bước của đụn
cát từ 2,5 - 4,0 lần Theo mức độ tăng lưu lượng cũng tự do và
đụn cát với sóng cát tăng lên Điềuước trong sông và chiều rộng
lòng dẫn, kích thước các thung l này dẫn tới sự kiểm soát hình
dạng thành thung lũng lớn hơn bởi vì bước thung lũng tăng tới
quy mô khu vực có vách thung lũng đồng nhất về thạch học
Các thung lũng tự do trở nên giãn ra và ở khoảng 200 km cách
cửa ra đã không phân biệt được về thạch học các khúc uốn dọc
thung lũng
Hình 4.1 Các khúc uôn lớn hiện đại trên sông Iuk (a) và thay đổi trung bình trong khoảng thời gian 0,1 S 0 (đói với 20 khúc uốn lớn) góc tới α của các
thung lũng tự do (b) 1- trục lòng dẫn hiện đại , 2- vách khúc uốn lớn
Trang 4Hình 4.2 Sự tăng kích thước khúc uốn và dạng lòng dẫn theo dọc sông
Vưtregda theo độ tăng nước sông và thay đổi thang tổ hợp các dạng lòng
dẫn khi ổn định các đụn và thành tạo chúng trên cơ sở lòng chảo lòng dẫn
1 - lòng chảo, 2- đụn, 3- băng sóng cát, 4- sóng cát, 5- bước sóng
Vưtregda đã hình thành các đảo vừa, và trên các cù lao lớn nhất
đã đ
lòng sôn
ứng hơn với sơ
đồ
Sự tăng kích thước các đụn và giảm tốc đọ chuyển động
xuôi theo lòng sông dẫn tới việc di trú trên đó các thảm thực
Khoảng 400 km cách cửa sông phần lớn các đụn trên s
ược phủ kín aluvi bãi bồi và phát triển hoặc thành đảo,
hoặc là thung lũng Trên một số đoạn sông (ví dụ như vào
khoảng 145 - 155 km cách cửa, tại vùng Knhiarin và Sônôms)
bước thung lũng tự do lòng dẫn và các đụn dịch chuyển theo nó
hầu như bằng nhau [95] Dưới khoảng 200 km tiếp theo từ cửa
hầu như mọi đụn cát lớn đã ổn định và tạo nên dạng uốn khúc
của lòng dẫn Diễn ra sự giảm đột ngột kích thước các khúc uốn
khi tăng lượng nước sông (xem hình 4.2) Tương ứng, trên đoạn
này diễn ra sự giảm kích thước các đụn, nhưng không quá đột
ngột vì khoảng dao động của nó khá rộng tỷ lệ bước uốn khúc
và đụn giảm cỡ 1,5 - 1,7 và chỉ ở cửa sông lại tăng đến 2,0 Kích thước các sóng cát trên các đụn ở vùng cửa sông cũng giảm xuống nhưng không đột ngột như chỗ uốn Như vậy tại vùng cửa sông Vưtregda tổ hợp bậc thang các dạng lòng dẫn có thể nhóm vào một hạng các dạng nhỏ hơn so với tổ hợp địa hình lòng dẫn dòng chảy trung bình của sông Khi đó bảo toàn các
đặc trưng địa mạo tương đối có trong thành tạo của chúng Dạng lòng sông ảnh hưởng mạnh mẽ đến hình thái học và
động lực học của các đụn cát và cù lao (dạng địa hình vừa) đặc
điểm dịch chuyển của các đụn qua bãi vắt trên khúc uốn
g đã được xem xét bởi N I Makaveev [52] Trên cơ sở của sơ
đồ dòng chảy tiềm năng trên đoạn ông chia ra vùng gia tốc (dọc
bờ lõm đến bờ lồi) và vùng giảm tốc (từ bờ lồi đến bờ lõm) của dòng chaytreen đó đặt các miền xoay các tia đáy từ bờ lõm đến
bờ lồi do tác động của hoàn lưu ngang Tương ứng với điều đó N
I Makaveev đã tách ra một miền chậm vận động của các đụn ở
bờ lồi sau mái uốn, phần còn lại của lòng dẫn các đụn dịch chuyển với gia tốc R S Tralov [95] đã khảo sát chi tiết sự dịch chuyển của các đụn cát bãi vắt trên hai khúc uốn lòng sông Vưtregda Ông đã xác định được vận tốc dịch chuyển đụn cát khá lớn dọc bờ lõm (gần 250 m/năm) với vận tốc bé (gần 25m/năm) của dịch chuyển bên bờ lồi khúc uốn
Trên bề mặt khúc uốn với hệ thống dòng chảy ngang ít phát triển hơn và với xác suất bé của sự ngắt dòng chảy từ bờ lồi khúc uốn sự chuyển động của các đụn cát tương
phân bố vùng gia tốc và giảm tốc trong dòng chảy vòng tại
đoạn cong Trên bình đồ khúc uốn sông Vưtregda vào khoảng 49
- 57 km cách cửa sông vơí sự kết hợp của đụn cát các bãi vắt Zaostrov, Ust - Vilegod và Xipuskin dọc bờ lõm trái vận tốc chuyển động của các đụn cát giảm từ bắt đầu chỗ cong đến đỉnh
Trang 5của nó khoảng 600 - 40 m/năm Đụn cát tại đỉnh khúc uốn trong
khoảng một vài năm có thể bảo toàn vị trí ổn định Sự chuyển
động của các đụn cát dọc bờ lồi có tính chất phức tạp hơn Tại
đây nhìn thấy các vùng gia tốc dịch chuyển đụn cát lên mái trên
khúc uốn và sự ngưng trệ quá trình này tại mái dưới Tuy
nhiên tại đỉnh của khúc uốn cực đại vận tốc dịch chuyển các
đụn cát không quan sát thấy Tại đây diễn ra sự ổn định mái
dưới từ trên xuống dọc bờ lồi của các đụn cát trước khi các đụn
cát ổn định trên đỉnh khúc uốn ở bờ lõm Như vậy, ngay cả trên
bề mặt khúc uốn sơ đồ tiềm năng chảyvòng cũng thực hiện
trong dịch chuyển đụn cát với những sự thay đổi lớn gắn liền
với các tác động qua lại của hình thái học và động lực học dụn
cát
I V Popov đã quan sát được sự giảm miền biến động các
bước băng sóng cát với sự gia tăng độ cong khúc uốn mà trong
đó các băng sóng cát được phân bố [67] V B Borovcov trên cơ sở
thự
c động lên dạng lòng dẫn và
sự
c nghiệm tại phòng thí nghiệm đã chỉ ra ảnh hưởng của độ
cong dòng chảy đến kích thước, hình dạng và động lực của các
dạng đáy Trong lòng dẫn cong giảm chiều dài lẫn chiều cao các
đụn cát, nhưng với số Frud lớn [11]
Tính chất phức tạp của các ảnh hưởng qua lại các dạng lòng
dẫn lên hình thái học và động lực học của các dạng sóng cát lòng
dẫn, mà chúng về phần mình lại tá
thay đổi của chúng được ghi nhận tại lòng dẫn cong sông
Terec sau cửa Sundji
Bước uốn trung bình của lòng dẫn sông λ là 1750 m
(σL240m), hệ số dạng khúc uốn S/λ trung bình là 1,4 Theo hình
thái học và động lực học, về phần mình khúc uốn chia ra hai
nhóm: ổn định và không ổn định Trong giới hạn khúc uốn ổn
định, lòng dẫn đặc trưng bởi hệ thức R/b > 2,0 Vách ngăn dòng
phân bố dọc bờ lõm Tại bờ lồi tích tụ phù sa, hình thành nên các
bãi cát
Hình 4.3 Vận tốc dịch chuyển khúc uốn ngang (a) và dọc (b) sông Terec
phụ thuộc vào độ cong (đặc trưng bởi hệ số bán kính độ cong R và độ rộng
lòng dẫn b) và vị trí của đụn cát trên khúc uốn
với vận tốc khoảng 10 m/năm Đồng thời tồn tại dịch chuyển ngang
c uốn
1- khúc uốn ổn định; 2- khúc uốn không ổn định với đụn cát tại bờ lồi; 3-
khúc uốn không ổn định với đụn cát tại bờ lõm
Các khúc uốn ổn định chuyển động xuôi theo dòng sông
khoảng 5 m/năm Vận tốc dịch chuyển dọc và ngang của các khú này được xác định bởi chỉ tiêu R/b Với R/b ~ 3 vận tốc dịch chuyển khúc uốn là cực đại; với các giá trị lớn hơn và nhỏ hơn của R/b sự dịch chuyển các khúc uốn giảm (hình 4.3) Với độ rộng của dòng b = 500 600 m, bán kính đường cong R là 400 đến 700m
Tỷ số R/b trong trường hợp này nhỏ hơn 2; trong một số trường hợp nó giảm tới 0,7 Trong phạm vi các khúc uốn này trục động lực của dòng không ổn định Nó được phân bố một cách tuần hoàn ở bờ lõm hoặc bờ lồi của khúc uốn Tại bờ đối diện tạo nên
Trang 6các đụn cát hay cù lao dần dần tạo ra các giai đoạn của bãi bồi
Sự bảo toàn ở bờ dòng chảy ở các bờ bãi bồi qua một thời gian nào
đó dẫn đến việc kéo theo dòng chảy chính vào miền đó Khi đó
diễn ra sự bào mòn mảng bãi bồi đến khi nó bị xói lở hoàn toàn
Chu kỳ phân bố này kéo dài khoảng 20 năm
Các khúc uốn không ổn định khi phân bố trực tiếp sát liền
nhau cùng phát triển đồng thời, tức là trục động học dịch hẳn về
một bờ trên khúc uốn trên gây nên sự thay đổi vị trí sống và ở bờ
đối
n ở mái dưới)
và
vận tốc xáo trộn ngang của khúc uốn Sự tích
được đặc trưn
ẫn [134] Hình dạng đơn giản của khúc uốn được mô tả chín
diện ở khúc uốn dưới Trên các đoạn uốn của lòng dẫn dài và
gồ ghề tính bất ổn định của trục dòng chảy xuất hiện có ính cục
bộ Sự hình thành các đụn cát tương đối ổn định gây nên sự xói
bờ tăng cường đại phương và tạo nên sự nới rộng lòng dẫn cục bộ
Khi nới rộng quan sát thấy sự chuyển đổi sống cát
Các khúc uốn ổn định có thể chuyển về nhóm không ổn định
nếu diễn ra sự co hẹp chúng (trong điều kiện ưu thế của dịch
chuyển dọc mái trên khúc uốn so với sự dịch chuyể
giảm bán kính đoạn cong đến R/b < 3 Thường thường điều
này diễn ra khi có sự biến hình lớn của đoạn sông phân bố trên
đoạn uốn ổn định hoặc khi củng cố bờ phía mái dưới của nó Hiện
tượng trầm tích xuất hiện khi đó ở bờ lõm của khúc uốn ổn định
kéo theo sự tăng bán kính đoạn cong của trục dòng chảy và khúc
uốn lại trở lại ổn định
Động lực học các khúc uốn không ổn định phụ thuộc vào vị
trí của vùng lắng đọng phù sa Nếu như nó phân bố ở phía bờ lồi
thì tăng (tới 10 m/năm)
luỹ phù sa sông ngòi ở bờ lõm, sự thành tạo ở đây các đụn cát
bền vững hay cù lao dẫn tới việc giảm mạnh vận tốc dịch chuyển
ngang của khúc uốn Vận tốc dịch chuyển dọc của các khúc uốn
khong ổn định thường không lớn do độ cong của nó lớn
Do Tính kéo dài trong tiến hoá của khúc uốn trên các giai
đoạn phát triển khác nhau của chúng, do ảnh hưởng của đa số
các nhân tố tự nhiên, hình dạng của đoạn lòng dẫn cong
g bởi sự phức tạp lớn Một số khúc uốn dạng chuẩn thường gặp ít hơn, và càng hiếm khi có một nhóm như thế Sự đa dạng các dạng khúc uốn nảy sinh ra nhiều thuật ngữ và sự mô tả chúng: dạng hình sin, tròn, elip, ngòi bút, ngón tay, vòm,cục, phức tạp, vón, tựa hình sin, bất đối xứng, mài mòn, không hoàn chỉnh, lở, đói xứng, xoáyvào, xoáy ra, hạn chế, biến dạng, góc nhọn v.v
Để đặc trưng các dạng phức tạp của lòng dẫn cong người ta
sử dụng hàm mật độ phổ hàng loạt góc phương vị của đoạn cong trục lòng d
h xác hơn cả bằng đường cong tựa hình sin của Leopold và Langbei [119]:
o
s 2 ds
θ
=
θ sin Biến đổi chuỗi Phure phương vị θ cũng dẫn tới khai triển các dạng phức tạp thành các thành phần đơn giản Bàn tới tiên đề
về tính chi phối của mỗi dạng thành phần đơn giản của lòng dẫn cong
như vậy các khúc uốn đã được R S Tralov phân loại [95]
bởi miền xác định của lưu lượng nước trong sông Mỗi lưu lượng nước chảy qua sông phản ánh ở dạng lòng dẫn dưới dạng khúc uốn đơn giản, bước của nó tỷ lệ thuận với lưu lượng, còn biên độ tỷ lệ thuận với độ lặp lại của lưu lượng và khả năng xói mòn của nó Siêu quan điểm khúc uốn đơn giản xây dựng nên cấu trúc phức tạp của lòng dẫn cong [83] Tiên đề này đã tìm thấy sự khẳng định ở các dạng lòng dẫn phức tạp hơn ở các sông cong mà
đối với chúng đường cong lưu lượng tạo lòng có dạng nhiều đỉnh [25]
Tính phức tạp của lòng dẫn uốn khúc cũng thể hiện ở sự thay
đổi có trật tự hình thái học và động lực học dọc theo sông Loạt tổ chức
Trang 7trên sông Vưtregda và Lena theo quy luật giảm hoặc tăng bán
kính đoạn cong các khức uốn kế tiếp hay là trục động học của
dòng chảy Các khức uốn liên kết lại thành một nhóm cũng tuân
theo sự biến đổi một hướng có quy luật của bước λ, hay hệ số biểu
hiện uốn khúc S/λ Trong nhóm gộp khoảng 6 - 10 khúc uốn Cần
phải nhóm như vậy để kết quả nhận được không là ngẫu nhiên
đặc biệt cần phân biệt rõ ràng tính nhóm về độ uốn trên các thác
và các bar vùng cửa sông (hình 4.4)
Hình 4.4 Loạt các khúc uốn ghềnh ngập nước trên bar sông Indigirki
1- Ghềnh ngoặt; 2 - ba cửa nước nông; 3- vùng nông; 4- giới hạn bar
Trong loạt các khúc uốn với độ cong giảm dần xuôi theo
dòng chảy: một - hai khúc uốn cong phần thượng thường dịch
the
uyển cả dọc lẫn ngang trục thung lũng Các khúc uốn ti
o nhỏ hơn chủ yếu dịch chuyển theo hướng dọc (hình 4.5)
Vận tốc dịch chuyển dọc cực tiểu ở khúc uốn trên cùng của nhóm và tăng dần xuôi theo chiều dòng chảy Kết quả là toàn nhóm bị kéo dãn do giảm chiều dài của khúc uốn cuối cùng
Hình 4.5 Động lực loạt khúc uốn sông Terec 1- đường bờ năm 1958; 2- đường bờ năm 1979
Trong một số trường hợp chỉ dịch chuyển một trong số các khúc uốn nhỏ và được gọi là sự luân chuyển khúc uốn giãn và nén
Lòng sông được phân ra các nhánh đặc trưng bởi tính phong phú nhất của hình dạng Phân loại hình thái động lực chi tiết
ược soạn thảo bởi R.S Tralov [101]
ngu
4.3 Các sông phân nhánh
nhất các lòng dẫn như vậy đ
N I Makaveev nhận thấy rằng nếu như lòng dẫn có hai nhánh thì các đụn phân bố theo trật tự bàn cờ ở các bờ khác nhau nằm trên tiến đến mép phân nhánh và dần phủ của
ồn lúc nhánh này lúc nhánh khác Cho nên các nhánh sông lần lượt hoạt động lúc tích cực và lúc suy thoái [52] Trong trường hợp lòng sông nhiều nhánh hiệu ứng này làm phức tạp thêm chế độ biến hình lòng dẫn ở các nhánh Sự suy giảm nước
Trang 8ở một số nhánh riêng theo quan hệ với lòng chính dẫn tới sự
giảm kích thước mọi dạng lòng dẫn của tổ hợp bậc thang Trong
mối liên hệ này phân tích cấu trúc địa hình ở các lòng dẫn
nhiều nhánh cần thiết phải tiến hành tại mỗi nhánh riêng biệt
Tồn tại cả sự tác động tương hỗ của chế độ lòng dẫn các
nhánh trong lòng sông nhiều nhánh R S Tralov qua ví dụ
phân nhánh hạ lưu lòng sông Lena đã chứng tỏ rằng trong các
lòng
h bởi quá
dẫn với sự phân nhánh phức tạp đi kèm quan sát thấy sự
thay đổi vai trò tương đối của mỗi nhánh trên hai nhánh chính
khi cho các lưu lượng nước khác nhau đi qua Với mực nước cao,
vai trò chủ yếu của lưu lượng nước tập trung ở các nhánh một
hệ thống, ở đây diễn ra sự biến hình tích cực Với mực nước
thấp, phần lớn dòng chảy sông ngòi đi qua các nhánh đối diện
[95] Trong sự phân nhánh phức tạp của châu thổ Enhixây sự
tái phân bố mùa và nhiều năm của dòng chảy nước giữa các
nhánh xác định xu hướng phát triển của chúng [1] Biểu đồ lưu
lượng tạo lòng (theo cách hiểu của N I Makaveev) là khác
nhau đối với các nhánh sông khác nhau Tại nhánh nhiều nước
hơn - Enhixây lớn - dòng phù sa lớn nhất diễn ra khi lưu lượng
nước nhỏ hơn so với nhánh ít nước hơn - Kamen Enhixây
Trong trường hợp như thế này có thể có ưu thế phát triển của
nhánh ít nước và ngưng trệ ở nhánh nhiều nước Sự tác động
qua lại của các nhánh trong lòng sông nhiều nhánh và phân bố
lại dòng nước giữa chúng theo thời gian gây ảnh hưởng lớn đến
xu thế phát triển các nhánh khi thay đổi chế độ thuỷ văn Các
tính toán được tiến hành cho châu thổ Enhixây khi điều tiết
dòng chảy bằng các hồ chứa bậc thang chứng tỏ rằng do sự thay
đổi biểu đồ lưu lượng tạo dòng tại một số nhánh tăng lưu lượng
nước, với nó diễn ra dòng phù sa cực đại Các nhánh như vậy sẽ
hoạt động tích cực Tại các nhánh khác, dòng phù sa cực đại
diễn ra với lưu lượng nước nhỏ hơn so với dòng không bị phá
huỷ Điều này làm tăng khả năng lầy hoá nhánh sông [1] Hình thái học và động lực học lòng sông được phân nhánh xác định bởi tình trạng các yếu tố thuỷ lực chi phối các dạng sóng cát lòng dẫn trong chuỗi bậc thang, chúng được ổn địn trình thành tạo bãi bồi Nếu sự ổn định như thế diễn ra trên mực cấu trúc của sóng cát lớn nhất thì hình thành nên các lòng sông với các dạng siêu lớn: phân nhánh các sông song song hoặc là bãi bồi nhiều nhánh, hoặc gần với cửa sông, tính đa nhánh vùng châu thổ Nếu như hình dạng lòng dẫn được xác
định bởi các dạng lòng dẫn ổn định trên mực cấu trúc các sóng cát lớn thì xuất hiện lòng dẫn đơn nhất với sự phân nhánh đơn giản kèm theo, nếu bãi bồi được cấu tạo trên toàn bộ tổ hợp sóng cát lớn Khi đó lượng nhánh chính phụ thuộc vào tỷ số b/L2 : với b/L2 < 5,0 lòng dẫn sẽ uốn khúc; với 0,5 < b/L2< 1,0 - tạo nên lòng dẫn hai nhánh; với 1,0 < b/L2< 1,5 - lòng dẫn ba nhánh v.v (xem hình 3.17) Sự hiện diện củấcc bậc thang sóng cát lớn làm phức tạp hình dạng lòng dẫn Sự phân nhánh hỗn loạn và phức tạp diễn ra trên các sông nơi có quá trình ổn định và thành tạo bãi bồi bao phủ cả những sóng cát trung bình Lấy ví dụ như sông Obi ở vùng cửa sông Anui (Hình 4.6)
Hình 4.6 Hình thái học tổ hợp địa hình lòng dẫn thượng nguồn sông Obi ở
vùng cửa sông Anui
1 - đáy bùn; 2 - nước nông; 3 - gờ và đụn; 4 - đảo
Trang 9Tại đây phổ biến rộng rãi các dạng đáy - gợn sóng (L ~
2,5m); đụn (L ~ 20m), vùng lồi (L ~ 70m) [89] Các sóng cát
trung bình với bước sóng L ~ 250m được phơi khô vào mùa kiệt
trở nên đa dạng như là cù lao và mô cát Nhiều dạng kích thước
như vậy được phủ bởi aluvi bãi bồi, ổn định và chuyển hoá
thành các đảo không lớn và xác định luôn hình dạng lòng dẫn
Các đảo kích thước trung bình (L ~ 1100m) cũng được gộp vào
mực cấu trúc các sóng cát trung bình, chính chúng đã xác định
hình dáng lòng sông thượng nguồn sông Obi Chỉ các đảo lớn và
các mảng đảo (L ~ 3000m) mới thưộc mực cấu trúc sóng cát lớn
ự kết dính các đả
lòng dẫn tập trung hẹp [9] có bước sóng
thuộc vào loại sóng cát lớn nhất
4.4 Các nhân tố xác định hình dạng lòng dẫn
Hệ thống dòng chảy - lòng dẫn là cơ sở cho thảo luận này
Đối với một đoạn lòng dẫn trong một thời khoảng trung bình
đặc trưng không chịu sự thay đổi đơn hướng, sự hao hụt năng
lượng ε0 có thể biểu diễn qua các tham số ngoại của hệ thống -
lưu lượng nước Q và góc nghiêng mặt nước l:
gQI
o =ρ
Mặt khác, sự tiêu ao năng lượng có thể biểu diễn qua các
tham số nội của hệ thống Theo tiên đề của A N Komogorov
tiêu hao năng lượng riêng ε ( '3) / λ
u k
ợng rối; λ - tỷ lệ tuyến tính đặc trưng của hệ; k - hệ số Tiên đề này đưa ra từ lý
phương trung bình được xácđịnh theo năng lư
thuyết đồng dạng hoàn toàn tương ứng với thể hiện ở dạng
thành phần tiêu tán của phương trình thuỷ lực:
F U
= ε
H
với U - vận tốc trung bình của dòng chảy, H - độ sâu trung bình, F - diện tích mặt cắt ướt, ρ và g - mật độ nước và gia tốc rơi tự do
Hệ số kháng C0 lại chính là một hàm phức tạp của các nhân tốc ngoại sinh của quá trình lòng sông và hình thái lòng dẫn
(H/D;H/h ;L /h ;L /L ;b/H )
f
Từ công thức (4.1) và (4.2) ta nhận được:
Giá trị Q và I0 được cho the F
HP
U C
1
2 o
kiện trong hệ thống mực cao hơn hệ thống dòng chảy - lòng sông
dẫn với Q và I0 không đổi có thể gặp trong các sự kết hợp
đa dạng Xuất phát từ số liệu của công trình [116] hệ thống dòng chảy - lòng sông có tối thiểu là 8 bậc tự do: chiều rộng lòng
hất tới bờ gần nhất
ba; độ sâu cực đại Hm; độ uốn khúc (độ phân nhánh) P; độ cao
t số bậc địa hình lòn
Chúng hầu như không thay đổi theo tỷ lệ trung bình thời gian vài chục năm Đồng thời các tham số hình thái học của lòng
dẫn b; độ sâu H; khoảng cách từ đường sâu n
át hr; chiều dài sóng cát Lr; vị t g cát LH Vì
nên số bậc tự do (đặc trưng hình thái lòng sông và dạng lòng dẫn) tăng thêm nhiều Điều này phù hợp với số lượng vô hạn các trạng thái cân bằng của hệ thống Các tính toán cơ bản chứng tỏ rằng nếu chỉ biết các giá trị Q và I0 thì dạng hình thái của lòng dẫn là không xác định Trên hình 4.7 chỉ ra miền tồn tại các dạng lòng sông (trong toạ độ độ cong và độ rộng tương đối b/H)
Trang 10với Q = 100 m/s, I0 = 0,0003, hệ số nhám n = 0,02 và các vận tốc
dòng chảy trong khoảng 0,6 - 2,5 m/s Tại miền này phân bố chủ
yếu các dạng hình thái lòng sông : thẳng, cong và phân nhánh
[85]
Đồng thời một số yếu tố chứng tỏ rằng dạng hình thái mỗi
lòng sông cụ thể rất ổn định Thí dụ, đoạn uốn khúc của sông
Istuit ở trung lưu Uelse vào tháng 10 năm 1969 được nắn thẳng
và chuyển thành kênh, tuy nhiên chỉ sau một năm đoạn sông
lại phục hồi sự uốn Trong lòng dẫn sông này từ năm 1800 đến
1920 lấy nước để sản xuất khoáng sản Kết quả là lòng dẫn hẹp
đơn nhánh uốn khúc vào năm 1904 biến thành lòng dẫn rộng
hơi cong với các cù lao và các nhánh trên bãi bồi Nhưng sau
khi chấm dứt các tác động nhân sinh thì hình thái nguyên thuỷ
của lòng dẫn lại được phục hồi và đến năm 1978 lòng dẫn của
sông
Các biến độc lập
lại hẹp và đơn nhánh (tuy vẫn còn hơi cong) [121] Thậm
chí tại sau đập thuỷ điện, không xét tới sự tái tạo địa hình lòng
dẫn, dạng hình thái lòng dẫn đôi khi cũng không thay đổi Ví dụ
ở sau đập thuỷ điện Novosibia trên sông Obi trên đoạn 10 km
xói sâu lòng dẫn trở thành đa nhánh, mặc dầu trên một số khu
vực diễn ra sự phức tạp hoá các dạng đang tồn tại, còn trên một
số khu vực khác - thành tạo mới các mép phân nhánh [95]
Cũng khá tập trung theo thời gian kích thước các thành phần
riêng rẽ của lòng sông và các dạng lòng dẫn, lấy trung bình cho
các thời đoạn đặc trưng biến đổi nhiều năm của dòng chảy Chỉ
do thay đổi dòng chảy nước và phù sa rất lớn, hoặc là cảnh
quan lưu vực, dạng hình thái học lòng sông một con sông cụ thể
mới thay đổi rõ rệt
Mâu thuẫn giữa số lượng vô hạn các mối liên kết các
thành tố địa hình lòng sông với tính ổn định lớn của hình thái
học lòng sông cụ thể, từ khía cạnh thứ nhất và tính tập trung
kích thước các tham số hình học chính của nó, từ khía cạnh
khác được giải thích bởi sự hiện diện một lượng lớn các nhân tố
tự nhiên mà chúng kiểm soát các tham số hình thái lòng sông,
từ một phía và tính xác định địa lý chế độ lòng dẫn sông ngòi,
từ phía khác
Bảng 4.1 Các nhân tố quá trình lòng sông cần thiết để tính toán các thành
tố hình thái lòng sông
Các biến phụ thuộc (Từ số thành tố hình thái lòng dẫn)
Công thức tính toán Từ số thành
tố hình thái lòng dẫn
Từ số nhân tố quá trình lòng sông
hr (2.49)*;(3.1)**; (3.6)**
b, H, P D, σ, ρ s , ρ w+, đường
quá trình,
P (4.95)*; (4.129)*;
H
D, σ, ρs, ρw+, đường
Lr
quá trình, H , T,
0
tính chất địa chất công trình, thảm
b, H, hr,
B
t o C, Q, I , S, các
thực vật
nước
Như trên
b, P, h r , L r u vực, chế mạo
Như trên + cảnh quan lư
độ thuỷ văn dòng chảy, lịch sử phát triển thung lũng
Chú giải: 1 D - đường kính trung bình của đất đáy phương đất đáy; ρs, ρw- - mật độ đất đáy và mật độ nước ; lửng; HB - độ cao bờ; t o C - nhiệt độ nước; T - thời gian phát ốn; 2 Ký
u "*" - đánh số ình [90]; ký hiệu h số công thức trong sách nà
; σ - độ lệch quân
S - nồng độ phù sa lơ triển khúc u
hiệ công thức trong công tr
y
"**" - đán