Cho dù bản chất cấu trúc tương tự của dòng chảy như thế nào đi nữa, kích thước của chúng, bậc độ sâu, chiều rộng dòng chảy các thứ khác đều dịch chuyển dọc lòng sông với vận tốc gần với
Trang 1Chương 2
cơ chế thành tạo các cấu trúc bậc
phức tạp của địa hình lòng sông
2.1 Cấu trúc dòng chảy rối
Sự tồn tại cấu trúc tựa tuần hoàn cực trong dòng chảy lòng
sông, kích thước của nó được so với độ sâu dòng chảy đã được M
A Velicanov [12] và N A Mikhailova [57] cùng cộng sự của họ
công bố Họ còn nghiên cứu sự ảnh hưởng của chúng đến sự
hình thành địa hình sóng trên đáy lòng sông bị bào mòn A B
Klaven [36, 37] đã chứng minh các cấu tạo phức tạp của các
xoáy này: các xoáy nhỏ nhất (kích thước cỡ độ sâu) kết hợp
thành xoáy lớn (chiều dài xoáy cỡ độ sâu lớn nhất)
Đo đạc nhiễu động vận tốc trong một khoảng thời gian dài
đã cho cấu trúc trường vận tốc với chu kỳ từ 10 – 15 phút [19],
chiều dài của nó được so sánh với độ rộng của dòng chảy N A
Mikhailova [58] và O P Petrosan đã nhận được các cấu trúc
như vậy trong dòng chảy thực nghiệm D I Grinvald và V I
Nhicora [17] đã mô tả một loạt các ví dụ các nhiễu động vận tốc
tần số thấp, cụ thể họ đã dẫn ra hàm mật độ phổ trong khoảng
tần số từ 10 –7
–100 rad/s đối với sông Dnhestr Cấu trúc tần số thấp nhất trên miền phổ rối với chu kỳ ~ 10 phút theo trật tự
chiều dài vượt quá độ rộng sông Dnhestr
Trên sông Terec sự đo đạc vận tốc được tiến hành bởi tác
giả (cùng với I.N Gurin) trên một mái hạ tương đối thẳng của
một đoạn lòng sông uốn gấp Để đánh giá cấu trúc dòng chảy trên một khoảng biến động tần số rộng nhờ các máy đo vận tốc nhỏ đã tiến hành hàng loạt đợt đo dài hơn 10 phút với việc ghi vận tốc từng 0,4 giây, nhờ máy lưu tốc GR–99, đo 2 giờ và ghi nhận vận tốc từng 10 giây và đo 16 giờ với ghi nhận vận tốc từng 600 giây
Hình 2.1 Hàm mật độ phổ của các nhiễu động tần số thấp của vận tốc
dòng chảy
1 – Trong sông Terec (trạm Parabotrs); 2– trong lòng sông Protva Bước sóng khuấy trộn: LM – bậc bước uốn khúc; b – bậc độ rộng dòng chảy t; Lr – cỡ
chiều dài sóng cát
Trong các hàm mật độ phổ vận tốc dòng chảy (Hình 2.1, 1)
Trang 2phân ra 3 vùng năng lượng xoáy kích thước ~ 1000 m (cỡ bước
đường cong của lòng sông), ~ 100 m (cỡ độ rộng lòng sông) và 3–
5m (cỡ độ sâu lòng sông) ứng với các đới này là các đoạn phổ có
sự thay đổi mật độ phổ (năng lượng dòng chảy) với số sóng tuân
theo quy luật (–5/3) Đó là các khoảng quán tính, nơi mà sự
truyền năng lượng theo bậc diễn ra không có tiêu hao
Trên sông Protva vận tốc đo bằng lưu tốc kế bé trong
khoảng 15 phút, trong khoảng 3,5 giờ bằng lưu tốc kế GR–99 và
trong khoảng 12 giờ – lưu tốc kế BPV –2r Tại đây cũng làm rõ
được cực trị mật độ phổ tương ứng với độ rộng của lòng sông
(Hình 2.1, 2)
K V Grisanhin [19] giả thiết rằng, các dao động tần số
thấp của vận tốc dòng chảy là hậu quả của sự thay đổi tần số
qua các xoáy chính tầm cỡ độ sâu dòng chảy D I Grinvald và
V I Nhicora [17] đã phân biệt đối với các xoáy này một khoảng
biến động thành tạo rối đặc thù (rối vĩ mô) và gắn nó với sự xuất
hiện với tính không ổn định của dòng chảy chính trong các quy
mô tương ứng V.V Kovalenco [40] bằng lý thuyết và thực
nghiệm đã chứng minh rằng dao động vận tốc tần số thấp là đặc
tính cho dòng chảy lòng sông trong miền đường nước rút của
mặt thoáng nước
Cho dù bản chất cấu trúc tương tự của dòng chảy như thế
nào đi nữa, kích thước của chúng, bậc độ sâu, chiều rộng dòng
chảy các thứ khác đều dịch chuyển dọc lòng sông với vận tốc
gần với vận tốc dòng chảy, và cực tiểu cỡ 3–5 lần lớn hơn so với
vận tốc xáo trộn dạng lòng sông Nhiễu động vận tốc dạng như
thế không thể là nguyên nhân hình thành địa hình lòng sông
Trong khí quyển và đại dương đã biết đến các cấu trúc xoáy
với các kích thước thẳng, thuộc cỡ lớn hơn chiều dày của tầng
bình lưu và độ sâu đại dương Vận tốc của các thành tạo xoáy
quy mô lớn (các hoàn lưu thuận và nghịch trong khí quyển, các
vòng uốn lớn của dòng chảy đại dương) nhỏ hơn vận tốc chuyển
động tạo nên các dòng chảy đó rất nhiều, tức là khá ổn định
a)
Hình 2.2 Trường vận tốc dòng chảy trên đụn cát trong lòng sông Niger vào
đầu (a) và cuối (b) đường lũ rút
1 – Điểm đo vận tốc ; 2– Đường đồng vận tốc; 3– Sự thay đổi vận tốc trung bình theo thuỷ trực dọc đụn cát; 4– sự thay đổi vận tốc đầu tiên (có ảnh hưởng của địa hình đáy) theo dọc dòng chảy; 5– mặt đáy; 6– cuộn xoáy dưới đụn cát
Trang 3Theo bản chất của mình, chúng là các thành tạo xoáy vĩ mô,
tuân theo (với truyền tụng về quá trình hai chiều đang tồn tại)
quy luật nhận được từ rối quy mô nhỏ Các cấu trúc xoáy này
được nghiên cứu bằng phương pháp cơ học chất lỏng thống kê,
hơn nữa các kích thước lớn và các vận tốc dịch chuyển xoáy nhỏ
tương đối cho phép áp dụng không chỉ phân tích thời gian mà
còn cả phân tích không gian [6]
Trong dòng chảy sông ngòi các thành tạo xoáy ổn định đều
như thế được M A Velicanov [12] tách ra thành các chuyển
động thứ sinh và gắn chúng với hoàn lưu ngang trên đoạn dòng
chảy cong, dòng chảy sinh ra trên bãi vắt, các xoáy lớn với trục quay ngang và dọc (thí dụ, trên đoạn hội lưu) Các chuyển động này là thứ sinh so với dòng chảy nguyên thuỷ, nó mô tả bởi trường vận tốc trung bình Đối với một đoạn sông đồng nhất cụ thể vận tốc nguyên thuỷ là vận tốc trung bình theo dọc đoạn và trong khoảng thời gian mà trong dòng chảy của nó vận tốc trung bình này ít thay đổi Suy ra vận tốc thứ sinh có thể là vận tốc dòng chảy địa phương trung bình theo thời gian
b)
Trên sông Niger , trong thời gian trận lụt năm 1978 đã tiến hành trắc đạc trường vận tốc quanh đụn cát và cù lao Kích thước không lớn của đụn cát cho phép bỏ qua lực kháng Khi đó
ảnh hưởng của địa hình đến vận tốc dọc của dòng chảy trung bình theo thuỷ trực với điều kiện không thay đổi mực nước và
độ rộng của dòng cơ sở được mô tả bởi phương trình liên tục:
0
=
∂
∂ +
∂
∂
x
U H x
H U
còn vận tốc ban đầu U 0 (đối với sự hình thành sóng cát) có thể
tính theo công thức:
q U
U o
∆
ư
∆
ư
với – vận tốc dòng chảy đo đạc trung bình theo thuỷ trực; q –
lưu lượng nước riêng trên sóng cát;
Φ
U
∆ – độ cao sóng cát trên hõm tại điểm đo vận tốc; H– độ sâu dòng chảy tại hõm
Các tính toán đã chứng tỏ rằng (Hình 2.2), trong phạm vi sóng cát các vận tốc dòng chảy nguyên thuỷ giảm từ bụng sóng
đến đỉnh sóng và sau đó tăng lên, tức là tồn tại sự thay đổi vận tốc dòng chảy dạng sóng (tính rối cấu trúc) với bước sóng gần với bước hình thành sóng cát Trên miền suy giảm vận tốc diễn
ra sự tích tụ phù sa và hình thành sóng cát, nó làm thay đổi dạng của trường vận tốc ban đầu
Trang 4Hình 2.3 Địa hình đáy
(a) vận tốc dòng chảy vào thời kỳ đỉnh lũ, b– vận tốc dòng chảy ban đầu sau khi
tính ảnh hưởng của địa hình và c– dòng chảy quanh cù lao
Trường vận tốc nguyên thuỷ rõ ràng nhất trên đụn cát được tách từ đầu đường lũ xuống; vào cuối lũ và vào thời gian cấu trúc sóng của trường vận tốc nguyên thuỷ chưa có
Trong vùng của cù lao lớn sông Niger ảnh hưởng của địa hình đến vận tốc dòng chảy thể hiện trong hệ quả chủ yếu của
sự tăng kháng trở khi giảm độ sâu Vận tốc ban đầu có thể tính nhờ công thức:
tb / /
với Q – lưu lượng nước trong lòng sông; b – chiều rộng, H tb– độ sâu dòng chảy trung bình
Trường vận tốc ban đầu trong miền hình thành cù lao có tính chất sóng và xoáy Miền vận tốc cực tiểu (tích tụ phù sa cực đại) phân bố ở miền trung tâm cù lao (Hình 2.3), khi đó cực tiểu của vận tốc ban đầu của dòng chảy sẽ sâu hơn so với sau khi hình thành cù lao
Trong xấp xỉ đầu tiên trường vận tốc trong cấu trúc dòng chảy tương tự như thế có thể tính được nhờ vào lý thuyết xoáy Karman [46] Nó không ít lần được sử dụng để mô tả động lực của sóng cát [20], hình thái và động lực của khúc uốn lòng sông [53, 87] Trường vận tốc trong đó tạo thành các dạng đáy, hình thành các đường xoáy, đối xứng qua đường đáy (Hình 2.4) Đối với dòng chảy có bề mặt nước tự do ít biến dạng, công thức đối với vận tốc dòng chảy nhận được bởi Rozenkhed [130]:
( ) ( ( ) )⎥⎥⎦⎤
⎢
⎢
⎣
⎡
ư θ
ư θ
ư + θ
+ θ Γ +
id z
id z id z
id z bi U U
' '
1
1 1
1
4
2b – khoảng cách giữa các xoáy trong một sóng; 2a – khoảng
cách giữa các tường chắn;
b / c i );
b /(
a d );
b /(
) yi x (
z= + 2 = 2 τ= 2
1
θ – hàm Jacobian dạng thứ nhất; – vận tốc dòng chảy không xoáy
∞
U
Trang 5Hình 2.4 Đường Karman của các xoáy đối xứng giới hạn (a) và sự hình
thành trường vận tốc bởi chúng (b)
Hình 2.5 Sơ đồ nguyên lý của các xoáy ổn định đều sinh ra rối vĩ mô của
dòng chảy lòng sông
Hoàn lưu Γ, theo số liệu của công trình [46] có thể tính theo công thức:
a / qb
ư
= Γ
với q – lưu lượng nước riêng
Nếu trong miền vận tốc hạ thấp xảy ra sự lắng đọng phù
sa, thì tạo nên các sóng cát dạng elip, nằm ở dạng bất đối xứng (xem hình 2.4 b) Phụ thuộc vào vận tốc trầm tích phù sa tới
hạn u H cứ 3 xoáy tạo nên 4 sóng cát (với u H nhỏ), hoặc 2 sóng
cát (với u H lớn)
Sử dụng lưới Karman, chặn bởi các tường chắn, đối với các xoáy với trục đứng cho phép nhận được các sóng cát dạng elip trên bề mặt Các dạng này khác nhau phụ thuộc vào sự phân bố xoáy trên đường Karman – đối xứng hay bất đối xứng Sơ đồ
Trang 6nguyên lý của các cuộn xoáy ổn định đều có thể hình thành
dạng địa hình đáy sóng cát đặt trên hình 2.5 Sự bất ổn định
của các cuộn xoáy này có thể dẫn đến sự hình thành các vòng
xoáy, bứt ra khỏi cấu trúc ổn định đều và trôi về phía bề mặt
dòng chảy, gây ra tính rối quy mô lớn
2.2 Phát triển các xáo trộn nhỏ trong dòng chảy lòng sông
Cơ chế cảm nhận trường vận tốc các cấu trúc xoáy trong
đáy bào mòn của dòng chảy, đã được Dj Đacxy [109], M A,
Velicanov [12], N I Macaveev [52] N.A Rdjanhixưn [73] mô tả
từ những năm 50 đã khám phá nhờ phương pháp xáo trộn nhỏ,
mà nó không lâu trước đó đã cho các kết quả cơ bản khi giải
quyết vấn đề chuyển từ chuyển động của dòng chảy phân tầng
sang chuyển động rối.Dùng phương pháp này cho phép về lý
thuyết dựa trên sự xuất hiện các pha phát triển địa hình lòng
sông với các chế độ dòng chảy khác nhau [117], tạo ra các mối
liên hệ của các tham số hình thái như là dạng vi địa hình [111]
cũng như dạng địa hình vừa [113] vào các đặc trưng thuỷ lực
chính Các kết quả chính nhận được nhờ phương pháp xáo trộn
nhỏ đã được phân tích không ít lần [21, 26, 90] Cho nên dừng
lại ở các công trình này, phát triển nó cho phép làm rõ mọi sự
đa dạng của các dạng địa hình lòng sông
Các công trình đầu tiên của nhóm này thuộc về Kallander
[107], Parker [128], Engelund, Skovgaard [112], Phredco [113]
Trong các công trình của Kallander, Parker và Phredco đã
phân tích phương trình thuỷ lực màng mỏng Saint – Vernant:
0
= ρ
τ +
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
+
∂
∂
H
g x
Z g y
U V
x
U
U
t
;
0
= ρ
τ +
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
+
∂
∂
H
g U
V y
Z g y
V V
x
V
U
t
0
=
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
t
H y
HV x
HU
;
0
=
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
t
Z y
q x
q s b o
Trong các phương trình này, các vận tốc ngang và dọc U và
V, cao độ bề mặt nước tự do Z, cao độ đáy Z 0 , độ sâu H, ứng suất
đáy τo , lưu lượng phù sa theo phương dọc q s và ngang q b ở dạng tổng hai thành phần: trung bình và xáo trộn:
' u U
U= + ;
'
v V
V = + ;
' z Z
Z= + ;
' o o
' h H
'
τ τ
τo = o+ ;
' s s
q = + ;
' b b
Thế công thức (2.2) vào hệ (2.1) sau khi tính các phương trình để trung bình các số hạng và tuyến tính hoá (bỏ qua các thành viên chứa tích xáo trộn) dẫn tới hệ phương trình:
0
2 = ρ
τ
ư ρ
τ +
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
H
' h g H
' g x
' z g x
' u U t
'
;
0
= ρ
τ +
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
H U
' v g y
' z g x
' v U t
'
0
=
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
t
' h y
' v H x
' h U x
' u
0
=
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
t
z y
q x
q ' s ' b ' o
Xáo trộn các đặc trưng thuỷ lực W ' { u , v , h , z , z '0 ,τ, q ' s , q ' b }
Trang 7trong xấp xỉ đầu tiên thể hiện dưới dạng các sóng hình sin dịch
chuyển theo dòng chảy với biên độ tăng dần theo thời gian
( )y exp ik(x ct)
W
'
Sau khi thế biểu thức (2.4) vào hệ (2.3) và bỏ qua các biến
ta nhận được phương trình vi phân thường bậc hai:
( )2 0
2W / dy + Wλ =
với λ– hàm tổng các đặc trưng thuỷ lực, các số sóng ngang và
dọc: k1 =2π/ L1 và k2 =2π/ L2 và vận tốc tổ hợp c
Phương trình (2.5) khảo sát từ các giá trị riêng Lời giải phụ
thuộc vào việc lựa chọn các điều kiện biên Kallander lấy điều
kiện biên là đẳng thức không tổng hợp biên độ xáo trộn cao độ
đáy bằng 0 tại bờ lòng sông Parker và Phredco – đẳng thức
đồng dạng biên độ xáo trộn vận tốc ngang dòng chảy bằng 0 ở
các bờ lòng sông
( ) 0 = W ( ) b = 0
Các điều kiện biên như thế dẫn tới các giá trị riêng dạng:
b
/
mπ
=
và các hàm thay đổi các đặc trưng thuỷ lực riêng ngang lòng
sông Ví dụ như sự xáo trộn vận tốc dòng chảy ngang v'được
viết bởi phương trình:
b /
y
m
sin
~
'
Như vậy, định đề rời rạc hoá các tham số đo đạc hình thái
dạng lòng sông (trong mọi trường hợp các đo đạc trắc ngang)
phụ thuộc chuỗi tự nhiên m Suy ra từ công thức (2.7), khi m =1
hình thành lòng sông đơn nhánh, với m > 2, lòng sông phân
nhánh
Biểu thức để xác định λ phụ thuộc vào dạng công thức để
tính toán cũng như mức độ tính đến các đại lượng
nhỏ Trong mọi trường hợp, đẳng thức (2.6) dẫn tới hệ thức rời
rạc – quan hệ vận tốc tổng cộng c với số sóng k
b
s , q ' ' q , '0
τ
1 và k 2 Giải hệ thức phương sai là giải bài toán về tính ổn định của chuyển động Từ công thức (2.4) suy ra rằng sự tăng biên độ xáo trộn các đặc trưng thuỷ lực, tức là sự phát triển các dạng lòng
sông diễn ra với các giá trị như k 1 và k 2, khi mà phần nhỏ nhất
của vận tốc tổng hợp Im (c) >0 Nội trong khoảng số sóng khá
rộng thoả mãn điều kiện này, Kenedi [117] đề nghị tách số sóng
k 1M tương ứng với cực trị vận tốc tăng biên độ xáo trộn [k 1 Im(c)]
Giả thiết rằng các xáo trộn nhỏ của cao độ đáy với biên độ phát triển nhanh trở thành các dạng lòng sông có kích thước vượt trội
Trong các công trình của Kalander, Paker cũng như của
Egenlund và Skovgaard thu được quan hệ k 1 Im(c) = f (k 1) đối với
các giá trị m khác nhau Tất cả các quan hệ này đều có cực đại,
tức là coi như đối với dạng hình thái lòng sông, xác định bởi số
m, tìm được chiều dài và chiều rộng các dạng lòng sông chủ đạo
Tuy nhiên khi đó chỉ định số m (dạng hình thái lòng sông) hoàn
toàn tuỳ ý, nó không bị chi phối bởi các đặc trưng thuỷ lực của dòng chảy Phân tích trọn vẹn nghiệm của hệ phương trình (2.3), áp dụng cho các công trình này chứng tỏ rằng cực trị
[k 1 Im(c)] tăng với sự tăng của m, tức là trong cùng một và chỉ
một điều kiện thuỷ lực, xác suất hình thành nhiều hơn các dạng nhỏ nhất ở các lòng sông phân nhánh lớn Thực tế, khi thực hiện các cách tiệm cận của Kalander và Paker nhận được sự thành tạo đồng đều theo xác suất các dạng lòng sông với các kích thước rất khác nhau (Hình 2.6)
A E Mikhinov [59] đã kịp làm sáng tỏ, trên nền sự phong phú các dạng lòng sông, các lớp địa phương các dạng lòng sông nhỏ Ông đã sử dụng hệ phương trình chuyển động của dòng chảy trên bề mặt của Bussinhesk với sự tính đến sóng trên bề
Trang 8mặt thoáng của dòng chảy:
0 2
1
2 2 1
3 2 2 2
2 1
3 2 1 3 1
3 2
1
3
2 1
3 2 2
1
3 1 2 2 1
3 1
2 2
1
1
1 2
1 2 1
1 1 1
=
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎝
⎛
∂
∂
∂ +
∂
∂
∂ +
∂
∂
+
+
⎥
⎥
⎦
⎤
⎢
⎢
⎣
⎡
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎝
⎛
∂
∂
∂
∂ +
∂
∂
∂ +
∂
∂
∂ +
+
+
∂
∂ +
∂
∂ α
ư +
∂
∂ α +
∂
∂ α
+
∂
∂
x x
H U x x
H U U x
H U
c
t x x
H U
t x
H U c t x
H c H H
C
UU
g
x
Z t
H H
U x
U U x
U U
t
U
o
0
2
2 1
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
x
H U x
H U t
H
;
0
1 1
2 2 1
∂
∂ +
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∂
∂ +
∂
∂
t
Z q U
U x x
;(2.8)
; Fd d d c
; d
F =∫ η∫ η∫ η
=
1 1
0 1 1
0 2
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
+
∫η η +
∫ η
∫ η
1 1
0
d
dF Fd
d d
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∫η η +
∫ η
1 1
0 3
d
dF Fd
Fd d
0
=
với C0 – Hệ số Chezi; các chỉ số 1 và 2 là các thành phần vận tốc
và toạ độ theo chiều ngang và dọc
Để nhận được phương trình chuyển động đối với thành
phần vận tốc ngang U 2 cần thiết trong phương trình thứ nhất
của hệ (2.8) thay thế chỉ số 1 bằng chỉ số 2
Hình 2.6 Phổ vận tốc 2 chiều tăng biên độ xáo trộn nhỏ cao trình đáy lòng sông c khi giải phương trình chuyển động dòng chảy mặt Saint –
Vernant
Đối với phân bố vận tốc bậc thang U i =( n+1) U i *ηn :
Trang 9(3 1)
1 = / n+
( 1)(6 3) ( [3 1)(3 2) ]
(n ) /( n n)
c3 = +12 3 2 +2 ;
(n+1)2/(n2 +2n)
=
Tiếp tục, khi phân tích tính ổn định của các xáo trộn nhỏ A
E Mikhinov sử dụng các điều kiện biên là các giá trị 0 của xáo
trộn nhỏ của vận tốc ngang v' trên các biên dòng chảy và tương
ứng chấp nhận gải thuyết về cấu trúc ngang rời rạc của địa
hình lòng sông Dạng đầy đủ hơn của phương trình chuyển động
dẫn tới một dạng phức tạp hơn của hệ thức phương sai Trên các
hàm quan hệ k 1 Im(c) = f (k 1 ) đối với mỗi giá trị m nhận được 2
cực đại chỉ ra sự xuất hiện trên đáy sông 2 lớp sóng: ngắn (gợn)
và dài (chắn) mà A E Mikhinov [59] tương ứng liệt vào địa
hình đáy vi mô và trung bình
Khảo sát số hệ thức phương sai cho phép A E Mikhinov
[60] xây dựng quan hệ của các tham số đo đạc hình thái – bước
gợn L p và sóng cát L gr vào các đặc trưng thuỷ lực của dòng chảy,
sau khi đơn giản hệ thức phương sai thu được các quan hệ này ở
dạng giải tích:
HFr
,
Fr /
H
,
Phân tích chi tiết nghiệm của hệ phương trình chuyển động
trên mặt phẳng của Bussinesk chỉ ra rằng (Hình 2.7), mảng cơ
bản của sóng phát triển trên đáy dòng chảy trùng với trường
liên tục làm rõ từ phân tích hệ phương trình chuyển động bề
mặt Saint – Vernant Tuy nhiên sự hiện diện của các thành
phần tính đến bề mặt thoáng của nước dẫn tới sự xuất hiện trên
nền liên tục này các cấu tạo lòng sông có cấu trúc phân biệt rõ
ràng: sóng ngắn hai chiều với bước sóng cỡ độ sâu dòng chảy,
liệt vào dạng gợn sóng
Phân tích các công trình chính, trong đó khảo sát tính ổn
định các đặc trưng thuỷ lực dòng chảy của các xáo trộn nhỏ chỉ
ra rằng trong các phương trình càng tính đầy đủ chi tiết động lực dòng chảy và hình học lòng sông càng làm rõ hơn cấu tạo
địa hình lòng sông Xuất phát từ điều này viết phương trình thuỷ lực phẳng dạng hoàn chỉnh nhất do N.A Kartvelisvili [34] nhận được:
; gHj x
Z L
gH x
Z L U
dx U x L dx U U L x
dx U U L x L L
J dx
U U J
dx U U J dx d U U L x
dx d U U L L L x L dx U t J
dx d U x t L dx U x
L L L
dx U x
L L dx U U L x L L
dx U L L x L L dx U t
Z Z Z
Z
Z Z Z
Z
Z Z Z
Z Z x
Z Z Z x Z
Z
Z Z Z x Z
Z
Z Z Z
Z
Z Z Z
Z
o o
o o
o o
o o
o o
o o
o o
0 1
1
1 1
1 1
1 1
1
1 1
1 1
1
2 3
3
2 3 1 1 3 2 3 1 2
3 1 3 2 1 2 1
1 3
2 3 2
3 1 3 1 3 2 3 1 2
3 1 3 2 2 1 1 1 3 3 1
3 3 1
2
1 3
2 2 1
2 2 1
3
2 1 1
1 2 1 3 2 1
2 1 2 2
2 1
3
2 1 2 1 1 2
2 1 3 1
3
3 3
= +
∂
∂ +
∂
∂ +
+
∫
∂
∂
ư
⎥
⎥
⎦
⎤
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∫
∂
∂ +
+
⎢
⎢
⎣
⎡
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∫
∂
∂ +
⎭
⎬
⎫
∫ +
+
∫ +
⎥
⎥
⎦
⎤
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∂
∂ +
+
⎪⎩
⎪
⎨
⎧
⎢
⎣
⎡
∂
∂ +
∫
∂
∂ +
+
∂
∂
∂ +
∫
∂
∂
ư
ư
∫
∂
∂
ư
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∫
∂
∂ +
+
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∫
∂
∂ +
∫
∂
∂
(2.11)
0 1
2
2 1 1
1 2 2 1
=
∂
∂ +
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∂
∂ +
∂
∂
t
H x
HU L x
HU L L
0 1
2
2 1 1
1 2 2 1
=
∂
∂ +
⎟⎟
⎠
⎞
⎜⎜
⎝
⎛
∂
∂ +
∂
∂
t
Z x
q L x
q L L L
Trang 10Phương trình chuyển động đối với U 2 nhận được do việc
thay chỉ số 1 bằng 2 trong phương trình thứ nhất của hệ (2.11)
Khi đó
1 1
x
z
J o
∂
∂
2 2
x
z
J o
∂
∂
H C
UU j
o
2
1
H C
UU j
o
2
2
2 = ; U = U12 +U22 ;
L i – hệ số Lamme
Thể hiện các đặc trưng thuỷ lực cơ bản ở dạng tổng các
thành phần trung bình trong thành phần xáo trộn:
'
u
U
U1= 1+ 1;
'
u
U2 = 2;
'
u
'
z
Z
Z = + ;
'
o
o
còn các đặc trưng thuỷ lực trung bình theo thuỷ trực ký hiệu
bằng dấu sao (*) Đối với các đặc trưng trung bình xét trường
hợp đơn giản nhất: chuyển động đều trong lòng sông thẳng với
các mặt cắt vuông góc, sau khi tính các thành phần trung bình
và tuyến tính hoá nhận được:
0 2
1
1 2 2
2 1 2
1 1 1
1
1 1 1 1
1
= +
ư +
∂
∂
+
+
∂
∂ α +
∂
∂
ư
α
ư
∂
∂
A H C
' h U g H C
u U
g
x
'
z
g
x
u U t
' h H
U
t
u
o
*
o
'*
*
*
*
* '*
;
0
2
2 1 1
1
1
2 2 1 2
1
2 1
2
2
= + α
+
α
+
+ +
∂
∂ +
∂
∂
α
+
∂
∂
A ' K U K
u
U
H C
u U g x
' z g x
u U
t
u
* '*
*
o
'*
* '*
*
'*
; (2.13)
0
2 2
2 1
1 1
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
+
∂
∂
K u H x
u H x
u H x
'
h
U
t
'
;
0
2 2
2 1
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
K Su x
u S x
u M t
z ' o '* '* '*
Khi đó:
∂
∂ +
∂
∂
∂
Z Z x ' Z
Z Z x '
o o
dx d U u x dx d u x t A
3 3
3 1 3 2 1
2 3 3 1
2
∂
∂
∂ +
∂
∂
∂
Z Z x ' Z
Z Z x '
o o
dx d U u x x dx d u x t
A
3 3
3 1 3 2 1
2 3 3 2
2
*
*
U
q M
1
1
∂
∂
*
*
U
q S
1
1
Lúc này giả sử rằng với độ cong của dòng nhỏ:
1 1
L ≈ ; L2dx2 ≈dx2;
K x
L L
L =ư
∂
∂
2
1 2 1
1
1
2
U
u q
'
Để tích phân theo thuỷ trực các thành phần vận tốc dòng chảy người ta sử dụng các điều kiện biên trên mặt thoáng:
t
Z x
Z L
U x
Z L
U U
∂
∂ +
∂
∂ +
∂
∂
Π
2 2
2 1 1
1 3
Sau khi tuyến tính hoá và trung bình theo không gian nhóm các đặc trưng thuỷ lực ta có:
1 1 3
x
' z U t
' z
u '
∂
∂ +
∂
∂
Đưa vào các hàm f0 và f3 để tuân thủ đẳng thức:
' '
u f
u3 = 3 3Π; U1n = f o U1* (2.15)
Thế các phương trình (2.14) và (2.15) vào biểu thức cho A1
và A2, nhận được:
⎟
⎟
⎠
⎞
⎜
⎜
⎝
⎛
∂
∂ β +
∂
∂
∂ β +
∂
∂
∂ β
1
3 3
2 1 2 1
3 2 1 1 2
3 1
x
' z U
x t
U x t
' z H