1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Động lực học cát biển - Hướng dẫn các ứng dụng thực hành - Chương 13 docx

17 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 224,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sử dụng lý thuyết sóng tuyến tính có thể tính toán biên độ vận tốc quỹ đạo đáy từ đường cong đơn điệu trong hình 14, hoặc bằng việc sử dụng SandCalc Hydrodynamics-Orbital Velocity-Monoch

Trang 1

Chương 13 Những Trường hợp nghiên cứu

13.1 Tổng quan

Một vài trường hợp nghiên cứu giới thiệu trong chương này để minh họa các kỹ thuật mô tả trong các chương trước được sử dụng và kết hợp để giải quyết những vấn

đề thực hành như thế nào Ba ví dụ sẽ tiêu biểu cho các loại ứng dụng thường xuất hiện nhất Những ví dụ đã được đơn giản và lý tưởng hóa để minh họa những điểm chính kèm theo, không đưa ra những phức tạp đặc trưng tại tuyến thường xuất hiện trong nghiên cứu thực tế mà có thể đòi hỏi sự khéo léo đáng kể để vượt qua Việc sử dụng các nghiên cứu thực tế làm cho việc mô tả mỗi trường hợp lâu hơn mà lại không

đưa ra thêm sự bổ sung sâu sắc nào

Những tính toán trong các nghiên cứu được tham chiếu tới những phương trình

và hình vẽ trong các chương nổi bật Tuy nhiên, phương pháp thực hiện đơn giản nhất đối với nhiều tính toán là bằng gói phần mềm SandCalc và những bước cần thiết để thực hiện điều này được mô tả Trong tất cả các trường hợp nghiên cứu, để

đơn giản nước được lấy ở nhiệt độ 10oC và độ muối 35 o/oo, và mật độ trầm tích 2650 kgm-3 (giá trị ngầm định trong SandCalc) Những giá trị khác có thể dễ dàng sử dụng thông qua các menu 'Edit- Bed Material' và 'Edit- Water’ của SandCalc, sử dụng 'Derive’

Mỗi trường hợp nghiên cứu bao gồm một tập hợp nhỏ những bước được phác thảo trong 'Quy trình Tổng quát' (mục 1.5), bổ sung thêm những quy trình trường hợp đặc trưng

13.2 Sự ổn định của việc chống xói

Một dàn sản xuất dầu sẽ được lắp đặt trong một khu vực khai thác dầu ngoài khơi có độ sâu 20 m tại một vị trí có đáy cát mịn Tám chân đế của dàn cắm sâu vào

đáy, có mặt cắt ngang hình tròn, đường kính 2 m Để xói không xuất hiện, một lớp phủ bảo vệ bằng đá sẽ được đặt xung quanh các chân Phải tính toán kích thước đá cần thiết để chống lại những hư hại đáng kể với chu kỳ lặp 50 năm (ví dụ)

Những điều kiện sóng của cơn bão 50 năm tại vị trí được chỉ rõ là Hs = 7 m Hiệu ứng dòng chảy thủy triều bỏ qua Giả thiết rằng thiệt hại đáng kể sẽ xuất hiện nếu 1/3 những sóng cao nhất trong một bản ghi sóng đã cho có khả năng dịch chuyển các khối đá Như vậy điều kiện tới hạn tương ứng (theo định nghĩa Hs) với những sóng

đơn với độ cao thiết kế H = 7 m Chu kỳ sóng tương ứng được lấy là chu kỳ đỉnh Tp, của phổ Sử dụng những phương trình (49) và (48), hoặc

Trang 2

SandCalc-Edit-Waves-Derive với h = 20 m (trong Edit-Water), Hs = 7 m cho ta Tz = 9,3 s và Tp = 11,9 s Sử dụng lý thuyết sóng tuyến tính có thể tính toán biên độ vận tốc quỹ đạo đáy từ

đường cong đơn điệu trong hình 14, hoặc bằng việc sử dụng SandCalc Hydrodynamics-Orbital Velocity-Monochromatic với đầu vào là độ sâu nước = 20 m,

độ cao sóng = 7 m, chu kỳ = 11,9 s để có được vận tốc quỹ đạo sóng = 1,98 ms-1 Thực nghiệm bởi Sumer và nnk (1992) cho thấy rằng ứng suất trượt tại đáy do chuyển

động sóng xung quanh một hình trụ tròn thẳng đứng có đường kính D có hệ số khuếch đại, do vận tốc dòng chảy tăng xung quanh hình trụ theo một hàm của số Keulegan -Carpenter KC Trong trường hợp đang xét, với KC =Uw T / D = 1,98 x 11,9 / 2,0 = 11,9, họ nhận được hệ số khuếch đại ứng suất trượt tại đáy là 2,2 Điều này có nghĩa là (xem phương trình (57)) hệ số khuếch đại làm vận tốc quỹ đạo tăng (2,2)1/2

= 1,48 Như vậy vận tốc quỹ đạo hiệu quả gần chân dàn là 1,48 x 1,98 = 2,94 ms-1

Đoán trước rằng kích thước đá yêu cầu sẽ lớn hơn 10 mm, đường kính tới hạn dcr

có thể nhận được từ phương trình (79), với Uw = 2,94 ms-1, T = 11,9 s, g = 9,81 ms- l và

s = 2,58:

x

1 58 , 2 81 , 9 9 , 11

94 , 2 9 , 97

08 , 2 08

, 1

08 , 3

Như vậy đá có đường kính 0,62 m (khối lượng xấp xỉ =  x 0,623 x 2650/6 = 0,34 tấn) sẽ không chịu được hư hỏng đáng kể với điều kiện bão có chu kỳ lặp hiếm hơn 50 năm Trên thực tế, vì hệ số vận tốc xung quanh một hình trụ tròn giảm nhanh theo khoảng cách kể từ hình trụ, một loại đá hơi nhỏ hơn có lẽ đủ

Những yếu tố bổ sung có thể yêu cầu cho nghiên cứu đặc trưng bao gồm:

• tính toán dcr cho một mức độ chặt chẽ hơn của thiệt hại chấp nhận được, ví dụ thiệt hại do 1 % các sóng cao nhất Độ cao sóng vượt 1 % (xấp xỉ 1,5 Hs) có thể tính toán bằng việc giả thiết phân bố Rayleigh cho độ cao sóng (xem CIRIA/CUR, 1991)

• xét đến những công trình khác, trong vùng lân cận chân dàn như đường ống hoặc sự có mặt tạm thời của thiết bị kích hoặc cần cẩu nửa chìm Hệ số vận tốc tính toán cho các công trình khác được nhân với hệ số (1,48) cho chân dàn khi tính toán vận tốc quỹ đạo hiệu quả

• trong các khu vực có dòng chảy mạnh (ví dụ phía Nam Biển Bắc), có thể cần xét đến những hiệu ứng kết hợp của sóng và dòng chảy bằng cách tính toán ứng suất trượt tại đáy cực đại bằng phương pháp mô tả trong mục 5.3 Việc tính toán chu kỳ lặp của ứng suất là một bài toán về xác suất kết hợp, được mô tả trong mục 12.3

• một lớp lọc của vật chất nhỏ hơn thường đặt nằm dưới lớp đá chính, để ngăn ngừa cát lọt qua các khe hở giữa những tảng đá

Hướng dẫn Xói ở những công trình biển (Whitehouse, 1997) đưa ra mô tả chi tiết

những phương pháp chống xói

Trang 3

13.3 Xâm thực trầm tích tại công trình lấy nước

Một công trình lấy nước làm mát cho một nhà máy điện được đặt ngoài khơi trên

đáy biển có cát Phải tính toán lượng trầm tích hàng năm đi vào theo nước để đề phòng và chuẩn bị một bể lắng trầm tích nếu cần thiết ngăn trầm tích đi vào công trình Độ sâu nước trung bình tại vị trí công trình lấy nước là 7 m, độ cao của tâm công trình lấy nước là 3 m, độ lớn thuỷ triều là 2 m và đáy thuộc loại cát mịn được chọn lọc tốt với d10 = 0,07 mm, d50 = 0,12 mm và d90 = 0,18mm Dòng chảy thủy triều chiếm ưu thế trong khu vực với vận tốc dòng chảy cực đại khi triều yếu là 0,4 ms-1 và 0,6 ms-1 khi triều cường Sóng có độ cao Hs = 0,5 m với tần suất 50%, Hs = 1,0 m với tần suất 10% và Hs = 3 m với tần suất 1% Hướng sóng trung bình là 45o so với hướng dòng chảy

Những hiệu ứng của cả dòng chảy và sóng có vẻ quan trọng trong việc làm cho trầm tích đi vào trạng thái lơ lửng và trong một năm một phạm vi rộng của những tổ hợp sẽ xuất hiện Với mục đích minh họa, sử dụng một giá trị đơn của sóng và dòng chảy, tức là trung bình dòng chảy cực đại của thủy triều U = 1/2(0,4 + 0,6) = 0,5 ms-1

và độ cao sóng có tần suất 10% là Hs= 1,0m Chu kỳ sóng không cho, vì vậy nhận

được đánh giá nhờ sử dụng phương trình (49), cho ta Tz= 3,51

Công thức sử dụng cho phân bố nồng độ do kết hợp sóng và dòng chảy là phương trình (115 a-e), yêu cầu đầu vào là sóng đơn Sóng đơn tương đương đối với mục đích này là H = Hs/21/2 = 0,707 ms-1 và T = Tp = 1,28Tz = 4,50 s Biên độ vận tốc quỹ đạo

đáy nhận được từ hình 14 (xem ví dụ 4.2) là Uw = 0,225 ms-1 ứng suất trượt cực đại

và trung bình tại đáy nhận được bằng việc sử dụng phương pháp trong mục 5.3 với

hệ số 'DATA 13' từ bảng 9, và sử dụng độ nhám liên quan đến hạt z0 = d50/12 = 0,01

mm, nên ta có m = 0,285 N m-2

và max = 0,481 Nm-2 Tiếp theo, tính toán kích thước hạt trung vị của trầm tích lơ lửng nhờ sử dụng phương pháp Van Rijn, phương trình (97) Phương pháp này, thật ra chỉ dự định cho dòng chảy, yêu cầu ứng suất trượt ma sát lớp đệm đối với dòng chảy có thể tính toán nhờ sử dụng phương trình (34) để có T0s = 0,228 Nm-2, ngưỡng ứng suất trượt tại đáy

có thể tính toán từ phương trình (76) để cho ta cr = 0,151 N m-2 Cũng yêu cầu d16 và

d84, có thể tính toán bằng nội suy log chuẩn (mục 2.2) giữa những giá trị đã biết d10,

d50, d90 để có d16 = 0,0793 mm và d84 = 0,164 mm Phương trình (97) cho kích thước hạt lơ lửng trung vị, d50,s = 0,106 mm Vận tốc chìm lắng của kích thước hạt này do phương trình (102) đưa ra, ws = 0,00633 ms-1

Những đại lượng trên có thể sử dụng trong phương trình (115), với z = 3 m, cho

ta nồng độ tại tâm công trình lấy nước là C(z) = 6,38 x 10-6 theo thể tích, hoặc 16,9 mgl-1 theo khối lượng

Những tính toán này có thể thực hiện bằng cách khác nhờ sử dụng SandCalcc như sau:

h Edit-Water, cho h = 7 m

d16, d84 Edit-Bed Material-Derive theo d10, d50, d90

H, T Edit-Waves-Derive, với Hs =1,0 m

Trang 4

Uw Hydrodynamics-Waves-Orbital velocity-Monochromatic

m, max Hydrodynamics-Waves + Currents-Total Shear-stress-Soulsby

0s Hydrodynamics-Currents-Skin-friction-Soulsby

0s Sediments-Threshold-Bed shear-stress-Soulsby

d50 Sediments-Suspension-Suspended Grain size-Van Rijn

ws Sediments-Suspension-Settling velocity-Soulsby

C(z) Sediments-Suspension-Concentration-Waves + Currents

Lưu ý rằng:

(a) kích thước hạt lơ lửng phải thô hơn một chút nếu những hiệu ứng sóng được

kể đến trong tính toán, ví dụ nếu d50,s = d50,b = 0,12 mm, nó làm giảm nồng độ chỉ đến 1,9 mgl-1

(b) phương trình sử dụng để tính toán phân bố nồng độ được thiết kế cho đáy phẳng, điều kiện dòng trầm tích sát đáy, trong khi sử dụng đáy có vẻ hơi gợn cát cho sóng và dòng chảy Đáy gợn cát làm tăng nồng độ tại z = 3 m

Để tính toán xâm thực trầm tích hàng năm, cần bổ sung những bước sau:

• thực hiện những tính toán trên cho mỗi tổ hợp điều kiện sóng và dòng chảy thủy triều xuất hiện trong một năm điển hình, cộng nồng độ lấy trọng số theo tần số xuất hiện của chúng, sử dụng cách tiếp cận xác suất mô tả trong mục 12.3, nhận

được nồng độ trung bình năm

• nhân nồng độ trầm tích trung bình hàng năm với thể tích nước đi qua công trình lấy nước trong một năm, để có xâm thực trầm tích hàng năm

Những nhân tố bổ sung có thể cần xét đến bao gồm:

• tính toán rất nhạy cảm với nhiệt độ nước, bởi vì độ nhớt giảm làm cho vận tốc chìm lắng lớn hơn; một sự tăng nhiệt độ từ l0oC đến 30oC làm giảm nồng độ tại

z = 3 m từ 16,9 mgl-1 xuống 0,20 mgl-1

• nếu trầm tích đáy đươc cấp phối rộng, có thể bao gồm các nhóm mịn như bùn và/ hoặc những nhóm không thô không lơ lửng, thì phải sử dụng phương pháp đề cập

đến một dải nhiều kích thước hạt

• nếu chỉ những kích thước hạt thô hơn kích thước đã cho liên quan đến sự vận hành của nhà máy, (ví dụ nếu trầm tích rất mịn đi thẳng vào), thì cần phân chia tính toán với các kích thước hạt

• vì tính nhạy cảm này, một vài đo đạc nồng độ trầm tích lơ lửng tại tuyến là qúi giá cho những mục đích hiệu chỉnh và kiểm định

Ngoài những nhà máy điện, việc ngăn ngừa xâm thực trầm tích là quan trọng

đối với những công trình lấy nước cho các nhà máy lọc dầu và khử muối

13.4 Bồi lấp luồng dẫn nạo vét

Một luồng dẫn đến một bến cảng sẽ được nạo vét xuyên qua một vùng cát nông,

và yêu cầu tính toán nạo vét bảo trì hàng năm Luồng được đặt thẳng góc với đường

Trang 5

bờ, do vậy những dòng chảy thủy triều băng qua nó theo hướng vuông góc, hướng sóng ưu thế là dọc theo kênh Độ sâu nước trung bình tạị bãi nông là 5m và kênh

được nạo vét tới một độ sâu thông thuyền trung bình là 10 m với mái hơi dốc và chiều rộng 100m tại phần sâu nhất Độ lớn thủy triều là 2 m, dòng chảy thủy triều bằng nhau khi triều lên và triều xuống với vận tốc cực đại 0,6 ms-1 khi triều yếu và 1,0 ms-1 khi triều cường Sóng có tần suất 50% là Hs = 1,0 m và với tần suất 10% là

Hs = 2,5 m và 1% là Hs = 2,5 m Cát trên nước nông được chọn lọc tốt, với d10 = 0,1

mm, d50 = 0,2 mm, d90 = 0,3 mm

Cơ chế bồi lấp (ở dạng các số hạng đơn giản) được tạo ra một phần bởi dòng chảy,

và một phần bởi sóng Dòng chảy mang trầm tích qua bãi nông và vào trong luồng, tại đó dòng chảy sẽ chậm hơn (do tính liên tục của khối lượng) trong độ sâu lớn hơn Dòng chảy chậm hơn mang ít trầm tích hơn đi sang mái bên kia của luồng, do đó có

sự bồi tụ ròng của trầm tích trong luồng Quá trình trầm tích mang vào nhiều hơn là mang ra khỏi luồng xuất hiện cả khi triều xuống lẫn triều lên, và sự đối xứng của chúng có nghĩa là không có sự dịch chuyển thực tế của luồng Sóng giả thiết có cùng

độ cao và chu kỳ trong luồng cũng như ngoài bãi nông (tức là bỏ qua khúc xạ để đơn giản sự mô tả) Vận tốc quỹ đạo sóng làm tăng mức độ vận chuyển trầm tích, nhưng vì những vận tốc quỹ đạo trên bãi nông lớn hơn so với trong nước sâu hơn của luồng, vận chuyển trầm tích trên bãi nông lớn hơn Như vậy sóng không chỉ làm tăng, mà còn củng cố cơ chế bồi lấp do dòng chảy

Để minh họa, sẽ tính toán mức bồi lấp đối với một vận tốc dòng chảy và độ cao sóng đơn Những giá trị được chọn là vận tốc dòng chảy lớn nhất của thủy triều trung bình, U = 1/2 (0,6 + 1,0) = 0,80 ms-1 và độ cao sóng Hs = 1,0 m với tần suất 10% Chu kỳ cắt qua không đã không cho, vì vậy nó được tính toán từ phương trình (49) là Tz = 3,51 s Độ sâu nước lấy theo mực nước trung bình, h = 5 m bên ngoài, và

10 m ở trong kênh, vì biên độ thủy triều tương đối nhỏ

Trước hết, tính toán suất vận chuyển trầm tích qin, do kết hợp sóng và dòng chảy trên nước nông, sử dụng công thức Soulsby - Van Rijn (phương trình (136)) Đáy giả thiết có gợn cát với z0 = 6 mm, và hệ số ma sát chỉ do dòng chảy CD được tính toán từ phương trình (37) với đầu vào h = 5 m, z0 = 0,006 m, cho ta CD = 0,00488

Vận tốc quỹ đạo sóng RMS nhận được từ hình 14 nhờ sử dụng đường cong JONSWAP (xem ví dụ 4.3) với đầu vào Hs = 1,0m, Tz= 3,51 s, h = 5 m, cho ta Urms = 0,208 ms-1

Ngưỡng vận tốc dòng chảy được tính toán từ phương trình (71) với h = 5 m, d50 = 0,2 mm, d90 = 0,3 mm, cho ta Ucr = 0,391 ms-1

Suất vận chuyển trầm tích được tính toán từ phương trình (136) với h = 5 m, U = 0,8 ms-1, CD = 0,00488, Urms = 0,208 ms-1, Ucr = 0,391 ms-1, J = 0 (đáy nằm ngang), cho

ta qt = l,838 x 10-4 m2s-1

Bây giờ tính toán suất vận chuyển trầm tích trong rãnh, có h = 10 m Vận tốc dòng chảy qua rãnh có thể tính toán từ phương trình liên tục : U1h1 = U2h2, cho U = 0,8 x 5/10 = 0,4 ms-1 Một loạt tính toán giống như trên nước nông, nhưng sử dụng h

Trang 6

= 10 m, U = 0,4 ms cho CD = 0,00388, Urms =0,083 ms , Ucr = 0,416 ms và qt = 5,28

x 10-8 m2s-1

Những tính toán trên, trước hết qua nước nông và sau đó trong rãnh, có thể thực hiện bằng cách khác nhờ sử dụng SandCalc như sau

h Edit-Water, đặt h = 5 m

Tz Edit-Waves-Derive, với Hs = 1,0m

CD Hydrodynamics-Currents-Total shear-stress-Logarithmic

Urms Hydrodynamics-Waves-Orbital velocity-Spectrum

Ucr Sediments-Threshold-Current-Van Rijn

qt Sediments-Total load-Waves & Currents-Soulsby/ Van Rijn

Trở lại Edit-Water, đặt h = 10 m, và lặp lại tính toán

Suất vận chuyển trầm tích ròng là 1,838 x 10-4 x 5,28 x 10-8 = 1,837 x 10-4 (vận chuyển ra khỏi rãnh rất nhỏ trong trường hợp này) Trầm tích lắng đọng trên 100 m chiều rộng của rãnh, với tốc độ bồi lấp trung bình trên giờ, kể cả không gian xốp của trầm tích đã lắng đọng với e = 0,40, là:

(1,837 x 10-4 x 3600)/(100(1 - 0,40)) = 11 mm/h

Điều này chỉ xảy ra khi dòng chảy thủy triều lớn nhất, và tốc độ bồi lấp vào thời

điểm thủy triều khác sẽ ít hơn nhiều, vì vậy tổng số lấy trung bình qua một chu kỳ thủy triều sẽ nhỏ hơn

Để tính toán yêu cầu nạo vét bảo trì hàng năm, cần thiết bổ sung những bước sau:

• thực hiện tính toán như trên cho mỗi tổ hợp điều kiện sóng và dòng chảy thủy triều xuất hiện trong một năm điển hình, và lấy tổng suất vận chuyển trầm tích có trọng số theo tần số xuất hiện của chúng, sử dụng cách tiếp cận xác suất mô tả trong mục 12.3, nhận được tốc độ bồi lấp trung bình năm

• thực hiện những tính toán tại một số điểm đại diện dọc theo kênh, và cộng lượng trầm tích cho từng đoạn

Những yếu tố bổ sung có thể quan trọng trong tính toán bồi lấp luồng bao gồm:

• khúc xạ sóng trên luồng; dưới những điều kiện nhất định, có thể gây ra 'nội phản xạ toàn bộ' những sóng đến xiên

• sự lệch những dòng chảy đến xiên một góc, do hiệu ứng chậm lại khi dòng chảy cắt qua luồng

• mái rất dốc có thể gây ra một khu vực bóng, hoặc khu vực hoàn lưu ngược, đối với dòng chảy

• trầm tích lơ lửng có thể một phần được mang ngang qua luồng mà không lắng

đọng, đặc biệt đối với những luồng hẹp, những trầm tích mịn, và những dòng chảy nhanh, dẫn đến sự giảm ‘hiệu ứng bẫy'

• khi luồng đầy lên với trầm tích, và trở thành nông hơn, hiệu ứng bẫy của nó giảm, dẫn đến sự giảm tốc độ bồi lấp theo hàm mũ

Trang 7

• những luồng dẫn thường đầy bùn, cũng như cát, vì vậy yêu cầu kỹ thuật tính toán khác nhau

Những nguyên lý tổng quan bao hàm trong bồi lấp luồng được bàn luận bởi Lean (1980), và những kỹ thuật mô hình số phức tạp cho tính toán bồi lấp tiên tiến hơn

được mô tả bởi Van Rijn (1985) và Miles (1995)

Những phương pháp luận mô tả trong trường hợp nghiên cứu này đối với bồi lấp những luồng tàu rộng có thể áp dụng cho sự bồi lấp các hố đào rộng khác (ví dụ những ống tuynen chìm trong nước và những ống lấy nước làm mát), và cho những rãnh hẹp tạm thời để chôn những ống dẫn, những nguồn thải và cáp ngầm Những nguyên lý tổng quan có thể ứng dụng theo hướng ngược lại đối với sự phát tán các

đống đất và các đống trầm tích dưới nước

Trang 9

Tµi liÖu tham kh¶o

1 Abbott, M7B and Price, W A,, eds (1994) Coastal Estuarial and

HarbourEngineers' Reference Book E & F N Spon, London

2 Ackers, P and White, W R (1973) Sediment transport: a new approach and

analysis Proc ASCE, 99 (HY11), 2041-60

3 Ashida, K and Michiue, M (1972) Study on hydraulic resistance and bedload

transport rate in alluvial streams JSCE, Tokyo, 206, 59-69

4 Bagnold, R A (1963) Mechanics of marine sedimentation, in: The Sea: Ideas

and Observations, vol 3, ed M N Hill, pp 507-28, Wiley-Interscience, New York

5 Bailard, J A (1981) An energetics total load sediment transport model for a

plane sloping beach J Geophys Res., 86, (Cll), 10938-54

6 Barltrop, N D P (1990) Revision to the UK DEn guidance notes, in: Water

Wave Kinematics, eds A Torum, and 0 T Gudmestad, pp 233-46 Kluwer Academic

Publishers, Dordrecht

7 Battjes, J A and Stive, M J F (1985) Calibration and verification of a

dissipation model of random breaking waves J Geophys Res., 90, (C5), 9159-67

8 Bettess, R (1985) Sediment transport under waves and currents Report No

SR 22, HR Wallingford

9 BGS (1987) Sea Bed Sediments around the United Kingdom, 1:1,000,000 map (North sheet and South sheet) (Also at 1:250,000 scale for selected areas) British Geological Survey, Natural Environment Research Council

10 Bijker, E W (1967) Some considerations about scales for coastal models

with moveable bed Publ 50, Delft Hydraulics Lab

11 Brampton, A H and Motyka, J M (1984) Modelling the plan shape of shingle beaches POLYMODEL 7 Conf., Sunderland Polytechnic UK pp 219-33

12 BSI (1967) Methods of testing soils for civil engineering purposes, British

Standard 1377: 1967 British-Standards Institution

13 BSI (1986) British Standard specification for test sieves, British Standard

BS410.-1986 British Standards Institution

14 CERC (1984) Shore Protection Manual, vols I to 3 US Army Corps of

Engineers Coastal Engineering Research Centre, US Govt Pruning Office

15 Chen, S F., Chan, R C., Read, S M and Bromley, L A (1973) Viscosity of

seawater solutions Desalination, 13, 37-51

16 Chesher T J and Miles G 5 (1992) The concept of a single representative

wave, in: Hydraulic and Environmental Modelling: Coastal Waters, ed R

A.Falconer, S N Chandler-Wilde, and S Q Liu, pp 371-80 Ashgate, Brookfield,

VT

Trang 10

17 Christoffersen, J B and Jonsson, I G (1985) Bed friction and dissipation in

a combined current and w^ve motion Ocean Eng., 12(5), 387-423

18 CIR5A/CUR (1991) Manual on the Use of Rock in Coastal and Shoreline

Engineering Construction Industry Research and Information Association, Special

Publ 83

19 Colebrook, C F and White, C M (1937) Experiments with fluid friction in

roughened pipes Proc Roy Soc., Series A, 161, 367-81

20 Crickmore, M J and Teal, C J (1981) Recent developments in pump

samplers for the measurement of sand transport, in Erosion and Sediment

Transport Measurement, Proc Florence Symp., IAHS Publ 133, pp 123-30

21 Crickmore, M J., Tazioli, G S., Appleby, P G and Oldfield, F (1990) The use of nuclear techniques in sediment transport and sedimentation problems,

Technical Documents in Hydrology, IHP-III Project 5.2 International Hydrological

Programme, UNESCO, Paris

22 Damgaard, J S and Soulsby, R L (1997) Longshore bed-load transport

Proc.25th Int Conf Coastal Eng., Orlando, 3, pp 3614-3627 ASCE

23 Davies, A G., Soulsby, R L and King, H L (1988) A numerical model of

the combined wave and current bottom boundary layer J Geophys Res., 93 (Cl),

491-508

24 Davies, A G., Ribberink, J S., Temperville, A and Zyserman, J A (1997) Comparisons between sediment transport models and observations made in wave

and current flows above plane beds Coastal Eng., 31, 163-169

25 Dawson, G P., Johns, B and Soulsby, R L (1983) A numerical model of

shaUow-water flow over topography, in: Physical Oceanography of Coastal and Shelf

Seas, ed B Johns, pp 267-320 Elsevier, Amsterdam

26 De Vriend, H J ed.-(1993)., Coastal morphodynamics processes and

modelling Special Issue, Coastal Eng., 21, (1-3)

27 De Vriend, H J (in preparation) Mathematical Modelling of Coastal

Morphodynamics World Scientific Publishing, Singapore, Advanced Series on Ocean

Engineering

28 Deigaard, R (1998) Comparison between a detailed deterministic sediment

transport model and the Bailard formula Proc Coastal Dynamics '97 Conf.,

University of Plymouth (to appear)

29 Deigaard, R., Bro Mikkelsen, M and Fredsee, J (1991) Measurements of

the bed shear stress in a surf zone Progress Report 73, Inst Hydrodynamic and

Hydraulic Eng., pp 21-30

30 Delo, E A and Ockenden, M C (1992) Estuarine Muds Manual Report SR

309, HR Wallingford

31 Den Adel, H (1987) Re-analysis of permeability measurements using

Forchheimefs equation Repon CO-272550/56 (in Dutch) Delft Geotechnics

Ngày đăng: 10/08/2014, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w