Trong đa số các mô hình hiện hμnh về sóng gió, người ta chấp nhận [45, 162, 303, 331] rằng hμm nguồn G trên nước sâu gồm tổng của ba hợp phần chính: G in nạp năng lượng từ gió cho són
Trang 1127 128
Chương 4 nghiên cứu các cơ chế vật lý hình thμnh
phổ năng lượng sóng trên nước sâu
Nhập đề Như đã nhận xét, một trong những vấn đề trung
tâm liên quan tới mô hình hóa sóng gió lμ khảo sát những cơ
chế vật lý khác nhau hình thμnh phổ sóng gió Hμm nguồn có
mặt ở vế phải của phương trình cân bằng năng lượng sóng phản
ánh quan niệm hình thức về những cơ chế đó Hiện nay có khá
nhiều công trình đề cập tới vấn đề nμy Trình bμy tỉ mỉ nhất về
vấn đề có thể tìm thấy trong một số chuyên khảo mới nhất, thí
dụ, ở Nga [162] vμ ở ngoại quốc [303] Do đó, ở đây không cần
phải mô tả chi tiết về tất cả những kết quả Chúng tôi chỉ lưu ý
những điểm quan trọng nhất
Trong đa số các mô hình hiện hμnh về sóng gió, người ta
chấp nhận [45, 162, 303, 331] rằng hμm nguồn G trên nước sâu
gồm tổng của ba hợp phần chính: G in nạp năng lượng từ gió
cho sóng, G ds tiêu tán năng lượng sóng vμ G nl tái phân bố
phi tuyến năng lượng bên trong phổ sóng, gây nên bởi quá trình
tương tác cộng hưởng bốn sóng giữa các hợp phần phổ
Do ý nghĩa lý luận vμ thực tế to lớn của vấn đề về vai trò
của các cơ chế vật lý hình thμnh phổ sóng gió, chúng ta trở lại
vấn đề nμy một lần nữa
4.1 vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu trong
phổ sóng gió
Tình hình nghiên cứu Vấn đề vận chuyển năng lượng
phi tuyến yếu trong phổ sóng gió được hình thμnh trong các
công trình của K Hasselmann [260264] vμ V E Zakharov [65] vμo những năm 60 Phương trình tiến triển phổ sóng do kết quả tác động của sự tương tác phi tuyến yếu có thể biểu diễn dưới dạng:
3 2 1 3
2 1 3
2
k k T t
k
N2N3 N N1 N1N N2 N3 d k1d k2 d k3
)(
(4.2b)
Điều kiện cộng hưởng được biểu diễn bằng sơ đồ trên hình 4.1
K Hasselmann [262] đã giải thích tích phân (4.1) theo thuật ngữ các tương tác bốn cực giữa ba hợp phần sóng tích cực, quyết định cường độ tương tác, vμ một hợp phần thứ tư thụ
động, nhận năng lượng, nhưng không tác động trục tiếp tới sự tương tác
Trong một loạt công trình tiếp theo [45, 65, 68, 267, 303,
322, 331] đã chứng minh tầm quan trọng phải tính tới sự tương tác phi tuyến yếu trong phổ sóng gió vμ vai trò của nó lμm dịch chuyển cực đại phổ trong quá trình phát triển sóng
Tuy nhiên, muốn có được ước lượng đúng về thông lượng năng lượng tới hợp phần sóng nμy vẫn lμ một bμi toán khá phức tạp Vấn đề độ chính xác tính toán tích phân tương tác biểu diễn sự tương tác phi tuyến yếu lμ một vấn đề khá nổi tiếng Mặc dù K Hasselmann đã rút ra tích phân tương tác lần đầu
Trang 2129 130
tiên vμo đầu những năm 60, nhưng một thời gian dμi thực tế
người ta đã không thể tính được tích phân nμy dưới dạng chính
xác của nó một cách đủ tin cậy Việc ước lượng số trực tiếp tích
phân tương tác gặp rất nhiều khó khăn Lý do lμ: thứ nhất nó có
dạng kép sáu lớp; thứ hai, dạng hμm của nhân dưới dâu tích
phân T(k,k1,k2,k3)
rất phức tạp
Hình 4.1 Toán đồ tương tác
bốn sóng theo [269]
K Hasselmann [275], J Dungey vμ W Hui [241], M Fox
[246], D Webb [382] vμ nnk bằng cách sử dụng hμm đelta biểu
diễn các điều kiện cộng hưởng đã biến đổi tích phân sáu lớp
thμnh tích phân ba lớp Tuy nhiên, những thủ tục đó đã lμm
xuất hiện những biến dị ở biểu thức dưới dấu tích phân, lại gây
thêm những khó khăn trong tính toán Người ta đã giải quyết
vấn đề hoặc bằng cách thay thế các biến vμ sử dụng các tọa độ
"kéo dãn", hoặc bằng cách ước lượng phần đóng góp từ lân cận
điểm biến dị Song bản thân việc tính toán biểu thức chính xác
của tích phân vẫn còn lμ một bμi toán khá phức tạp Kết quả lμ
nhiều tác giả [246, 309, 344, 382] đề xuất những xấp xỉ đơn giản
cho phổ hẹp
Năm 1980 A Masuda [322] lμ một trong những người đầu
tiên khắc phục được khó khăn tính toán bằng số biểu thuức chính xác của tích phân tương tác Ông đã ước lượng được phần
đóng góp của biến dị vμo tích phân bằng cách sử dụng các biến chọn theo một cách đặc biệt Với phần còn lại thì thủ tục tính tích phân có tính chất truyền thống
Sau đó, năm 1981 S Hasselmann vμ K Hasselmann [269,
270, 273] đã đề xuất phương pháp tính tích phân sử dụng sự đối xứng của biểu thức, cho phép tăng tốc độ tính toán rất nhiều
Họ chuyển từ việc xem xét biểu thức bất đối xứng (4.1), biểu thức nμy diễn tả sự biến thiên năng lượng đối với hợp phần sóng
k như lμ kết quả tương tác với các hợp phần khác k1 ,k2
vμ k3sang mô tả những tính chất của cân bằng chi tiết nhằm lμm sao
sử dụng tối đa sự đối xứng để tối ưu hóa tính toán tích phân
Sự cần thiết phải tính tích phân tương tác phi tuyến yếu trong các mô hình toán vμ đặc biệt khi thực hiện các tính toán
dự báo sóng gió nghiệp vụ đã buộc người ta lập ra những biểu thức xấp xỉ khác nhau của tích phân Đạt nhất lμ một xấp xỉ
được gọi lμ "xấp xỉ gần đúng gián đoạn" do K Hasselmann vμ S Hasselmann [270] đề xuất; xấp xỉ nμy sử dụng tối đa sự đối xứng của biểu thức dưới dấu tích phân vμ mặc dù nhiều giản
ước song vẫn bảo tồn được nhiều tính chất quan trọng của tích phân ban đầu Hiện nay, xấp xỉ nμy được dùng trong mô hình
WAM [303] Biểu thức xấp xỉ viết dưới dạng
3 2 1 11 4
3 2 1
11
11
12
)()()(,
,
,
S S S S
S S f Cg D
δG δG δG nl nl
nl
,
(4.3) trong đó: S n S(n,n); 250, ; 2 1; 3(1)1;
1
( ) ; 21; 3 111,48; 4 133,56;
Trang 3Nhờ những tính toán tiếp theo đã nghiên cứu được nhiều
tính chất định tính của tích phân ở Nga những tính toán chi
tiết do V G Polnikov [158, 159] thực hiện
Với phổ sóng gió điển hình, hμm vận chuyển phi tuyến yếu
có hai cực đại chính: một cực đại G nl() dương, cực đại thứ hai
)
(
nl
G âm Vị trí vμ độ lớn của các cực đại lμ do dạng phổ quyết
định Cực đại dương G nl() thường nằm trên hướng tổng quát của
phổ tại điểm mμ tần số phi thứ nguyên của nó tuỳ thuộc vμo
dạng phổ có thể nằm ở các điểm ~( ) /max 0,941,00
(ở
đây max tần số cực đại phổ) Cực tiểu G nl() thường nằm trên
hướng tổng quát tại điểm ~( ) 1,051,60
Ngoμi ra, tồn tại hai cực đại dương phụ đối xứng qua hướng tổng quát Chúng nằm ở
Tuy nhiên, mặc dù có những kết quả đó, vấn đề về độ chính
xác tính toán vẫn còn bỏ ngỏ Các ước lượng cho thấy rằng với
phần lớn các tính toán sai số số điển hình tính tích phân tương
tác ở lân cận cực đại phổ lμ không nhỏ hơn 1050% Nó có thể
cao hơn rất nhiều ở những vùng khác của dải tần góc Có thể lμ
độ chính xác nμy lμ đủ đối với việc tính toán sóng theo trường
gió, nếu biết rằng việc cho hμm nguồn khá bất định, sai số của
tốc độ gió , song để nghiên cứu những hiệu ứng tinh tế hơn của
động lực sóng phi tuyến thì sử dụng những tính toán đó lμ
không hợp lý
Hiện nay, được biết có hai phương pháp tính tích phân
tương tác hoμn thiện hơn Một trong số đó do D Resio vμ W
Perrie [345] đề xuất, đã sử dụng phép tỷ lệ hóa vμ sự đối xứng
khi tính tích phân tương tác Phương pháp thứ hai do R Snyder
vμ nnk [358] đề xuất dựa trên sử dụng sơ đồ tích phân lai trong thuật giải của S Hasselmann vμ C Hasselmann [269, 270] Sơ
đồ nμy sử dụng những điểm hoμn thiện của phương pháp tính tích phân Bolzman trước đây kết hợp với những điểm ưu việt
của cách tính đã đề xuất trong mô hình EXACTNL [331], lμm
tăng tốc độ tính toán lên một bậc
Tuy nhiên, mặc dù những thμnh tựu hiển nhiên, song vấn
đề về độ chính xác tính toán vμ sự tối ưu vẫn rất đáng quan tâm Vì vậy tác giả công trình nμy đã thử cải thiện tiếp theo hướng nμy Kết quả nghiên cứu nμy đáng quan tâm không chỉ vì
nó lμm giảm đáng kể khối lượng tính toán vμ cho phép thực thi tính toán với độ chính xác đảm bảo đối với nhiều dạng xấp xỉ phổ, mμ còn vì nó giúp nhận được những ước lượng ổn định hơn
về tái phân bố phi tuyến yếu trong phổ sóng gió
Thuật toán tính tích phân tương tác Biểu thức xuất phát của tích phân tương tác bốn sóng phi tuyến yếu G được cho bởi nl
vế phải phương trình (4.1)
Trong tính toán tiếp theo chúng tôi dùng biểu thức của hμm nhân dưới dạng do D Webb [382] đề xuất, vμ đã chỉnh lại một lỗi của tác giả nμy Nhân được viết dưới dạng
3 2 1 2
3 2 1 2 3
2 1
k k k k
3 2 3 2 1 1 2 1 3
2
)(
))(
()(),,,(
k k g
k k k k k kk k
k k k
Trang 43 2 3 1 2 2 2 2
)(
))(
()(
k k g
k k k k k kk
2 1 2 1 3 3 2 3
) (
) )(
( ) (
k k g
k k k k k kk
k k k
1 24
1
k k k k
k k g
.)
()()()
3 2 2 2 1
51
k k kk k
k k k
Biến đổi tích phân (4.1) thực hiện như sau Xuất phát từ sự đối
xứng của nó theo các biến k2
vμ k3, có thể viết
3 2 1
3 2
k k
k d k d k d k
d k d k d
các góc i arctg(k yi/k xi) vμ từ tác động sóng sang phổ tần góc
),()/
G nl
.)
(
1 1 2 2 4
3 2 1
3 2
Để tiếp tục giản ước tích phân (4.6), nhờ hμm () ta thực
hiện tích phân theo biến vμ đưa tích phân về dạng 2
),
G nl
1 1 2 1 2 1 4
2 2 2 3 3
2 1
1 2
2 4
3 4 2 2
3 4
2 4 3 2
Hμm B B(1,2,1) có dạng
2 a/2 k a/(2 a) ( 2 a/2)2 (k a/2 2a/4)
Đặc điểm diễn biến của hμm B1/2 của đối số với các giá trị 2
trên hình 4.2 Xuất phát từ yêu cầu giá trị hμm B phải dương, có
thể chỉ ra rằng khi a 1 vùng tích phân theo biến phải nằm 2
2
12
12
1
2)/
2
1
biểu thức dưới dấu tích phân Khi a 1 tích phân theo 2 thực
Trang 5135 136
đầu khoảng nμy hμm B bằng không Trong trường hợp nμy sẽ
xuất hiện những điểm kỳ dị ở cả hai điểm biên Ta cần lưu ý rằng
theo [93] Vậy trong trường hợp 2 a 1, không tồn tại những
điểm kỳ dị tại hai đầu khoảng tích phân, có thể viết
d b
a
f F
1
1 1 2 1 2
2 2
1 1 2 1 1
1
))(
(
),,()
a 2 2 ; ba(1 a 1)/2;
]//)cos[(
/(/
a
f F
1
1 1 2 2 2
2
1 1 2 2 1 1
Khi tích phân tiếp biểu thức (4.7) theo biến đã tính đến 1biểu thức dưới dấu tích phân lμ hμm tuần hoμn theo biến nμy
Được biết, phương pháp số lấy tích phân các hμm tuần hoμn chính xác nhất lμ phương pháp hình chữ nhật thông thường [93], có thể viết như sau
i
F m d
F
0 1
1 1 1
2
, (4.10)
m i
)()
trong đó T m1 đa thức lượng giác bậc m1 Trong trường hợp nμy biểu thức (4.10) sẽ chính xác nhất, vì hμm phân bố góc lμ
Trang 6137 138
hμm cosin Để thực hiện tích phân theo với sai số không quá 1
12% phải lấy số hình chữ nhật khá lớn m 90
Tuy nhiên ta nhận thấy rằng dùng phương pháp nμy để tích
phân theo không tối ưu, phải lấy số chia hình chữ nhật lớn lμ 1
do ở đây hμm dưới dấu tích phân cũng chứa điểm kỳ dị Tại vì
giá trị của các tích phân (4.9) khi a 1 bằng vô cùng lớn, điều
đó cần tính đến khi lấy tích phân theo biến 1 Nói cách khác,
trong trường hợp tổng quát chúng ta gặp không phải những
điểm kỳ dị khi lấy tích phân, mμ một mặt phẳng đặc biệt, trên
đó hμm dưới dấu tích phân trở thμnh vô cùng
Với mục đích thực hiện tích phân theo biến 1 một cách
hiệu quả hơn, ta đưa tích phân (4.10) về các bình phương vị có
độ chính xác đại số cao nhất ở đây hμm tỉ trọng Jacobi cũng sẽ
có ích Ta nhân vμ chia hμm dưới dấu tích phân trong (4.10) cho
đại lượng (2k a/ )2a 21 vμ biểu diễn tích phân dưới dạng sau:
A F
F~~ ~ cos( )
1 2 4
4 1 4
Ta đưa ra biến tích phân mới xcos(1) Tích phân
(4.11a) có thể biểu diễn dưới dạng sau:
1
1
dx x A x F
ở đây cũng có thể
sử dụng các hμm tỉ trọng Jacobi Những thí nghiệm số cho thấy rằng để có độ chính xác cần thiết chỉ cần lấy 6 điểm nút trên khoangr tích phân từ 1 đến 1 lμ đủ
Lưu ý rằng độ lớn của tích phân elliptic loại một có thể nhận giá trị lớn vô cùng, tuy nhiên việc tích phân tiếp theo biến 1
không phức tạp lắm, vì điểm kỳ dị nμy lμ loại điểm kỳ dị logarit
Tích phân cuối cùng trong các tích phân (4.7) theo biến 1
thực hiện bằng phương pháp các hình chữ nhật trung bình Các giới cận của tích phân
1 1 1
Trang 7139 140
diễn biến của hμm dưới dấu tích phân J~(1) Cụ thể, với đa số
các biểu thức xấp xỉ phổ sóng gió điển hình thì J~(1) giảm tới
Thử nghiệm thuật toán tính tích phân tương tác vμ
đánh giá độ chính xác tính toán Trước khi tính toán đã tiến
hμnh thí nghiệm nhằm mục đích thử nghiệm thuật toán tích
phân dựa trên sử dụng các công thức bình phương vị (4.9) đã mô
tả Muốn vậy đã tính tích phân vận chuyển phi tuyến yếu đối
với phổ JONSWAP với một số nút dưới dấu tích phân Như vậy
trị số của tham số n chấp nhận tuần tự bằng 2, 3, 4, 5, 8 Kết
quả tính thể hiện trên hình 4.3 Chúng cho thấy rằng khi tăng
n kết quả tính hội tụ khá nhanh về giá trị chính xác Các giá trị
số trở nên thực tế không khác biệt khi n 5 Khi n 4 sai khác
tương đối ở dải mang năng lượng bằng khoảng dưới 15% (so với
giá trị khi n 8); sai số nμy lμ thoả mãn đối với phần lớn những
tính toán thực tiễn, còn với n 8 sai số tích phân ước lượng
bằng 12%
Về ước lượng độ chính xác tích phân số theo các biến khác,
thì với phổ điển hình của JONSWAP độ chính xác được ước
lượng bằng cách thực hiện tính lặp với số nút gấp đôi cho tới khi
hiệu số giữa hai lần tính liên tiếp không vượt quá một giá trị
cho trước Kết quả nhận được sai số không quá 12% ở lân cận
cực đại phổ (0,9~1,5, ở đây ~/max) Trong đó ở các dải
tần (0,8~0,9) vμ (1,5~2,5) sai số tính toán không quá
Sau đó các kết quả tính tích phân (4.1) được phân tích tỉ mỉ Chúng được so sánh với những kết quả đã biết của các tác giả khác Với tư cách lμ tiêu chuẩn đã sử dụng những kết quả tính từng được kiểm tra vμ thử thách nhiều nhất của S Hasselmann
vμ K Hasselmann [269]; trong công trình của họ đã đưa ra nhiều dạng hμm vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu cho phổ
JONSWAP với những tham số quyết định có trị số khác nhau
Kết quả tính hμm một chiều G nl() lấy từ công trình [269] với giá trị tham số đỉnh 7 vμ phân bố góc của năng lượng
cos2()
dẫn trên hình 4.4a Trên đó cũng dẫn kết quả tính theo thuật toán đề xuất trong công trình nμy Từ hình vẽ thấy
rõ rằng các kết quả khá phù hợp nếu lưu ý rằng những giá trị tần số tại đó thực hiện tính toán có hơi khác nhau
Sự tương đồng giữa các kết quả tính với tham số đỉnh 3
3,
hoμn toμn thoả mãn, mặc dù trên các tần số 1,2max có thấy chút ít khác biệt Nhờ so sánh kết quả tính có thể rút ra kết luận rằng kết quả tính toán của chúng tôi có đặc điểm ổn định (trơn chu) hơn Với tham số đỉnh 1,0 sự khác biệt đã trở nên
đáng kể (xem hình 4.4 b) Thuật toán của chúng tôi đưa ra đường cong trơn chu hơn nhiều, điều đó chứng tỏ tính ổn định cao hơn của kết quả Nếu so sánh các kết quả tính hμm hai chiều G nl(,)thì sẽ cμng ấn tượng hơn nữa
Như vậy có thể kết luận rằng thuật toán đã xây dựng cho phép nhận được kết quả tính tích phân vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu khá ổn định trong khi chi phí thời gian tính toán
ít hơn
Trang 8141 142
Hình 4.3 Kết quả tính hμm vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu với số nút n
trong (4.9) vμ (4.10) khác nhau:
1 n 2; 2 n 3; 3 n 4; 4 n 5; 5 n 7; 6 n 8
Hình 4.4a Kết quả tính hμm vận chuyển phi tuyến yếu
trong phổ JONSWAP với 7 : 1 theo [269], 2 theo thuật toán đang xét; 3 các điểm tính
Để kết luận chúng tôi nhận xét rằng việc phân tách giải tích tường minh những điểm kỳ dị của biểu thức dưới dấu tích phân (4.7), (4.8) dưới dạng (4.9) vμ (4.11) cũng như lựa chọn các công thứ bình phương vị phù hợp vμ sử dụng các phương phương pháp tích phân số độ chính xác cao nhất lμ một "sáng tạo" thμnh công trong việc tích phân số biểu thức (4.1) Có lẽ đây chính lμ sự khác biệt cơ bản giữa quan điểm tiếp cận của chúng
Trang 9143 144
tôi với các tác giả khác [158, 269, 322]; họ thiên về "khắc phục"
những điểm kỳ dị của biểu thức dưới dấu tích phân vμ tiến hμnh
tích phân bằng những phương pháp kém hiệu lực hơn
Hình 4.4b Kết quả tính hμm vận chuyển phi tuyến yếu trong phổ JONSWAP
với 1 , 0 : 1 theo [269], 2 theo thuật toán đang xét; 3 các điểm tính
Kết quả tính tích phân vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu trong phổ sóng gió *
Ta sẽ tiến hμnh tính toán vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu trong phổ sóng gió đối với một số xấp
xỉ tần góc điển hình nhất S(,) cho dưới dạng sau:
),()(),( S Q
2 2 2 4
2 4
5 5
e g
;
~,
1 090
1 070
;/)
(cos/(
)()
,(
20
22
12
12
n n
n
n Q
(4.14) Phân bố góc thứ hai sử dụng dưới dạng do thí nghiệm JONSWAP [272] nhận được
),( 22s12 s1 2s1 2s 2
trong đó ssmax(~); smax 9,774; 064, với ~1 vμ
342,
Trang 10,,
;,/
,,
max max
max050
16
071
0183
07
1
c U c
U
c U D
sech2
~,
~
~,
;,
~,
~,, ,
61 241
1,6;
0,95 28
2
95056
0 61
2
3 3
04
Trước hết chúng tôi dẫn kết quả tính vận chuyển năng
lượng phi tuyến yếu đối với phổ xấp xỉ JONSWAP (4.13) với phân
bố góc cosin (4.14) Kết quả tính biểu diễn trên mặt {~,} dưới dạng các đường đẳng trị đại lượng vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu quy chuẩn vμ phổ tần góc (hình 4.5a, b):
,/,(),
~(
~(
~
max
max max
S S
S
g S G
Tại lân cận các cực trị chính có thể thấy những cực đại vμ cực tiểu cục bộ Thí dụ, với phân bố góc đủ hẹp cosn()
, trong
đó n 10, cực đại chính chia thμnh hai cực đại đối xứng qua hướng tổng quát (kết quả phóng đại hơn biểu diễn trên hình 4.5c) Có lẽ, điều nμy chứng tỏ về tác động lμm ổn định của sự tương tác phi tuyến yếu lên phân bố năng lượng theo góc: sự phân bố góc khá hẹp trở thμnh rộng hơn, còn đối với phân bố năng lượng góc rộng sẽ trở thμnh góc hẹp Ngoμi ra, đối với phân bố góc đủ hẹp vận chuyển phi tuyến yếu trở thμnh âm trên hướng tổng quát tại những tần số nhỏ hơn tần số của cực
đại Cực trị của nó đối với trường hợp đã cho nằm tại tần số
740
621
~( )
ở điểm có góc 20,5 vμ bằng 35% cực đại chính
Trang 11147 148
Hình 4.5 Phổ quy chuẩn JONSWAP (a) vμ hμm vận chuyển phi tuyến yếu
(b) với tham số đỉnh 3, 3 vμ phân bố năng lượng theo góc dạng cosin
với n 12
Hình 4.5c Hμm vận chuyển phi tuyến yếu với tham số đỉnh
3 , 3
vμ phân bố năng lượng theo góc dạng cosin với n 12
Trên các hình tiếp theo (hình 4.6 a, b) biểu diễn những giá trị tương ứng của phổ vμ vận chuyển phi tuyến yếu đối với phổ
JONSWAP với cùng tham số đỉnh, nhưng cho phân bố góc dạng
cosin (4.14) với n 2 Mặt hμm vận chuyển phi tuyến yếu trở nên phẳng hơn vμ rộng hơn Nó chiếm gần như toμn bộ nửa bên phải của nửa mặt phẳng {,~ } Trong nửa mặt phẳng bên trái hμm vận chuyển phi tuyến yếu thực tế bằng không Những cực trị chính gần như giữ nguyên Hai cực trị dương phụ có vị trí ở những tần số cao hơn một ít tại các điểm ~2( )2,2
, nơi đây góc
Trang 12149 150
bằng 42.Cực đại của những giá trị nμy bằng khoảng 11%
độ lớn của cực đại chính G nl() Cực trị âm thứ hai vẫn ở chỗ cũ
vμ có cùng giá trị tương đối Những cực trị cục bộ có mặt trong
trường hợp trước ở lân cận cực đại chính đã biến mất
Hình 4.6 Phổ quy chuẩn JONSWAP (a) vμ hμm vận chuyển phi tuyến yếu (b) với
tham số đỉnh 3, 3 vμ hμm phân bố năng lượng theo góc dạng cosin với n 2
Hình 4.7 Những giá trị mật độ phổ năng lượng quy chuẩn (a) vμ hμm vận chuyển
phi tuyến yếu (b) với tham số đỉnh 3 , 3 , phân bố góc (4.15)
Trong các bước tiếp theo đã tính vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu cho cùng phổ tần đó (4.12)(4.13), nhưng với xấp xỉ
Trang 13151 152
hμm phân bố năng lượng theo góc được cho bởi công thức (4.15)
nhận được theo số liệu thí nghiệm JONSWAP [272]
Trên hình 4.7a, b biểu diễn mật độ phổ năng lượng quy
chuẩn vμ hμm vận chuyển phi tuyến yếu với tham số đỉnh
thoạt nhìn thì không lớn lắm ở lân cận trục /2, giảm khá
nhanh khi xa dần trục nμy về phía nửa mặt phẳng bên trái
Như sau đây sẽ thấy, sự khác biệt nμy về hình dáng phổ so với
hình dáng trước đây (xem hình 4.6a) có ý nghĩa quan trọng
Những biến đổi đáng kể nhất đã xảy ra với hμm vận chuyển
năng lượng phi tuyến yếu (xem hình 4.7 b) Bây giờ nó không
chỉ chiếm nửa mặt phẳng {~,} bên trái, mμ hầu như cả toμn bộ
nửa mặt phẳng bên phải Hình dáng các đường đẳng trị giống
như con sứa trong mặt phẳng thẳng đứng "Các râu của con
sứa" duỗi xung quanh tâm của hệ tọa độ cực {~,} từ nửa mặt
phẳng bên phải sang nửa mặt phẳng bên trái
Trong nửa mặt phẳng bên phải có thể nhận thấy sự hiện
diện của cùng những chi tiết chính của hμm vận chuyển năng
lượng phi tuyến yếu , mặc dù ở đây nó trở nên rộng hơn rất
nhiều Vận chuyển phi tuyến yếu có cùng cấu trúc cực trị dương
Vùng các giá trị âm của hμm vận chuyển phi tuyến yếu kéo dμi
từ cực tiểu chính sang nửa mặt phăngr trái trên một khoảng
cách khá lớn Nó bao quanh tâm hệ tọa độ cực {~,}, giảm dần
trị số của mình khi xa dần khỏi tâm ở ngay lân cận gốc hệ tọa
độ cực {~,} vận chuyển phi tuyến yếu thực tế bằng không,
nhưng trên phía đối vùng không (với 180) vận chuyển phi tuyến yếu bắt đầu tăng lên ở đây quan sát thấy một vùng mới với các giá trị dương của vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu,
mμ trước đây không thấy Vùng nμy bị bao quanh bởi những giá trị âm Cực đại của vùng nằm ở điểm ~3()3,3,180 vμ bằng khoảng 0,5% cực đại chính của vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu
Với mục đích khảo sát điểm cực đại dương mới, đã thực hiện
lại những tính toán tương tự, nhưng với phổ JONSWAP tham
số đỉnh 7,0 Những chi tiết chính vẫn giữ nguyên, nhưng giá trị tương đối của vận chuyển phi tuyến yếu ở lân cận cực đại mới trở nên nhỏ hơn Độ lớn của cực đại mới bằng khoảng 0,1% giá trị cực đại chính
Trên hình 4.8 a, b biểu diễn những giá trị tương tự đối với tham số đỉnh phổ 1,0 Những chi tiết chính vẫn giữ nguyên Tuy nhiên, cực đại dương mới xác định rõ hơn nữa Độ lớn tương
đối của cực đại đã trở nên lớn hơn nhiều vμ đạt tới 3,6% cực đại dương chính
Những tính toán tương tự cũng đã thực hiện với xấp xỉ phổ do M Donelan đề xuất (4.17), tham số đỉnh phổ 3,3cũng như với phiên bản chính xác hóa của xấp xỉ nμy do M Banner đề xuất (4.18) (hình 4.9a, b) Những chi tiết chính của hμm vận chuyển phi tuyến yếu vẫn giữ nguyên, tức có cực trị dương vμ cực trị âm Vùng các giá trị âm vươn về phía vùng tần cao dọc theo hướng tổng quát, tại vì đuôi tần cao của xấp
xỉ phổ giảm chậm hơn, Nó nằm trong cung 4 45, xuất phát từ điểm ~ 1,0 ở nửa mặt phẳng bên trái, vùng giá trị dương mới cũng nằm trong cung đối xứng Cực đại của nó
có vị trí ở điểm ~ 1,74,180 vμ bằng khoảng 0,5% độ lớn của cực trị dương chính
Trang 14153 154
Hình 4.8 Các giá trị quy chuẩn của mật độ phổ năng l−ợng (a) vμ hμm
vận chuyển phi tuyến yếu (b) tham số đỉnh 1 , 0 , phân bố góc (4.15)
Hình 4.9 Các giá trị quy chuẩn của mật độ phổ năng l−ợng (4.16) (a) vμ hμm vận
chuyển phi tuyến yếu (b) với tham số đỉnh 3 , 3 , phân bố góc (4.17), (4.18)
Trang 15155 156
Hình 4.10 Các giá trị quy chuẩn của mật độ phổ năng lượng JONSWAP (a) vμ
hμm vận chuyển phi tuyến yếu với số mũ 2s 4 (b), tham số đỉnh 3 , 3 , phân
bố góc (4.15)
Trong bμi báo của D Crombie vμ nnk [235] đề cập vấn đề quan trắc mặt biển bằng rađa cao tần vμ đã chứng minh bằng thực nghiệm sự tồn tại của các hợp phần phổ lan truyền ngược chiều gió, để ước lượng tương tác phi tuyến yếu đã sử dụng hμm phân bố năng lượng theo góc (4.15) với chỉ số mũ 2s4 không phụ thuộc vμo tần số Chúng tôi cũng đã tính thử với xấp xỉ phổ nμy, tham số đỉnh cho bằng 3,3 Kết quả tính biểu diễn trên hình 4.10 a, b Những chi tiết chính của tương tác phi tuyến yếu
có đặc điểm như cũ Trên mặt phẳng {~,} có thể nhận ra bốn vùng phân chia rõ nét Ba vùng được đặc trưng bằng những giá trị dương, còn một vùng chứa những giá trị âm ở nửa mặt phẳng phải giá trị dương cực đại tại điểm ~ 1,06,180 Độ lớn của nó bằng 2% giá trị cực đại
Những tính toán như vậy nhưng với tham số đỉnh 1,0cũng cho các chi tiết tương tự, nhưng hμm vận chuyển phi tuyến yếu vươn rộng trên mặt phẳng {~,} Cực đại phụ mới bằng 4,5 giá trị cực đại chính
Thảo luận kết quả Nhờ các tính toán số sử dụng thuật
toán tích phân số độ chính xác cao nhất, chúng tôi đã nhận được các ước lượng tương tác phi tuyến yếu trong phổ sóng gió cho nhiều dạng xấp xỉ phổ Kết quả số cho phép khẳng định vμ chính xác hóa một loạt chi tiết chính của hμm tương tác phi tuyến yếu, như vị trí vμ độ lớn của các cực trị dương vμ cực trị
âm chính Chúng cho thấy rằng hình dạng phổ tần góc ảnh hưởng rất mạnh tới hμm tương tác phi tuyến yếu
Chẳng hạn, ta thấy rằng với những xấp xỉ phổ dạng cosin
điển hình (4.14), các giá trị khác không của chúng tập trung trong nửa mặt phẳng ( /2), thì giá trị vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu cũng bị giới hạn đại khái bởi cùng khoảng
Trang 16157 158
tần góc đó Trong trường hợp hμm phân bố năng lượng theo
góc trở nên rộng hơn vμ có các giá trị dù chỉ lμ nhỏ nhưng khác
không, tại /2 hμm vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu
có những thay đổi đáng kể Độ lớn của nó trở thμnh khác không
trên toμn mặt phẳng tần góc {~,} Kết quả tính toán chứng
tỏ về độ nhạy cao của đại lượng vận chuyển năng lượng phi
tuyến yếu đối với hμm phân bố năng lượng theo góc, đặc biệt ở
nửa mặt phẳng trái {~,}( /2)
Điều đặc biệt lý thú đó lμ những giá trị vận chuyển phi
tuyến yếu khác không hiện diện trên hướng nguợc với hướng
tổng quát lan truyền phổ sóng , tức khi 180 Mặc dù hμm
phân bố phổ năng lượng theo góc thực tế bằng không trên
hướng nμy, nhưng ở đó quan sát thấy sự tồn tại ổn định một
vùng giá trị dương của vận chuyển phi tuyến yếu Độ lớn của
những giá trị ấy phụ thuộc cả vμo hμm phân bố góc của phổ
năng lượng, cả vμo xấp xỉ tần của phổ Đối với cùng một hμm
phân bố góc, thì độ lớn tương đối của vận chuyển năng lượng
phi tuyến yếu sẽ trở nên lớn hơn nhiều nếu phổ tần rộng hơn
Thí dụ, khi tham số đỉnh phổ biến thay đổi từ 7,0 đến
0
1,
, độ lớn vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu sẽ biến đổi
hơn một bậc Điều nμy chứng tỏ về sự gia tăng vận chuyển năng
lượng phi tuyến yếu theo hướng ngược với hướng tổng quát
trong khi sóng phát triển
Nhận thấy rằng hμm vận chuyển năng lượng phi tuyến yếu
bằng không ở ngay lân cận gốc hệ tọa độ cực {~,}, tức với
những tần số nhỏ Nói cách khác, vận chuyển năng lượng phi
tuyến yếu đi tránh gốc tọa độ {~,}, bởi vì điều đó bị "cấm kị"
bởi điều kiện cộng hưởng (4.2)
Liên quan tới những điều đã nói trên, ta có thể đề xuất cách
giải thích sau đây về sự phát sinh những hợp phần phổ trong phổ sóng lan truyền theo hướng ngược với hướng gió Tại giai
đoạn đầu phát triển sóng từ phía bờ, khi sóng hình thμnh dưới tác động của gió đồng nhất thổi từ bờ, phổ sóng được biểu diễn bằng một xấp xỉ tần góc khá hẹp, có hướng tổng quát trùng với hướng gió Khi sóng phát triển tiếp, nhờ tác động của quá trình vận chuyển phi tuyến yếu vμ những thăng giáng tốc độ gió phân
bố góc của sóng trở nên rộng hơn vμ đến một thời điểm nμo đó trong phổ sóng có thể xuất hiện những hợp phần với hướng có thể khác với hướng trung bình của gió một góc í nhiều lớn hơn 90 ( 90)
Bắt đầu từ thời điểm đó, nhờ tác động của sự vận chuyển phi tuyến yếu sẽ phát sinh những hợp phần phổ hướng ngược với hướng gió
Ta thấy rằng K Hasselmann [262] đã giải thích tích phân (4.1) theo ngôn ngữ những mối tương tác tứ cực giữa ba hợp phần sóng tích cực; ba hợp phần nμy quyết định cường độ tương tác, vμ hợp phần thứ tư thụ động; nó nhận năng lượng nhưng không có nảh hưởng trực tiếp tới sự tương tác Tích phân tương tác (4.1) có thể được viết lại dưới dạng hai số hạng Số hạng thứ nhất không phụ thuộc trực tiếp vμo đại lượng tác động sóng
có thể khác không
Với cách lý giải nμy sẽ trở nên rõ rμng rằng nếu ba hợp phần hướng dọc theo gió (hay ít ra góc giữa chúng vμ tốc độ gió nhỏ hơn 90) thì có thể tồn tại một hợp phần hướng ngược gió; hợp phần nμy nhận năng lượng từ ba hợp phần kia Nhân tiện
Trang 17159 160
đây, chúng tôi nhận xét rằng xấp xỉ vận chuyển phi tuyến yếu
(4.3) bằng một gần đúng gián đoạn mμ trong mô hình WAM
[303] sử dụng, nói chung không phản ánh được hiệu ứng nμy
Phù hợp với tích phân (4.1) bắt đầu quá trình tăng trưởng
tuyến tính mật độ phổ của hợp phần đang xét; sau đó quá trình
tiến triển của nó trở nên không tuyến tính nữa Như các kết quả
tính toán đã cho thấy, dần dần với sự phát triển sóng, thì các
sóng truyền ngược gió cũng sẽ cμng phát triển mạnh mẽ hơn
Mặc dù gió lμm cho sóng tiếp tục phát triển, nhưng mặt khác nó
lại lμ nhân tố tiêu tán đối với những hợp phần phổ truyền ngược
chiều so với nó
Khi thảo luận báo cáo "Động lực các sóng ngẫu nhiên biên
độ hữu hạn" của O Phillips, tiến sĩ Barber [203] năm 1961 đã
nói: "Tôi nhớ có một lần đứng trên bờ một lagun rộng 600 m
Gió, có lẽ tốc độ khoảng 3 m/s thổi từ phía bờ mμ tôi đứng, còn
sóng gió thì có chu kỳ khoảng gần một giây lan truyền về phía
bờ bên kia Trước mặt tôi lμ mặt nước phẳng lặng, rồi sau đó tôi
đã nhận thấy có những gợn sóng rất nhỏ với chu kỳ khoảng một
giây tiến dần về phía tôi Những gợn sóng nμy truyền ngược gió
Tôi không biết cái gì đã tạo ra chúng Tôi không nhìn thấy
thuyền Có thể lμ những gợn sóng ấy phản xạ từ bờ bên kia,
nhưng nếu như tôi nhớ thì bên ấy lμ bãi cát, không phải bờ dốc
đứng Theo như báo cáo nμy thì có thể đưa ra một cách giải
thích tự nhiên về hμnh vi của những gợn sóng ấy Tôi chợt tự
hỏi liệu có phải những gợn sóng nμy lμ do sự tương tác phi
tuyến yếu của các sóng gió mμ sinh ra không"
Có thể đây lμ một trong những suy xét đầu tiên về cơ chế
vật lý phát sinh ra các sóng truyền ngược gió Những trắc
nghiệm chính xác hơn về hiện tượng nμy thì về sau mới xuất
hiện Thí dụ, người ta đã phát hiện ra sự tồn tại của những
hợp phần phổ truyền ngược chiều gió khi phân tích các tín hiệu rađa cao tần phản xạ từ mặt biển Kết quả thí nghiệm
BOMEX [234] cho biết biên độ của các hợp phần đó tăng dần
khi xa dần bờ
Lần đầu tiên, năm 1961 M C LonguetHiggins giải thích hiện tượng nμy như lμ kết quả quá trình tương tác phi tuyến yếu của các sóng trong phổ sóng gió K Hasselmann [235] năm 1977 chứng minh rằng tương tác phi tuyến yếu có thể truyền năng lượng theo hướng ngược hướng gió Tuy nhiên độ lớn của sự tương tác phi tuyến yếu nμy nhỏ hơn giá trị cực đại của nó hai bậc Đáng tiếc lμ vμo thời đó do tính tích phân tương tác rất khó, nên thực tế không thể có khái niệm chính xác hơn về tính chất của hiện tượng tương tác phi tuyến yếu trong phổ sóng gió Vấn đề không chỉ ở sự phức tạp tính toán tích phân tương tác phi tuyến yếu, mμ còn ở chỗ phần đóng góp thực tế của nó cho hợp phần đang xét nhỏ hơn rất nhiều so với giá trị tương ứng đối với những hợp phần hướng theo gió
Điều đó có nghĩa rằng phương pháp số tính tích phân tương tác phải có độ chính xác đủ cao để cho phép tách ra được hiệu ứng nμy trên nền sai số tính toán đôi khi rất lớn Trong mục nμy đã cho thấy rằng chỉ đến ngμy nay chúng ta mới có thể thực thi những tính toán như vậy
4.2 Cung ứng năng lượng từ gió cho sóng
Mô hình Miles về cung cấp năng lượng từ gió Thμnh
phần cung ứng năng lượng sóng từ gió G thường được xác định in
bằng một biểu thức dựa trên mô hình tương tác của dòng không khí trung bình với sóng do J Miles [326] đề xuất Mặc dù mô hình nμy được nêu ra từ năm 1957, nhưng nó đã mô tả cơ chế khá chính xác vμ tiếp tục được sử dụng vμ được chính xác hóa
Trang 18161 162
cho đến ngμy nay Biểu thức của Miles, được R Snyder [356,
357] lμm chính xác thêm bằng những số liệu quan trắc thực địa,
gió vμ hướng truyền thμnh phần phổ; a vμ 1 a2 các tham số
được chấp nhận gần bằng đơn vị Nhận xét rằng, theo (4.20)
năng lượng từ gió chỉ nhập vμo vùng phổ sóng nμo mμ
110
Ngμy nay người ta còn có thể biểu diễn tương quan (4.20)
qua tốc độ động lực hay tốc độ ma sát U Người ta cho rằng *
việc quy chuẩn như vậy có tính chất vạn năng hơn ở đây người
ta thay thế tốc độ gió U trong (4.20) bằng giá trị 10 28U* Tuy
nhiên, vấn đề xác định U tỏ ra không hoμn toμn đơn giản *
Trong phiên bản đầu tiên của mô hình WAM [365] đã chấp
6501080
m/s;
5710
28731
10 10 4 3
10 3
10
,,
,
,,
;
*
U U
U C
U
C
(4.21) Nhược điểm của tương quan nμy lμ ở chỗ nó không tính tới
trạng thái thực của lớp khí quyển sát mătj nước; lớp nμy về
phần mình lại bị quyết định bởi độ gồ ghề của mặt biển vμ độ
phân tầng của khí quyển Do đó, phiên bản tiếp sau của mô
hình WAM [303] đã sử dụng mô hình cung ứng năng lượng sóng
từ gió của P Janson
Sự liên hệ giữa tốc độ ma sát động lực vμ hệ số trở kháng mặt sóng với giai đoạn phát triển sóng Trong
nhiều công trình [162, 280, 303] đã công bố những kết quả khảo sát mối phụ thuộc của tốc độ ma sát động lực vμ hệ số trở kháng của mặt sóng vμo giai đoạn phát triển sóng Thí dụ, I N
Đaviđan trên cơ sở phân tích những dữ liệu quan trắc thực đại [162] đã cho thấy, với điều kiện nước sâu, ngoại trừ giai đoạn
đầu phát triển sóng gió, có thể chấp nhận biểu thức phụ thuộc sau đây giữa độ gồ ghề z vμ tần số phi thứ nguyên của cực đại 0
phổ sóng gió:
* max
* 40, 0
z (4.22) Trong tương quan nμy các tham số được biểu diễn dưới dạng quy chuẩn theo tốc độ động lực Tương quan (4.22) chứng
tỏ về sự giảm độ gồ ghề mặt biển tuỳ thuộc vμo giai đoạn phát triển sóng Sóng xuất hiện trên mặt nước khi bắt đầu có gió Lúc đầu các gợn sóng có độ dốc lớn vμ tốc độ chuyển động tương
đối nhỏ Điều đó tạo ra sức cản lớn đối với dòng không khí vμ độ
gồ ghề mặt lớn Quá trình truyền năng lượng vμ xung từ dòng gió cho sóng diễn ra mạnh mẽ ảnh hưởng của sóng tới dòng không khí thể hiện mạnh Nó biểu hiện ở sự tăng tốc độ động lực vμ phá huỷ chế độ tự điều chỉnh Thời gian tác động gió cμng tăng vμ độ cao sóng cμng tăng thì các sóng trở nên thoải hơn, tốc
độ pha của chúng tăng lên, còn độ gồ ghề hiệu dụng giảm Như vậy tạo điều kiện cho dòng không khí lướt trên mặt dậy sóng dễ dμng hơn Kết quả lμ hệ số trở kháng vμ theo đó lμ tốc độ truyền năng lượng vμ xung giảm sự tăng trưởng sóng sẽ chậm lại