Lưu lượng nước tính toán vệ sinh giữ lại trong sông được xác định bằng cách dẫn các hệ số tính đến tổ hợp các nhân tố khác nhau, đặc trưng cho ý nghĩa kinh tế của sông ngòi, chế độ sinh
Trang 1thời kỳ kiệt trên phần lớn sông ngòi của Liên Xô vμo mùa đông
hay hè - thu trong trường hợp nμy lμm hạn chế đáng kể khả
năng sử dụng chúng để lấy nước Trong khi đó quan trắc được
dao động lớn của dòng chảy kiệt theo các năm Do vậy, việc
nghiên cứu trạng thái tự nhiên của sông ngòi vμo những năm ít
nước nhất với các giá trị dòng chảy nhỏ nhất trong thời kỳ kiệt
có ý nghĩa lớn nhất Nếu như trong các điều kiện như vậy, ở
trong sông giữ được các nguồn lợi sinh thái thì giá trị nμy của
dòng chảy kiệt (hay cực tiểu) sẽ được chấp nhận hoặc như cho
phép tối thiểu (nếu như trong sông tạo ra các điều kiện trên
ranh giới lợi ích sinh thái), hoặc lμ gốc để tính toán Lưu lượng
nước tính toán (vệ sinh) giữ lại trong sông được xác định bằng
cách dẫn các hệ số tính đến tổ hợp các nhân tố khác nhau, đặc
trưng cho ý nghĩa kinh tế của sông ngòi, chế độ sinh hóa vμ
thủy hóa của chúng, khả năng tự lμm sạch, dạng ô nhiễm vμ các
điều kiện khác, ảnh hưởng đến chất lượng nước
Chương 6
dự báo chất lượng tμi nguyên nước
Dự báo chất vμ lượng nước lục địa lμ giai đoạn hoμn thiện của kiểm soát Các phương pháp dự báo chất lượng nước đang
áp dụng hiện nay có thể chia ra hai dạng: dựa trên đề xuất bảo toμn theo thời gian xu hướng của quá trình diễn ra trong đối tượng nước vμo thời kỳ nghiên cứu chúng (phương pháp ngoại suy hay phương pháp khoanh vùng), vμ dựa trên cơ sở mô phỏng toán học hay nghiên cứu vật lý các quá trình thủy động lực, quá trình lý hóa vμ các quá trình khác diễn ra trong thủy vực vμ sông ngòi vμ tính đến qui luật thay đổi trạng thái của đối tượng nước với sự thay thế các nhân tố chính xác định trạng thái nμy - mô hình hóa quá trình (toán học, vật lý, phòng thí nghiệm) hoặc tạo ra các đối tượng mô hình, lãnh thổ, khu vực Theo thời gian dự kiến dự báo có thể lμ hạn ngắn hoặc hạn dμi Khi sử dụng phương pháp ngoại suy, thời gain qt cần phải dμi hơn thời gian dự báo khá nhiều (từ 3 lần trở lên), bao trọn các thời kỳ nhiều vμ ít nước của dòng chảy, còn tính chất phá vỡ chất vμ lượng dòng chảy cần bảo toμn chế độ dừng vμ đơn hướng Với sự thay đổi đột ngột các nâhn tố nhân sinh, xác định trạng thái đối tượng nước, đặc biệt nếu các đột biến nμy khó
Trang 2tiến đoán, nhận được các số liệu dự báo khá thoả mãn thường
khó xảy ra Kết quả tốt nhất thu được khi ngoại suy các đường
cong (hay vùng điểm) sự thay đổi lượng dòng chảy sông ngòi vμ
thể tích nước thủy vực dưới ảnh hưởng của các hoạt động kinh
tế đã xác định theo các đặc trưng trung bình năm của dòng chảy
sông ngòi hay mực nước các thủy vực Cũng như vậy theo thời
gian các đặc trưng chất lượng nước trung bình năm khá ổn
định, chúng có thể sử dụng một cách tương tự để dự báo
Khi mô hình hóa có thể tạo dựng các mô hình toán học hay
vật lý của đối tượng nước hay các quá trình trong đó chúng diễn
ra Điều nμy cho phép phân tích quy luật phát triển vμ thay đổi
trạng thái của đối tượng nước mμ không cần tiến hμnh các khảo
sát ngoμi thực địa dμi
Mô hình toán học chất lượng nước dựa trên các phương
trình vi phân đạo hμm riêng Nhờ chúng có thể mô hình hóa các
điều kiện hình thμnh chất vμ lượng nước (hoặc lμ các quá trình
riêng biệt chi phối chất lượng nước) - mô hình thμnh phần Mô
hình hóa các dk tối ưu sự tồn tại đối tượng nước tính đến tải
trọng nước thải hay khi tiến hμnh lấy nước cùng việc bảo toμn
chất lượng nước tiến hμnh sử dụng các mô hình tối ưu hóa
Mô hình chất lượng nước cần phải khá đơn giản trong sử
dụng trên thực tế, không yêu cầu một lượng lớn thông tin ban
đầu, bao gồm các nhân tố chủ yếu hình thμnh chất lượng nước,
mang tính đại chúng vμ cho các kết quả khá tin cậy (hoặc có độ
chính xác cao)
Khi mô hình hóa chất lượng nước cần tính đến động lực lan
truyền ô nhiễm vμ sự biến hình của chúng theo dọc sông hay
theo thể tích thủy vực (xáo trộn vμ pha loãng nước) Vì vậy, mô hình tính toán có thể lμ một, hai hay ba chiều
Tuy nhiên, sự khác biệt lớn trong các phương pháp tính toán thường rõ rμng ở gần chỗ xả nước thải, còn trong trường hợp, nếu như khoảng cách từ chỗ đó vượt quá 30 m, các phương
pháp khác nhau cho các kết quả gần giống nhau (Phancovskaia
vμ cộng sự, 1982) Sự phân tán các số liệu gần chỗ xả được giải
thích bởi tính phức tạp của việc xét đến tính chất pha loãng đầu tiên
Khi thμnh lập các dự báo tác nghiệp ngắn hạn, nên tập trung áp dụng phương pháp tính toán sử dụng các hệ số phương sai vμ không bảo thủ vμ nó cho phép xác định trường phân bố các chất ô nhiễm khi xả nước thải
Với các dự báo chất lượng nước hạn dμi, có thể sử dụng phương pháp cân bằng tính toán tính cả lưu lượng nước thải vμ lưu lượng nước nơi tiếp nhận cũng như nồng độ chất ô nhiễm Khi đó các sông vừa vμ lớn cần được chia ra các đoạn tính toán
từ tuyến đo ô nhiễm đến tuyến đo kiểm tra hay đến chỗ có nhập lưu, hoặc đến tuyến đo ô nhiễm mới
Lựa chọn mô hình toán để dự báo chất lượng nước được xác
định bởi sự hiện diện của các số liệu gốc vμ nhiệm vụ tính toán
Sự ô nhiễm đối tượng nước vμ dự báo trạng thái của chúng ở một chừng mực nμo đó phụ thuộc vμo sự phân bố các nguồn ô nhiễm tối ưu hóa các nguồn nμy cần phải xuất phát từ nhiệm
vụ thμnh lập điều kiện mμ với nó ô nhiễm lμ nhỏ nhất tức lμ
giải quyết vấn đề cực trị (Martruc, 1982) trên cơ sở sử dụng
phương trình khuếch tán chất ô nhiễm lỏng với các số liệu cho
Trang 3trước về trường vận tốc vμ các hệ số khuếch tán rối Vấn đề tìm
cực trị được giải bằng cách thay đổi lựa chọn các giá trị giả định
(cực đại) của tiêu chuẩn vệ sinh trong các điểm tính toán của
phạm vi xem xét vμ lựa chọn điểm nhỏ nhất từ các giá trị cực
đại, nó chính lμ giá trị tính toán
Tính đúng đắn của việc lựa chọn nơi xả nước thải vμ xây
dựng nơi lấy nước có thể chính xác bằng phương pháp mô hình
hóa vật lý Nó cho phép xác định vùng ô nhiễm vμ xác định dòng
chảy ngược (nếu nó có) cuãng như mức độ lμm sạch nước thải
Nó cần phải có các bờ vμ đáy không xói Khi thμnh lập chúng
cần tuân thủ các điều kiện đồng dạng thủy lực với tự nhiên
Điều nμy đạt được bằng cách phân tích các phương trình vi
phân, mô tả quá trình tác động qua lại của nước thải vμ nước tự
nhiên trong đối tượng nước Khi thiếu hệ phương trình vi phân
có đầy đủ cơ sở có thể sử dụng lý thuyết thứ nguyên, tính đến
ảnh hưởng của các nhân tố chính xác định quá trình nghiên
cứu
Tương tự động lực học của mô hình vμ tự nhiên quan trắc
được nếu như có tương tự động học vμ hình học của chúng vμ
bằng số Frud Sự thu nhỏ cho phép củav tỷ lệ mô hình có thể từ
1 đến 500 khi giảm độ sâu xuống 10 cm (Phancovskaia vμ cộng
sự, 1982)
Ngoμi ra mô hình hóa thủy lực chất lượng nước có thể tiến
hμnh phương pháp tương tự khuếch tán điện đối lưu, dựa trên
cơ sở nghiên cứu quy luật lan truyền dòng điện trong môi
trường dẫn điện như lμ tương tự của môi trường nước
(Drujzinhin, Suskin, 1975)
Thực hiện các mô hình toán vμ tương tự bằng mô hình số
trên các máy tính số điện tử
Như ví dụ một số lượng cần thiết các thông tin ban đầu với
dự báo toán học trường ô nhiễm trong trường hợp thiết kế nơi xả nước thải có thể dùng tập hợp các số liệu cơ bản cho phép tính toán phân bố nồng độ chất ô nhiễm bảo thủ hay không bảo thủ, cũng như sự thiếu hụt ôxy trong nước với sự xả nước thải từ bờ
(Phancovskaia vμ cộng sự, 1982):
- lưu lượng nước cực tiểu suất đảm bảo 95 % tại tuyến xả
- độ sâu vμ độ rộng trung bình của dòng
- diện tích mặt cắt ngang của dòng
- độ dốc thủy lực vμ bán kính lòng dẫn của dòng chảy
- vận tốc động lực vμ trung bình của dòng chảy
- nồng độ nền vμ độ hụt nền của ôxy
- hệ số tốc độ nhu cầu sinh hóa của ôxy
- hệ số tốc độ thông khí
- lưu lượng nước thải trên chỗ ra từ ống xả
- nồng độ chất ô nhiễm bảo thủ vμ không bảo thủ trong nước thải khi xả
Phụ thuộc vμo tính chất tác động qua lại của việc đổ với đối tượng nước vμ các mô hình áp dụng, dạng vμ lượng các thμnh phần có thể thay đổi chút ít Mức độ phức tạp của mô hình được xác định bởi số lượng vμ độ tin cậy của thông tin ban đầu, khả năng sử dụng máy tính vμ độ mạnh của chúng
Sự hiện diện các mô hình đa dạng dự báo chất lượng nước
Trang 4đã chi phối khả năng lựa chọn kết quả cuối cùng trên cơ sở đánh
giá tính hiệu quả kinh tế của các phương án đang xét, về phần
mình lại tính đến khả năng điều khiển hệ thống thủy lợi vμ cải
tiến chúng Khi đó các con đường chính của điều khiển lμ tăng
cường mức độ xử lý nước thải, hoμn thiện việc xả nước hay
thμnh lập các hồ chứa điều tiết Ưu thế cho phương án cần kinh
phí vμ chi phí vận hμnh ít nhất với sự bảo toμn tiêu chuẩn chất
lượng nước cho phép
Chương 7 Vùng bảo tồn nước vμ dải rừng phòng hộ
Vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ các đối tượng nước lμ các vùng chuyên dụng, tách theo bờ các sông, hồ vμ hồ chứa Sự chỉ định chúng lμ giữ gìn (hay thμnh lập) các điều kiện
đối với việc xử lý tự nhiên các nước bị ô nhiễm, xâm nhập từ lưu vực đến khi chúng rơi xuống đối tượng nước trên đường đi qua của nước mặt vμ dẫn chúng vμo nước ngầm Đồng thời giảm lượng phù sa, xâm nhập từ lưu vực do bμo mòn Điieù nμy thúc
đẩy sự bảo toμn hay khôi phục chất lượng nước tự nhiên vμ ở một chừng mực nμo đó lμm chế độ nước tốt hơn Các vùng như thế gọi lμ các vùng bảo vệ nước ven bờ hay lμ các dải bảo vệ nước cận lòng dẫn
Trong các vùng như thế các hoạt động kinh tế bị hạn chế hay cấm hoμn toμn Tiến hμnh chủ yếu các biện pháp tổ chức kinh tế, tưới tiêu nông lâm nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp hướng
đến sự giảm bμo mòn vμ tẩy rửa ô nhiễm các đối tượng nước Công tác khôi phục rừng có ý nghĩa to lớn do thực vật có chức năng giữ nước, đặc biệt lμ rừng
Cây cỏ thân gỗ vμ lau sậy có khả năng dẫn một phần lớn