1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn

132 1,5K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 838,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự là công cụ pháp lý đểNhà nước – thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước – thể hiện thái độ của mình đốivới hành vi nguy hiểm cho

Trang 1

TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tính mạng con người là giá trị cao nhất của con người Quyền được sống, đượctôn trọng là quyền cơ bản, hàng đầu của con người

Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao trong hệ thống các v¨n b¶n quy ph¹m ph¸pluËt, là đạo luật gốc mà các văn bản pháp luật khác phải tuân theo Quyền sống củacon người được qui định tại Điều 71 Hiến pháp năm 1992 Đồng thời, được cụ thể hóatại các điều 32, 609 của Bộ luật Dân sự; Điều 8, Điều 24 Luật Bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em Bộ luật Hình sự năm 1999 (được Quốc hội khóa X nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 6 - từ ngày 18 tháng 11 đến ngày 21tháng 12 năm 1999) đã dành chương XII qui định về các tội xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Đây là Chương thứ hai phần các tội phạm cụthể, chỉ đứng sau chương qui định về các tội xâm phạm an ninh quốc gia

Trong thời gian qua, quyền sống – tính mạng của công dân được bảo đảm trênnhiều phương diện Tuy vậy, còn khá nhiều nguy cơ đe dọa sự sống của con người cầnđược phòng ngừa, ngăn chặn và chống lại, như các hành vi xâm phạm tới tính mạngcủa con người

Trong những năm gần đây, tội phạm xâm phạm tính mạng nói chung và nhómtội phạm vô ý làm chết người nói riêng có chiều hướng gia tăng về tính nguy hiểm củahành vi; phức tạp, tinh vi về thủ đoạn Tính chất tội phạm rất nghiêm trọng Công tácđấu tranh phòng chống loại tội phạm này vẫn còn gặp nhiều khó khăn

Với những lý do nêu trên, việc nghiên cứu đề tài: “Vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” là rất cần thiết.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài.

Trang 2

Nhóm đề tài liên quan đến các tội phạm xâm phạm về tính mạng, sức khỏe,nhân phẩm, danh dự của con người vẫn luôn là nhóm đề tài được các nhà khoa họcquan tâm nghiên cứu Đáng lưu ý là Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Namnăm 1999 tập II phần các tội phạm cụ thể đã được rất nhiều các tập thể các tác giảnghiên cứu và xuất bản; Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm của PGS – TSNguyễn Xuân Yêm; Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe nhân phẩm danh dự củacon người của PGS – TS Nguyễn Ngọc Hòa; Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâmphạm tính mạng, nhân phẩm, danh dự của con người – TS Trần Văn Luyện, Giết người

và đấu tranh phòng chống tội giết người – TS Đỗ Đức Hồng Hà…

Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về tội vô ý làm chết người

Do vậy, cần có một công trình nghiên cứu về tội vô ý làm chết người trong pháp luậthình sự Việt nam

3 Mục đích, phạm vi, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:

Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vô ý làm chết người Trong đó làm rõmặt lý luận về hành vi vô ý làm chết người, khái niệm vô ý làm chết người, giới hạncan thiệp của pháp luật hình sự đối với téi vô ý làm chết người Sự cần thiết phải tộiphạm hoá hành vi vô ý làm chết người

Đồng thời xem xét vô ý làm chết người dưới góc độ là một cấu thành tội phạmđộc lập Cụ thể xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, chủ thể, mặt kháchquan và mặt chủ quan Xem xét Vô ý làm chết người trong một số trường hợp kháctheo qui định của pháp luật hình sự Việt Nam

Nghiên cứu các qui định của pháp luật Việt Nam về tội vô ý làm chết ngườitrong lịch sử pháp luật Hình sự Việt Nam, qui định về tội vụ ý làm chết người trongpháp luật hình sự một số nước trên thế giới

Trên cơ sở số liệu thực tiễn tổng kết đánh giá những vướng mắc trong việc ápdụng BLHS về tội Vô ý làm chết người Trong đó ph©n tích thực tiễn hành vi vô ý làm

Trang 3

chết người trong giai đoạn hiện nay, đồng thời phân tích thực tiễn việc áp dụng các quiđịnh của pháp luật đối với hành vi vô ý làm chết người của các cơ quan tiến hành tốtụng trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự Trên cơ sở đó, tìm ra nguyên nhân

và các giải pháp đấu tranh phòng chống tội vô ý làm chết người

Qua những nội dung nghiên cứu, phân tích trên đề ra một số kiến nghị

4 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu

Đề tài sử dụng các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về chính sách xử lý tộiphạm và người phạm tội xâm phạm tính mạng con người trong những năm vừa qua vàviệc phòng ngừa các tội phạm này trong tình hình hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp

luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là:

- Phương pháp hệ thống hóa

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp thống kê

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Đề tài là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận

và thực tiến về tội vô ý làm chết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam

- Phân tích khái niệm, dấu hiệu pháp lý về tội Vô ý làm chết người, đồng thời phânbiệt tội phạm này với mét sè các tội phạm khác còng cã dÊu hiÖu v« ý lµm chÕt ngêi

- Khái quát tình hình áp dụng pháp luật trong thời gian hiện nay, thực tiễn xét xử

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm

- Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo, học tập, đồng thời cung cấpcho cán bộ làm công tác thực tiễn những hướng dấn, chỉ dẫn cụ thể, góp phần nâng caohiệu quả áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay

Trang 4

Chương I

CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI Vễ í LÀM CHẾT NGƯỜI

TRONG BỘ LUẬT HèNH SỰ VIỆT NAM

I Sự cần thiết quy định tội vô ý làm chết ngời trong pháp luật hình sự việt nam

Con người là tế bào của xó hội, là vốn quý nhất của xó hội, là chủ thể của quan

hệ xó hội cần được xó hội cụng nhận và bảo vệ cỏc quyền con người Trong cỏc quyềncon người thỡ quyền thiờng liờng và cao quý nhất là quyền sống Vỡ đú là điều cú ýnghĩa quan trọng nhất đối với bất kỳ cỏ nhõn nào và là cơ sở để mỗi cỏ nhõn con người

cú thể thực hiện được cỏc quyền khỏc của mỡnh được phỏp luật cụng nhận và bảo vệ.Con người và cỏc quyền con người trở thành đối tượng quan trọng được luật hỡnh sựnúi riờng và phỏp luật núi chung bảo vệ Cỏc lĩnh vực liờn quan đến con người đượcphỏp luật hỡnh sự bảo vệ bao gồm nhiều nội dung, nhưng nội dung trước tiờn và quantrọng nhất đú là bảo vệ tớnh mạng của con người

Khi hành vi xõm phạm đến quyền sống của con người nú làm đảo lộn và phỏ

vỡ cỏc quan hệ xó hội, gõy thiệt hại nghiờm trọng cho bản thõn và gia đỡnh nạn nhõn,gõy bức xỳc trong quần chỳng nhõn dõn, làm mất trật tự xó hội Hành vi này cần đượctrừng trị một cỏch thớch đỏng, nghiờm khắc

Hành vi xõm phạm đến quyền sống – hay xõm phạm tớnh mạng con người cúnhiều dạng, với nhiều hỡnh thức lỗi khỏc nhau Cố ý, vụ ý Nhưng cho dự dưới hỡnhthức lỗi nào thỡ hành vi này đều thể hiện tớnh nguy hiểm cho xó hội ở mức cao Nguyhiểm nhất trong nhúm hành vi xõm phạm tớnh mạng con người là hành vi giết người.Hành vi này thể hiện ý chớ cố ý tước đoạt tớnh mạng của người khỏc Do tớnh nguyhiểm cao độ nờn, trong phỏp luật hỡnh sự từ xưa đến nay ở bất kỳ quốc gia, hay bất kỳchế độ, bất kỳ nhà nước nào cũng nghiờm trị hành vi giết người và ỏp dụng nhữnghỡnh phạt nghiờm khắc nhất như tử hỡnh (Điều 93, Luật hỡnh sự năm 1999) [15], chộm(Điều 474 Quốc triều hỡnh luật) [46]… Hành vi vụ ý xõm phạm tớnh mạng con ngườiđược thực hiện với lỗi vụ ý mức độ nguy hiểm thấp hơn so với hành vi cố ý tước đoạt

Trang 5

tính mạng con người Nhưng cho dù vô ý cũng đã thể hiện sự nguy hiểm cao đối với

xã hội Do vậy việc quy định là tội phạm trong luật Hình sự để đấu tranh phòng ngừa

và chống hành vi nguy hiểm này thực sự cần thiết Không những vậy, chế tài đưa racũng cần nghiêm khắc mới đáp ứng được đòi hỏi của công tác đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm

Khi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là đáng kể, được quy định thành tộiphạm và phải chịu hình phạt trong luật hình sự thì pháp luật hình sự trở thành công cụhữu hiệu tác động đến hành vi sai lệch này Đồng thời tác động đến ý thức của ngườidân nói chung tạo ra một giới hạn trong ý thức của họ về việc thực hiện các hành vicủa mình và đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm pháp luật này

Theo đó, người thực hiện hành vi vô ý làm chết người bị coi là tội phạm vàphải chịu hình phạt Đây chính là thái độ của xã hội đối với hành vi đi ngược lại nhữngchuẩn mực xã hội, đi ngược lại lợi ích của xã hội Việc chịu hình phạt đảm bảo tínhnghiêm minh của pháp luật đồng thời đảm bảo công bằng xã hội Trên cơ sở đó, ngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có điều kiện để cải tạo, giáo dục bản thân trởthành người có ích cho xã hội

Việc quy định phù hợp giữa tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi vi phạm và hình phạt, có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nó phát huy hiệu quả đấutranh phòng chống tội phạm, đồng thời đảm bảo công bằng xã hội Hành vi càng thểhiện tính nguy hiểm cho xã hội cao bao nhiêu, thì hình phạt đối với hành vi ấy phảicàng nghiêm khắc bấy nhiêu Khi hai yếu tố này tương xứng nó góp phần là giảmthiểu mặt tiêu cực của hình phạt Không chỉ cộng đồng xã hội nói chung mà ngay cảngười phạm tội cũng nhận thấy hình phạt cho mình như vậy là thích đáng Có như vậy,bản thân họ mới có thể cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội

Trong thực tiễn có rất nhiều hành vi xâm phạm tính mạng con người Vớinhiều hình thức lỗi khác nhau Cố ý trực tiếp, Cố ý gián tiếp, Vô ý vì quá tự tin và Vô

ý vì cẩu thả Đối với trường hợp người phạm tội cố ý (bao gồm cả cố ý trực tiếp và cố

ý gián tiếp) xâm phạm tính mạng, thì tội danh được xác định luôn là giết người, hoặcgiết người có dự mưu… trường hợp người phạm tội vô ý xâm phạm tính mạng con

Trang 6

người thì được xác định là vô ý làm chết người Việc xâm phạm tính mạng con ngườitrong trường hợp này thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội Từ xưa đến nay, việcnhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi này đã được các nhà nước nhận thức

rõ và đều đã quy định trong luật hình sự của mình Do kỹ thuật lập pháp ở mỗi giaiđoạn lịch sử và mỗi khu vực có khác nhau, nên việc quy định trong các văn bản phápquy mỗi thời mỗi khác Nhưng tựu trung lại, đều thể hiện thái độ nghiêm khắc của nhànước trước hành vi nguy hiểm này

Quy định tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự là công cụ pháp lý đểNhà nước – thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước – thể hiện thái độ của mình đốivới hành vi nguy hiểm cho xã hội và kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm.Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử những năm qua cho thấy rằng, mỗi loại tội phạm cótính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, phương pháp đấu tranh phòng ngừa

và chống tội phạm cũng khác nhau Nhưng cho dù như thế nào thì chúng đều gâynhững thiệt hại nhất định cho các quan hệ xã hội Chúng là những hiện tượng xã hộitiêu cực cần chúng ta không ngừng đấu tranh, hạn chế và từng bước loại trừ ra khỏiđời sống xã hội

Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm vô ý làm chết người nói riêng và tộiphạm nói chung đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cách có hệ thống, đồng bộ, đồngthời sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, không ngừng bổ trợ, tương hỗ cho nhau đểphát huy mặt tích cực và hạn chế những điểm yếu của từng biện pháp Trên cơ sở đó,phát huy tốt nhất hiệu quả đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Đây không phải

là nhiệm vụ của riêng ai Từ hệ thống các cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan tưpháp, đến các tổ chức chính trị, chính trị xã hội và đặc biệt quan trọng đó là ý thức đấutranh phòng ngừa và chống tội phạm của chính mỗi người dân Đồng thời sử dụngnhiều biện pháp từ những biện pháp nhẹ nhàng như giáo dục, thuyết phục, rồi tăng dầnđến các biện pháp cưỡng chế – trong đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nướcnghiêm khắc nhất

Trước đòi hỏi đó, BLHS đầu tiên năm 1985 đã quy định tội vô ý làm chếtngười tại điều 104 BLHS Tuy nhiên tại quy định năm 1985, cấu thành tội phạm vô ý

Trang 7

làm chết người được quy định gộp hai loại hành vi trong một cấu thành tội phạmchung Bao gồm hành vi vô ý làm chết người và hành vi vô ý làm chết người do viphạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính Do hai hành vi làm chết ngườinày có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là khác nhau Do đó, việcquy định như vậy chưa đáp ứng được đòi hỏi của việc cá thể hoá trách nhiệm hình sự.Xuất phát từ tính nguy hiểm cho xã hội của hai loại tội phạm này là khác nhau, đồngthời chúng có những đặc điểm riêng, yêu cầu đặt ra là hai hành vi này cần thiết phảixây dựng thành các cấu thành tội phạm của các tội danh khác nhau Việc quy địnhriêng biệt cấu thành tội phạm của chúng là cơ sở để quy định dấu hiệu trong mỗi cấuthành tội phạm phù hợp ở mức cao nhất với đặc điểm và tính nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi phạm tội và hình phạt tương ứng Đồng thời cho phép tiếp tục phân hoácác cấu thành tội phạm này trong phạm vi từng tội danh Điều này thể hiện ở việc: đốivới cùng một loại hành vi vô ý làm chết người cũng có nhiều mức độ nguy hiểm khácnhau cần thiết phải tiếp tục phân hoá theo từng khoản một để có thể đưa ra khung hìnhphạt phù hợp Bên cạnh việc phân hoá hành vi nguy hiểm cho xã hội của các loại hành

vi khác nhau thành các cấu thành tội phạm độc lập Mỗi cấu thành tội phạm cũng cầnphải phản ánh đúng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Xem xét phân tách cấuthành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự cũng góp phần phân hoá trách nhiệm hình sự của từng mức độ nguy hiểm cho xãhội của hành vi

Hành vi vô ý làm chết người trong mỗi trường hợp khác nhau là khác nhau.Nhưng để đảm bảo yêu cầu của phân hoá trách nhiệm hình sự, việc cụ thể hoá tráchnhiệm hình sự theo tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi là rất cần thiết.Trường hợp vô ý làm chết một người và vô ý làm chết nhiều người tính nguy hiểm cho

xã hội của hành vi có sự khác biệt lớn Chia tách theo từng mức độ như vậy là cơ sở đểchúng ta đưa ra mức chế tài phù hợp Sự phân hoá trách nhiệm hình sự càng triệt đểbao nhiêu thì sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý thuận lợi bấy nhiêu cho công tác cá thểhoá trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử

Trang 8

Từ những đòi hỏi nêu trên, việc quy định tội vô ý làm chết người trong BLHS

năm 1999 với hai cấu thành tội phạm (cấu thành tội phạm cơ bản và cấu thành tội phạm tăng nặng trách nhiệm hình sự) là thật sự đúng đắn và cần thiết đáp ứng được

đòi hỏi của lý luận và thực tiễn

II Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội v« ý lµm chÕt ngêi

1 Khái niệm

“Vô ý làm chết người” hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các trường hợp vô

ý làm chết người được quy định trong các đạo luật Hình sự và văn bản hướng dẫn thihành, văn bản pháp luật hình sự từ trước tới nay Nghiên cứu về khái niệm Vô ý làmchết người trong các văn bản đó là nghiên cứu về khái niệm “Vô ý làm chết người”nói chung Trong phạm vi Luận văn này, học viên tập trung nghiên cứu Tội Vô ý làmchết người theo quy định tại điều 98 BLHS 1999 Những trường hợp Vô ý làm chết

người khác như “làm chết người trong khi thi hành công vụ”, “vô ý làm chết người do

vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính”, “không cứu giúp người đang

ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng”, “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ – dẫn đến chết người”, …quy định tại các điều 97,

99, 102, 202, … BLHS chỉ được nghiên cứu ở từng khía cạnh để so sánh, đối chiếu

với “Tội Vô ý làm chết người” tại điều 98 BLHS 1999.

Khái niệm tội vô ý làm chết người

Trên thế giới có hai cách qui định về tội vô ý làm chết người Bộ luật hình sự.Cách thứ nhất đưa ra một quy phạm mang tính chất định nghĩa về tội vô ý làm chếtngười trong luật thực định Cách thứ hai không đưa ra một quy phạm mang tính chấtđịnh nghĩa về tội vô ý làm chết người trong luật hình sự thực định Pháp luật Hình sựViệt Nam quy định theo cách thứ hai Do dó, không có khái niệm tội vô ý làm chếtngười trong luật thực định

Trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam có nhiều khái niệm khác nhau về tội

vô ý làm chết người Khái niệm thứ nhất cho rằng: “Vô ý làm chết người là hành vi của một người làm cho người khác chết với lỗi vô ý”[41, Tr 68]

Trang 9

Phân tích khái niệm trên ta thấy: thứ nhất về nội dung cách định nghĩa nàykhông đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS và các dấu hiệu của chủ thể đối với tộiphạm này Thứ hai, ta thấy có sự luẩn quẩn trong khái niệm trên Đặt yếu tố lỗi sangmột bên để xem xét, ta thấy, khái niệm trên không phân tách giữa khái niệm và nộihàm của khái niệm đồng thời không thể hiện nội hàm của khái niệm Khái niệm trên

có thể viết thu lại thành “ làm chết người là hành vi của một người làm cho người khác chết ”

Định nghĩa về vô ý làm chết người, Thẩm Phán, Thạc Sỹ Đinh Văn Quế đã

nêu như sau: “Vô ý làm chết người là hành vi của một người không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây ra chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hoặc tuy thấy trước nhưng tin rằng hậu quả đó không xảy ra” [3, Tr 104].

Trong định nghĩa đã nêu rõ nội dung của hai hình thức lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý vìcẩu thả trong yếu tố lỗi vô ý Tuy nhiên, chúng ta thấy, định nghĩa này nặng về việcxác định hình thức lỗi hơn là việc đưa ra một khái niệm đủ sức để cá biệt hoá hành vi

vô ý làm chết người với các hành vi của các loại tội phạm khác cũng có dấu hiệu vô ýlàm chết người Định nghĩa trên cũng chưa nêu hậu quả của hành vi đó là phải gây ra

cái chết cho người khác “chết người” trong định nghĩa trên mới ở dạng tiềm năng

“khả năng gây ra cái chết” Định nghĩa trên cũng giống như cách định nghĩa thứ nhất

chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và các dấu hiệu của chủ thể đốivới tội phạm này, đồng thời định nghĩa này chưa làm rõ được ranh giới của hành vi vô

ý làm chết người và các hành vi khác cũng có dấu hiệu vô ý làm chết người

Về hành vi: Trong luật hình sự Việt Nam, hành vi vô ý làm chết người không

chỉ có trong tội vô ý làm chết người mà còn có trong một số tội phạm được qui định

tại các điều luật khác ví dụ như: “Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ”;

“Tội làm chết người do vi phạm qui tắc nghề nghiệp hoặc qui tắc hành chính”;“Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; “Tội vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ ” Về cơ bản, trong những

trường hợp này cũng là vô ý làm chết người, do vậy định nghĩa tội vô ý làm chết

Trang 10

người phải phân biệt được ranh giới giữa tội vô ý làm chết người với các tội phạmkhác cũng có dấu hiệu vô ý làm chết người

Hành vi vô ý làm chết người để xác định tội phạm và hình phạt theo qui định

tại điều 98 BLHS với tội danh “Tội vô ý làm chết người” là trường hợp hành vi vô ý

gây ra cái chết cho người khác trong điều kiện hoạt động sinh hoạt thông thường.Những hành vi phát sinh từ sinh hoạt hàng ngày là vô cùng phong phú, muôn hình vạntrạng Trong hầu hết các lĩnh vực chứa đựng những nguy cơ, hay nguồn nguy hiểm,đều có những nguyên tắc đảm bảo an toàn Khi thực hiện hành vi đòi hỏi chúng ta phảinắm được và tuân thủ những quy tắc an toàn để phòng ngừa và tránh những hậu quảxấu có thể xảy ra, phải cân nhắc, xem xét trước khi đi đến một hành động cụ thể Nếutrong quá trình thực hiện, chúng ta bỏ qua những nguyên tắc đảm bảo an toàn đó,chúng ta có thể gây ra những hậu quả khôn lường Nếu gây thiệt hại về tính mạng chongười khác, người thực hiện hành vi đó có thể trở thành tội phạm vô ý làm chết người

Về dấu hiệu hậu quả chết người: Việc vi phạm quy tắc an toàn trong sinh

hoạt thông thường thật sự nguy hiểm đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự khigây thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Việc gây rahậu quả chết người là rất nghiêm trọng Hành vi này thể hiện đầy đủ tính nguy hiểmcủa nó khi có hậu quả chết người xảy ra Do vậy quy định hậu quả chết người là dấuhiệu bắt buộc có trong cấu thành tội phạm mới thể hiện hết được tính nguy hiểm cho

xã hội của hành vi

Đồng thời, hậu quả chết người này phải là kết quả của việc thực hiện hành vi.Hay nói cách khác là phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả chếtngười Hành vi vi phạm phải chứa đựng trong nó nguy cơ thực tế dẫn đến hậu quả.Hậu quả chết người xảy ra phải là hậu quả tất yếu do hành vi vi phạm quy tắc bảo đảm

an toàn đó gây ra Và về mặt thực tế, hậu quả đó đã xảy ra

Về yếu tố lỗi: Nguyên tắc có lỗi là một nguyên tắc cơ bản Không có lỗi thì

không có tội phạm Con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình vì hành vicủa con người có tính tất yếu Đồng thời, hành vi còn có sự chi phối bởi khả năngnhận thức và điều khiển hành vi của con người Đây chính là sự tự do lựa chọn và tự

Trang 11

do điều khiển hành vi của con người Khi họ có đủ các điều kiện để tự do lựa chọn, tự

do điều khiển hành vi, nhưng họ đã lựa chọn hành vi phạm tội, như vậy, họ đã có lỗitrong việc lựa chọn, quyết định và thực hiện hành vi phạm tội Trước những đòi hỏicủa xã hội, người phạm tội đã dùng ý trí và lý trí để lựa chọn hành động đi ngược lạivới những đòi hỏi của xã hội “Người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, lợi ích của

xã hội trong khi có tự do lựa chọn thì có nghĩa họ là người có lỗi” [47, Tr 31] Chỉ coi

là Tội vô ý làm chết người khi tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý gây ra hậu quảchết người, bao gồm cả khi họ đã nhận thức được hậu quả nguy hiểm có thể xảy ra,

nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc họ có thể ngăn ngừa được (lỗi vô ý vì quá tự tin) và khi họ do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả đó, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả này (lỗi vô ý vì cẩu thả) [15] (điều 10 BLHS)

Bên cạnh những đặc trưng riêng về hành vi, về hậu quả, về yếu tố lỗi của tội

Vô ý làm chết người, để đảm bảo sự đầy đủ của một định nghĩa, trong định nghĩa cũngcần phải nêu được điều kiện về chủ thể của tội phạm như năng lực trách nhiệm hình sự

và tuổi chịu trách nhiệm hình sự Cũng là hành vi vi phạm các quy tắc sinh hoạt thôngthường, cũng là hậu quả chết người, cũng với lỗi vô ý, nhưng nếu tội phạm được thựchiện bởi chủ thể là người không có năng lực trách nhiệm hình sự, chưa đủ tuổi thìcũng không cấu thành tội phạm Vô ý làm chết người

Bên cạnh đó, trên cơ sở khoa học chúng ta thấy rằng một định nghĩa khoa họcnhất thiết phải đáp ứng được bốn tiêu chí chủ yếu là chặt chẽ về mặt lôgic, chính xác

về mặt ngôn ngữ, ngắn gọn về mặt hình thức (cấu trúc) và đầy đủ về mặt nội dung [44,

Tr.296]

Khi đưa ra khái niệm về tội vô ý làm chết người, trong khái niệm phải nêu bậtđược những đặc trưng của tội phạm này: Về khách thể: quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ, về khách quan: giới hạn về hành vi làm chết người xem xét xử lý về tội vô

ý làm chết người, hậu quả chết người, mối quan hệ nhân quả; về dấu hiệu hậu quả chếtngười, về chủ quan: yếu tố lỗi, về chủ thể: năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi

Trang 12

Thông qua định nghĩa, phải thấy rõ được phạm vi điều chỉnh hay giới hạn của tộiphạm này.

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về tội Vô ý làm chết ngườinhư sau:

“Tội vô ý làm chết người là hành vi gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật trong điều kiện sinh hoạt thông thường, do người có năng lực TNHS

và đủ tuổi chịu TNHS, thực hiện một cách vô ý”

2 Dấu hiệu pháp lý của tội v« ý lµm chÕt ngêi

2.1 Khách thể của tội phạm

Tội vô ý làm chết người xâm phạm đến quyền sống của con người Hành vicủa tội phạm tác động đến con người đang sống, trong điều kiện sinh hoạt bình thườnggây nên sự biến đổi trạng thái của con người từ một cơ thể sống chuyển sang chấm dứt

và mất khả năng sống

Tuy nhiên để xác định một hành vi có xâm phạm quyền sống hay không chúng

ta phải xác định đối tượng tác động có phải là một con người đang sống hay không.Nhưng, thế nào là một con người đang sống Việc xác định đúng đối tượng tác động

có ý nghĩa vô cùng quan trọng Nếu chủ thể thực hiện hành vi có lỗi vô ý tác động vàođối tượng không phải hay chưa phải là con người đang sống thì không xâm phạmquyền sống của con người và không phạm tội vô ý làm chết người

Theo từ điển tiếng việt thông dụng thì “sống” là tồn tại ở hình thức có sự trao

đổi với môi trường, có sự sinh trưởng, phát triển Theo quy định của pháp luật ViệtNam hiện hành thì quyền sống của con người chỉ được xác định đối với con người độclập và còn sống Cuộc sống của con người được tính từ thời điểm đứa trẻ được người

mẹ sinh ra cho đến khi sự sống thực sự chấm dứt Theo đó, quyền sống của con ngườicũng được tính từ thời điểm bắt đầu sự sống cho đến khi con người đó thực sự chấmdứt hoàn toàn sự sống

Về thời điểm bắt đầu sự sống của con người

Trang 13

Về mặt khoa học, trường hợp bào thai hiện nay trên thế giới cũng như tại ViệtNam còn nhiều quan điểm trái ngược nhau Xâm phạm đến sự sống của bào thai thì cóđược coi là xâm phạm đến quyền sống hay không Có quan điểm cho rằng bào thai đãđược coi như một con người Vì bào thai đã thực sự bắt đầu sự sống, phát triển bìnhthường với vai trò một thực thể sống Theo quan điểm này thì bảo vệ bào thai cũngnhư việc bảo vệ con người, việc xâm phạm đến sự sống của bào thai, làm chết bào thaicũng là xâm phạm quyền sống và có thể trở thành tội phạm xâm phạm tính mạng conngười

Quan điểm thứ hai cho rằng bào thai chưa được coi là con người Thời điểm đểđược coi là con người là thời điểm bào thai được sản phụ sinh ra Bởi lẽ, bào thai tuy

đã bắt đầu sự sống trong tử cung của người mẹ Tuy nhiên, bào thai chưa tồn tại độclập Toàn bộ quá trình dinh dưỡng, hô hấp của bào thai đều hoàn toàn phụ thuộc vàongười mẹ và là một phần trong cơ thể người mẹ Sự sống hay chết của người mẹ sẽtrực tiếp ảnh hưởng đến sự sống hay chết của bào thai Và bào thai chưa là một thựcthể độc lập trong thế giới khách quan

Tại mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới chính sách hình sự của mỗi nướckhác nhau rất nhiều Tuỳ thuộc vào văn hoá, kinh tế, chính trị và đặc điểm xã hội củamỗi quốc gia mà việc xác định thời điểm bắt đầu sự sống của mỗi con người theo phápluật của mỗi quốc gia cũng khác nhau Ngoài ra còn phụ thuộc vào các chính sách pháttriển trong đó có chính sách dân số của từng quốc gia Nhưng cho dù phụ thuộc vàoyếu tố nào đi chăng nữa, sự sống của bào thai là một thực tế không thể chối từ và cầnđược bảo vệ Theo quan điểm cá nhân học viên cho rằng: Sự sống của bào thai đã hìnhthành từ khi trứng được thụ tinh và làm tổ trong tử cung của người mẹ Bào thai đãmang những đặc điểm của sự sống như dần có sự hình thành và hoàn thiện các mô, cơ,mạch máu, có sự trao đổi chất, hô hấp thông qua cuống rốn và nhau thai, có cảm giác,xúc giác và các bộ phận khác của cơ thể con người; có hệ thần kinh và sơ đồ gen riêngmang tính cá thể, riêng biệt; dần hình thành hệ đường vân riêng mang tính cá nhân, có

sự sinh trưởng và phát triển Tuy chưa độc lập nhưng bào thai đã đầy đủ yếu tố đểxác định sự sống của mình, xác định tính cá thể của mình Bản thân bào thai quá non

Trang 14

nớt, chưa thể độc lập và phụ thuộc vào rất nhiều vào cơ thể người mẹ Càng không thểnói đến việc tự bảo vệ quyền sống cho mình Chính sách dân số của mỗi quốc gia ảnhhưởng rất nhiều đến việc pháp điển hoá một quy định pháp luật hình sự về việc bảo vệbào thai Với một nước có sự gia tăng dân số như nước ta hiện nay, tỷ lệ dân số nước

ta trong thời gian tới đang có nguy cơ thiếu lao động, dân số già, chính sách dân sốcũng đã mở rộng về lượng con cho phép mỗi cặp vợ chồng được sinh… việc bảo vệbào thai cũng trở nên cần thiết Xét từ góc độ nhân đạo, chúng ta có thể giới hạn độtuổi của bào thai có thể cho phép việc chấm dứt thai kỳ (như trong quy định của phápluật hình sự Đức) như thai nhi dưới 12 tuần tuổi Khi bào thai đã qua 12 tuần tuổi, bàothai đã hình thành rõ hình người, giới tính, các chi, hệ đường vân… tính cá thể củathai nhi đã được xác định rõ rệt, chúng ta cần phải bảo vệ quyền sống cho bào thai Vìcác lẽ trên, cho dù xét từ góc độ sinh học, góc độ xã hội hay từ góc độ nhân đạo đềucho thấy rằng: cần thiết phải công nhận quyền sống của bào thai và phải được bảo vệnhư một thực thể sống con người Và cần thiết phải ghi nhận trong pháp luật hiện hànhviệc bảo vệ quyền sống của bào thai

Ở một số nước trên thế giới, bào thai được coi là một con người Như phápluật của Cộng hoà Liên bang Đức, Bang California… do đó đã trở thành đối tượng củatội phạm xâm phạm tính mạng nói chung Tuy nhiên, theo qui định của pháp luật ViệtNam, bào thai chưa phải là con người độc lập do đó không phải là đối tượng tác độngcủa tội vô ý làm chết người nói riêng cũng như các tội xâm phạm tính mạng conngười

Pháp luật Việt Nam chỉ công nhận là con người khi đứa trẻ đó được sinh ra.Nhưng thời điểm đứa trẻ được người mẹ sinh ra hiện nay vẫn còn nhiều tranh cãi.Việc sinh con của người mẹ diễn ra trong một khoảng thời gian, ngắn - dài tuỳ thuộcvào từng trường hợp riêng biệt Tuy nhiên, tất cả đều diễn ra tuần tự theo các bước từlúc người phụ nữ chuyển dạ, vỡ ối và đứa trẻ được sinh ra dần dần tách khỏi cơ thểngười mẹ cho đến khi thoát hẳn ra bên ngoài và được cắt rốn Thời điểm đứa trẻ đượccắt sợi dây rốn là thời điểm đứa trẻ thực sự trở thành một thực thể độc lập Tuy vậy,khi nào đứa trẻ được xác định quyền sống độc lập của mình và được pháp luật bảo vệ

Trang 15

quyền sống Hiện nay vẫn đang tồn tại hai quan điểm: một quan điểm cho rằng “chỉđược coi là con người khi thai nhi đã hoàn toàn được sinh ra khỏi cơ thể người mẹ vàtồn tại độc lập trong thế giới khách quan” [39, Tr.11] Theo đó, thời điểm được coi làcon người trùng với thời điểm người mẹ kết thúc quá trình sinh con và đứa trẻ đượccắt sợi dây rốn Một quan điểm khác thì cho rằng “thời điểm bắt đầu sự sống của conngười là thời điểm bắt đầu quá trình sinh đứa trẻ từ khi một phần cơ thể của thai nhi đãbắt đầu nhìn thấy thai nhi qua cửa mình của người mẹ” [1, Tr 27] Quan điểm thứ hainêu chưa thật sự rõ ràng Thời điểm bắt đầu quá trình sinh không cùng với thời điểmnhìn thấy thai nhi qua cửa mình của người mẹ Khi quá trình sinh bắt đầu, người mẹ sẽ

có những biểu hiện chuyển dạ, vỡ ối Giai đoạn này chưa thể nhìn thấy thai nhi quacửa mình người mẹ Sau gia đoạn này mới sang giai đoạn lấy hơi, dồn sức và “dặnđẻ” Tại bước cuối cùng này, cơ thể của thai nhi mới bắt đầu dần nhìn thấy qua cửamình của người mẹ Thực tiễn đã cho thấy, không ít trường hợp, những cái chết đã xảy

ra trong quá trình sinh đứa trẻ Có rất nhiều nguyên nhân, một trong những nguyênnhân đó là sự thiếu trách nhiệm, sự cẩu thả của một số y tá, bác sỹ …Từ khi thấy mộtphần cơ thể của đứa trẻ, trong một số trường hợp phải có sự can thiệp từ bên ngoài.Việc thiếu trách nhiệm của y bác sỹ có thể là nguyên nhân dẫn đến đứa trẻ bị chết Do

đó, quan điểm này cho rằng cần phải bảo vệ đứa trẻ sớm hơn, bảo vệ quyền sống củacon người Ngược trở lại, trong quá trình sinh đứa trẻ, với một người mẹ không cókinh nghiệm, do không thực hiện theo chỉ dẫn của bác sỹ chuyên môn, dẫn đến hậuquả đứa trẻ bị chết ngạt thì người mẹ này hoàn toàn có thể bị kết tội vô ý làm chếtngười Người mẹ đã trải qua chuyến “vượt cạn” đầy nguy hiểm Đứa trẻ được sinh racũng đồng thời với việc người mẹ được sinh ra một lần nữa Nhưng không may mắn,đứa trẻ đã chết Định tội cho người mẹ này như thế nào Coi đây là hành vi vô ý làmchết người hay không? Về đạo đức, lương tâm đều không thể

Theo quan điểm của học viên, học viên cho rằng thời điểm bắt đầu sự sống củamột con người độc lập đó là khi người mẹ đã kết thúc quá trình sinh- cơ thể đứa trẻđược thoát hẳn ra bên ngoài cơ thể người mẹ Việc cắt dây rốn cho đứa trẻ hay chưakhông quan trọng, vì điều đó chỉ mang tính hình thức Dinh dưỡng của đứa trẻ không

Trang 16

còn phụ thuộc vào cuống rốn nữa Điều quan trọng nhất, sự sống của đứa trẻ đã độclập, đứa trẻ đã là một con người độc lập

Khi thai nhi dần tách khỏi cơ thể mẹ, thai nhi chỉ còn “dính” với cơ thể người

mẹ qua cuống rốn Tất cả hệ tuần hoàn, hệ hô hấp của thai nhi đã hoàn thiện về cơ bản,

sự phụ thuộc về dinh dưỡng, hô hấp của thai nhi đã chấm dứt Tuy nhiên, lúc này, sựsống của đứa trẻ vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ Chúng ta đang bảo vệ quyềnsống của con người Khi bản thân quyền sống đó, thai nhi chưa hoàn toàn độc lập, nhưvậy không thể nói đến việc bảo vệ quyền sống đó như một quyền sống của con ngườiđộc lập

Về thời điểm chấm dứt hoàn toàn sự sống

Thông thường chúng ta sử dụng thuật ngữ “chết” hay “sự chết” Theo giáo trình Y pháp học [30], “sự chết là kết thúc không thể hồi phục hoạt động sống của một

cá thể” Nhưng trong thực tế, khi đi vào bản chất sâu xa, sự chết không đơn giản như

một mệnh đề định nghĩa Ở đây ta chỉ xét dưới khía cạnh sinh học Trên một cơ thểsinh học nói chung, luôn luôn có sự suy thoái, già và chết đi của các tế bào, của hồngcầu, của một bộ phận mô - cơ quan bị cắt bỏ, bị hoại tử Ngược lại, khi một cơ thể đãchính thức báo tử vẫn còn rất nhiều cơ quan mô, tạng, tế bào vẫn duy trì sự sống củariêng nó một thời gian sau đó

Sự chết xảy ra không phải chỉ trong một thời điểm mà chính xác là một quátrình Lần lượt là hấp hối, chết lâm sàng rồi chết sinh học Thời gian của từng giaiđoạn này và của cả quá trình diễn ra dài ngắn khác nhau tuỳ thuộc vào nguyên nhân tửvong

Theo quan niệm kinh điển, quá trình chết gồm giai đoạn hấp hối, giai đoạnchết lâm sàng, và giai đoạn chết sinh học Ở giai đoạn hấp hối, các chức năng sống của

cơ thể rơi vào tình trạng suy thoái, rối loạn Trung khu thần kinh bị ức chế sâu, ý thức

mơ hồ hoặc mất hẳn, các phản xạ thần kinh mất Tim đập chậm lại, rời rạc, huyết áptụt, hô hấp bị rối loạn, thở yếu, có cơn ngừng thở Giai đoạn chết lâm sàng được bắtđầu với dấu hiệu ngừng thở, ngừng tim Tiếp đó giãn hết đồng tử, mất hoàn toàn các

Trang 17

phản xạ Giai đoạn này có thể dẫn đến việc chết não khi các tế bào thần kinh và mônão bị mất oxy nuôi dưỡng Thông thường, khả năng chịu thiếu oxy của não từ 5-7phút, nếu quá thời hạn đó, con người không thể hồi sinh Giai đoạn chết sinh học làgiai đoạn chết thực thể của mô tế bào Quá trình trao đổi chất của cơ thể ngừng lại Bắtđầu xuất hiện sự thoái hoá, hoại tử, không còn khả năng hồi phục Giai đoạn này có ýnghĩa quan trọng vì sự biến đổi sau chết bắt đầu hình thành Giai đoạn này chính thứcxác định cái chết của một con người sinh học Đây là quy trình chung, tuy vậy, khôngphải mọi trường hợp đều diễn ra theo các giai đoạn nêu trên Trường hợp do tổnthương sọ não, tổn thương tim, nhiễm độc HCN (cianua) thậm chí không có hấp hối.

Tuy nhiên, trong thực tế đời sống và trong hoạt động lâm sàng, đã có không íthiện tượng chết giả Thường gặp trong các trường hợp như: điện giật, ngạt nước, ngạt

cơ học; nhiễm độc thuốc ngủ, thuốc mê, oxyt carbon (CO), bị rắn độc cắn; mất máu,mất nước cấp tính số lượng lớn; chết giả ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ do hệ thần kinh chưahoàn thiện Để loại trừ chết giả, hiện nay có thể ghi điện tim, điện não để xác địnhchính xác sự chết

Từ những phân tích trên chúng ta có thể xác định rõ rằng: đối tượng tác độngcủa tội vô ý làm chết người là con người đang sống Con người đang sống được tính từthời điểm đứa trẻ được người mẹ sinh ra - kết thúc quá trình sinh, cho đến khi người

đó thực sự chết – giai đoạn chết sinh học

Do đó, sự tác động vào cơ thể con người trong khoảng xác định nêu trên gây racái chết cho con người đều xác định là hành vi xâm phạm tính mạng của con người

2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành của tội phạm.không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và cũngkhông có tội phạm “Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, baogồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan”[47] Theo đó, mặt khách quan của tội vô ý làm chết người là những biểu hiện của tội

vô ý làm chết người diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Trong đó bao

Trang 18

gồm: hành vi nguy hiểm, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữahành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội; các điều kiện bên ngoài của việcthực hiện hành vi phạm tội: thời gian, địa điểm phạm tội,… Trong đó hành vi nguyhiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậuquả là những biểu hiện cơ bản của yếu tố mặt khách quan của tội vô ý làm chết người.

2.2.1 Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người là những biểu hiện của conngười ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể có sự kiểm soátcủa ý thức và điều khiển của ý chí

Hành vi nguy hiểm hay hành vi khách quan của tội phạm là yếu tố cơ bảnkhông chỉ đối với tội vô ý làm chết người mà còn là yếu tố cơ bản của mọi cấu thànhtội phạm Hành vi khách quan là nguyên nhân dẫn đến việc xảy ra hậu quả nguy hiểm,

là nguyên nhân gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, làbiểu hiện bên ngoài của ý thức, ý chí chủ quan của người phạm tội, … cụ thể đối vớitội vô ý làm chết người hành vi khách quan là nguyên nhân gây thiệt hại cho sự sốngcủa con người Hậu quả làm chết người chỉ xuất hiện sau khi có hành vi khách quandiễn ra Sau khi có hành vi khách quan diễn ra chúng ta mới có thể xem xét đến cácyếu tố khác như chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm

Theo luật Hình sự Việt Nam, hành vi khách quan của tội vô ý làm chết ngườinói riêng và hành vi khách quan của tội phạm nói chung đều phải thoả mãn ba đặcđiểm:

Thứ nhất: hành vi khách quan phải có tính nguy hiểm cho xã hội Hành vikhách quan của tội vô ý làm chết người xâm hại đến khách thể được pháp luật hình sựbảo vệ đó là quyền sống của con người Một quyền cơ bản nhất của con người Quyềnthiêng liêng cao quý nhất mà tự nhiên ban cho mỗi con người Bất kỳ một quốc gianào từ xưa đến nay, không phân biệt Á, Âu đều đề cao và đặc biệt bảo vệ quyền sống.Điều này cho thấy hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người có tính nguy hiểmcao Thiệt hại mà hành vi vô ý làm chết người gây ra là rất lớn và không thể khắc

Trang 19

phục, mọi sự cố gắng bồi thường thiệt hại chỉ mang tính động viên tinh thần cho thânnhân người bị tội phạm xâm hại Tính mạng con người đã mất đi không thể nào lấy lạiđược.

Thứ hai: Hành vi khách quan của tội phạm là hoạt động có ý thức và ý chí Sựkiểm soát của ý thức và điều khiển của ý chí là hai điều kiện cần và đủ để xác địnhhành vi khách quan của tội vô ý làm chết người

Trường hợp gây thiệt hại do bị cưỡng bức thân thể là trường hợp đặc biệtthuộc loại biểu hiện không phải hành vi Biểu hiện này tuy gây thiệt hại cho quan hệ

xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng không phải là kết quả của hoạt động ý chí

mà là kết quả của sức mạnh khống chế họ, bản thân người bị cưỡng bức thân thể chỉnhư là một công cụ phạm tội của kẻ đã dùng sức mạnh khống chế họ

Trường hợp gây thiệt hại do bị cưỡng bức tinh thần khác so với trường hợpgây thiệt hại do bị cưỡng bức về thân thể Trường hợp này, người đã thực hiện hành vikhách quan gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ do áp lựcbên ngoài Biểu hiện của người gây thiệt hại tuy có bị chi phối bởi ý chí của kẻ đe doạnhưng vẫn là kết quả của hoạt động ý chí, và do đó vẫn là hành vi của chính họ Tuỳthuộc vào mức độ của sự cưỡng bức về tinh thần để đặt vấn đề truy cứu trách nhiệmhình sự của người thực hiện hành vi gây thiệt hại

Thứ ba: hành vi khách quan của tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sựHành vi thực hiện chỉ được coi là hành vi khách quan của tội phạm cụ thể khihành vi đó được qui định trong luật hình sự Việc thực hiện hành vi khách quan thoảmãn các đặc điểm của tội phạm qui định trong luật hình sự đồng nghĩa với vi phạmpháp luật hình sự, hay trái pháp luật hình sự Tội vô ý làm chết người, trải qua các thời

kỳ lịch sử lập pháp Việt nam được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như ngộ sát, thấtsát thương, lầm lỡ làm chết người nhưng về bản chất vẫn thể hiện đó là hành vi vô ýlàm chết người Bộ Luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã kếthừa truyền thống lập pháp và quy định về tội phạm này Quy định này trở thành cơ sởpháp lý cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội

Trang 20

Hành động phạm tội có thể chỉ tác động đơn giản xảy ra một lần trong thờigian ngắn hoặc dài, hoặc có thể là tổng hợp của nhiều động tác khác nhau, hoặc có thểlặp đi lặp lại liên tục trong thời gian dài Hành động phạm tội có thể tác động trực tiếpvào đối tượng tác động hoặc thông qua trung gian là các công cụ, phương tiện phạmtội Trường hợp hành động phạm tội thông qua công cụ phương tiện phạm tội như:trường hợp giăng dây điện trần để bẫy chuột tại nơi ít người qua lại, nhưng đã dẫn đếnhậu quả điện giật làm chết người; hoặc trường hợp dùng súng tự chế bắn chim, thúnhưng không may trúng vào người khác làm chết người, hành động tự cấp cứu chongười khác không đúng cách dẫn đến chết người….

Không hành động phạm tội là hình thức hành vi khách quan làm biến đổi tìnhtrạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thểcủa tội phạm thông qua việc chủ thể không làm một việc mà pháp luật yêu cầu phảilàm mặc dù có đủ điều kiện để làm như trường hợp: người sửa thiết bị điện, khi đi rangoài mua bổ sung thiết bị để lắp đặt, sửa chữa đã không cắt cầu dao, khi người kháckhông biết đến khu vực đó đã bị điện giật dẫn đến chết người

Tính trái pháp luật được thể hiện ở chỗ, chủ thể phải làm việc đó đã khôngthực hiện việc làm đó mặc dù có điều kiện để làm, nghĩa vụ phải làm Nghĩa vụ phảilàm này có thể xuất phát từ nhiều căn cứ như : căn cứ phát sinh do luật định, do quyếtđịnh của cơ quan có thẩm quyền, nghĩa vụ phát sinh do nghề nghiệp, … Bên cạnh đó,nghĩa vụ phải làm này còn có thể phát sinh do các nguyên tắc bảo đảm an toàn được

đa số mọi người công nhận và thực hiện

Trang 21

Hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người là những hành vi gây chếtngười trong điều kiện sinh hoạt thông thường Trường hợp vô ý làm chết người khitham gia giao thông, cần xem xét có lỗi vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy) hay không để xác định tội danh về viphạm quy định điều khiển phương tiện giao thông Trong trường hợp này về cơ bảnđây là vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính trong lĩnh vực giao thôngvận tải Nhưng do đây là một dạng vi phạm phổ biến, nguy hiểm cho người và cácphương tiện khác cùng tham gia giao thông, gây thiệt hại đáng kể cho xã hội Do đó,cần thiết phải xây dựng thành một quy định riêng để phục vụ cho công tác đấu tranhphòng chống loại hành vi nguy hiểm này – loại tội phạm này Do đã có quy định riêng,điều chỉnh trực tiếp nên khi hành vi nguy hiểm này xảy ra ta chỉ xem xét có hay không

có tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chứ khôngxem xét về tội vô ý làm chết người

Một số dạng hành vi vô ý làm chết người:

Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định tại điều 623 về Bồi thường thiệt hại donguồn nguy hiểm cao độ gây ra, theo đó, nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm: phươngtiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạtđộng, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguyhiểm cao độ khác do pháp luật quy định Cũng theo quy định này, chủ sở hữu nguồnnguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụngnguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật Việc có lỗi vi phạmcác quy định này gây hậu quả chết người có thể xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự

về tội vô ý làm chết người

Nước ta vừa trải qua cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc thống nhất đấtnước Vật liệu nổ, vũ khí quân dụng mặc dù đã được nhà nước thống nhất quản lýnhưng lượng vũ khí, vũ khí tự tạo, chất nổ nằm trong sự quản lý của người dân vẫncòn một lượng đáng kể Đây là một nguồn nguy hiểm rất lớn Việc tàng trữ và sử dụngcác loại vũ khí, chất nổ này trong những năm vừa qua đã gây ra biết bao cái chết

Trang 22

thương tâm, biết bao người vì đó mà rơi vào vòng lao lý Không ít vụ án vô ý làm chếtngười đã xảy ra do dùng súng đi săn bắn

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật Cuộc sốngngày một hiện đại Song song với nó trong xã hội lại càng phát sinh thêm nhiều nguồnnguy hiểm hàm chứa nguy cơ cao dẫn đến hậu quả chết người Trong xã hội hiện đại,điện là một phần không thể thiếu, bên cạnh những tác dụng tích cực không thể thay thếcủa điện, điện còn là một nguồn nguy hiểm đáng kể Việc sử dụng điện không đúng,không tuân thủ các quy tắc an toàn sẽ là một nguy cơ rất cao gây ra thiệt hại về tínhmạng con người

Một dạng hành vi khác cũng xảy ra khá phổ biến trong thời gian gần đây đó làhành vi của các con nghiện cấp cứu người không đúng cách đã dẫn đến hậu quả chếtngười Do tình hình nghiện ma tuý diễn biến hiện nay ngày càng phức tạp Các connghiện sử dụng chất ma tuý một cách tuỳ tiện Tình trạng sốc thuốc diễn ra ngày càngnhiều Đi đôi với nó là tình trạng các con nghiện thiếu kiến thức về sơ cứu, cấp cứu; tựcấp cứu cho nhau khi thấy bạn nghiện của mình rơi vào tình trạng sốc thuốc, dẫn đếnkhông ít trường hợp do cố gắng cấp cứu đã vô tình làm “bạn nghiện” bị thương nặng

Từ việc bị sốc thuốc kết hợp với bị thương nặng đã trực tiếp dẫn đến cái chết của conngười

Cũng là sản phẩm của sự phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực thẩm

mỹ, hiện nay nhiều người có nhu cầu nhờ sự can thiệp của khoa học, công nghệ để làmthay đổi một số bộ phận trên cơ thể như nâng ngực, phẫu thuật nâng mũi, chỉnh hìnhtừng bộ phận trên cơ thể cho hoàn hảo hơn….Đứng trước nhu cầu của xã hội, và lợinhuận mà các hoạt động này đem lại nhiều cơ sở chưa đủ điều kiện hoạt động, nhiềungười thiếu kiến thức về y khoa, đã tiến hành phẫu thuật chỉnh hình và gây ra nhữnghậu quả đáng tiếc dẫn đến chết người…

Do dấu hiệu vô ý làm chết người trong tội vô ý làm chết người và một số tộidanh khác có nhiều điểm tương đồng Nghiên cứu và xác định đúng dấu hiệu hành vikhách quan trong cấu thành tội phạm vô ý làm chết người sẽ giúp phân biệt tội phạmnày với các tội phạm khác cũng gây ra hậu quả chết người với lỗi vô ý như tội làm

Trang 23

chết người khi thi hành công vụ, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghềnghiệp hoặc quy tắc hành chính, tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạngnguy hiểm đến tính mạng Thực tế điều tra truy tố, xét xử cho thấy, nếu xác địnhkhông đúng hành vi khách quan của người phạm tội, trường hợp phạm tội của ngườiphạm tội đối với hậu quả chết người thì sẽ dẫn đến hậu quả như không xác định đúngtội danh và từ đó việc áp dụng hình phạt cũng không phù hợp với tính chất và mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, không đảm bảo công bằng, thiếu căn cứ

và không đúng pháp luật, làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm

2.2.2 Hậu quả nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

Ngoài hành vi khách quan mang tính nguy hiểm cho xã hội, tính nguy hiểmcho xã hội của tội phạm còn bởi tội phạm đã gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hạicho các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Đó là “ Hậu quả của tội phạm”.Hậu quả của tội vô ý làm chết người là thiệt hại do hành vi vô ý làm chết người gây ra.Thiệt hại mà tội phạm Vô ý làm chết người gây ra bao gồm thiệt hại về vật chất, thiệthại về tinh thần và thiệt hại về thể chất

Theo Từ điển Luật Học “Thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh

dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ” [14].

“Thiệt hại về thể chất là sự biến đổi tình trạng bình thường của thực thể tựnhiên của con người” [14] Đối với tội vô ý làm chết người thiệt hại về thể chất là thiệthại về tính mạng – làm chết người [47] Thiệt hại về tính mạng - không thể khắc phục,phục hồi được

Tính mạng con người là vô cùng quý giá Khi tính mạng đã mất đi thì khôngthể khôi phục, không gì bù đắp được Không ai có thể xác định được giá trị của tínhmạng con người Thiệt hại này không chỉ đối với bản thân nạn nhân, gia đình, ngườithân của nạn nhân mà đây còn là thiệt hại đối với xã hội Nạn nhân bị mất đi quyềnsống, mọi quyền khác cũng không còn cơ sở để tiếp tục thực hiện Cha mẹ mất con, vợ

Trang 24

mất chồng, con mất cha, (mất mẹ), anh mất em, họ hàng mất đi người thân, cơ quan, tổchức mất đi người đồng nghiệp, xã hội mất đi người công dân – một tế bào của xã hội.

Thiệt hại về tính mạng dù không gì có thể bù đắp được, tuy nhiên, để bù đắpphần nào tổn thất lớn lao mà gia đình và người thân của nạn nhân phải gánh chịu, phápluật quy định nghĩa vụ của người phạm tội phải bồi thường tổn thất – thiệt hại về tínhmạng cho gia đình nạn nhân

“Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc suy sụp

về tâm lý, tình cảm của cá nhân” [14] Gia đình, người thân của nạn nhân phải chịu sựđau thương, suy sụp về tâm lý tình cảm khi bị mất đi một người thân Thiệt hại này tuykhông dễ xác định trong thực tế Nhưng đây là thiệt hại thực tế, chúng ta phải xem xét

để đánh giá và xác định thiệt hại về tinh thần hay mức độ tổn thất về tinh thần Trên cơ

sở đó, yêu cầu bị can có nghĩa vụ phải bồi thường - bù đắp một phần tổn thất về tinhthần cho người thân thích của nạn nhân Tổn thất tinh thần hay thiệt hại về tinh thầnkhông phải trường hợp nào cũng giống nhau, không phải có thể cân đong đo đếmđược Đau thương, mất mát của gia đình nạn nhân không gì có thể tính toán hay trị giáđược Do đó, mức độ bồi thường, bù đắp tổn thất về tinh thần, thiệt hại về tinh thần chỉđược xác định là bù đắp một phần tổn thất – thiệt hại về tinh thần.“Thiệt hại về vậtchất là tổn thất về vật chất có thể tính thành tiền” [14] Thiệt hại về vật chất bao gồm:Tài sản bị mất, bị huỷ hoại, bị hư hỏng; chi phí phải bỏ ta để khắc phục, ngăn chặnthiệt hại cùng những hoa lợi, lợi tức không thu được mà đáng ra thu được” [14] Đốivới tội Vô ý làm chết người - gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại về vật chất có thểgây ra đó là thiệt hại về phần thu nhập của nạn nhân và có thể có những thiệt hại vậtchất khác có thể xảy ra trong từng vụ việc cụ thể Thu nhập của nạn nhân chúng tacũng không thể tuyệt đối hoá, không thể buộc bị can – bị cáo bồi thường toàn bộ theothu nhập thực tế của nạn nhân tính tại thời điểm nạn nhân đó chết Tuy nhiên có thểxác định và yêu cầu bồi thường một phần thiệt hại (tổn thất) về vật chất như bù đắpmột khoản tiền để nuôi dưỡng cha mẹ, vợ (chồng) – trường hợp vợ (chồng) nạn nhânkhông có công ăn việc làm và đang sống hoàn toàn phụ thuộc về kinh tế vào nạn nhân,con chưa thành niên của nạn nhân cho đến khi đủ 18 tuổi [48, Tr 518, 522], [49]

Trang 25

Tội vô ý làm chết người được pháp luật hình sự việt nam quy định với cấuthành vật chất Dấu hiệu hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc Vấn đề truy cứutrách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi hậu quả chết người đã xảy ra Tội phạm chỉ đượccoi là đã hoàn thành khi nạn nhân đã thực sự chết – chết ở giai đoạn chết sinh học Ởgiai đoạn này bắt đầu xuất hiện sự thoái hoá và hoại tử, sự sống không còn khả nănghồi phục.

2.2.3 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội

Trong các nội dung biểu hiện của mặt khách quan của tội phạm Nếu coi hành

vi khách quan là mặt biểu hiện thứ nhất thì hậu quả nguy hiểm là mặt thứ hai và mốiquan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm là mặt thứ ba Mối quan hệ nhânquả giữa hành vi khách quan và hậu quả không tồn tại độc lập với hành vi nguy hiểm

và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Nó là mối quan hệ khách quan tồn tại giữa hành vikhách quan và hậu quả của hành vi khách quan [25, Tr.73] Trong cấu thành tội vô ýlàm chết người, dấu hiệu hậu quả là bắt buộc thì mối quan hệ nhân quả cũng theo đó

mà trở thành dấu hiệu bắt buộc phải chứng minh trong cấu thành tội phạm Người thựchiện hành vi phạm tội gây nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội Khi hậu quả nguy hiểm

là hậu quả tất yếu do hành vi nguy hiểm mang lại thì người thực hiện hành vi phạm tộiphải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả nguy hiểm đó Trường hợp hậu quả nguyhiểm không phải do hành vi nguy hiểm mang lại hay nói cách khác, giữa hành vi nguyhiểm và hậu quả nguy hiểm không có mối quan hệ nhân quả thì người phạm tội chỉphải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm do chính hành vinguy hiểm của mình gây ra Hậu quả nguy hiểm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vinguy hiểm và hậu quả nguy hiểm phải thoả mãn dấu hiệu hậu quả nguy hiểm mà cấuthành tội phạm nêu lên Như hậu quả nguy hiểm bắt buộc trong cấu thành tội phạm vô

ý làm chết người phải là dấu hiệu chết người và mối quan hệ nhân quả giữa hành viphạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội đó gây nên cũng buộc phải là mối quan hệnhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả chết người do hành vi đó gây ra

Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả được xác định dựa trên nội dungcặp phạm trù nhân quả của chủ nghĩa duy vật biện chứng Theo đó, mối quan hệ nhân

Trang 26

quả trong tội phạm vô ý làm chết người được xác định như sau : hành vi nguy hiểmcho xã hội của tội phạm được nhìn như một hiện tượng là nguyên nhân, trong điềukiện hoàn cảnh nhất định hành vi nguy hiểm trên trực tiếp làm phát sinh hậu quả chếtngười là kết quả Để xem xét đánh giá có hay không có mối quan hệ nhân quả giữahành vi nguy hiểm và hậu quả chết người, chúng ta phải xem xét dựa trên nội dungcủa cặp phạm trù nhân quả Theo đó, chúng ta phải làm rõ ba nội dung :

Trước tiên chúng ta phải làm rõ được hành vi trái nguy hiểm phải xảy ra trướchậu quả nguy hiểm về mặt thời gian Khi hậu quả xảy ra trước hành vi chúng ta đangxem xét thì đương nhiên loại trừ khả năng có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đangxem xét và hậu quả chết người Hậu quả chết người đó chắc chắn do hành vi khác gâynên

Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho xã hội độc lập bản thân nó hoặc trong sự kếthợp với một hoặc một số hiện tượng khác chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinhhậu quả nguy hiểm cho xã hội, bao gồm cả hai hình thức thể hiện của hành vi là hànhđộng và không hành động Có nghĩa là hành vi nguy hiểm có khả năng tác động làmbiến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động - khả năng làm chết người ;hoặc khả năng để sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động tiếp tụcdiễn ra, không được ngăn chặn

Thứ ba, hậu quả chết người xảy ra là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làmphát sinh hậu quả làm chết người của hành vi Sự hiện thực hoá này có thể là do hành

vi trực tiếp làm biến đối tình trạng bình thường của đối tượng tác động – sự hiện thựchoá khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm của hành động phạm tội; cũng có thể là dohành vi không ngăn chặn khả năng biến đổi tiếp tục diễn ra gây hậu quả nguy hiểmcho xã hội – sự hiện thực hoá khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm của không hànhđộng phạm tội Việc xác định nội dung thứ ba này vô cùng quan trọng vì trong thực tếkhông phải hành vi trái pháp luật nào - dù chứa đựng khả năng thực tế gây ra hậu quảnguy hiểm cho xã hội của hành vi - cũng thực tế gây ra hậu quả nguy hiểm đó Không

ít trường hợp, hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra là kết quả của hành vi khác (hành

vi này có thể trái pháp luật hoặc không trái pháp luật), nguyên nhân khác

Trang 27

Chúng ta cũng cần hết sức lưu ý trong trường hợp có một hành vi khác xen vàogiữa hành vi nguy hiểm ban đầu và hậu quả nguy hiểm chết người xảy ra Hành vixem giữa này cần phân biệt trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất : khi hành vixem giữa này cũng chứa đựng khả năng gây ra hậu quả chết người Khi xen giữa, nó

đã phá vỡ khả năng gây ra hậu quả chết người của hành vi nguy hiểm ban đầu và tạo

ra một mối quan hệ nhân quả mới giữa hành vi xen giữa và hậu quả chết người xảy ra.Trường hợp này mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả chết ngườiđược xác định là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xen giữa và hậu quả chết ngườithực tế đã xảy ra Do đó, trường hợp này không còn mối quan hệ nhân quả giữa hành

vi nguy hiểm ban đầu với hậu quả chết người thực tế xảy ra Người thực hiện hành vinguy hiểm ban đầu không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả chết người đãxảy ra Trường hợp thứ hai : Hành vi xen giữa tuy có chứa đựng khả năng gây ra hậuquả chết người, nhưng nó không phá vỡ khả năng thực tế dẫn đến hậu quả chết ngườicủa hành vi nguy hiểm ban đầu mà nó chỉ góp phần thúc đẩy khả năng gây ra hậu quảchết người được diễn ra Trong trường hợp này, giữa hành vi nguy hiểm ban đầu vàhậu quả chết người vẫn tồn tại mối quan hệ nhân quả Do đó, trường hợp này ngườithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quảchết người đã xảy ra

Nghiên cứu về Quan hệ nhân quả của tội vô ý làm chết người, chúng ta thấy nótồn tại cơ bản dưới bốn dạng sau : Quan hệ nhân quả đơn trực tiếp (là dạng quan hệnhân quả trong đó chỉ có một hành vi trái pháp luật đóng vai trò là nguyên nhân củahậu quả nguy hiểm cho xã hội – [25, Tr.77] Quan hệ nhân quả kép trực tiếp (là quan

hệ nhân quả trong đó có nhiều hành vi trái pháp luật cùng đóng vai trò là nguyên nhân,trong dạng này mỗi hành vi trái pháp luật độc lập đều có khả năng thực tế trực tiếp làmphát sinh hậu quả [25, Tr77] Ví dụ : hai người bạn nghiện cấp cứu sai cách thức đốivới người nghiện thứ ba bị xốc thuốc làm sập lồng ngực dẫn đến hậu quả chết người,hoặc tuy mỗi hành vi trái pháp luật độc lập chưa chứa đựng khả năng thực tế trực tiếplàm phát sinh hậu quả nhưng khả năng đó lại hình thành khi chúng kết hợp lại vớinhau), quan hệ nhân quả dây truyền (là quan hệ nhân quả trong đó hành vi trái phápluật giữ vài trò nguyên nhân chứa đựng khả năng thực tế trực tiếp làm phát sinh hành

Trang 28

vi trái pháp luật thứ hai, hành vi trái pháp luật thứ hai này đã trực tiếp làm phát sinhhậu quả nguy hiểm cho xã hội [25, Tr.78] Ví dụ hành vi của người không phải giáoviên dậy lái xe giao xe cho người tập lái xe điều khiển trong bãi tập làm chết người) vàquan hệ nhân quả gián tiếp (là quan hệ nhân quả trong đó hành vi trái pháp luật lànguyên nhân, phải thông qua hiện tượng khác mới đưa lại hậu quả nguy hiểm cho xãhội [25, Tr.78] Ví dụ : A nuôi cá sấu dưới hồ nhưng không đặt biển báo B ở xa đếnnhà A chơi, không biết việc A nuôi cá sấu dưới hồ nên nhảy xuống hồ bơi Hậu quả B

Trang 29

nhất định Chỉ khi có năng lực trách nhiệm hình sự con người mới có thể có lỗi và mớiphải chịu trách nhiệm về hành vi của mình [25, Tr.55].

Chủ thể của tội vô ý làm chết người không có những dấu hiệu đặc biệt Dovậy, khái niệm chủ thể của tội vô ý làm chết người giống với khái niệm chủ thể của tộiphạm nói chung

Từ đó, ta có thể đưa khái niệm chủ thể của tội vô ý làm chết người và chủ thể

của tội phạm như sau: “Chủ thể của tội vô ý làm chết người là người thực hiện hành

vi làm chết người trong điều kiện sinh hoạt thông thường với lỗi vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định”

để có thể xác định một người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.Chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể có lỗi và mới có thể làchủ thể của tội phạm khi đã đạt độ tuổi lật định – tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực của tự ý thức được hình thành trongquá trình phát triển của cá thể về mặt tự nhiên và xã hội Ở mỗi con người bình thườngđều có khả năng hình thành, phát triển ý thức và tự ý thức, nhưng phải trải qua quátrình hoạt động và giáo dục trong điều kiện xã hội, khả năng đó mới có thể trở thànhhiện thực

Luật hình sự việt nam không qui định năng lực trách nhiệm hình sự một cáchtrực tiếp mà qui định gián tiếp qua quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự và qui định

về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự Sở dĩ có thể qui định theo cáchnày vì giữa độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự có quan hệ với nhau, trong đó độ

Trang 30

tuổi là điều kiện để có năng lực trách nhiệm hình sự Với việc qui định này, luật hình

sự Việt Nam mặc nhiên thừa nhận những người đã đạt đổ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự nói chung là có năng lực trách nhiệm hình sự Trong thực tiễn áp dụng, các cơ quan

có trách nhiệm không đòi hỏi phải đánh giá từng trường hợp là có năng lực tráchnhiệm hình sự hay không mà chỉ phải xác định độ tuổi và cá biệt nếu có sự nghi ngờ,mới cần phải kiểm tra có phải là trường hợp trong tình trạng không có năng lực tráchnhiệm hình sự hay không [14]

Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là tình trạng của người thựchiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh kháclàm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi Một người được coi là trong tìnhtrạng không có năng lực trách nhiệm hình sự khi thoả mãn đồng thời hai điều kiện: 1.(về y học): người đó phải mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm rối loạn hoạt độngthần kinh (tâm thần), 2.(về tâm lý) người đó phải mất năng lực nhận thức được ý nghĩa

xã hội của hành vi (và như vậy cũng không có năng lực điều khiển hành vi đó) hoặctuy có khả năng nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi nhưng không có năng lựcđiều khiển hành vi đó [14, Tr.549]

Trở lại lý luận về hành vi: Trong luật hình sự, Hành vi được hiểu là biểu hiệncủa con người ra ngoài thế giới khách quan mà mặt thực tế của nó được ý thức kiểmsoát và ý chí điều khiển [25, Tr.64] Biểu hiện ra ngoài thế giới khách quan có sự kiểmsoát của ý thức và điều khiển của ý chí sẽ được coi là hành vi Và như vậy: có hai dạngbiểu hiện ra ngoài thế giới khách quan: dạng thứ nhất biểu hiện là hành vi và dạng thứhai biểu hiện không phải là hành vi Ở dạng thứ hai dạng biểu hiện không phải hành vi

là những biểu hiện không được sự kiểm soát của ý thức và không được sự điều khiểncủa ý chí, hoặc tuy là biểu hiện có sự kiểm soát của ý thức nhưng không được sự điềukhiển của ý chí Do vậy với trường hợp người không có năng lực trách nhiệm hình sự– người đã mất năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi hoặc tuy nhậnthức được nhưng họ không có năng lực điều khiển hành vi- biểu hiện của họ ra bênngoài thế giới khách quan không được coi là hành vi

Trang 31

Cũng cần phân biệt tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự vớitrường hợp tình trạng năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế Đây là trường hợp chủthể tuy cũng mắc bệnh nhưng chỉ bị hạn chế khả năng nhận thức ý nghĩa xã hội củahành vi hoặc khả năng điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội Hành vi gây thiệthại trong trường hợp này vẫn bị coi là tội phạm Tuy nhiên đây là trường hợp tráchnhiệm hình sự được giảm nhẹ, vì tình trặng năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế cóảnh hưởng nhất định đến mức độ lỗi.

3.3 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là “Độ tuổi được luật hình sự qui định là điềukiện để một người phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện của mình”[14, Tr.824]

Việc qui định tuổi chịu trách nhiệm hình sự không chỉ phản ánh chính sáchhình sự của nhà nước đối với người chưa thành niên có hành vi phạm pháp luật màcòn xuất phát từ cơ sở: con người khi đến độ tuổi nhất định mới có được năng lựctrách nhiệm hình sự – năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi và năng lựcđiều khiển hành vi theo sự nhận thức đó và chỉ khi có năng lực đó mới có thể buộc họphải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình

Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự chỉ được hình thành khi con người đãđạt độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển và hoàn thiện trong thời giantiếp theo Khi đạt độ tuổi đó, con người nói chung sẽ có năng lực trách nhiệm hình sự,trừ những trường hợp cá biệt – những trường hợp mà luật hình sự coi là trong tìnhtrạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Cơ sở của việc qui định tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Luật hình sự các nước

dựa trên cơ sở kết quả các công trình nghiên cứu, khảo sát sự phát triển về tâm sinh lýcủa con người cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của mình để qui định tuổi bắtđầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ.Mức cụ thể của tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi có năng lực trách

Trang 32

nhiệm hình sự đầy đủ được xác định ở mỗi nước và có thể ở mỗi thời gian nhất địnhtrong mỗi nước không hoàn toàn giống nhau.

Ở Việt nam, căn cứ vào các yếu tố nêu trên, cũng như thực tiễn đấu tranhphòng chống tội phạm đồng thời tham khảo kinh nghiệm các nước, Nhà nước ta xácđịnh người từ đủ 14 tuổi bắt đầu có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi cónăng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ

Trong giai đoạn hiện nay, điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội có sự phát triểnnhanh chóng, cùng với đó, khả năng nhận thức của con người cũng được phát triển vàhoàn thiện ở lứa tuổi sớm hơn Việc điều chỉnh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nóichung và chịu trách nhiệm hình sự đối với tội Vô ý làm chết người có thể điều chỉnh ởmột độ tuổi ít hơn cũng có nhiều hạt nhân hợp lý Khả năng nhận thức tính nguy hiểmcho xã hội của hành vi và khả năng điều khiển hành vi theo những đòi hỏi của xã hộisớm hình thành và hoàn thiện Do vậy, khả năng tự chịu trách nhiệm độc lập về hành

vi cũng hình thành sớm hơn Nên chăng chúng ta điều chỉnh hạ thấp độ tuổi chịu trách

nhiệm hình sự, vì: thứ nhất: khả năng nhận thức của con người đi đôi với sự kế thừa và

phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội đã hình thành và hoàn thiện ở lứa tuổi sớm hơn;thứ hai: góp phần đấu tranh tích cực hơn nữa đối với các hành vi phạm tội nói chung

và hành vi vô ý làm chết người nói riêng, từng bước giảm độ “nóng” của tình hình tội

phạm nói chung diễn ra ngày càng phức tạp như hiện nay Nhất là tình hình vị thànhniên phạm tội đang ngày một gia tăng về số lượng cũng như tính chất mức độ nguyhiểm cho xã hội của hành vi

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ truyền thống lập pháp và chính sách hình sự nhânđạo trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội thì việc điều chỉnh hạ thấp độtuổi chịu trách nhiệm hình sự lại chưa thật hợp lý Riêng đối với tội Vô ý làm chếtngười, việc giữ nguyên qui định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạmnày vẫn đáp ứng được đòi hỏi của việc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giaiđoạn hiện nay

4 Mặt chủ quan của tội phạm

Trang 33

Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội.Bao gồm lỗi, động cơ và mục đích Trong đó : Động cơ và mục đích chỉ được phảnánh trong một số cấu thành tội phạm (chủ yếu trong cấu thành tội phạm với lỗi cố ý),hoặc trong một số trường hợp là tình tiết định khung Lỗi được phản ánh trong mọicấu thành tội phạm Người phạm tội vô ý làm chết người có lỗi vô ý Động cơ và mụcđích chỉ đặt ra trong cấu thành tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Do vậy không cóđộng cơ và mục đích phạm tội trong tội vô ý làm chết người.

Về lỗi : lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xãhội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức

cố ý hoặc vô ý Lỗi là nội dung biểu hiện của mặt chủ quan được phản ánh trong tất cảcác cấu thành tội phạm Trong mỗi cấu thành tội phạm, dấu hiệu lỗi có thể là lỗi Cố ýhoặc Vô ý

Trong tội Vô ý làm chết người dấu hiệu lỗi là lỗi vô ý, bao gồm cả lỗi vô ý vìquá tự tin và vô ý vì cẩu thả Lỗi Vô ý vì quá tự tin là lỗi trong trường hợp người phạmtội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng chorằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được nên vẫn thực hiện và đãgây ra hậu quả nguy hại đó (Điều 10BLHS) [15]

Như vậy, rút ra dấu hiệu của lỗi Vô ý vì quá tự tin trong tội vô ý làm chếtngười như sau :

- Về lý trí : người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội củahành vi của mình, thể hiện ở thấy trước hậu quả có thể gây thiệt hại đến tính mạng củangười khác, mà hành vi của mình có thể gây ra Nhưng đã tự tin cho rằng hậu quả chếtngười đó không xảy ra

- Về ý chí : Người phạm tội không mong muốn hành vi của mình tước đoạt đitính mạng của người khác

Ý chí của người phạm tội dựa trên cơ sở sự đánh giá về lý chí cho rằng khôngxảy ra hậu quả Người phạm tội đã cân nhắc, tính toán và đã cho rằng hậu quả sẽkhông xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được Nhưng thực tế, người phạm tội đã không

Trang 34

đánh giá đúng Sự tin tưởng của họ là tin tưởng quá mức so với thực tế Hậu quả chếtngười đã xảy ra.

Lỗi vô ý vì cẩu thả  là lỗi trong trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quảnguy hại cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước hành vi của mình có thểgây ra hậu quả đó, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước (hậu quả này) (Điều 10BLHS) [15]

Như vậy rút ra dấu hiệu của lỗi vô ý vì cẩu thả trong tội Vô ý làm chết ngườinhư sau :

- Người phạm tội không thấy trước hậu quả chết người mà hành vi của mình

có thể gây ra Người phạm tội không nhận thức được mặt thực tế của hành vi của mìnhhoặc tuy nhận thức được mặt thực tế của hành vi nhưng không nhận thức được khảnăng gây hậu quả chết người của hành vi của mình

- Người phạm tội phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả chết người đó.Với địa vị và hoàn cảnh cụ thể của mình, người phạm tội có nghĩa vụ phải thấy và có

đủ điều kiện để có thể thấy trước hậu quả chết người Người phạm tội không thấytrước hậu quả chết người chỉ vì cẩu thả, thiếu thận trọng khi xử sự

Nghiên cứu và xác định đúng dấu hiệu lỗi trong trường hợp có hậu quả chếtngười sẽ giúp phân biệt tội vô ý làm chết người với tội giết người Để xác định đúnglỗi của người phạm tội đối với cái chết của nạn nhân là cố ý hay vô ý phải làm sang tỏhai vấn đề : thứ nhất người phạm tội có thấy trước hậu quả chết người hay không Thứhai : nếu thấy trước người phạm tội mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậuquả chết người xảy ra

Theo Tiến sỹ Đỗ Đức Hồng Hà [1]: để xác định người phạm tội có thấy trướchậu quả chết người hay không phải xuất phát từ năng lực nhận thức của họ cũng như

từ điều kiện nhận thức cụ thể về những dấu hiệu thuộc mặt khách quan như tính chấtcủa những công cụ, phương tiện cũng như cách thức sử dụng, tình trạng sức khoẻ củanạn nhân

Trang 35

Để xác định người phạm tội mong muốn, chấp nhận hay loại trừ khả năng hậuquả chết người xảy ra có thể dựa vào : công cụ phương tiện phạm tội, cách thức sửdụng, diễn biến tâm lý của người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm, tínhchất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân cách người phạm tội

Trường hợp chủ thể không thấy trước hậu quả chết người – Lỗi vô ý vì cẩuthả: chủ thể không nhận thức được đầy đủ đặc điểm khách quan có thể do không nhậnthức được tính chất thực tế của hành vi và như vậy không nhận thức được khả nănggây ra hậu quả chết người Hoặc chủ thể tuy nhận thức được tính thực tế của hành vinhưng lại không nhận thức được khả năng gây hậu quả chết người

Trường hợp chủ thể nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, nhưngsau khi cân nhắc đã loại trừ khả năng đó cho rằng khả năng đó không xảy ra – Lỗi vô

Ngoài ý nghĩa trong định tội danh, xác định đúng hình thức lỗi còn có ý nghĩaquan trọng trong việc quyết định hình phạt So sánh giữa hai trường hợp lỗi vô ý nêutrên chúng ta có thể thấy rằng : trường hợp vô ý làm chết người với lỗi vô ý vì quá tựtin mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn, do người phạm tội đã nhận thức được tínhnguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội cóthể xảy ra nhưng đã loại trừ khả năng xảy ra hậu quả đó Do vậy, khi các tình tiết khác

là tương đương nhau thì hình phạt đồi với người phạm tội trong trường hợp này cần

Trang 36

phải nặng hơn so với trường hợp phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả mới phù hợp với tínhchất và mức độ nguy hiểm của tội phạm

Cũng cần nghiên cứu thêm trường hợp không có lỗi để phân định có haykhông có tội phạm vô ý chết người xảy ra Đó là trường hợp sự kiện bất ngờ Sự kiệnbất ngờ là sự kiện nảy sinh (xuất hiện) ngoài dự kiến của chủ thể pháp luật và chủ thểkhông thể thấy trước hậu quả của nó [14, Tr 679-680] Theo đó, chủ thể pháp luật khithực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do sự kiện bất ngờ thì không phải chịu tráchnhiệm hình sự Người thực hiện một hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sựkiện bất ngờ, tức là trong trường hợp người này không thể thấy trước hoặc không buộcphải thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó Do đó, khi thực hiệnhành vi, họ không có lỗi (cố ý hay vô ý) Khi họ không có lỗi thì không đặt ra vấn đềtrách nhiệm hình sự Do vậy, họ không phải chịu TNHS

Trường hợp này và trường hợp lỗi vô ý vì cẩu thả có một điểm giống nhau đó

là người thực hiện hành vi không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành

vi Ở trường hợp vô ý vì cẩu thả chủ thể có đủ điều kiện để thấy trước, có đủ điều kiện

để nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Trường hợp sự kiện bất ngờchủ thể không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi Việc không thấytrước này do hoàn cảnh khách quan hoặc do khả năng chủ quan mang lại

Trang 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

1 Nghiên cứu về cơ sở lý luận của tội vô ý làm chết người giúp chúng ta nắm

rõ những vấn đề cơ bản, đặc trưng của tội danh này Trong Chương I, học viên đã a)Đưa ra khái niệm khoa học về tội vô ý làm chết người, về chủ thể của tội vô ý làm chếtngười, b) Làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội vô ý làm chết người như khách thể, mặtkhách quan, chủ thể, mặt chủ quan Trong đó, làm rõ đối tượng tác động của tội vô ýlàm chết người, hành vi khách quan và một số dạng hành vi của tội vô ý làm chết ngườidiễn ra phổ biến trong thời gian gần đây, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậuquả chết người, làm rõ yếu tố lỗi vô ý trong tội vô ý làm chết người;

2  Làm rõ một số nội dung như : về thời điểm bắt đầu sự sống của một conngười ; thời điểm chấm dứt hoàn toàn sự sống của con người Trên cơ sở đó, đề nghịxác định thời điểm bắt đầu sự sống của một con người độc lập đó là khi người mẹ đãkết thúc quá trình sinh- cơ thể đứa trẻ được tách ra khỏi cơ thể người mẹ Thời điểmchấm dứt hoàn toàn sự sống của con người là thời điểm khi người đó thực sự chết –giai đoạn chết sinh học Giai đoạn chết sinh học là giai đoạn chết thực thể của mô tếbào

3 Sau khi nghiên cứu các nội dung trên, chúng tôi xin đề xuất các cơ quan cóthẩm quyền công nhận quyền sống của bào thai và có chính sách bảo vệ bào thai nhưmột thực thể sống con người Bào thai đã mang đầy đủ những đặc điểm của sự sống,của một cơ thể sống, đã xác định tính cá thể của mình trên cơ sở sơ đồ gen, hệ đườngvân mang tính riêng biệt Nhưng do bản thân bào thai quá non nớt, chưa thể độc lập

và không thể tự bảo vệ quyền sống cho mình Xét từ góc độ nhân đạo, chúng ta cầnthiết phải công nhận quyền sống của bào thai và bảo vệ quyền sống này Đề xuất xâydựng một quy định trong Chương XII – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhânphẩm, danh dự của con người - Bộ luật Hình sự Việt Nam, bảo vệ quyền sống của bàothai

Trang 38

Chương II CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI

TỪ THỜI PHONG KIẾN ĐẾN NAY

1 Tội vô ý làm chết người theo quy định của Quốc Triều Hình Luật và Hoàng Việt Luật Lệ

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhiều bộ luật đã được các triều đại banhành như Bộ luật Hình thư được ban hành vào tháng 10 năm Nhâm Ngọ đời LýThái Tông – năm 1402, Bộ luật Hình thư của nhà Trần khoảng tháng 8 năm Tân Tỵđời Trần Dụ Tông - năm 1341, Quốc Triều hình luật hay Luật Hình Triều Lê đượcban bố lần đầu tiên trong khoảng niên hiệu Hồng Đức 1470-1497 dưới thời LêThánh Tông (theo Cổ Luật học Việt Nam lược khảo XB tại Sài gòn năm 1969) vàHồng Đức điện chính thư của nhà Lê, Hoàng Việt Luật Lệ của nhà Nguyễn…

Tội Vô ý làm chết người đã được các nhà làm luật Hình sự phong kiến Việtnam đề cập đến từ rất sớm Trong Quốc Triều Hình luật, Hoàng Việt Luật Lệ đềuquy định về vô ý làm chết người Tuy nhiên với đặc thù của kỹ lập pháp thời bấygiờ còn hạn chế, nên việc quy định về tội Vô ý làm chết người chưa được quy địnhtập trung tại một điều luật

Tội vô ý làm chết người trong Quốc triều Hình luật [46]

Quốc Triều Hình Luật hay Luật Hình Triều Lê với 6 quyển, 13 chương và

722 Điều – thể hiện sự kết tinh và đỉnh cao những thành tựu lập pháp thế kỷ XVIII Đây là bộ luật tổng hợp điều chỉnh cả quan hệ pháp luật Hình sự, Dân sự,Hôn nhân và gia đình và tố tụng

XV-Nghiên cứu toàn bộ các quy định nêu trên có thể thấy:

Quốc Triều Hình luật đã quy định về hành vi vô ý làm chết người – ngộ sát,lầm lỡ làm chết người Hành vi ngộ sát, lầm lỡ làm chết người được Quốc triềuHình Luật quy định tại 12 điều luật 11, 12, 13, 14, 16, 18, 22, 26, 30, 33, 34

Trang 39

Chương “Đấu Tụng” - quyển IV (tức 475, 476, 477, 478, 480, 482, 486, 490, 494,

497, 498 Quốc triều hình luật)

Ngoài ra, hành vi vô ý làm chết người còn quy định tại một số điều luậtthuộc các chương khác của Quốc Triều Hình Luật: Tại Điều 2 Chương Bộ Vong –Quyển V (tức điều 646 Quốc triều hình luật), Điều 11 Chương Thông Gian –Quyển III (tức Điều 410 Quốc Triều Hình Luật) đã qui định về hành vi làm chếtngười trong khi thi hành công vụ,

Bên cạnh đó, Quốc Triều Hình Luật đã có riêng một quy định trong đó đưa

ra khái niệm về lỗi vô ý hay nói theo thuật ngữ mà Luật này sử dụng đó là quy định

về “Việc lầm lỡ” tại điều 499 tại đây tuy chưa khái quát được như thế nào là lầm lỡ

nhưng đã mô tả được những biểu hiện để thông qua đó có thể xác định việc lầm lỡ

như “việc xảy ra ngoài sức người, tai mắt không kịp nhận thấy, không kịp nghĩ tới, hay vì vật nặng, sức người không chống nổi, hoặc trèo lên cao, tới chỗ nguy hiểm, săn bắt cầm thú, để đến nỗi thành ra sát thương người đều là việc lầm lỡ”

Về cơ bản Quốc Triều hình luật đã quy định rõ về tội vô ý làm chết người.Tuy được quy định tại nhiều điều luật khác nhau nhưng về nội dung đều thống nhất

về hành vi, hậu quả của tội phạm và lỗi

Về cơ bản, Quốc Triều hình luật được ban hành nhằm phục vụ và bảo vệcho quyền lợi của giai cấp thống trị nhà Lê, để duy trì và bảo vệ sự tồn tại của nềnquân chủ; không chú trọng vào việc bảo vệ quyền, lợi ích của người dân, khôngđảm bảo công bằng xã hội Chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo – TrungHoa, giai cấp thống trị phong kiến nhà Lê muốn xây dựng một nền pháp luật hướngtheo Nho giáo, bảo vệ các trật tự xã hội phong kiến mà Nho giáo đã thiết lập; bảo

vệ chế độ gia tộc phụ quyền và các nguyên tắc về luân lý đạo đức phong kiến; phânbiệt đối xử giữa các tầng lớp, đẳng cấp trong xã hội, giữa tôn ty trật tự, thứ bậctrong gia đình Thể hiện tại các quy định như: Điều 475 quy định về việc con cháulầm lỡ đánh chết ông bà thì phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn ông bà lầm lỡđánh chết con cháu; Điều 476 quy định về việc vợ cả, vợ lẽ ngộ sát cha mẹ chồngthì phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn ngộ sát cha mẹ chồng cũ Đối với cha

Trang 40

mẹ chồng cũ mà ngộ sát thì “không phải tội”; Điều 477 quy định về việc ngộ sátanh chị cậu dì và ông bà cha mẹ vợ; Điều 478 quy định về việc bậc tôn trưởng đánhchết con cháu mà không phải cố ý giết; Điều 482 quy định về việc chồng ngộ sátvợ; Điều 498 quy định về việc làm chết bậc tôn trưởng… Các quy định này đều chothấy sự phân biệt đối xử, trọng nam, khinh nữ, sự hà khắc, cứng nhắc của tôn ti trật

tự trong xã hội phong kiến

Tầng lớp địa chủ phong kiến, quý tộc, quan liêu là những đẳng cấp cao nhấttrong xã hội, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi Thể hiện bằng các quy định tạiđiều 486 quy định về chủ cũ ngộ sát nô tỳ cũ ngộ sát thì không phải tội;, Điều 490quy định về chủ ngộ sát nô tỳ, ngộ sát người cầm cố; điều 494 quy định về ngườitrông nom công dịch ngộ sát người phục dịch Các quy định này đều thể hiện sự coithường tính mạng của nô tỳ, người phục dịch - tầng lớp bị coi là thấp kém trong xãhội, tính mạng của họ không được pháp luật bảo vệ Tầng lớp địa chủ, quý tộc,quan chức xâm phạm tính mạng của họ thì phải chịu mức độ xử lý rất nhẹ nhàng,thậm chí “chủ cũ ngộ sát nô tỳ thì không phải tội”

Trái lại, nô tỳ là tầng lớp bị coi là thấp kém, đê hèn nhất trong xã hội Nô tỳkhi phạm tội thì bị chế tài hình sự nặng hơn dân thường Việc nô tỳ xâm phạm đếntính mạng của những người được coi là ở tầng lớp cao hơn trong xã hội sẽ phải đốidiện với sự trừng phạt vô cùng nghiêm khắc thể hiện tại điều 486 quy định về việc

nô tỳ lầm lỡ giết chết chủ cũ, điều 480 quy định về việc nô tỳ ngộ sát chủ Vợ lẽphạm tội thì chịu chế tài hình sự nặng hơn Vợ cả… Điều này thể hiện sự khôngcông bằng trong luật hình sự phong kiến

Trong các điều luật quy định về hành vi vô ý làm chết người tại chươngĐấu tụng của Quốc Triều Hình luật chỉ duy nhất có một điều luật thể hiện khôngphân biệt đối xử giữa các tầng lớp trong xã hội Đó là điều 497 Tại điều 497 quyđịnh: “Trong khi đánh nhau….nếu lỡ đánh bị thương hay làm chết người đánh giúpmình thì được giảm tội hai bậc”

Quốc triều Hình luật đã bước đầu quy định về hành vi làm chết người trongkhi thi hành công vụ tại điều 646 Tuy nhiên trong điều 646 chưa phân tách riêng

Ngày đăng: 10/08/2014, 09:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 – Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội vô ý làm chết người  ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010. - tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn
Bảng 1 – Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội vô ý làm chết người ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 80)
Bảng 2A – Thống kê số vụ phạm tội vô ý làm chết người và  số vụ phạm tội nói chung đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam - tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn
Bảng 2 A – Thống kê số vụ phạm tội vô ý làm chết người và số vụ phạm tội nói chung đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam (Trang 81)
Bảng 4A – Thống kê số vụ phạm các tội xâm phạm tính mạng  đã được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 - tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn
Bảng 4 A – Thống kê số vụ phạm các tội xâm phạm tính mạng đã được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 (Trang 84)
Bảng 4B – Thống kê số bị cáo phạm các tội xâm phạm tính mạng  đã được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 - tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn
Bảng 4 B – Thống kê số bị cáo phạm các tội xâm phạm tính mạng đã được xét xử ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 (Trang 85)
Hình  phạt  khác - tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn
nh phạt khác (Trang 87)
Bảng 6 – Thống kê đặc điểm nhân thân bị cáo phạm tội vô ý làm chết người  đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 - tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn
Bảng 6 – Thống kê đặc điểm nhân thân bị cáo phạm tội vô ý làm chết người đã được xét xử sơ thẩm ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2010 (Trang 88)
Bảng 9 – Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội vô ý làm chết người  ở Việt Nam  giai đoạn 2006 – 2010. - tội vô ý làm chết người trong pháp luật hình sự việt nam lý luận và thực tiễn
Bảng 9 – Thống kê xét xử sơ thẩm hình sự về tội vô ý làm chết người ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w