Những đóng góp mới của Luận văn - Xác định rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định quyền sở hữutài sản của vợ chồng trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay; - Nêu ý nghĩa pháp lý v
Trang 1phần mở đầu 1.Tớnh cấp thiết của đề tài
Gia đỡnh là tế bào của xó hội, là cỏi nụi nuụi dưỡng con người, là mụitrường quan trọng hỡnh thành và giỏo dục nhõn cỏch, gúp phần vào sự nghiệpxõy dựng và bảo vệ tổ quốc “Gia đỡnh tốt thỡ xó hội tốt, xó hội tốt thỡ gia đỡnhcàng tốt” (Lời núi đầu - Luật Hụn nhõn và gia đỡnh 2000) Gia đỡnh được xõydựng trờn cơ sở cỏc quan hệ hụn nhõn, huyết thống và nuụi dưỡng, trong đúquan hệ hụn nhõn là nền tảng Mỗi gia đỡnh núi chung, mỗi cặp vợ chồng núiriờng ngoài nghĩa vụ yờu thương, quý trọng chăm súc giỳp đỡ lẫn nhau, mỗibên cũn cú nghĩa vụ duy trỡ cuộc sống và phỏt triển kinh tế chung của giađỡnh Thực hiện tốt chức năng kinh tế của gia đỡnh mà nội dung là sự tham giacủa cỏc thành viờn vào quỏ trỡnh sản xuất, quỏ trỡnh tiờu dựng, gúp phần tạodựng và phỏt triển cơ sở vật chất, tinh thần nhất định cho gia đỡnh và xó hội.Chớnh vỡ vậy, điều chỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng luụn được nhà làm luậtquan tõm Tài sản của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng củaphỏp luật hụn nhõn và gia đỡnh Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế hiện nay và sự tỏc động của nền kinh tế thị trường, vợ chồng tham giangày càng rộng rói vào cỏc giao dịch dõn sự, thương mại làm cho cỏc quan hệtài sản trong gia đình ngày càng phức tạp, đặc biệt là những tranh chấp về tàisản của vợ chồng
Hiến phỏp 1992, cựng cỏc văn bản phỏp luật khỏc như: Bộ luật dõn sựnăm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật đầu tư năm 2005… là cơ sởphỏp lý để vợ chồng tham gia vào cỏc quan hệ dõn sự, kinh tế với tư cỏch lànhững chủ thể độc lập Họ cú thể cựng nhau đầu tư sản xuất kinh doanh hoặctiến hành sản xuất kinh doanh riờng, cú thể sử dụng tài sản chung hoặc tài sảnriờng vỡ lợi ớch cỏ nhõn hay vỡ lợi ớch chung của cả gia đỡnh Vỡ vậy, việc xỏcđịnh lợi nhuận cũng như nghĩa vụ tài sản phỏt sinh từ hoạt động sản xuất, kinh
Trang 2doanh thuộc quyền sở hữu của vợ hoặc chồng hay của chung vợ chồng là vấn
đề hết sức khú khăn Trong khi đú, cỏc văn bản phỏp luật chuyờn ngành chỉnúi đến cỏc cỏ nhõn với tư cỏch là chủ thể của cỏc quan hệ phỏp luật dõn sự,thương mại chứ khụng đề cập đến việc họ tham gia với tư cỏch của người vợhoặc người chồng trong gia đỡnh Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay cũngchưa cú bất cứ một quy định cụ thể nào điều chỉnh vấn đề tài sản của vợchồng khi một bờn vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng tham gia vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh Chớnh vỡ vậy, xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợchồng trong nền kinh tế hiện nay ngày càng khú khăn phức tạp Giải quyết tốtvấn đề này khụng chỉ đảm bảo quyền lợi của vợ chồng mà cũn gúp phần ổnđịnh, phỏt triển gia đỡnh, đảm bảo quyền lợi của cỏc tổ chức cỏ nhõn cú liờnquan và ổn định cỏc quan hệ xó hội khỏc
Từ thực tế trờn, tỏc giả luận văn mong muốn tiến hành tỡm hiểu và
nghiờn cứu Thực trạng phỏp luật điều chỉnh vấn đề xỏc định quyền sở hữu tài sản vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay Trờn cơ sở đú đưa ra
những kiến nghị nhằm từng bước xõy dựng và hoàn thiện cỏc quy định củaphỏp luật về vấn đề này
2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu đề tài
Trong những năm qua đó cú nhiều bài viết và cỏc cụng trỡnh khoa học
đề cập tới những khớa cạnh khỏc nhau của vấn đề tài sản vợ chồng như: Chế
độ tài sản của vợ chồng, xỏc định tài sản của vợ chồng, chia tài sản chung của
vợ chồng trong thời kỳ hụn nhõn… ở mức độ nhất định đó làm sỏng tỏ nhữngvấn đề lý luận cơ bản về tài sản của vợ chồng Trong đú, một số tỏc giả đónghiờn cứu những vấn đề liên quan đến tài sản của vợ chồng trong các hoạt
động đa dạng của nền kinh tế nớc ta hiện nay Cú thể kể ra như: “Trỏch nhiệmliờn đới của vợ chồng đối với hợp đồng dõn sự do một bờn thực hiện”
Trang 3(Nguyễn Hải An, Tạp chớ toà ỏn nhõn dõn số 12/2004), “Chế độ tài sản của vợchồng theo Luật Hụn nhõn và gia đỡnh Việt Nam” (Nguyễn Văn Cừ - Luận ỏnTiến sĩ Luật học, 2005), “Một số vấn đề về tài sản vợ chồng trong hoạt độngsản xuất kinh doanh tại Việt Nam” (Trần Đức Hoài, Luận văn thạc sĩ luật học,2006), “Tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh” (Bộ mụnLuật hụn nhõn và gia đỡnh - Đề tài khoa học cấp trường, 2008), ….
Tuy nhiờn vẫn chưa cú một bài viết, một cụng trỡnh khoa học nào tậptrung nghiờn cứu vấn đề xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trongnền kinh tế hiện nay Đõy thực sự là một đề tài mới mẻ mà cũng rất phức tạp,nhất là trong bối cảnh nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay
3 Mục đớch, phạm vi nghiờn cứu của đề tài
Trờn cơ sở phõn tớch cỏc quy định của phỏp luật hiện hành về quyền sởhữu tài sản của vợ chồng, luận văn đi sâu nghiên cứu nhằm xỏc định tài sảnchung của vợ chồng và tài sản riờng của vợ hoặc chồng trong bối cảnh củanền kinh tế thị trường khi vợ chồng tham gia vào những hình thức sản xuấtkinh doanh khác nhau
Luận văn tập trung nghiờn cứu vấn đề xỏc định quyền sở hữu tài sảncủa vợ chồng khi vợ, chồng tham gia một số lĩnh vực chủ yếu trong nền kinh
tế hiện nay nh thị trờng chứng khoỏn, kinh doanh bất động sản, thành lập cácloại hỡnh doanh nghiệp… Từ đú tỡm ra những điểm khiếm khuyết, bất cập củapháp luật hiện hành và đề xuất những phương ỏn bổ sung hoàn thiện phỏp luậtnhằm điều chỉnh vấn đề này
4 Phương phỏp nghiờn cứu của đề tài
Các phơng pháp chủ yếu đợc sử dụng để thực hiện đề tài là phươngphỏp phõn tớch, tổng hợp và so sỏnh luật Ngoài ra, phơng pháp thống kê vàkhảo sát thực tế cũng đợc sử dụng để hoàn thành đề tài
Trang 45 Những đóng góp mới của Luận văn
- Xác định rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định quyền sở hữutài sản của vợ chồng trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay;
- Nêu ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của việc xác định quyền sở hữu tàisản của vợ chồng trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay;
- Xác định rõ quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong một số trườnghợp như: Trường hợp vợ chồng đầu tư vào thị trường chứng khoán, trườnghợp vợ chồng tham gia kinh doanh bất động sản và trường hợp vợ chồngthành lập một số loại hình doanh nghiệp;
- Đưa ra một số phương hướng cụ thể hoàn thiện pháp luật điều chỉnhviệc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế ở ViệtNam hiện nay
6 Cơ cấu của luận văn:
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luậnvăn gåm 3 ch¬ng sau:
Chương 1: Cơ sở và ý nghĩa của việc xác định quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong một sốtrường hợp cụ thể theo pháp luật hiện hành
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh việc xácđịnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU
TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt là nền tảng của một xã hộiphát triển Gia đình thực hiện tốt chức năng kinh tế sẽ là cơ sở để thực hiện tốtcác chức năng xã hội cơ bản khác của gia đình, góp phần thúc đẩy sự pháttriển và tiến bộ xã hội Do vậy, các chế định liên quan đến tài sản, quyền sởhữu tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm Đặc biệt, trongbối cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì vấn đề tài sản, quyền sở hữu tàisản của vợ chồng ngày càng trở thành vấn đề cần nhận được sự quan tâm củanhà làm luật hơn nữa Trong mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, Đảng vàNhà nước ta luôn đề ra những chủ trương, định hướng kịp thời và phù hợp.Bản chất của chế độ xã hội, cùng với các yêu cầu khách quan của nền kinh tếthị trường là cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay ở Việt Nam
1.1.1 Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và
vì dân nên mục tiêu của chế độ kinh tế cũng là vì lợi ích của nhân dân Quacác Nghị quyết của Đại hội Đảng về Đường lối phát triển kinh tế, có thể thấyquan điểm cách mạng và nhân dân của Đảng Cộng Sản Việt Nam là “Tất cả
do con người, tất cả vì hạnh phúc con người” Phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm yêu cầu: Tăng trưởng kinh tế
Trang 6phải gắn chặt với những tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện mục tiêu "mọilợi ích đều vì dân", giải phóng con người, con người phát triển toàn diện Conngười là nhân tố quyết định, là động lực to lớn, là chủ thể sáng tạo mọi nguồncủa cải vật chất và tinh thần của xã hội Vì hạnh phúc con người là mục tiêuphấn đấu cao nhất của chúng ta
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổchức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh
tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xãhội
Có thể nói nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặcthù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa Tính định hướng xã hội chủ nghĩa củanền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là
cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nướckhác
Tính định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta thểhiện trước hết ở việc xác định nội dung các mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế thị trường và đặc trưng xã hội của nền kinh tế thị trường [3] Trong
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”,Đảng ta đã xác định: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng làmột xã hội:
- Do nhân dân lao động làm chủ
- Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại
và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 7- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theonăng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điềukiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiếnbộ
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thếgiới"(1) [4,Tr 8-9]
Với những định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nêu trên,thì mục tiêu hàng đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta được xác định làgiải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế, động viênmọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất - kỹthuật của chủ nghĩa xã hội tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao củanền kinh tế, trên cơ sở đó, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, từngbước thực hiện sự công bằng, bình đẳng và lành mạnh các quan hệ xã hội Từ
đó sẽ khắc phục được tình trạng tự túc tự cấp của nền kinh tế, thúc đẩy phâncông lao động xã hội phát triển, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho ngườilao động Áp dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tăngnăng suất lao động xã hội, tăng số lượng, chủng loại và chất lượng hàng hóa,dịch vụ Thúc đẩy tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữacác địa phương, các vùng lãnh thổ, với các nước trên thế giới Động viên mọinguồn lực trong nước và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài Phát huy tinhthần năng động, sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, tạo ra
sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế, tạo ra tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao và bền vững Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nướcnghèo và kém phát triển, thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 8Bởi vậy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
có ba điểm rất cơ bản là: Lấy chế độ công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếulàm nền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế quốc dân;kết hợp nhiều hình thức phân phối, thực hiện tốt các chính sách xã hội; Nhànước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thực hiện chứcnăng quản lý nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam
Ngay từ Hiến pháp năm 1959, Nhà nước ta đã xác định mục đích chínhsách kinh tế của Việt Nam là: Không ngừng phát triển mức sản xuất nhằmnâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân (Điều 9) Tiếp đó, Hiếnpháp năm 1980 khẳng định: Thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất vàvăn hoá ngày càng tăng của xã hội (Điều 15) Trên cơ sở kế thừa và phát huynhững điểm tiến bộ của các bản Hiến pháp cũ, Hiến pháp năm 1992 tiếp tụckhẳng định mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước ta là làm cho dân giàu,nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhândân (Điều 16)
Để đạt được mục tiêu kinh tế đã đề ra, Nhà nước ta chủ trương xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hộinhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nhànước ta thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa (Điều 15 Hiến pháp năm 1992)
Hiến pháp năm 1992 có ý nghĩa quan trọng ghi nhận chính sách pháttriển nền kinh tế thị trướng định hướng xã hội chủ nghĩa mà nền tảng là cơcấu kinh tế nhiều thành phần “nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần với các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sởhữu toàn dân” (Điều 19), “các cơ cấu sản xuất kinh doanh thuộc mọi thànhphần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 22) Đồng thời, Điều 57
Trang 9Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theoquy định của pháp luật” Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm
1992, một loạt các văn bản pháp luật được xây dựng và ban hành như: Luậtdoanh nghiệp (2005), Luật thương mại (2005), Bộ luật dân sự (2005)… Đây
là cơ sở pháp lý vững chắc để mỗi cá nhân nói chung, mỗi cặp vợ chồng nóiriêng tiến hành đầu tư kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận để xây dựng kinh tế giađình, duy trì và cải thiện đời sống, thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thầncủa các thành viên gia đình Các văn bản pháp luật ban hành đã đáp ứng nhucầu kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập và hệ quả là nhiều mô hình kinh tế
ra đời thu hút lượng vốn đầu tư lớn trong dân Sự tăng nhanh về số lượng các
mô hình kinh tế đã tận dụng và phát huy được sức mạnh của toàn dân vào sựnghiệp phát triển kinh tế Trong đó, sự tham gia của mỗi gia đình mà hạt nhân
là vợ chồng vào quá trình này là hết sức năng động
Hệ thống các văn bản pháp luật hiện hành đã quy định một cách tươngđối đầy đủ về vấn đề sở hữu và quyền sở hữu tài sản nói chung cũng nhưquyền sở hữu tài sản của vợ chồng nói riêng Hiến pháp năm 1992 đã ghi
nhận: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” (Điều 58 Hiến pháp năm 1992).
Đặc biệt, thành tựu lập pháp cao nhất trong lĩnh vực sở hữu đó là các quy định
về tài sản và quyền sở hữu tại Phần thứ hai Bộ luật dân sự Các quy địnhtương đối đầy đủ và hoàn thiện về sở hữu là những chuẩn mực pháp lý ổnđịnh, tạo hành lang pháp lý vững chắc để giải quyết những tranh chấp về tàisản và quyền sở hữu tài sản
Trên cơ sở Hiến pháp và Bộ luật dân sự về quyền sở hữu tài sản, quyền
tự do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân, LuậtHôn nhân và gia đình quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng Luật Hôn
Trang 10nhân và gia đình đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay làCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đã quy định vợ chồng có quyền ngangnhau đối với tài sản mỗi bên có trước khi kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân.
Do tính chất lịch sử của giai đoạn này mà nhà làm luật lúc bấy giờ chưa côngnhận quyền sở hữu riêng của vợ, chồng Đạo luật hôn nhân và gia đình tiếptheo là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, bên cạnh công nhận sở hữuchung giữa vợ và chồng, nhà làm luật còn công nhận vợ, chồng có quyền cótài sản riêng Kế thừa hai đạo luật trước đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định: Vợ chồng có quyền sở hữu chung đối với thu nhập hợp pháp
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp phápkhác của mỗi bên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản mà vợ chồngđược tặng cho chung hoặc được thừa kế chung (Điều 27) Bên cạnh đó, LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 cũng khẳng định quyền sở hữu của vợ hoặcchồng đối với thu nhập hợp pháp của mỗi bên trước khi kết hôn hoặc tài sản
mà mỗi bên được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân(Điều 32) Các quy định trên là cơ sở pháp lý cho việc xác định quyền sở hữutài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân, bao gồm cả khi vợ chồngtham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh Như vậy, Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định quyền sở hữu tàisản của vợ chồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay
1.1.2 Cơ sở thực tiễn:
Có thể khẳng định trong những năm vừa qua nền kinh tế xã hội của đấtnước đã dành được những thành tựu đáng kể
Một là, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kinh tế
tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất - kỹ thuật được tăng cường, đời sống củacác tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện
Trang 11Hai là, thực hiện có kết quả chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần Kinh tế tập thể, mà nòng cốt là hợp tác xã, đã được đổi mới từng bướctheo Luật Hợp tác xã và các chính sách của Đảng và Nhà nước Các hợp tác
xã đã chứng tỏ được rõ hơn vai trò, vị trí đối với kinh tế hộ trong sản xuấthàng hóa, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Kinh tế tư nhân pháthuy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân Kinh tế cóvốn đầu tư nước ngoài cũng có bước phát triển quan trọng
Ba là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được
hình thành Nền kinh tế nhiều thành phần theo chủ trương của Đảng và đượcquy định trong Hiến pháp 1992 đã được cụ thể hoá bằng các Luật, Pháp lệnh.Với Luật Doanh nghiệp, quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp năm 1992quy định đã thực sự đi vào cuộc sống Bộ luật dân sự, Luật Thương mại, LuậtĐầu tư nước ngoài, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước… đã tạo khungpháp lý ban đầu cho các yếu tố thị trường hình thành và vận hành từng bước.Đồng thời, Nhà nước đã thể chế hoá thành cơ chế, chính sách về đất đai, tíndụng, ưu đãi thuế Nhờ đó, đã góp phần tích cực cho quá trình phát triểnkinh tế thị trường trong suốt những năm qua Nhà nước đã từng bước táchchức năng quản lý nhà nước về kinh tế của các cơ quan nhà nước, chức năngchủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước của Nhà nước và chức năng kinh doanhcủa doanh nghiệp chuyển từ quản lý cụ thể các hoạt động của nền kinh tế sangquản lý tổng thể nền kinh tế quốc dân; chuyển từ can thiệp trực tiếp vào nềnkinh tế sang can thiệp gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, cơchế, chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô khác
Bốn là, đạt được những kết quả tích cực trong hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới Vượt ra khỏi chính sách bao vây cấm vận của Mỹ và các lựclượng thù địch nước ngoài, Việt Nam đã tham gia hợp tác, liên kết kinh tếquốc tế trên các cấp độ và trong các lĩnh vực kinh tế then chốt (như thương
Trang 12mại dịch vụ, lao động, đầu tư, khoa học và công nghệ ) Đặc biệt là, nước ta
đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ngày 28-7-1995,
đã không ngừng mở rộng các quan hệ kinh tế song phương, tiểu vùng, vùng,liên vùng và tiến tới tham gia liên kết kinh tế toàn cầu Ngày 7- 11- 2006 ViệtNam chính thức gia nhập WTO đem lại những thuận lợi và cả những tháchthức mới cho nền kinh tế, tạo hành lang pháp lý để thu hút vốn đầu tư nướcngoài, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nướcngoài
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước phát triển năng động, sự tham giacủa vợ chồng vào các giao dịch dân sự, thương mại ngày càng rộng rãi đã nảysinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhất là các vấn đề liên quan đến tài sản
vợ chồng ngày càng phức tạp Các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, giữa
vợ chồng và người thứ ba ngày càng nhiều và đây cũng là những tranh chấpchủ yếu
Chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, khuyến khích mọi tổchức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt đông sản xuất kinhdoanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm đã tận dụng và pháthuy được sức mạnh tổng thể của nguồn lực trong nước vào sự nghiệp xâydựng và phát triển kinh tế
Từ thực tiễn phát triển kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua, cùngvới các quy định của pháp luật đã tạo cơ sở khuyến khích vợ chồng tham giangày càng sâu rộng vào các quan hệ dân sự và thương mại Theo quy định củapháp luật hiện hành, các hình thức kinh doanh mà vợ chồng có thể lựa chọnđầu tư rất phong phú và đa dạng như: Kinh tế hộ gia đình, thành lập doanhnghiệp, tham gia thị trường chứng khoán, kinh doanh bất động sản, tham giacác hợp đồng cho thuê tài sản… để tìm kiếm lợi nhuận Vợ chồng có thể
Trang 13cựng nhau đầu tư kinh doanh hoặc cú thể đầu tư kinh doanh riờng, mục đớchcủa họ cú thể vỡ lợi ớch cỏ nhõn hoặc vỡ lợi ớch chung của cả gia đỡnh Vỡ vậy,việc xỏc định quyền sở hữu tài sản vợ chồng trong những trường hợp này làhết sức phức tạp.
Hơn nữa, trong những năm gần đõy, quan hệ hụn nhõn cú yếu tố nướcngoài ngày càng gia tăng như kết hụn với người nước ngoài, một bờn vợchồng là người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động tại nước ngoài… Trongnhững trường hợp này thỡ việc xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng làhết sức khú khăn Trỏch nhiệm của mỗi bờn vợ chồng đối với gia đỡnh, đốivới nhau, đối với con chung, đối với người thứ ba cú quyền sẽ được xỏc địnhnhư thế nào? Đõy là vấn đề rất phức tạp đặc biệt trong việc điều tra xỏc minhthu thập tin tức, chứng cứ hoặc thi hành ỏn cần phải cú uỷ thỏc tư phỏp
Mặt trỏi của nền kinh tế thị trường làm cho quan hệ hụn nhõn ngàycàng phức tạp, cỏc vụ ly hụn ngày càng tăng, trong cỏc ỏn kiện ly hụn tậptrung chủ yếu ở cỏc tranh chấp về tài sản Vỡ vậy, giải quyết tốt vấn đề xỏcđịnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng khụng chỉ bảo vệ quyền và lợi ớch của
vợ chồng, của người thứ ba tham gia cỏc giao dịch với vợ chồng mà cũn ổnđịnh đời sống gia đỡnh, gúp phần ổn định cỏc quan hệ xó hội khỏc, thỳc đẩykinh tế xó hội ngày càng phỏt triển
Là một phạm trự thuộc quyền sở hữu cụng dõn được quy định trongHiến phỏp, quyền sở hữu tài sản vợ chồng (cũn gọi là chế độ tài sản vợchồng) được Luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000 quy định một cỏch cụ thể,tương đối đầy đủ từ Điều 27 đến Điều 33 và Điều 95 Đõy là nội dung quantrọng trong quy định về quan hệ pháp luật giữa vợ chồng Theo Luật Hôn nhân
và gia đình hiện hành, giữa vợ chồng có hai hình thức sở hữu về tài sản, đó là
sở hữu chung hợp nhất và sở hữu riêng Thực tiễn ỏp dụng chế độ tài sản của
vợ chồng những năm qua gúp phần vào sự ổn định cỏc quan hệ hụn nhõn và
Trang 14gia đình, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợchồng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được của pháp luật điềuchỉnh vấn đề tài sản của vợ chồng, quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hônnhân và gia đình năm 2000 về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng cho thấycòn khá nhiều bất cập và vướng mắc Mặc dù đã có khá nhiều văn bản của các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định, hướng dẫn áp dụng về quyền sở
hữu tài sản của vợ chồng, nhưng do tính chất phức tạp và rất "nhạy cảm" từ
các quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung, những tranh chấp về tài sản giữa
vợ và chồng nói riêng nên khi áp dụng các quy định của pháp luật hiện hànhvào thực tiễn vẫn nảy sinh những vấn đề mới mà pháp luật hiện hành chưađáp ứng được Thực tiễn áp dụng đã có nhiều quan điểm, nhận thức, đánh giákhác nhau, chưa có sự thống nhất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩmquyền và cá nhân thực thi pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợchồng Trong báo cáo tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử của ngành Tòa
án hàng năm, hầu như đều có các vấn đề về xác định tài sản chung, tài sảnriêng của vợ chồng và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Điều đócho thấy các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng luôn là loại việc phức tạp,thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, hạn chế và có nhiều bấtcập trong công tác thi hành án liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợchồng Nguyên nhân có nhiều, trong đó phải kể đến một số qui định của LuậtHôn nhân và gia đình về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng mới chỉ dừng lại
ở tính chất định khung, nguyên tắc chung Các văn bản qui định chi tiết thihành và hướng dẫn áp dụng quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn thiếu,chưa cụ thể, chưa theo kịp với sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội.Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủnghĩa hiện nay, vợ chồng tham gia ngày càng rộng rãi vào các giao lưu dân
sự, kinh tế, thương mại với tư cách là những chủ thể độc lập thì những tranh
Trang 15chấp về quyền sở hữu tài sản vợ chồng ngày càng nhiều và phức tạp Trongkhi đó các văn bản pháp luật hiện hành như Luật Doanh nghiệp, Luật ThươngMại, Luật Hợp tác xã… không có các quy định cụ thể điều chỉnh các đốitượng tham gia là một bên vợ hoặc chồng Bởi lẽ, mặc dù vợ hoặc chồng thamgia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay với tư cách là một chủ thểđộc lập nhưng do tính chất cộng đồng đặc thù của quan hệ hôn nhân, nênngoài những quy định của luật chuyên ngành áp dụng khi vợ hoặc chồngtham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh cụ thể thì còn chịu sự chi phốicủa các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Vì vậy, việc xác định đâu
là tài sản chung, đâu là tài sản riêng trong các trường hợp này là một vấn đềkhó khăn cả về lý luận và thực tiễn
1.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
Quyền sở hữu tài sản vợ chồng là một phạm trù thuộc quyền sở hữucông dân được quy định trong Hiến pháp (Điều 58 Hiến Pháp năm 1992) và làmột nội dung quan trọng trong quan hệ pháp luật giữa vợ chồng Xác địnhquyền sở hữu tài sản vợ chồng có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết các tranhchấp về tài sản giữa vợ và chồng, giữa vợ chồng với người thứ ba, góp phần
ổn định các quan hệ gia đình và các quan hệ xã hội khác
1.2.1 Ý nghĩa của chế định quyền sở hữu đối với sự phát triển của gia đình:
- Xác định quyền sở hữu tài sản vợ chồng có ý nghĩa vô cùng quantrọng, là cơ sở để vợ chồng thực hiện quyền dân chủ và bình đẳng trong cácquan hệ tài sản, tạo điều kiện khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm với giađình, cùng chung sức và ý chí xây dựng cơ sở vật chất cho cuộc sống gia
Trang 16đình Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định chế độ tài sản của vợchồng là chế độ cộng đồng tạo sản, trong đó đồng thời tồn tại sở hữu chunghợp nhất của vợ chồng và sở hữu riêng của mỗi bên Vợ chồng có quyền vànghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình,thực hiện các nghĩa vụ chung của gia đình (Khoản 1,2 Điều 28 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000) Quy định trên là hoàn toàn hợp lý vì tính cộng đồngcủa quan hệ hôn nhân dẫn đến vợ chồng cùng chung sức trong việc tạo lậpkhối tài sản chung, cùng chung trách nhiệm trong việc gánh vác các công việcgia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng Vì vậy, vợ chồng có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý tài sản chung của vợ chồng Mặc
dù trên thực tế sự đóng góp công sức của vợ, chồng vào khối tài sản chung làkhác nhau, có thể một bên không có thu nhập riêng, phải làm công việc nhànhưng quyền đối với tài sản chung không vì thế mà kém hơn bên kia Đây là
cơ sở, là nền tảng để có một gia đình dân chủ, hạnh phúc và bền vững Chỉkhi vợ chồng bình đẳng trong việc quản lý tài sản chung mới có thể dẫn đếnbình đẳng trong các mối quan hệ khác trong gia đình
- Quyền sở hữu là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sốngkinh tế - xã hội cũng như trong pháp luật dân sự Nó là một trong những tiền
đề vật chất cho sự phát triển kinh tế Xác định quyền sở hữu tài sản của vợchồng không chỉ giúp cho các cặp vợ chồng thực hiện tốt vai trò của người
vợ, người chồng trong gia đình mà còn thực hiện vai trò công dân, thành viêncủa xã hội Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể chế độ sởhữu tài sản chung, chế độ sở hữu tài sản riêng của vợ chồng Quy định nàyvừa bảo đảm lợi ích chung của gia đình vừa đảm bảo sự bình đẳng và tính độclập tương đối trong việc quản lý tài sản, tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng chủđộng tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại vì lợi ích gia đình cũng
Trang 17như lợi ích cá nhân “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyềnngang nhau về mọi mặt trong gia đình” (Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000) Vì vậy, vợ và chồng đều có quyền tiến hành các giao dịch liênquan đến tài sản chung và tài sản riêng của mình Quyền độc lập về tài sản tạo
cơ sở để vợ, chồng chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự với tư cách làcác chủ thể độc lập Tuy nhiên, tính độc lập trong giao lưu dân sự của vợ,chồng chỉ là độc lập tương đối vì luôn chịu sự ràng buộc từ lợi ích gia đình.Lợi ích gia đình luôn được đặt lên hàng đầu, kể cả trong các giao dịch liênquan đến tài sản riêng của mình Điều này được thể hiện rất rõ trong Khoản 5Điều 33 Luật Hôn nân và gia đình năm 2000
- Xuất phát từ tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân cũng như sựchi phối bởi tình cảm giữa vợ và chồng mà khi cuộc sống của vợ chồng hạnhphúc thì ranh giới giữa tài sản chung, tài sản riêng không mấy quan trọng,thậm chí nhiều cặp vợ chồng còn xóa nhòa ranh giới này Vợ chồng cùngnhau quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản trong gia đình bao gồm cả tài sảnchung và tài sản riêng của một bên Nhưng khi quan hệ vợ chồng phát sinhnhững mâu thuẫn gay gắt thì vấn đề được nhắc đến nhiều nhất là vấn đề tàisản Vì vậy, xác định quyền sở hữu tài sản vợ chồng là điều kiện cần thiết đểbảo vệ quyền lợi của các thành viên trong gia đình, tránh những mâu thuẫnxảy ra làm tổn thương đến tình cảm và sự đoàn kết trong gia đình
- Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay, vợ chồng ngày càng thamgia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, thương mại, làm cho vấn đề tài sản vợchồng ngày càng phức tạp Các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng, giữa vợ,chồng với người thứ ba ngày càng nhiều Xác định quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng giúp cho vợ, chồng xác định đựơc quyền và nghĩa vụ về tài sản đốivới gia đình, đối với nhau và đối với con cái, là căn cứ để giải quyết các tranhchấp về tài sản giữa vợ, chồng Đồng thời còn xác định rõ trách nhiệm của các
Trang 18bên vợ chồng trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản Qua đó giúpminh bạch hoá các giao dịch dân sự mà một bên chủ thể là vợ, chồng, giúpngười có quyền xác định được nghĩa vụ mà vợ chồng phải thực hiện được bảođảm thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản riêng Vì vậy, quyền và lợi íchcủa người thứ ba, của cộng đồng và xã hội vì thế cũng được đảm bảo Nhưvậy, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng không chỉ bảo vệ quyền vàlợi ích của vợ chồng, của người thứ ba mà còn là căn cứ pháp lý cho cơ quan
có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản của vợchồng Đồng thời, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn tạo điềukiện để vợ chồng chủ động tham gia vào các quan hệ xã hội nhằm phát triểnkinh tế gia đình, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bềnvững và thực hiện tốt các mục tiêu xã hội
1.2.1 Ý nghĩa của việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong nền kinh tế hiện nay:
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, đặc biệt là sự kiện Việt Namgia nhập WTO, giao lưu quốc tế ngày càng rộng rãi dẫn đến các quan hệ hônnhân ngày càng phức tạp Quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài ngày cànggia tăng như: Kết hôn với người nước ngoài, một bên vợ, chồng sinh sống,học tập tại nước ngoài, vợ chồng có tài sản tại nước ngoài… Xác định quyền
sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp này là hết sức khó khăn Nhất làtrong trường hợp một bên cố tình giấu giếm tài sản, giấu giếm thu nhập hợppháp trong thời kỳ hôn nhân, trốn tránh trách nhiệm với gia đình… Vì khôngthể kiểm soát được thu nhập thực tế của vợ, chồng nên không thể xác địnhđược khối tài sản chung của vợ chồng để thực hiện các nghĩa vụ chung của vợchồng như đáp ứng nhu cầu chung của gia đình hay các nghĩa vụ chung khác.Trách nhiệm của họ đối với gia đình hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyệncủa họ Đặc biệt, khi ly hôn hoặc xảy ra tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng
Trang 19thì việc giải quyết là hết sức khó khăn vì việc điều tra, xác minh thu thậpthông tin cần phải có sự ủy thác tư pháp quốc tế.
Hiến pháp năm 1992 chính thức ghi nhận chính sách phát triển kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nền tảng là cơ cấu kinh tế nhiềuthành phần với các hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, dẫn đến nguồn lựctrong nước có điều kiện để phát huy sức mạnh của mình vào quá trình xâydựng và phát triển đất nước Cùng với các văn bản pháp luật khác như LuậtDoanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Bộ luật dân sự năm 2005,Luật Chứng khoán năm 2006… là cơ sở pháp lý để vợ chồng tham gia tíchcực vào các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại Trong điều kiện kinh tế hiệnnay, xác định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là hết sức khó khăn Sự tăngnhanh về số lượng các mô hình kinh tế cùng với chính sách khuyến khích,huy động vốn trong và ngoài nước, tạo điều kiện để vợ chồng tham gia năngđộng vào các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại Hiện nay, vợ chồng cóthể lựa chọn nhiều hình thức để tiến hành đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận Theoquy định của pháp luật hiện hành, các hình thức đầu tư mà vợ, chồng có thểtham gia là rất đa dạng, bao gồm:
+ Đầu tư thành lập các tổ chức kinh tế (Điều 22 Luật Đầu tư năm2005), thành lập doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, hợp tác xã…………
+ Đầu tư phát triển kinh doanh
+ Góp vốn mua cổ phần
+ Tham gia vào thị trường chứng khoán
+ Tham gia kinh doanh bất động sản
Trong các hoạt động kinh tế này, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạttài sản không chỉ do Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh mà còn chịu sự chiphối của các luật chuyên ngành khác như: Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp,Luật Thương mại… Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc
Trang 20chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, cú quyền sở hữu đối với tài sảnriờng Vỡ vậy, khi tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh vợ, chồng cúthể sử dụng tài sản chung hoặc tài sản riờng, vỡ nhu cầu chung của gia đỡnhhay vỡ lợi ớch cỏ nhõn Khi vợ, chồng tham gia vào cỏc hoạt động kinh tế việcxỏc định quyền, trỏch nhiệm của họ như thế nào là vụ cựng quan trọng Điềunày khụng chỉ ảnh hưởng tới quyền và lợi ớch hợp phỏp của một bờn vợ hoặcchồng, quyền và lợi ớch hợp phỏp của cỏc thành viờn khỏc trong gia đỡnh màcũn ảnh hưởng đến quyền và lợi ớch hợp phỏp của cỏc tổ chức, cỏ nhõn khỏc
cú quyền lợi và nghĩa vụ liờn quan Xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợchồng trong nền kinh tế hiện nay nhằm điều chỉnh có hiệu quả quan hệ giữa
vợ và chồng với nhau và vợ hoặc chồng với người thứ ba (là cỏ nhõn hoặcphỏp nhõn) nhằm đảm bảo lợi ích của vợ chồng và của ngời thứ ba
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, nguồn thu nhập củacỏc cỏ nhõn rất đa dạng, phong phỳ: Thu nhập do lao động (tiền cụng, tiềnlương), thu nhập do hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản do được thừa kế,được tặng cho và cỏc thu nhập hợp phỏp khỏc (như hoa lợi, lợi tức phỏt sinh
từ tài sản chung hoặc từ tài sản riờng của vợ chồng, tiền thưởng, tài sản đượcxỏc lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dõn sự…) Theo quy định củaphỏp luật hiện hành, tài sản có nguồn gốc là hoa lợi, lợi tức phát sinh trongthời kỳ hôn nhân của vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên,trong thời kỳ hôn nhân, tài sản này có thể đợc hình thành từ tài sản chunghoặc có thể từ tài sản riêng, nguồn của tài sản gốc cũng rất phong phú, do đóviệc phân định tài sản là hoa lợi, lợi tức thuộc tài sản riêng hay tài sản chungcủa vợ chồng cũng gặp nhiều vớng mắc Hiện nay, vợ, chồng tham gia ngàycàng nhiều vào các giao dịch dân sự, thơng mại với t cách là những chủ thể
độc lập, họ có thể dùng tài chung hoặc tài sản riêng, vì lợi ích chung của cảgia đình hoặc vì nhu cầu, lợi ích của cá nhân Vì vậy, việc xác định tài sảnchung, tài sản riêng gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, vấn đề tài sản của vợchồng khụng chỉ cú dừng lại đối với những tài sản phỏt sinh mà cũn bao gồm
Trang 21cả phần tài sản sẽ phải chi tiêu, những khoản nợ, các khoản phải bồi thườngthiệt hại cho người khác… Vì vậy, việc xác định quyền sở hữu tài sản của vợchồng trong nền kinh tế hiện nay cần phải được xem xét một cách toàn diện,thấu đáo trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích của gia đình, bảo vệ lợi ích của vợ,chồng và của người thứ ba.
1.3 SƠ LƯỢC VỀ QUY ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG QUA CÁC THỜI KỲ:
Chế định quyền sở hữu được quy định ngay từ thời phong kiến và ngàycàng hoàn thiện qua các thời kỳ
Trong thời kỳ phong kiến, các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợchồng đã được luật pháp ghi nhận trong bộ Quốc triều hình luật dưới triều Lê(1407-1497) và bộ Hoàng Việt luật lệ dưới triều Nguyễn (1912) Trong thời
kỳ này, các giao lưu dân sự chưa được mở rộng, các quan hệ tài sản chưaphức tạp, chỉ phát sinh trong một số lĩnh vực đơn giản như: Mua bán, cầm cố,thế chấp điền sản, cho thuê tài sản, vay tiền… Nhìn chung, quan hệ tài sảnvẫn bó hẹp trong phạm vi gia đình Theo Quốc triều hình luật, “trong quan hệtài sản thì sự phân biệt về quyền lợi giữa vợ và chồng không có sự khác biệtlắm” [20, tr.394] Bộ Quốc triều hình luật công nhận vợ chồng đều có quyền
sở hữu đối với tài sản riêng: “Tài sản riêng của vợ chồng là những tài sản màmỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn, do được thừa kế từ gia đình mỗi bên”
[20, tr 417] Cả tài sản chung và tài sản riêng đều dặt dưới quyền quản lýchung của vợ và chồng Vợ chồng cùng có trách nhiệm sử dụng khối tài sảnnày cho các nhu cầu chung của gia đình Pháp luật thời Lê đã thể hiện sự tiến
bộ so với các đạo luật khác thời phong kiến đó là: Công nhận quyền sở hữutài sản riêng của vợ, chồng; vợ, chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhautrong việc tạo lập, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung Vì là người có
Trang 22đóng góp vào kinh tế gia đình nên người vợ cũng có quyền làm chủ đối với tàisản Người vợ được quyền tham gia vào quá trình quản trị tài sản chung vàđược tham gia vào các hành vi sử dụng tài sản Đối với các hành vi như muabán, cầm cố điền sản (ruộng đất) thì trong văn tự phải có chứ ký của cả hai vợchồng Trong Hoàng Việt luật lệ, người vợ phụ thuộc và hoàn toàn đặt dướiquyền của người chồng Tất cả tài sản trong gia đình hợp thành một khối duynhất thuộc quyền sử dụng của người chồng Người vợ được coi là vô năng lực
về mặt pháp lý nên không có một chút quyền hành nào về tài sản trong giađình Quy định này đã đi ngược với quan điểm pháp luật của triều Lê
Trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định của pháp luật hôn nhân và giađình nói chung và các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng nóiriêng mang những nét đặc trưng của chế độ thuộc địa và chịu ảnh hưởng sâusắc của pháp luật Pháp Trong bộ Dân luật giản yếu ở Nam kỳ không có cácquy định cụ thể nhưng căn cứ vào án lệ ta thấy: Người vợ không có tài sảnriêng Trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết, toàn bộ tài sảntrong gia đình đều thuộc quyền quản lý của người chồng Quyền sở hữu duynhất của người chồng còn bao hàm tất cả các tài sản do hai vợ chồng hay domột mình người vợ làm ra Trong bộ Dân luật Bắc kỳ (năm 1931) và Dân luậtTrung kỳ (năm 1936), quyền của người vợ được đảm bảo tốt hơn mặc dù vẫnphản ảnh sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng Tại Điều 109 bộ Dân luật Bắc
kỳ và Điều 107 bộ Dân luật Trung kỳ, người chồng có quyền sử dụng cácđộng sản, thực hiện các giao dịch liên quan đến bất động sản mà không cần có
sự đồng ý của người vợ, miễn là việc sử dụng đó đem lại lợi ích cho gia đình.Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật quy định phải có sự ưng thuận của
vợ chồng thì việc ưng thuận của người chồng phải được thể hiện bằng vănbản và có chữ ký của người chồng, còn sự ưng thuận của người vợ không cầnphải thể hiện bằng văn bản Như vậy, trong thời kỳ Pháp thuộc, các quy định
Trang 23của pháp luật về chế định tài sản của vợ chồng rất bất công đối với người vợ,đặc biệt ở Nam Kỳ khi pháp luật không quy định quyền sở hữu tài sản củangười vợ
Cách mạng Tháng Tám (năm 1945) thành công đưa nước ta bước sang
kỷ nguyên mới Trong sự vận động to lớn của xã hội, các quan hệ hôn nhân
và gia đình cũng có bước chuyển mình quan trọng Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1959 được ban hành, Điều 15 quy định: Vợ và chồng đều có quyền sởhữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khicưới Quy định này là hoàn toàn phù với nguyên tắc nam nữ bình đẳng và bảo
vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình – là một trong những nguyên tắc cơbản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của người vợ, góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến, giải phóng người phụ nữ khỏi sự bất bình đẳng tronggia đình và xã hội Các quy định về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng đã cónhững bước tiến rõ rệt thể hiện trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 làbên cạnh quy định vợ chồng có tài sản chung còn công nhận vợ, chồng cóquyền có tài sản riêng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã hoàn thiệnhơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986: Tiếp tục nhấn mạnh quyềnbình đẳng giữa vợ và chồng trong việc tạo lập, quản lý, sử dụng và định đoạttài sản chung của vợ chồng và thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng của vợchồng Đồng thời, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định chi tiết
và toàn diện về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hônnhân khi vợ, chồng đầu tư, kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riênghoặc có lý do chính đáng khác Quy định này giúp vợ chồng có sự độc lập vềtài sản để tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại Tuy nhiên,trước tình hình kinh tế - xã hội có nhiều thay đổi ở nước ta hiện nay, LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 đã bộc lộ những thiếu sót, nhiều quy định chỉ
Trang 24mang tính định hướng, chung chung gây khó khăn trong việc giải quyết cáctranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng
Chương 2 XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
Trang 25TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ THEO
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
2.1 XÁC ĐỊNH QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRUỜNG HỢP VỢ CHỒNG THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN:
2.1.1 Vài nét về thị trường chứng khoán ở Việt Nam hiện nay:
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hoạt động kể từ năm 2000,khi đó thị trường chỉ được giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoánThành phố Hồ Chí Minh, biểu thị của thị trường là chỉ số VNIndex Khi trungtâm giao dịch mở phiên đầu tiên chỉ có hai cổ phiếu REE và SAM được niêmyết Bước sang năm 2006, số lượng công ty niêm yết tăng lên nhanh chóng,đặc biệt là cuối năm 2006 (khi Việt Nam gia nhập WTO) thị trường thực sựbùng nổ Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã phát huy vai tròquan trọng Đối với các công ty, thị trường chứng khoán được xem là nơi huyđộng vốn hiệu quả nhất Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi mà nền kinh tếluôn có tốc độ tăng trưởng và phát triển cao thì nhu cầu về vốn dài hạn dànhcho đầu tư và phát triển rất lớn Trong khi nguồn lực của các tổ chức tín dụnghiện tại hầu như không đáp ứng kịp thì sự ra đời của thị trường chứng khoánnhư là một cứu cánh cho các công ty trong việc đáp ứng nhu cầu huy độngvốn dài hạn Thị trường chứng khoán vừa huy động được nguồn vốn nhàn dỗitrong dân, vừa tạo ra được các cơ hội đầu tư cho các cá nhân, tổ chức trong vàngoài nước Tuy một số ngành nghề có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tếquốc gia chưa được công khai niêm yết hoặc niêm yết hạn chế như hàngkhông, bưu chính… nhưng với những công ty đã niêm yết trên thị trường hiệnnay đã và đang tạo cơ hội đầu tư đa dạng, phong phú cho các nhà đầu tư trong
và ngoài nước Thị trường chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng và rất
Trang 26phức tạp; là nơi mua bỏn cỏc chứng khoỏn và thường được thực hiện chủ yếutại sở giao dịch chứng khoỏn, một phần ở cỏc cụng ty mụi giới (cụng ty chứngkhoỏn) và cả ở thị trường chợ đen Về mặt hỡnh thức, thị trường chứng khoỏnchỉ là nơi diễn ra cỏc hoạt động trao đổi, mua bỏn, chuyển nhượng cỏc loạichứng khoỏn; qua đú thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoỏn [10] Chứngkhoỏn là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngời sở hữu đốivới tài sản hoặc phần vốn của tổ chc phát hành Chứng khoán đợc thể hiện dớihình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau
đây: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền,quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tơng lai, nhóm chứng khoán hoặcchỉ số chứng khoán (Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán năm 2006) Hiện nay,thị trường chứng khoỏn Việt Nam ngày càng được mở rộng Cỏc cụng ty cổphần được phộp phỏt hành cổ phiếu để thu hỳt vốn đầu tư từ khỏch hàng Mỗingười dõn đều cú thể đầu tư chứng khoỏn Theo Luật Chứng khoỏn năm 2006thỡ việc chào bỏn chứng khoỏn cú thể thực hiện trờn cỏc phương tiện thụng tinđại chỳng, trờn mạng internet, do vậy việc mua bỏn chứng khoỏn rất nhanhchúng, gọn nhẹ Như vậy, vợ chồng cú thể tham gia vào thị trường chứngkhoỏn với tư cỏch là hai chủ thể trong quan hệ hụn nhõn, đồng thời cũng cúthể vợ hoặc chồng tham gia vào thị trường chứng khoỏn với tư cỏch là cỏnhõn Việc xỏc định quyền sở hữu tài sản chung, tài sản riờng trong trườnghợp vợ chồng tham gia vào thị trường chứng khoỏn là cần thiết trong giaiđoạn hiện nay
2.1.2 Xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ chồng dựng tài sản chung để đầu tư chứng khoỏn:
Tài sản chung của vợ chồng gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp kháccủa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chunghoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là
Trang 27tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tàisản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trướckhi kết hôn, đợc thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoảthuận…” (Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000) Bờn cạnh đú, khoản
1 Điều 28 Luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000 quy định: Vợ, chồng cúquyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tàisản chung Vỡ vậy, cả vợ và chồng đều cú quyền sử dụng tài sản chung để đầu
tư chứng khoỏn hoặc vợ chồng uỷ quyền cho nhau để dựng tài sản chung đầu
tư chứng khoỏn Khi vợ chồng dựng tài sản chung để đầu tư chứng khoỏn thỡ
về nguyờn tắc tài sản đó dựng để đầu tư (vốn) và lợi nhuận thu được là tài sảnchung của vợ chồng Tuy nhiờn, khoản 3 Điều 28 Luật Hụn nhõn và gia đỡnhnăm 2000 quy định: Việc xỏc lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dõn sự liờnquan đến tài sản chung cú giỏ trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của giađỡnh, việc dựng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bànbạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đó được chia để đầu tư kinh doanh riờngtheo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này Như vậy, nếu vợ chồng phảibàn bạc, thỏa thuận trong việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng để mua cổphiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ… thì đơng nhiên những tài sản này và lợinhuận phát sinh từ tài sản này là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiờn, trờnthực tế, do xuất phỏt từ tớnh cộng đồng trong quan hệ hụn nhõn và sự phõncụng vai trũ của mỗi bờn vợ chồng mà nhiều khi sự thỏa thuận, bàn bạc của
vợ chồng khụng được thực hiện minh thị Chẳng hạn, vợ chồng đó thỏa thuận
về nguyờn tắc là dựng 500 triệu đồng là tài sản chung của vợ chồng để mua cổphiếu và việc thực hiện là do người chồng Trong trường hợp này, việc ngườichồng chọn mó cổ phiếu nào, mua hoặc bỏn cổ phiếu vào thời điểm nào… là
do người chồng quyết định mà khụng cần phải cú sự đồng ý của người vợ.Khi đú, việc đầu tư phỏt sinh lợi nhuận thỡ lợi nhuận đú thuộc khối tài sản
Trang 28chung của vợ chồng, nếu thua lỗ thì khối tài sản chung phải gánh chịu Nhưvậy, sự thỏa thuận, bàn bạc của vợ chồng có thể ngay trước khi mỗi giao dịchđược thực hiện nhưng cũng có thể chỉ là sự thỏa thuận mang tính nguyên tắc.Việc xác định lợi nhuận phát sinh khi đầu tư chứng khoán thuộc khối tài sảnchung của vợ chồng được áp dụng ngay cả khi trªn cổ phiếu, trái phiếu,chứng chỉ quỹ… chỉ ghi tên của một bên vî hoÆc chång và chỉ một bên vợhoặc chồng quyết định việc mua bán cổ phiếu
Như vậy, vợ chồng có thể dùng tài sản chung của vợ chồng để mua cổphiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ Việc tham gia vào thị trường chứng khoán
có thể do cả hai vợ chồng, có thể chỉ do một bên nhưng đã có sự thỏa thuận,bàn bạc của vợ chồng thì lợi nhuận thu được thuộc quyền sở hữu chung của
cả hai vợ chồng, bởi vì lợi nhuận nµy được xác định lµ tµi s¶n ph¸t sinh tõ tµis¶n chung cña vî chång, lµ mét lo¹i “thu nhËp hîp ph¸p kh¸c” cña vî chångtrong thêi kú h«n nh©n
Tuy nhiên, trên thực tế đã phát sinh nhiều tranh chấp liên quan đến tàisản này Khi giải quyết tranh chấp thường gặp những khó khăn, phức tạp dokhông xác định đúng sự thể hiện ý chí của các bên vợ chồng trong việc đầu
tư Tình trạng này xuất phát từ các nguyên nhân khác nhau Thứ nhất, donhiều gia đình vợ chồng không thể hiện quan điểm rõ ràng trong việc quản lýtài chính cũng như các phương án phát triển kinh tế gia đình Nhiều gia đình
“mạnh ai người đấy làm”, được lợi thì vợ chồng cung hưởng, thua lỗ thì vợchồng cùng chịu Thậm chí có gia đình còn mặc nhiên thừa nhận mọi giaodịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện hoặc chấp nhận mọi quyết định pháttriển kinh tế gia đình của một bên Nếu vợ chồng hòa thuận, vui vẻ thì “đượccùng hưởng, thua cùng chịu”, nhưng khi vợ chồng đã có mâu thuẫn hoặc mộtbên có hành vi tẩu tán tài sản, một bên ngoại tình… thì tình trạng này lại dẫnđến tranh chấp khó giải quyết, nhiều khi là quyết liệt Thứ hai, theo LuậtChứng khoán năm 2006 thì trung tâm lưu ký chứng khoán và thành viên lưu
Trang 29ký chứng khoỏn cú trỏch nhiệm bảo mật cỏc thụng tin liờn qua đến sở hữuchứng khoỏn của khỏch hàng, từ chối việc điều tra, phong toả, cầm giữ, trớchchuyển tài sản của khỏch hàng mà khụng cú sự đồng ý của khỏch hàng(Khoản 1 Điều 57) Chớnh vỡ vậy, việc vợ chồng tham gia vào thị trườngchứng khoỏn hiện nay là khụng thể kiểm soỏt được là giao dịch hợp phỏp haybất hợp phỏp và tớnh chịu trỏch nhiệm về tài sản như thế nào khi xảy ra tranhchấp Thụng thường khi đó tham gia giao dịch chứng khoỏn thường liờn quanđến tài sản cú giỏ trị lớn Mà việc xỏc lập, thực hiện và chấm dứt giao dịchdõn sự liờn quan đến tài sản chung cú giỏ trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhấtcủa gia đỡnh, việc dựng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợchồng bàn bạc, thoả thuận, trừ tài sản chung đó được chia để đầu tư kinhdoanh riờng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này (Khoản 3 Điều
28 Lluật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000)
Vấn đề đặt ra là khi một bên vợ, chồng dùng tài sản chung có giá trị lớn
để mua chứng khoán mà không có sự đồng ý của bên kia thì giao dịch này sẽ
đợc xác định nh thế nào? hợp pháp hay không hợp pháp? Theo quy định củaLuật Hôn nhân và gia đình năm 2000, những giao dịch này bị coi là vô hiệu vì
vi phạm khoản 3 Điều 28 Nhng trên thực tế hiện nay, trong Luật Chứngkhoán năm 2006 không có bất cứ quy định cụ thể nào về vấn đề này, gây khókhăn cho việc giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng, quyền lợi hợppháp của một bên vợ chồng không đợc đảm bảo
2.1.3 Xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp vợ, chồng dựng tài sản riờng để đầu tư chứng khoỏn:
Trong thời kỳ hụn nhõn, nếu một bờn vợ hoặc chồng dựng tài sản riềncủa mỡnh để đầu tư chứng khoỏn thì lợi nhuận thu được thuộc sở chung của
vợ chồng hay sở hữu riờng của bờn cú tài sản đầu tư? Theo quy định của phỏpluật hiện hành thỡ hoa lợi, lợi tức thu được trong thời kỳ hụn nhõn, bất kể từtài sản chung hay tài sản riờng đều thuộc sở hữu chung của vợ chồng (Điều 27
Trang 30Luật Hụn nhõn và gia đỡnh năm 2000 và điểm a Mục 3 Nghị quyết số02/2000/NQ – HĐTP) Quy định này của phỏp luật phự hợp với tớnh chất, vàmục đớch của quan hệ hụn nhõn Khi xỏc lập quan hệ hụn nhõn, vợ, chồngcựng chung sức và ý chớ trong việc duy trỡ và phỏt triển gia đỡnh Lợi ớchchung của gia đỡnh luụn được đặt lờn hàng đầu Tuy nhiờn, nhỡn theo gúc độkhỏc quy định này của Luật Hụn nhõn và gia đỡnh hiện hành bộc lộ điểm bấthợp lý, khụng đảm bảo được quyền lợi cho người cú tài sản riờng Nhất làtrong điều kiện kinh tế hiện nay, đầu tư vào chứng khoỏn mang lại những lợinhuận rất lớn nhưng kốm theo đú là những rủi do khụng nhỏ Lợi nhuận thuđược thuộc sở hữu chung nhưng những rủi do phỏt sinh thỡ chỉ một mỡnh bờn
cú tài sản phải hoàn toàn gỏnh chịu Như vậy là khụng cụng bằng, và khụngphự hợp với cỏc quy định của phỏp luật dõn sự Vỡ vậy, cũng cú ý kiến chorằng lợi nhuận thu được từ việc một bờn vợ, chồng dựng tài sản riờng đầu tưchứng khoỏn cần được xỏc định là tài sản riờng Quan điểm này đứng từ góc
độ phỏp luật dân sự và phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự về quyền đợcthu hoa lợi, lợi tức từ sở hữu chủ Chủ sở hữu, ngời sử dụng tài sản có quyền
sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của phápluật, kể từ thời điểm thu đợc hoa lợi, lợi tức đó (Điều 235 Bộ luật dân sự2005)
2.1.4 Xỏc định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bờn vợ, chồng vay tiền để đầu tư chứng khoỏn:
Như đó phõn tớch tại tiểu mục 2.1.2 và 2.1.3, lợi nhuận thu được từ đầu
tư chứng khoỏn được xỏc định là tài sản chung của vợ chồng khụng phụ thuộcvào việc dựng tài sản chung hay tài sản riờng để đầu tư Vỡ vậy, khi vợ chồngvay tiền để đầu tư chứng khoỏn thỡ lợi nhuận thu được đương nhiờn thuộc sởhữu chung của vợ chồng Nhưng vấn đề xỏc định nghĩa vụ đối với khoản vaylại là vấn đề khú khăn và cú nhiều ý kiến khỏc nhau Khi đầu tư khụng manglại lợi nhuận nhưng vợ chồng hoà thuận, sẵn sàng gỏnh vỏc mọi trỏch nhiệm
Trang 31thì vấn đề này dễ giải quyết, đều được vợ chồng thừa nhận là nghĩa vụ chungcủa vợ chồng, được đảm bảo thanh toán bằng tài sản chung của vợ chồng.Nhưng khi việc đầu tư thất bại, mâu thuẫn vợ chồng nảy sinh, tranh chấp vềtài sản giữa vợ, chồng được mang ra toà án giải quyết thì việc xác định nghĩa
vụ đối với khoản vay này lại là vấn đề gây tranh cãi Đây là nghĩa vụ chunghay nghĩa vụ riêng, được đảm bảo thanh toán bằng tài sản chung hay tài sảnriêng? Để giải quyết vấn đề này cần được xem xét trong từng trường hợp:
Trường hợp thứ nhất: Một bên vợ, chồng vay tiền để đầu tư chứng
khoán có sự đồng ý của bên kia Đương nhiên trường hợp này được coi lànghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có nghĩa vụ liên đới thực hiệnbằng khối tài sản chung Tuy nhiên, việc xác định một bên vay tiền có sựđồng ý của bên kia lại gặp phải khó khăn nhất định Trong thực tế hiện nay,không phải trường hợp nào sự đồng ý của một bên vợ hoặc chồng trong việcbên kia vay tiền cũng được thể hiện bằng văn bản Trong khi đó, trong cáchợp đồng vay tài sản thường chỉ có tên của một bên vợ, chồng Vì vậy, khi cótranh chấp không thể chứng minh đây là khoản nợ chung của vợ chồng hay nợriêng của bên đứng vay
Trường hợp thứ hai: Một bên vợ, chồng vay tiền không có sự ưng
thuận của bên kia thì khi có tranh chấp về tài sản thì được xác định là khoản
nợ chung hay riêng? Khoản 2 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000quy định “tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu củagia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng” Nghĩa vụ tài sản chungcủa vợ chồng là nghĩa vụ phát sinh khi một bên hoặc cả hai vợ chồng thựchiện giao dịch dân sự, thương mại vì lợi ích chung của gia đình hoặc nghĩa vụphát sinh theo thoả thuận của vợ chồng Nếu một bên vợ, chồng vay tiền đểđầu tư chứng khoán mà khoản lợi nhuận thu được được dùng phục vụ cho đờisống chung của gia đình, vì lợi ích của gia đình thì được coi là khoản nợ