Cơ quan thihành án dân sự là cơ quan hoạt động chuyên sâu về lĩnh vực thi hành án bảo đảm chocác bản án, quyết định của tòa án được thực hiện trong thực tế hoạt động đó góp phầnquan trọn
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI(1986) đã khẳng định: “Đổi mới đất nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”.
Đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đưa đất nước ta sang mộtgiai đoạn phát triển mới, từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa, đã và đang đặt ra yêu cầu bức thiết tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xâydựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam, đó là nhà nước mà trong đó vai tròpháp chế được đề cao, pháp luật được tôn trọng và bảo đảm thực hiện Ở đây, yêu cầubức xúc hàng đầu là phải tạo ra và duy trì ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xãhội, quản lý nhà nước
Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Toà án là một yêucầu tất yếu khách quan, là nguyên tắc Hiến định chỉ đạo toàn bộ tổ chức và hoạt độngthi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng Điều 136 Hiến pháp 1992(được
sửa đổi bổ sung năm 2001) khẳng định: “Các bản án, quyết định của Toà án nhân dân
đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị vũ trang phải nghiêm chỉnh chấp hành” Thông qua hoạt động thi hành án dân sự, những phán
quyết của toà án nhân danh quyền lực nhà nước được thực hiện trong thực tế, quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân và tập thể được bảo vệ, trật tự kỷ cương xã hội được bảođảm, công lý xã hội được thực hiện
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ chức và hoạt động thi hành ándân sự từng bước được củng cố tăng cường, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao.Hiện nay công cuộc đổi mới đất nước đã diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đờisống xã hội và đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, giao lưu hợp tác ngày càng
Trang 2phát triển, sinh hoạt đời sống của cá nhân và cộng đồng ngày càng đa dạng và phongphú Công tác thi hành án dân sự mặc dù hiện nay đã có luật quy định, nhưng vẫn cònnhững hạn chế bất cập về cơ chế tổ chức và hoạt động trước yêu cầu của thực tiễn Sựyếu kém trong công tác thi hành án dân sự dẫn đến án tồn đọng kéo dài ngày càngnhiều, ảnh hưởng đến trật tự kỷ cương xã hội, giảm sút lòng tin của nhân dân vào phápluật, công bằng và công lý xã hội.Việc đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt độngthi hành án dân sự là một yêu cầu khách quan, là một mắt xích quan trọng của cải cách
tư pháp nói riêng và cải cách bộ máy nhà nước nói chung
Xác định đúng vai trò và ý nghĩa của hoạt động thi hành án, trước tình hình hoạtđộng thi hành án kém hiệu quả, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XI đã quyết địnhchuyển giao công tác thi hành án dân sự từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quancủa Chính phủ Thực hiện Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật về tổ chức bộ máy nhànước được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá IX tháng 10 năm
1992, ngày 21/4/1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thi hành ándân sự thay thế cho Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 Sự kiện pháp lý quantrọng này đã đánh dấu một bước ngoặt căn bản trong tổ chức và hoạt động thi hành ándân sự ở Việt Nam Từ sau khi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 hệ thống các cơquan quản lý nhà nước về công tác thi hành án, các cơ quan Thi hành án dân sự từtrung ương đến địa phương đã nhanh chóng được hình thành Trong những năm quacông tác thi hành án dân sự đã đi vào nề nếp tạo bước chuyển biến quan trọng trong tổchức và hoạt động, kết quả đạt được đã khẳng định sự đổi mới đúng hướng của côngtác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, thi hành án trước đây cũng như hiện nay là vấn đề hết sức phức tạp, sựnghiệp xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay đã và đang đặt ra những nhiệm vụ mớinặng nề đối với công tác thi hành án dân sự nói riêng và công tác thi hành án nóichung Do vậy, việc tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động công tác thi hành án là yêucầu cấp thiết, Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành trung ương Đảng khoá
Trang 3VII đã chỉ rõ: “Sớm xây dựng và hoàn thiện pháp luật thi hành án theo hướng tập trung nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác thi hành án vào Bộ tư pháp Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án để bảo đảm tốt hội nghị xét xử.”
Dựa trên quan điểm, đường lối của Đảng, yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước,thực trạng về tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự hiện nay, hơn nữahiện nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu toàn diện về tổ chức và hoạt động của cơquan thi hành án dân sự kể từ khi Luật thi hành án dân sự được ban hành với vai trò là
cơ quan chuyên môn trong bộ máy hành chính, chỉ có một số đề tài nghiên cứu có liênquan, nhưng đều nghiên cứu trên cơ sở của Pháp lệnh thi hành án dân sự cũ Tất cả
những lý do trên, tác giải chọn đề tài “Cơ quan thi hành án dân sự- Cơ quan chuyên môn trong bộ máy hành chính nhà nước”, là một yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng
cơ quan thi hành án dân sự ngày càng vững mạnh, hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầutrong giai đoạn hiện nay trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổchức, cá nhân góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân
2 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận vàthực tiễn về tổ chức hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, mục đích của luận vănlàm sáng tỏ cơ sở lý luận và những nội dung nhằm đổi mới tổ chức và hoạt động của cơquan thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu của đất nướctrong giai đoạn đổi mới
Thi hành án dân sự là hoạt động không chỉ mang tính chất chuyên môn thuần tuý,
mà còn mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc Việc nghiên cứu toàn diện về cơ quan thihành án dân sự là vấn đề rộng lớn, phức tạp không chỉ liên quan đến khoa học pháp lý
mà còn liên quan đến các lĩnh vực khoa học xã hội khác
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài cao học Luật, trên cơ sở nghiên cứư quy địnhcủa pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của của cơ quan thi hành án dân sự ởViệt Nam hiện nay, những kết quả đạt được, những mặt tồn tại và hạn chế, từ đó để
Trang 4xuất những giải pháp góp phần đổi mới và hoàn thiện tổ chức và hoạt động lĩnh vực thihành án dân sự ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích đó luận văn có nhiệm vụ:
+ Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Cơ quanthi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay như: vị trí, vai trò của cơ quan thi hành án dân
sự trong bộ máy hành chính, thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự, các nguyêntắc về tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, thi hành án dân sự một sốnước trên thế giơi kinh nghiệm và thực tiễn
+ Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của thi hành án dân sự Việt Nam, tìmhiểu thực trạng về tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, từ những kếtquả đạt được trong những năm qua, chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong giai đoạn hiệnnay
+ Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quanthi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay, nhằm nâng cao hiệu quả của cơ quan nàytrong bộ máy hành chính
3 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin, các văn kiệnĐại hội Đảng và Nghị quyết các hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng đề cập đếnvấn đề cải cách tư pháp, cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyềnViệt Nam Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu, tìm hiểu những tài liệu, những tác phẩmchuyên khảo đã được công bố trong lĩnh vực thi hành án dân sự, và phân tích những sốliệu về tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay để làmsáng tỏ nội dung của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênnin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền Kết hợp phương phápthống kê các số liệu cụ thể về tổ chức và hoạt động của lĩnh vực thi hành án dân sự
Trang 5hiện nay, trên cơ sở đó vận dụng phương pháp phân tích để phân tích các số liệu,nguyên nhân của những tồn tại hạn chế Từ đó để đưa ra những giải pháp nhằm đổimới tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự Việt Nam.
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thông qua phương pháp này, các khái niệm,
đặc điểm, quan điểm liên quan đến tổ chức hoạt động, vị trí vai trò, thẩm quyền của cơquan thi hành án dân sự trong bộ máy hành chính được phân tích cụ thể, chỉ ra các mốiliên hệ từ đó đưa ra những kết luận về các vấn đề cần giải quyết trong luận văn
+ Phương pháp so sánh: Được sử dụng để tìm ra các đặc điểm chung, điểm khác
biệt của cơ quan thi hành án dân sự của một số nước trên thế giới Phương pháp nàycòn được sử dụng để so sánh mô hình cơ quan thi hành án dân sự từ khi được hìnhthành cho đến nay, và so sánh các số liệu về kết quả thi hành án một số năm để thấyđược hiệu quả về tổ chức và hoạt động của cơ quan này
+ Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển về tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án dân sự qua các thời kỳ
+ Phương pháp thống kê: phương pháp này được áp dụng để thống kê số lượng các
vụ việc được thi hành, thống kê số lượng cán bộ công chức của toàn Ngành, số lượngcán bộ lãnh đạo, cán bộ có chức danh của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự trong cảnước
4 Tình hình nghiên cứu.
Đến nay, liên quan đến nội dung của luận văn đã có một số công trình nghiên cứu
ở các mức độ khác nhau liên quan đến tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành ándân sự Trong đó đáng chú ý là các công trình bài viết sau:
- Về đề tài cấp nhà nước: có “Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Việt Nam trong giai đoạn mới” do Bộ Tư pháp chủ trì,
đã đưa ra một số căn cứ trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự
Trang 6- Về đề tài cấp bộ: “Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án” mã số
95-98-114/ĐT do Viện nghiên cứu khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thànhphố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện, đề tài đã đưa ra một số mô hình thi hành án củamột số nước trên thế giới và đề xuất một số mô hình thi hành án ở Việt Nam đề thảoluận
- Về Luận văn thạc sĩ: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Văn Quảng (1996)
“Một số vấn đề tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam” , tác giả thực
hiện công trình nghiên cứu này sau khi pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 có hiệulực pháp luật, cũng là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên sau khi cơ quanthi hành án dân sự chuyển từ Toà án các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ, trong
đề tài của mình tác giả đã nghiên cứu thực trạng thi hành án dân sự giai đoạn đó và đề
ra những ý kiến đề xuất cần phải ban hành Luật thi hành án dân sự và nâng cao sốlượng và chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
Luận Văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Thủy (2001) "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự", trong công trình nghiên cứu của mình tác giả đã đưa ra các quan
điểm về đặc điểm của cơ quan thi hành án dân sự, và đưa ra một số bất cấp các quyđịnh của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, từ đó tác giả đề xuất những kiến nghịcho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thi hành án dân sự, kiến nghị cần sửa đổi, bổsung Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 cho phù hợp với tình hình mới, tác giảcòn đưa ra những ý kiến cần thiết phải ban hành Luật thi hành án dân sự
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Anh Tuấn (2004) “Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự”, tác giả nghiên cứu đề tài sau khi Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã
được ban hành, tuy sửa đổi bổ sung các quy định về thủ tục thi hành án của Pháp lệnhnăm 1993 nhưng vẫn còn nhiều bất cập so với tình hình thực tế, tác giả đã đề xuất giảipháp ban hành Luật thi hành án dân sự để nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của
cơ quan thi hành án dân sự ở Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hồng Hạnh (2008) “Mối quan hệ giữa các
Trang 7cơ quan trong thi hành án dân sự”, công trình nghiên cứu của tác giả được thực hiện
trong khi đang chuẩn bị ban hành Luật thi hành án dân sự, tác giả đưa ra một số khókhăn trong mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan liên quan, từ
đó đưa ra những ý kiến đề xuất khi ban hành Luật cần chú ý hơn các quy định của Luật
về quy định các mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan liên quan đểnâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan thi hành án
Ngoài ra còn một số các bài viết trên tạp chí Viện kiểm sát, tạp chí Toà án, các bàibáo mỗi bài viết nghiên cứu về những lĩnh vực rất nhỏ trong tổ chức và hoạt động của
cơ quan thi hành án dân sự, như bài viết “bàn về mô hình của cơ quan THADS hiệnnay” của tác giả Nguyễn Thị Thanh đăng trong tạp chí kiểm sát có phân tích một số các
ưu khuyết điểm của một số mô hình cơ quan THADS trước khi có mô hình như hiệnnay và đưa ra một số quan điểm của mình về mô hình tổ chức của cơ quan THADS.Các bài viết này chủ yếu được đề cập đến các vấn đề còn bất cập khi Luật thi hành ándân sự chưa được ban hành, chủ yếu đưa ra các ý kiến đề xuất cần ban hành Luật
5 Điểm mới và ý nghĩa của Luận văn.
Nghiên cứu về cơ quan thi hành án dân sự trong thời gian vừa qua, đã có một số đềtài của các tác giả triển khai thực hiện, mỗi một đề tài tập trung giải quyết một số khíacạnh về tổ chức, hoạt động mối quan hệ của cơ quan thi hành án dân sự Tuy nhiên, các
đề tài đó chưa nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về tổ chức, hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự và bên cạnh đó các đề tài đó được triển khai chủ yếu theo pháp lệnh cũ.Chính vì vậy, luận văn của tác giả là một trong những công trình nghiên cứu chuyênkhảo đầu tiên có tính hệ thống, tìm hiểu toàn diện về cơ quan thi hành án dân sự ở ViệtNam kể từ khi được thành lập và đến nay và tổ chức và hoạt động của cơ quan này từkhi Luật thi hành án dân sự được ban hành
Những kết luận và kiến nghị được đưa ra trong luận văn không chỉ có ý nghĩa đốivới việc hoàn thiện cơ quan thi hành án dân sự ở Việt Nam nói riêng mà còn có ý nghĩatrong việc hoàn thiện hơn bộ máy hành chính; luận văn còn là tài liệu tham khảo cho
Trang 8công tác giảng dạy nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này, cho cán bộ ngành thi hành
án và những người có quan tâm đến lĩnh vực thi hành án dân sự
6 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn được kêt cấu làm ba chương:Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về cơ quan thi hành án dân sự ở nước tahiện nay
Chương 2 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của cơ quan thi haàn án dân sự ởnước ta hiện nay
Chương 3 Những nội dung cơ bản về đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quanthi hành án dân sự ở nước ta hiện nay
Trang 9CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1.Vị trí, vai trò của cơ quan thi hành án dân sự trong bộ máy hành chính ở nước
ta hiện nay.
1.1.1 Vị trí của cơ quan thi hành án dân sự.
Nhà nước CHXHCNVN ra đời là thành quả của cách mạng tháng 8/1945, trải
qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành vẫn giữ vững bản chất nhà nước “ của dân,
do dân và vì dân”, mọi hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung và hệ thống cơ
quan hành chính nói riêng đều thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ta Cơ quanTHADS cơ quan chuyên môn thuộc hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước thông quahoạt động của mình thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội Vì vậy, một trongnhững vấn đề mà Nhà nước luôn quan tâm đó là không ngừng tăng cường bảo vệ cácquyền của công dân, tổ chức trong điều kiện mới hiện nay Để thực hiện chiến lược nàyNhà nước phải không ngừng xây dựng kiện toàn bộ máy Nhà nước trong đó có cơ quanthi hành án dân sự, đây là một khâu quan trọng nhằm xây dựng một cơ quan chuyêntrách để tổ chức, thực hiện các bản án, quyết định của tòa án Tòa án thực hiện chứcnăng xét xử của mình để bảo vệ công lý, kết quả của hoạt động tố tụng tại tòa án là cácbản án, quyết định được tòa ban hành Trong các bản án, quyết định của mình tòa racác phán quyết xác định các quan hệ pháp lý, buộc người phải thi hành án có nghĩa vụ
phải làm hoặc không được làm một việc vì lợi ích của người được thi hành án “ Xây dựng một xã hội dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện của nhà nước pháp quyền Nói đến dân chủ là nói đến pháp luật, pháp luật vừa là sự phản ánh yêu cầu dân chủ vừa là công cụ để thực hiện dân chủ”[17,tr.14] Vì vậy, nhà nước cần phải xây dựng
một cơ quan thi hành án dân sự được tổ chức một cách khoa học, hoạt động có hiệu
Trang 10quả Có thể nói rằng, cơ quan thi hành án dân sự ở nước ta đã trải qua một quá trìnhlịch sử, từng bước được khẳng định và hoàn thiện Cơ quan thi hành án dân sự trongđiều kiện đổi mới đất nước hiện nay có một vị trí ổn định trong hệ thống cơ quan hànhchính, xứng đáng với nhiệm vụ tổ chức thi hành án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức Nhà nước pháp quyền là nhà nước của xã hội công dân Nhà nướcluôn chú trọng bảo vệ quyền con người, quyền công dân Trong hệ thống cơ quan hànhchính nhà nước, cơ quan thi hành án dân sự có chứ năng tổ chức thi hành các bản án,quyết định của tòa án Nhờ đó mà phán quyết của tòa án được đảm bảo thực hiện trongthực tế, mang lại công bằng cho xã hội Một xã hội phát triển, đòi hỏi cơ quan thi hành
án dân sự phải được tổ chức khoa học tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh, có như vậymới thực hiện được nhiệm vụ đưa phán quyết của tòa án trở thành hiện thực Trước yêucầu khách quan của xã hội việc chuyển giao công tác thi hành án dân sự và kiện toàn
cơ quan THADS là một việc làm cần thiêt Vì vậy, từ tháng 7/1993 công tác thi hành
án được chuyển từ Tòa án sang cho Chính phủ quản lý Cơ quan thi hành án dân sựđược tổ chức thành một hệ thống trực thuộc Bộ Tư pháp Cơ quan THADS được thànhlập từ trung ương đến địa phương Ở trung ương đó là Tổng cục thi hành án, cơ quanchuyên môn thuộc Bộ Tư pháp, cấp Tỉnh thành lập các Cục thi hành án, cấp huyệnđược tổ chức thành các Chi cục thi hành án Chức năng THA được tách khỏi cơ quanTòa án, hoạt động THADS là giai đoạn độc lập, từ chỗ hoạt động mang tính tố tụngthuần túy chuyển sang hoạt động mang tính hành chính- tư pháp Việc chuyển giao choChính phủ thẩm quyền quản lý thi hành án dân sự đã đánh dấu bước đổi mới căn bảncủa công tác THADS, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, lập lại trật tự kỷcương xã hội, tăng cường pháp chế XHCN, bảo đảm sự đồng bộ gắn bó trong quá trìnhcải cách tư pháp, cải cách hành chính, cải cách bộ máy Nhà nước, xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam
Sự chuyển giao cơ quan THADS sang hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đãđánh dấu một thay đổi quan trọng của bộ máy hành chính của nước ta Từ nay, cơ quan
Trang 11hành chính có thêm chức năng quản lý, tổ chức hoạt động thi hành án Cơ quan thihành án dân sự là cơ quan hoạt động chuyên sâu về lĩnh vực thi hành án bảo đảm chocác bản án, quyết định của tòa án được thực hiện trong thực tế hoạt động đó góp phầnquan trọng đối với việc thực hiện và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân, phùhợp với tiến trình dân chủ hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Ở mỗi quốc gia khác nhau, hoạt động THADS cũng có những cách thức tiến hànhkhông giống nhau, điều này xuất phát từ điều kiện chính trị- xã hội, điều kiện lịch sử vàtruyền thống pháp lý của mỗi nước, ở Pháp, Đức hoạt động THADS được giao cho cácThừa phát lại thi hành, Thừa phát lại là công chức Nhà nước nhưng được hành nghềđộc lập, được mở văn phòng riêng, có quyền hành rất lớn Một số nước khác như NhậtBản hoạt động THADS lại được đặt dưới sự quản lý của Tòa án các cấp Ở nước ta, cơquan THADS là một cơ quan độc lập được đặt trong hệ thống cơ quan hành pháp Vănbản đầu tiên là cơ sở cho sự phát triển của pháp luật về THADS đó là Pháp lệnh thihành án dân sự năm 1993 là một trong những cơ sở pháp lý cho việc hình thành tổchức và hoạt động thi hành án theo một cơ chế mới
Về vị trí của cơ quan THADS hiện nay cũng có rất nhiều các ý kiến khác nhauliên quan đến đặc trưng cũng như mô hình của cơ quan THADS Có một số ý kiến chorằng cơ quan này thuộc tố tụng dân sự, vì chỉ có chức năng thi hành bản án, quyết định
mà nó không có chức năng quản lý hành chính; một số ý kiến lại cho rằng cơ quanTHA thuộc tố tụng hành chính vì từ khi công tác THADS được chuyển giao từ Tòa ánsang các cơ quan thuộc Chính phủ thì cơ quan tiến hành việc thi hành án không phải làTòa án nữa Việc giải quyết khiếu nại, kháng nghị trong thi hành án khác hẳn các hìnhthức, thủ tục so với việc giải quyết kháng cáo kháng nghị trong tố tụng dân sự [24,tr.13]; nhưng hầu hết các quan điểm hiện nay cho rằng thi hành án dân sự là hoạt độnghành chính-tư pháp, vì bản chất của quyết định thi hành án là quyết định hành chính,khi được ban hành bắt buộc phải được thực hiện, nếu người phải thi hành án không tựnguyện thực hiện thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc phải thực hiện nghĩa vụ
Trang 12Là cơ quan trong bộ máy hành chính nhưng lại chủ yếu quan hệ tác nghiệp với các cơquan tố tụng, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân, do vậy hoạt động này cũng được coi
là hoạt động tư pháp (hành chính- tư pháp)
Mặc dù còn một số ý kiến chưa thống nhất về vị trí, đặc trưng của hoạt động thihành án dân sự, nhưng đa số các ý kiến đều cho rằng mô hình cơ quan thi hành ánthuộc cơ quan hành chính như hiện nay là hoàn toàn phù hợp, vừa bảo đảm sự quản lýtập trung thống nhất của Bộ Tư pháp đồng thời vẫn phát huy được vai trò chỉ đạo củachính quyền các cấp đối với công tác THA ở địa phương Mô hình này đã và đangđược kiểm nghiệm bước đầu phát huy hiệu quả trong công tác THA Cơ chế quản lýtheo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ giúp cho hoạt động THA thống nhất trongphạm vi toàn quốc, đồng thời góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng địaphương Bộ Tư pháp thống nhất quản lý về tổ chức và nghiệp vụ THA đã giúp cho việcquản lý đội ngũ Chấp hành viên và công chức trong cơ quan THA được chặt chẽ hơn
từ khâu tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, trách nhiệm của đội ngũ này khi vi phạmpháp luật Đồng thời thông qua kết quả hoạt động nghiệp vụ, giải quyết khiếu nại tốcáo mà đánh giá được năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ,trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng hợp lý thực hiệnchế độ đề bạt, khen thưởng, kỷ luật đối với công chức được chính xác, từ đó phát huyhiệu quả hơn năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh thực hiện quản lý Nhà nước vềcông tác THADS ở địa phương đã tạo điều kiện cho sự phối hợp giữa các ngành đặcbiệt là những vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ởđịa phương
Một trong các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền đó là: những vấn đề về tổ chứcthực hiện quyền lực, vị trí vai trò của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước nói chung vàtrong bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng; cơ chế hoạt động của các cơ quan nhànước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức cá nhân điều này đã
Trang 13trực tiếp phát sinh yêu cầu phải tiếp tục đổi mới về tổ chức và hoạt động, nâng cao chấtlượng hiệu quả hoạt động của cơ quan THADS Hiệu quả của cơ quan THADS hiệnnay bước đầu đã khẳng định sự đúng đắn của Nhà nước ta khi chuyển cơ quan THADSsang cho chính phủ quản lý và ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của cơ quanTHADS một cơ quan chuyên môn của hệ thống cơ quan hành chính trong Hơn 60 nămxây dựng và trưởng thành, công tác THADS Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Qua từng giai đoạn lịch sử, THADS Việt Nam đãdần được hoàn thiện, củng cố phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mà Nhà nước đặt ra.Trong giai đoạn hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước đang đòi hỏi cấp thiết cải cách
bộ máy Nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước CHXHCN Việt Nam, trong tiếntrình đổi mới đó, kiện toàn, tổ chức, hoạt động của cơ quan THADS là một nội dungquan trọng trước yêu cầu của tiến trình xây dựng đất nước
Như vậy, cơ quan thi hành án dân sự được xác định là cơ quan chuyên môntrong bộ máy hành chính, có thẩm quyền trực tiếp tiến hành các hoạt động trong lĩnhvực THADS
1.1.2 Vai trò của cơ quan thi hành án dân sự trong bộ máy hành chính.
Dưới chế độ XHCN, Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân,mọi tổ chức và hoạt động của Nhà nước đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi íchcủa con người Trong hoạt động của Nhà nước, công tác THADS nói chung vàTHADS nói riêng có vai trò rất quan trọng, thông qua hoạt động THA, những phánquyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước trở thành hiệnthực, công lý xã hội được thực hiện trong thực tế Quá trình giải quyết một vụ án chỉđược coi là kết thúc khi bản án, quyết định của tòa án được thi hành đầy đủ và kịp thời.Nếu không có hoạt động của cơ quan THA thì phán quyết của tòa án mới chỉ dừng lại
ở bản án hoặc quyết định, trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bịxem thường, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm, các khiếu kiện sẽnhiều hơn gây ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống xã hội
Trang 14Vai trò của cơ quan thi hành án thông qua hoạt động của mình còn có ảnh hưởngtích cực đến kết quả hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố Thông qua hoạt động cơquan thi hành án góp phần biến kết quả hoạt động của những cơ quan này trở thànhhiện thực; Với hiệu quả hoạt động của cơ quan THADS từ khi được chuyển giao từTòa án sang các cơ quan hành pháp, đã chứng tỏ sự đúng đắn của Nhà nước ta, thêmmột công cụ quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mọi tổ chức, cá nhântrong xã hội đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra trong giai đoạn cải cách tư pháp, cải cáchhành chính xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Với vị trí là cơ quan chuyên môn trong bộ máy hành chính có thẩm quyền là trựctiếp thi hành bản án, quyết định của Tòa án, nhiệm vụ của cơ quan THADS rất nặng nềđụng chạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của con người, sự lẩn tránh nghĩa vụ, sự phảnkháng quyết liệt của người phải THA và người được THA thường xảy ra Chính vì lẽ
đó, việc tổ chức THA không đơn thuần là một công việc mang tính kỹ thuật nghiệp vụ
mà còn thể hiện tính quyền lực Nhà nước Cơ quan THA là cơ quan chuyên môn đốidiện với thực tế đó và thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình bảo đảm hiệu lực củacác bản án, quyết định của tòa án Vai trò của cơ quan THA ngày càng được khẳngđịnh Hoạt động thi hành án là hoạt động nghiệp vụ chuyên sâu đáp ứng yêu cầu đòihỏi của xã hội
Hoạt động THADS ở nước ta là một nội dung hoạt động của Nhà nước, mang bảnchất dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân lao động, điều đó được thể hiện ở chỗ: Cơquan THADS là cơ quan Nhà nước, cơ quan chuyên môn trong bộ máy hành chính,Chấp hành viên là công chức thuộc cơ quan thi hành án được giao trách nhiệm trực tiếp
tổ chức THA, các tổ chức và các cá nhân có liên quan phải có trách nhiệm trong côngtác THADS khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật công tác THADS có ý nghĩaquan trọng thể hiện bản chất của Nhà nước hoạt động vì quyền lợi của nhân dân, qua
đó hoạt động đó ngăn chặn hiện tượng “dịch vụ đòi nợ thuê” có xu hướng phát triển
Trang 15làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người dân trong xã hội.
Trong nhiều năm trước đây, tình trạng trì trệ, án tồn đọng không được thi hànhngày một gia tăng, trước năm 1993, có tới 70% các bản án, quyết định của tòa án cóhiệu lực pháp luật không được thi hành, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân không được đảm bảo, pháp chế bị xâm phạm Trước tình hình đó việc đổimới công tác THADS và hiệu quả của công tác này đã đáp ứng được yêu cầu chính trị,
xã hội của nhà nước ta trong công cuộc đổi mới hiện nay
Trong quá trình tổ chức THADS, cơ quan THA và Chấp hành viên chỉ tuân theopháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật, không một cơ quan, cá nhân nào được canthiệp vào việc thực thi nhiệm vụ THA Sự độc lập đó giúp cho cơ quan thi hành án hoạtđộng hiệu quả, tạo niềm tin cho nhân dân, quyền lực nhà nước được thực hiện trongthực tế
Tổ chức và hoạt động cơ quan THADS là một bộ phận của tổ chức và hoạt động
bộ máy hành chính và có mối quan hệ mật thiết mang tính hệ thống với toàn bộ tổ chức
và hoạt động Nhà nước Quyền lực nhà nước không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tòa
án tuyên một bản án, mà bản án đó phải được thực hiện trong thực tế quyền lợi ích hợppháp của cá nhân, tổ chức phải được đảm bảo Những phán quyết của tòa án nhân danhNhà nước không được thi hành thì uy tín của nhà nước bị giảm sút, kỷ luật nhà nướckhông được tôn trọng, quá trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhànước pháp quyền Việt Nam sẽ không đồng bộ, thiếu hiệu quả công tác THADS được tổchức tốt sẽ giải quyết được tình trạng trên
Cũng như các hiện tượng kiến trúc thượng tầng khác trong xã hội, THADS hìnhthành và phát triển trên cơ sở kinh tế- xã hội, phản ánh sâu sắc những đặc điểm lịch sử,kinh tế, văn hóa, xã hội đương thời Là một bộ phận của hệ thống cơ quan hành chính,
tổ chức và hoạt động THADS không phải là vấn đề bất biến, không thể nằm ngoài tiếntrình phát triển của Nhà nước, mà phải phù hợp với yêu cầu phát triển của Nhà nướcqua từng giai đoạn Ở mỗi nước, mỗi giai đoạn tổ chức và hoạt động THADS không
Trang 16giống nhau Ở Việt Nam, thực hiện pháp lệnh THADS năm 1993, THADS đượcchuyển giao sang các cơ quan thuộc Chính phủ, sự đổi mới này đã tạo ra bước pháttriển mới của THADS Tuy nhiên, sự đổi mới này không phải là sự sao chép tùy tiệnmột hình mẫu của nước nào mà hoàn toàn xuất phát từ bản chất dân chủ của Nhà nước
ta, trên cơ sở điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước THADS ở nước ta là một loại hoạtđộng của Nhà nước, được tiến hành theo cơ chế kết hợp sự chủ động của cơ quanTHA, Chấp hành viên, Thẩm tra viên với sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đương
sự Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển dưới sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng XHCN, hoạt động THADS sẽ góp phần hạn chế tiêu cực phát sinhtrong lĩnh vực này, trong điều kiện hiểu biết pháp luật của người dân chưa cao như hiệnnay thì THADS có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân
1.2 Thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự.
Hiện nay trong hệ thống các ngành khoa học nói chung và khoa học pháp lý nóiriêng, có nhiều quan điểm khác nhau liên quan đến khái niệm thẩm quyền
Mỗi cơ quan trong bộ máy Nhà nước đều có thẩm quyền của mình trong nhữnglĩnh vực nhất định, với quan niệm như vậy thẩm quyền được hiểu là tổng thể nhữngquyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan được thực hiện nhiệm vụ trong một lĩnhvực nhất định
Theo từ điển tiếng việt: "Thẩm quyền là thuật ngữ dùng để chỉ quyền xem xét, kết luận kiến nghị và định đoạt một số vấn đề theo pháp luật hoặc chỉ một tư cách về chuyên môn được thừa nhận để có ý kiến có tính chất quyết định về một vấn đề" [48, tr.50] Theo cách hiểu này thì “khái niệm thẩm quyền được hiểu rất rộng, bất kể một chủ thể nào trong bộ máy nhà nước, thậm chí là cả những chủ thể được nhà nước ủy quyền trong những trường hợp nhất định thay mặt nhà nước giải quyết một công việc
cụ thể nào đó cũng có thẩm quyền” [17, tr.50]
Dưới một góc độ cụ thể hơn, Từ điển luật học định nghĩa thẩm quyền là: “ Tổng
Trang 17hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy do nhà nước quy định”[40, tr.459].
Với một cách hiểu như vậy, thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nướcbao gồm tổng thể quyền và nghĩa vụ do nhà nước quy định, điều đó có nghĩa là cơquan nhà nước chỉ có quyền thực hiện nhưng hoạt động nhất định nhằm giải quyếtnhững vấn đề cụ thể được pháp luật cho phép
Cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan chuyên môn trong bộ máy hành chính, vìvậy cũng có thẩm quyền nhất định, thẩm quyền này được giới hạn trong phạm vi giảiquyết những vụ việc được pháp luật thi hành án quy định Cơ quan thi hành án thựchiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đó là việc thi hành những bản án, quyết địnhcủa Tòa án theo trình tự thủ tục của pháp luật thi hành án dân sự Việc bảo đảm hiệulực của các bản án quyết định của Tòa án là một tất yếu khách quan, là nguyên tắc chỉđạo toàn bộ thi hành án nói chung và THADS nói riêng
Điều 136 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) ghi nhận: "Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành"
Như vậy, bản án quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án là bản án, quyết định
có tính chất bắt buộc thực hiện đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức
xã hội và cá nhân có liên quan, bên cạnh đó, những bản án, quyết định của trọng tài,Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh cũng là những phán quyết có hiệu lực pháp luật vàcũng được đảm bảo thi hành trong thực tế
Pháp luật THADS ngoài những quy định chung về thẩm quyền của hệ thống cơquan THADS, còn quy định cụ thể những nhiệm vụ quyền hạn riêng cho từng cơ quanTHADS ở các cấp khác nhau cụ thể đó là thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sựcấp tỉnh, cấp huyện, cấp quan khu trong việc tổ chức thi hành những bản án, quyết địnhcủa Tòa án theo quy định của pháp luật Đồng thời Pháp luật THADS cũng có những
Trang 18quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về THADS, vớiquy định này việc thực hiện công tác thi hành án dân sự vừa đáp ứng được yêu cầuchính trị- xã hội ở địa phương, vừa đáp ứng yêu cầu chuyên môn của hoạt động này
Có thể nói rằng thẩm quyền của cơ quan THADS mang tính quyền lực pháp lýnhưng quyền hạn đó được giới hạn ở phạm vi, mức độ nhất định theo quy định củapháp luật, đó là thẩm quyền thi hành những bản án, quyết định của tòa án Thẩm quyềncủa cơ quan THADS được thể hiện thông qua nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm tronglĩnh vực THADS Việc nghiên cứu thẩm quyền của cơ quan THADS là một trongnhững cơ sở nhằm thực hiện những đổi mới về tổ chức và hoạt động của cơ quanTHADS trong giai đoạn hiện nay
1.3.Nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự.
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động nào, trong công tác THADS nói riêng vàtrong quản lý hành chính Nhà nước nói chung đều được tiến hành trên cơ sở nhữngnguyên tắc nhất định Những nguyên tắc nó là những tư tưởng chỉ đạo rất quan trọngtrong tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, giúp cho hoạt động của cơquan này hiệu quả hơn
Cơ quan THADS là cơ quan chuyên môn trong bộ máy hành chính, do đó tổ chức
và hoạt động của cơ quan này cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung về tổ chức
và hoạt động của cơ quan hành chính Tuy nhiên, là một cơ quan chuyên môn giúp cơquan hành chính nhà nước giải quyết trong lĩnh vực cụ thể ngoài các nguyên tắc chungtrong tổ chức và quản lý hành chính Nhà nước, còn có các nguyên tắc đặc thù trong tổchức và hoạt động thi hành án dân sự
Theo nghĩa chung nhất, nguyên tắc được hiểu là những điều cơ bản nhất thiết phảituân theo trong một loạt các việc làm, mỗi ngành khoa học, mỗi lĩnh vực hoạt động cụthể đề cập đến vấn đề nguyên tắc theo một góc độ riêng, đặc thù cho ngành khoa họchay lĩnh vực đó [43, tr.75] Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của các cơ quan trong bộmáy Nhà nước được Hiến pháp ghi nhận, các văn bản pháp luật lĩnh vực THADS đã cụ
Trang 19thể hóa những nguyên tắc cơ bản đó trong tổ chức và hoạt động của mình, các nguyêntắc vừa có đặc điểm chung với các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của cơ quanhành chính Nhà nước vừa có những đặc điểm đặc thù của cơ quan THADS.
Các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS có nộidung rất đa dạng có tính thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau Nắm vững, vận dụngđúng các nguyên tắc đảm bảo cho tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS đi đúnghướng xây dựng nhà nước pháp quyền bảo vệ quyền và lợi ích hơp pháp của mọi tổchức và cá nhân
1.3.1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS.
Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là hạt nhân của mọi thắng lợi của cáchmạng Việt Nam, bằng những hình thức và phương pháp hoạt động của mình, Đảngcộng sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của Nhànước trên mọi lĩnh vực, Đảng định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối quanđiểm giai cấp, phương châm chính sách, công tác tổ chức trên mọi lĩnh vực chuyên
môn Hiến pháp của nước ta đã xác định rõ: (Hiến pháp 1992 còn khẳng định " Đảng cộng sản Việt Nam- đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội." (Điều 4 Hiến pháp 1992, được sửa đổi bổ sung năm 2001)
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS đượcthể hiện:
Thứ nhất Đảng lãnh đạo trong tổ chức và hoạt động THADS bằng việc đưa ra những
đường lối, chủ trương, chính sách của mình trong tổ chức và hoạt động THADS CácNghị quyết của Đảng đưa ra phương hướng cơ bản tạo cơ sở quan trọng để Ngành thểchế hóa thành các văn bản pháp luật Trên cơ sở các quy định làm nền tảng, Chươngtrình xây dựng Luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Khi đưa ra các quy định của pháp
Trang 20luật trong lĩnh vực THADS như: việc xác minh, cưỡng chế thi hành án, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về những vấn đề có liênquan bao giờ cũng được coi là cơ sở quan trọng đề các chủ thể đưa ra quyết định củamình.
Thứ hai, vai trò lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và hoạt động của cơ quan
THADS được thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ Đây là công việc có vai trò đặcbiệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của cơ quan THADS trongviệc thực thi pháp luật, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và những tổchức và cá nhân có liên quan Sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở chỗ, các tổ chứcĐảng bồi dưỡng, đào tạo những đảng viên ưu tú, có phẩm chất năng lực để gánh vácnhững nhiệm vụ mà Ngành giao cho Việc bổ nhiệm, bầu các chức vụ lãnh đạo phảiđược tổ chức Đảng có ý kiến, những ý kiến của tổ chức Đảng không phải là quyết địnhnhưng là cơ sở quan trọng để các cơ quan THADS đưa ra những kết luận cuối cùng
Thứ ba, Đảng lãnh đạo trong công tác THADS không chỉ bằng việc đưa ra đường
lối, chủ trương, chính sách, bằng công tác tổ chức cán bộ mà còn bằng hình thức kiểmtra Việc kiểm tra này nhằm đánh giá hiệu quả, tính thực tế mà Đảng đưa ra trong tổchức và hoạt động của cơ quan THADS, trên cơ sở đó phát huy những ưu điểm và khắcphục những khuyết điểm để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của cơ quan này.Qua hoạt động kiểm tra của Đảng sẽ có những chính sách biện pháp uốn nắn kịp thờinhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan THADS hiệu quả hơn
Ngoài ra, sự lãnh đạo của Đảng còn được thể hiện thông qua uy tín và vai trògương mẫu của các tổ chức Đảng và các đảng viên, việc nghiêm chỉnh chấp hành phápluật được coi là kỷ luật của tổ chức Đảng, chính điều đó tạo cơ sở quan trọng để nângcao uy tín của Đảng đối với nhân dân, với cơ quan Nhà nước
Vận dụng nguyên tắc này giúp cho cơ quan THADS trong tổ chức và hoạt độngcủa mình luôn thực hiện đúng đường lối của Đảng, góp phần quan trọng vào sự nghệpxây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 211.3.2 Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia vào hoạt động của cơ quan thi hành
án dân sự.
Với bản chất của Nhà nước ta, là nhà nước của dân, do dân và vì dân, trên cơ sởnguyên tắc cơ bản là tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, được Nhà nước xãhội chủ nghĩa ghi nhận và bảo đảm Đảng là tổ chức được lập ra nhằm phát huy tàinăng, sức lực của người lao động trong việc gánh vác các công việc của Nhà nước đểphục vụ cho chính họ
Ghi nhận nội dung này, Điều 2 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001
nêu rõ: "Nhà nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức"
Điều 3 của Hiến pháp khẳng định: Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huyquyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân Quyền được tham gia vào quản lý các côngviệc của Nhà nước và toàn xã hội là quyền cơ bản của công dân và được Hiến pháp ghinhận và thực tế nó đã được bảo đảm thông qua các hoạt động cụ thể trong quản lý hànhchính Nhà nước nói chung và trong hoạt động của cơ quan THADS nói riêng
Việc tham gia nhân dân vào hoạt động của cơ quan THADS được thể hiện: Ngườidân có quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua hoạt độngcủa cơ quan thi hành án dân sự, bản án quyết định của Tòa án chỉ có thể có hiệu lựcthực thi trên cơ sở hoạt động của cơ quan THADS, khi liên quan đến quyền và lợi íchhợp pháp của mình thì các tổ chức, cá nhân có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án,trong quá trình thực thi nhiệm vụ nếu cán bộ của cơ quan THADS làm sai trình tự, thủtục, hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp thì người dân có quyền làm đơn khiếu nại, tốcáo lên cơ quan THADS Ngoài ra, các tổ chức và cá nhân khi liên quan đến quyền vàlợi ích hợp pháp của mình, trong quá trình tổ chức thi hành án có quyền được thỏathuận giữa các bên, có quyền được rút đơn yêu cầu khi không yêu cầu cơ quan THADS
Trang 22giải quyết tiếp
Nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi hoạt độngcủa Nhà nước đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân, do vậy thực hiện nguyên tắc nàybảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân trong liên quanđến hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự
1.3.3 Nguyên tắc tập trung dân chủ.
Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, trong hoạtđộng của quản lý hành chính Nhà nước, trong tổ chức và hoạt động của cơ quanTHADS cũng tuân thủ nội dung của nguyên tắc này Nguyên tắc tập trung- dân chủđược quy định tại Điều 6 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001):
"Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ" Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp của hai
yếu tố, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộngdân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung [44, tr 89] Cần phải có sự phối hợp đồng bộ, chặtchẽ việc bảo đảm cả hai yếu tố này trong tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS,nếu chỉ có sự lãnh đạo tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo điều kiện chocác hành vi cửa quyền, lạm quyền, tệ quan liêu tham nhũng, hách dịch, tham nhũngphát triển, ngược lại không có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất sẽ dẫn đến tình trạngtùy tiện, vô chính phủ
Nguyên tắc này được thể hiện trong tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS:
Sự phụ thuộc của cơ quan THADS vào cơ quan quyền lực Nhà nước cùng cấp:Hiến pháp Nhà nước ta nghi nhận, nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhândân, người dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua hệ thống các cơ quan quyền lựcNhà nước do chính họ bầu ra để thay mặt họ trực tiếp thực hiện quyền lực đó Điều 6
Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) quy định: " Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
Trang 23Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên: Sự phục tùng này đảm bảo cho cấptrên tập trung quyền lực để chỉ đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới Thiếu sự phụctùng đó sẽ dẫn tới buông lỏng sự lãnh đạo, quản lý tập trung của trung ương và cấptrên, làm nảy sinh tình trạng tùy tiện, cục bộ địa phương Sự phục tùng ở đây là sựphục tùng những mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật Đồng thời cấptrên cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới về các lĩnh vực liên quan đến tổ chức vàhoạt động của cơ quan THADS, phải tạo điều kiện để cấp dưới phát huy sự chủ động,sáng tạo nhằm huy động mọi khả năng về trí tuệ và lao động.
Sự phụ thuộc của cơ quan THADS vào có quan hành chính Nhà nước ở địaphương: Cơ quan THADS được xác định là cơ quan chuyên môn trong bộ máy hànhchính Nhà nước, như vậy trong tổ chức và hoạt động của mình cơ quan này phụ thuộcvào sự chỉ đạo của cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương Về tổ chức, mặc dù khi
bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo được Tổng cục THADS trình và Bộ trưởng Bộ Tư pháp
Trang 24là người ký quyết định, nhưng phải được báo cáo với cơ quan hành chính ở địaphương; trong hoạt động của cơ quan THADS, Ban chỉ đạo thi hành án dân sự do mộtphó chủ tịch tỉnh làm trưởng ban, tất cả các vụ việc khó khăn phức tạp đều được xin ýkiến chỉ đạo của trưởng ban chỉ đạo Sau đó UBND cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo vềtình hình tổ chức và hoạt động của cơ quan THADS cho hội đồng nhân dân cùng cấp.Mối quan hệ này vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của của cơ quan chuyên mônđồng thời phát huy thế mạnh của cơ quan hành chính ở địa phương.
Trong tổ chức và hoạt động cơ quan THADS sự kết hợp giữa tôn trọng quyền tựđịnh đoạt của đương sự với việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, là một trongnhững biểu hiện rất quan trọng của nguyên tắc tập trung- dân chủ
Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ lợi ích của Nhà nước và chính sách nhân đạo nhằmbảo vệ quyền lợi ích cấp thiết của đương sự, pháp luật quy định quyền chủ động raquyết định THA, của cơ quan THA trong những trường hợp “bản án, quyết định về trảlại tài sản hoặc bồi thường tài sản XHCN; phạt tiền; tịch thu tài sản và án phí; cácquyết định khẩn cấp, tạm thời…” (Điều 20 Luật THADS)
Bản án, quyết định về phần bồi thường dân sự chỉ được đưa ra thi hành khi cóyêu cầu của người được thi hành án, thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự Đây là
sự khác biệt giữa THADS và THA hình sự, khi bản án hình sự có hiệu lực pháp luật,không phụ thuộc vào ý chí của đương sự Đối với phần dân sự trong bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật, các bên vẫn có quyền thể hiện ý chí của mình về việc thi hànhcác phán quyết của Tòa án, pháp luật khuyến khích sự thỏa thuận tự nguyện của ngườiđược THA và người phải THA về thời hạn, phương pháp thực hiện nghĩa vụ và nhữngvấn đề khác liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nếu không tráivới pháp luật, đạo đức xã hội và không làm trở ngại hoạt động THA
Kết hợp chặt chẽ việc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự và sự chủ độngTHA của cơ quan THA, Chấp hành viên tạo nên cơ chế đặc thù của THADS, bảo đảmquyền lựa chọn cách ứng xử cũng như sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên đương sự,
Trang 25đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của công dân và tổ chức trong hoạt động THADS.
1.3.4 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa với nội dung quan trọng là sự tôn trọng và tuân thủ triệt
để pháp luật của cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức Nhà nước, đã trở thành nguyêntắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, trong
đó có các cơ quan hành chính Nhà nước Hiến pháp nhà nước ta quy định: "Nhà nướcquản lý Nhà nước bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa"
Đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của cơ quanTHADS đòi hỏi: Trong lĩnh vực ban hành pháp luật, các văn bản pháp luật liên quanđến lĩnh vực thi hành án dân sự phải được ban hành đúng thẩm quyền, các văn bản phải
có nội dung hợp pháp và thống nhất và phải được ban hành theo đúng trình tự, tủ thụcquy định
Trong lĩnh vực tổ chức thực hiện pháp luật: tổ chức thực hiện pháp luật trong hoạtđộng thi hành án dân sự là hoạt động tổ chức thực hiện nội dung các văn bản pháp luậttrong lĩnh vực THADS Việc thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực thi hành án dân sựphải đúng nội dung, trình tự thủ tục theo quy định của Luật thi hành án dân sự và cácvăn bản hướng dẫn thi hành; hoạt động giám sát, kiểm tra thanh tra việc thi hành phápluật trong hoạt động của cơ quan THADS, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo phảiđược thực hiện một cách nghiêm ngặt, theo đúng các quy định của pháp luật nhằmngăn chặn, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm, đảm bảo cho pháp luật được thực thimột cách nghiêm chỉnh và thống nhất
Trong hoạt động cơ quan THADS nguyên tắc này phải được tuân thủ nghiêmngặt để việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án được kịp thời, đúng nội dung bản
án, bảo đảm trình tự, thủ tục luật định
Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đầy đủ, đúng phán quyết của Tòa án,
Trang 26không được tùy tiện thay đổi nội dung bản án, quyết định của Tòa án, Chấp hành viên
“Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật
về trình tự thủ tục THA…”(Điều 20 Luật THADS) Khi thực hiện nhiệm vụ Chấp hànhviên không được can thiệp “trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc THA hoặc lợidụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm THA” (Điều 21 LuậtTHADS)
Nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cácbên đương sự, chống sự sách nhiễu, gây phiền hà trong quá trình thi hành án góp phầntạo niềm tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật
1.3.5 Nguyên tắc đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án.
Việc thi hành nghiêm chỉnh và tôn trọng triệt để các bản án, quyết định có hiệulực pháp luật của Tòa án là một tất yếu khách quan của bất kỳ quốc gia nào, nó là mộtnhiệm vụ quan trọng phải được thực hiện nghiêm chỉnh trong hoạt động của các ngành,các cấp trực tiếp liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổchức và công dân, góp phần đáng kể vào việc giữ gìn trật tự xã hội Bản án, quyết địnhcủa tòa án là sự phán xét nhân danh Nhà nước phải được bảo đảm thực hiện bằng sứcmạnh cưỡng chế của Nhà nước
Là nguyên tắc hiến định, được quy định tại Điều 136 Hiến pháp năm 1992, đượcsửa đổi bổ sung năm 2001 đã xác định “các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân
có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những người và đơn vị hữuquan phải nghiêm chỉnh chấp hành”
Đây là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ tổ chức và hoạt động THA nói chung vàTHADS nói riêng, nó không cho phép bất kỳ sự cản trở nào đối với việc thi hành cácbản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án
1.3.6 Nguyên tắc chỉ có cơ quan THADS và Chấp hành viên là có thẩm quyền THADS.
Trang 27Nguyên tắc này được quy định cụ thể trong Luật THADS năm 2008,từ điều 14đến điều 17: Điều 14 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan THADS cấp tỉnh;Điều 15 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS cấp quân khu; Điều 16quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan THADS cấp huyện; Điều 17 quy định vềChấp hành viên, đều được khẳng định cơ quan THADS, Chấp hành viên là người đượcNhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định và được pháp luật bảo vệ Đây
là nguyên tắc vừa khẳng định tính chuyên trách của hoạt động THADS, vừa thể hiệntrách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.Với việc quy định rõ trách nhiệm của cơ quan THADS, của Chấp hành viên sẽ làm chocông việc đạt hiệu quả hơn, giảm bớt việc đùn đẩy trách nhiệm
1.3.7 Nguyên tắc kết hợp vai trò chuyên trách, chủ động của cơ quan THA, Chấp hành viên với sự chỉ đạo, tổ chức của Chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan.
Điều 17 Luât THADS quy định “Chấp hành viên là người được Nhà nước giaonhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định”; theo quy định tại Điều173,174 Luật THADS, khoản 4 Điều 94 và khoản 4 Điều 106 Luật Tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định “Trong lĩnh vực thi hành pháp luật, UBND cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện tổ chức, chỉ đạo công tác THADS ở địa phương theo quy định của pháp luật”, theo quy định của Luật THADS, UBND chỉ đạo tổ chức
phối hợp các cơ quan có liên quan trong THADS Điều 166 Luật THADS năm 2008
quy định “Chính phủ thống nhất quản lý về công tác THADS trong phạm vi cả nước; chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, UBND cấp tỉnh trong THADS; phối hợp với Tòa
án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao trong công tác THADS”.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 18 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001, được sửa
đổi, bổ sung năm 2008, Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn “thống nhất quản lý công tác hành chính tư pháp, các hoạt động về Luật sư, giám định tư pháp, công chứng, bổ trợ tư pháp; tổ chức và quản lý công tác THA…”
Trang 28Đây là nguyên tắc quan trọng, xuất phát từ tính chất đặc thù của tổ chức và hoạtđộng THADS ở nước ta Hoạt động THADS nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của côngdân, tập thể, giữ gìn kỷ cương phép nước, không chỉ là hoạt động chuyên môn thuầntúy của cơ quan THA, Chấp hành viên mà còn là trách nhiệm của các cấp chính quyền
và toàn thể xã hội Sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của
cơ quan THA, Chấp hành viên và sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Chính phủ, củaUBND các cấp, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan, tạo ra sức mạnh tổnghợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cả cộng đồng trong hoạt động THADS
1.4 Tổ chức, hoạt động cơ quan thi hành án dân sự một số nước trên thế giới, kinh nghiệm và thực tiễn.
1.4.1 Cộng hòa Liên Bang Đức.
* Về tổ chức: Việc THADS do tòa án khu vực đảm nhiệm, ở tòa án này có thẩm
phán, nhân viên tòa án, Chấp hành viên và nhân viên THA Chấp hành viên chịu sựgiám sát trực tiếp của Chánh án Tòa án cấp khu vực Tuy là công chức nhưng Chấphành viên thực hiện công việc của mình một cách độc lập, có con dấu riêng, đượchưởng một khoản lương cố định Chấp hành viên không làm việc tại cơ quan tòa án mà
mở văn phòng riêng và được quyền tuyển các nhân viên giúp việc Chấp hành viênđược hưởng lương, được nhận 15% lệ phí THA, các khoản tiền thanh toán và các chiphí khác như: đi lại, sao chụp tài liệu…
* Về hoạt động trực tiếp THA:
- Quyền yêu cầu THA: để tiến hành cưỡng chế THA thì phải có đơn yêu cầu của ngườiđược THA, người đệ đơn có quyền rút đơn bất cứ lúc nào nhưng phải chịu mọi chi phí
- Lệ phí THA: chi phí cưỡng chế THA do con nợ chịu, trong trường hợp con nợ không
đủ các tài sản để chi trả chi phí thì chủ nợ chịu Lệ phí THA được tính theo bảng biểu
do Nhà nước quy định tùy theo giá ngạch của đơn yêu cầu
- Thời hiệu yêu cầu THA: là 30 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực phápluật
Trang 29- Căn cứ, điều kiện để tiến hành việc THA: Để có thể cưỡng chế THA cần phải có 3điều kiện: phải có văn bằng xác nhận quyền yêu cầu được đưa ra thi hành; phải có quyđịnh về điều khoản thi hành; phải được thực hiện việc tống đạt.
- Các biện pháp, chế tài đối với người cố tình không thi hành án: Chấp hành viên cóquyền yêu cầu cảnh sát áp giải đương sự theo giấy triệu tập đến cơ quan THA nếuđương sự cố tình trốn tránh được báo gọi nhiều lần không đến Chấp hành viên cóquyền khám nhà và những nơi cất giữ tài sản của con nợ, có quyền mở khóa nhà, khóaphòng hoặc ngăn có chứa đồ đạc bị khóa nếu thấy việc đó cầ thiết cho việc THA.Trong trường hợp con nợ chống đối hoặc phản kháng lại Chấp hành viên có quyềndùng vũ lực và yêu cầu cảnh sát hỗ trợ Ngoài ra, theo pháp luật Đức, trường hợpđương sự không có tài sản gì để THA thỉ chủ nợ có quyền yêu cầu tòa thi hành án triệutập con nợ đến Tòa để buộc họ phải tuyên thệ về việc không có tài sản để THA Nếucon nợ không chịu tuyên thệ, thì chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án bắt giam cho đến khicon nợ đồng ý tuyên thệ, nếu không sẽ bị giam giữ kéo dài về mọi chi phí trong thờigian giam giữ do con nợ chịu
- Các biện pháp cưỡng chế Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế thi hành đối vớicác trường hợp sau: cưỡng chế thi hành đối với các trường hợp sau: cưỡng chế thi hànhđòi tiền từ động sản của con nợ cưỡng chế thi hành vào giấy tờ có giá trị của con nợ;cưỡng chế thi hành việc trả lại đồ vật, trong đó có việc cưỡng chế buộc ra khỏi nhà
- Đối với trường hợp không có tài sản là động sản để THA thì có quyền yêu cầu Tòa án
áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác như: khấu trừ thu nhập; trừ vào quyền yêu cầucủa con nợ đối với người khác; trừ vào quyền tài sản của con nợ (tài sản thừa kế, vốngóp vào công ty…) yêu cầu cưỡng chế, phát mại tài sản của con nợ là bất động sản
- Những tài sản không được kê biên: việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế phải đảmbảo cho người bị cưỡng chế vẫn đủ khả năng tiếp tục cuộc sống ở mức độ vừa phải cóđiều kiện làm việc và nuôi sống gia đình Điều 811 Bộ Luật tố tụng dân sự quy địnhdanh mục chi tiết các loại tài sản không được kê biên: Những đồ vật để sử dụng cá
Trang 30nhân hoặc để phục vụ đời sống hàng ngày như: quần áo, giường nệm, đồ dùng trongnhà bếp hoặc thiết bị trong biệt thự, những đồ vật là động sản mà con nợ và gia đình họthườn xuyên cần để lưu cư…
Khác với THADS ở Việt Nam, cơ quan THADS là cơ quan độc lập, Chấp hànhviên là công chức Nhà nước chịu trách nhiệm trực tiếp thi hành các bản án, quyết địnhcủa Tòa án theo quy định của pháp luật Trước kia ở Việt Nam đã có một thời gian dàiTHADS nằm trong Tòa án nhân dân các cấp, Chấp hành viên làm việc theo sự chỉ đạocủa Thẩm phán, do vậy hiệu quả hoạt động của công tác này không cao Không giốngnhư pháp luật của Đức, Chấp hành viên là công chức Nhà nước nhưng được mở vănphòng riêng và được thu phí theo quy định, được thực hiện công việc của mình mộtcách độc lập không phụ thuộc vào cơ quan Tòa án Ở Việt Nam hiện nay đang thí điểm
mô hình thừa phát lại Thừa phát lại cũng mở văn phòng riêng và hoạt động độc lậptrong việc lập vi bằng và THADS Từ kinh nghiệm hoạt động hoạt động hiệu quả củamột số nước trong đó có Cộng hòa Liên bang Đức, đây là một kinh nghiệm mà chúng
ta nên học hỏi để từng bước xã hội hóa THADS để làm cho hoạt động này hiệu quảhơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân Tronghoạt động trực tiếp thi hành bản án, giống với THADS ở Việt Nam hiện nay, đó là việckhi người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện nộp thì Chấp hành viêntiến hành cưỡng chế để đảm bảo việc thi hành án, các biện pháp cưỡng chế cũng tương
tự như ở Việt Nam, các khoản chi phí cưỡng chế do người phải thi hành án chịu Cóđiểm khác biệt rất lớn đó là quyền của Chấp hành viên rất lớn, đối với người cố tìnhkhông thi hành thì Chấp hành viên có quyền yêu cầu cảnh sát áp giải đến theo giấytriệu tập của cơ quan THA, và có quyền dùng vũ lực, điều này đã tạo ra uy thế rất lớncho cơ quan THA, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thi hành án Cách thức tổchức thi hành án và thẩm quyền của Chấp hành viên là mô hình để chúng ta tiếp thuchọn lọc nhằm xây dựng, kiện toàn tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự Trong bốicảnh hội nhập hiện nay nên chuyển cả việc thi hành án hình sự sang Bộ Tư pháp quản
Trang 31lý, được sự hỗ trợ của cảnh sát tư pháp tạo ra uy thế của cơ quan thi hành án, làm chocông tác THADS hoạt động hiệu quả hơn.
1.4.2 Cộng hòa Pháp.
* Về tổ chức: Việc THA được thực hiện thông qua Thừa phát lại, là một tổ chức
nghề nghiệp không phải là cơ quan Nhà nước Tuy nhiên, việc THA cần có sự giám sátcủa Nhà nước, đó là sự giám sát của tòa án, trực tiếp là Thẩm phán Tòa án Trong quátrình THA nếu có các vấn đề về tranh chấp phát sinh thì Thẩm phán thi hành án giảiquyết Thừa phát lại không phải là công chức Nhà nước, mà là người được bổ nhiệm đểthực hiện xứ mệnh công, nhưng theo quy chế của người hành nghề tự do, không ănlương Nhà nước tự hạch toán
* Về hoạt động trực tiếp thi hành bản án.
- Quyền yêu cầu THA: Việc THA căn cứ vào đơn yêu cầu của người được THA, ngườiyêu cầu phải nộp lệ phí THA theo biểu giá do Nhà nước quy định
- Căn cứ điều kiện THA: Mọi bản án, quyết định chỉ được đưa ra thi hành nếu đương
sự xuất trình một bản sao ghi rõ “để thi hành”, trừ khi pháp luật có yêu cầu khác; bản
án chỉ được thi hành khi người phải THA đã được tống đạt, trừ trường hợp họ tựnguyện thi hành Theo quy định của pháp luật Pháp, các giấy tờ có hiệu lực thi hànhngoài bản án của Tòa án, còn có các văn bản công chứng có ghi “để thi hành”, trích lụcbiên bản hòa giải thành, séc thanh toán
- Các biện pháp cưỡng chế: Theo Luật số 90-650 ngày 9/7/1991 về cải cách thủ tụcTHADS thì mọi tài sản của người mắc nợ đều có thể bị kê biên, ngay cả khi tài sản đó
do người thứ ba giữ Các biện pháp cưỡng chế chủ yếu là: Kê biên thanh toán nợ: mọichủ nợ có trong tay một văn bản có hiệu lực thi hành ghi nhận một khoản nợ bằng tiềnmặt đều có thể được thi hành; kê biên tiền lương căn cứ vào định mức, có thể kê biêntiền công, lương, tổng số nợ và lãi suất theo con nợ theo yêu cầu của chủ nợ hoặcngười mắc nợ; phong tỏa động sản: tức là việc Thừa phát lại cho phong tỏa các độngsản mà người mắc nợ phải giao hoặc trả lại cho chủ nợ theo quyết định thi hành án…
Trang 32- Những tài sản không được kê biên: pháp luật thi hành án quy định những tài sản sauđây không thể bị kê biên: Tài sản không thể bị kê biên theo luật: Thực phẩm, tiền trợcấp nuôi dưỡng, trừ khoản tiền mà bên kê biên trả để cấp dưỡng cho bên bị kê biên, cáctài sản có thể định đoạt được nhưng được người viết di chúc hoặc người tặng cho tuyên
bố không thể kê biên, theo sự cho phép của thẩm phán và trong một tỉ lệ do Thẩm phánquyết định…
Mô hình tổ chức của Pháp có điểm khác rất lớn so với mô hình tổ chức của Cơquan THADS ở Việt Nam hiện nay, thi hành án hoàn toàn do một tổ chức nghề nghiệpkhông phải do cơ quan Nhà nước tiến hành, nhưng dưới sự giám sát của tòa án, nếu cóvấn đề phát sinh thì thẩm phán giải quyết Thực hiện mô hình này, hoạt động thi hành
án rất hiệu quả vì hoạt động theo quy chế của người hành nghề tự do không ăn lươngnhà nước, tự hạch toán nhưng vẫn có sự giám sát của cơ quan Nhà nước Ở Việt Namhiện nay mô hình này đang được thí điểm thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, trongtương lai sẽ tiến hành xã hội hóa công tác THADS, đang học tập rất nhiều kinh nghiệmcủa Pháp trong việc thực hiện mô hình này, nhưng quản lý Nhà nước không phải là hệthống Tòa án mà do Bộ Tư pháp quản lý
Về hoạt động trực tiếp thi hành án người được thi hành án cũng phải có đơn yêucầu thi hành án và nộp lệ phí theo quy định, nếu người phải thi hành án không tựnguyện thi hành thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, đối tượng được thi hành án được
mở rộng hơn, ở nước ta hiện nay chỉ có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thihành mới được thi hành, theo luật của Pháp séc thanh toán, văn bản giấy tờ công có ghi
"để thi hành" cũng được Thừa phát lại thi hành Đối tượng được thi hành tương đốiđược mở rộng, ở nước ta hiện nay nên lấy kinh nghiệm của Pháp trong lĩnh vực này,nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân
1.4.3 Nhật Bản:
* Về tổ chức: Cơ quan THA là một cơ quan tư pháp độc lập thuộc Tòa án sơ
thẩm Người trực tiếp THA là các Chấp hành viên, Chấp hành viên là công chức Nhà
Trang 33nước hoạt động dưới sự giám sát của tòa thi hành án, Chấp hành viên do Chánh án Tòa
án sơ thẩm bổ nhiệm
* Về hoạt động trực tiếp thi hành bản án:
- Quyền yêu cầu THA: Khi người được THA có đơn yêu cầu thì việc THA mới đượctiến hành Trong đơn yêu cầu phải chỉ rõ tài sản (tiền, bất động sản…) của người phảiTHA ở đâu? Tình trạng như thế nào?, người được THA phải tự tìm hiểu về tình trạngtài sản của người phải THA để cung cấp thông tin cho cơ quan THA Đây là điều kiệntiên quyết không thể thiếu được của việc THA
- Lệ phí THA: Người được THA phải nộp theo đơn yêu cầu THA lệ phí, chi phí đặtcọc, nếu họ không đặt cọc hoặc đặt không đủ, Chấp hành viên có quyền từ chối, trừtrường hợp được miễn giảm theo quy định của pháp luật Ngoài các khoản lệ phí, giấy
tờ nêu trên, người được THA còn phải nộp lệ phí THA và những chi phí cần thiết khác(là những chi phí thực tế mà Chấp hành viên phải bỏ ra)
- Thời hiệu THA: Luật THADS quy định thời hiệu THA là 10 năm Hết 10 năm ngườiphải THA phải có đơn yêu cầu chấm dứt việc THA, thế nhưng sau 11 năm nếu có đơnyêu cầu của người được THA thì Tòa án vẫn phải thi hành án
- Căn cứ, điều kiện để tiến hành việc THA: cùng với việc nêu rõ nội dung đơn yêu cầucủa các bên có liên quan, chứng thư nghĩa vụ dân sự là tài liệu cơ bản nhất cho các thủtục thi hành cưỡng chế và là tiêu chuẩn duy nhất để các cơ quan THA thực hiện việcTHA bằng biện pháp cưỡng chế Chứng thư nghĩa vụ dân sự gồm có: các bản án, quyếtđịnh của Tòa án; yêu cầu về thanh toán kèm theo tuyên bố về thi hành tạm thời; quyếtđịnh về lệ phí kiện tụng; chứng thư đã được cơ quan công chứng xác nhận
- Các biện pháp cưỡng chế: Nếu bên phải THA không tự nguyện thi hành, thì trên cơ
sở yêu cầu của người được THA, tòa thi hành án ra lệnh cưỡng chế THA LuậtTHADS quy định một số hình thức cưỡng chế THA: thi hành cưỡng chế đối với quyềnvật được bảo đảm, bán đấu giá…
- Những tài sản không được kê biên: pháp luật cấm kê biên và bán đấu giá các loại tài
Trang 34sản: quần, áo, giường chiếu những vật dụng phục vụ sinh hoạt tối thiểu hàng ngày.Như trên trình bày chúng ta có thể thấy, mô hình thi hành án ở Nhật Bản rất khác
so với Việt Nam hiện nay, cơ quan thi hành án là một cơ quan tư pháp độc lập, Chấphành viên là công chức Nhà nước, hoạt động dưới sự giám sát của Tòa thi hành án ỞNhật Bản mặc dù thi hành án nằm trong hệ thống tòa án nhưng có tòa thi hành ánriêng, với mô hình tổ chức này sẽ thuận lợi hơn trong việc cấp, chỉnh sửa bản án, quyếtđịnh của tòa án có vướng mắc sẽ được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, tòa thi hành ánhoạt động độc lập nên sẽ hiệu quả hoạt động hiệu quả hơn Ở nước ta trước kia thi hành
án nằm trong hệ thống tòa án dưới sự quản lý trực tiếp về nghiệp vụ, điều này dẫn đếnhiệu quả của hoạt động thi hành án rất thấp vì thẩm phán phải kiêm nhiệm rất nhiềuviệc chủ yếu chú ý đến công tác xét xử
Về hoạt động trực tiếp thi hành án, cũng giống như ở Việt Nam hiện nay, cơ quanthi hành án ra quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án, người được thihành án phải chứng minh tài sản của người phải thi hành án, học tập king nghiệm củaNhật Bản đây là một quy định rất mới của Luật thi hành án dân sự năm 2008 của nước
ta Ở Nhật Bản thời hiệu yêu cầu thi hành án dài hơn đó là 10 năm, hết thời hiệu ngườiphải thi hành án phải có đơn yêu cầu chấm dứt việc thi hành án, nhưng sau 10 năm cóđơn yêu cầu tòa thi hành án vẫn thụ lý giải quyết mà không yêu cầu chứng minh nhữngtrở ngại khách quan như ở Việt Nam hiện nay, điều này tạo điều kiện thuận lợi hơn chongười được thi hành án, nhưng sẽ gây ra trường hợp thời gian thi hành quá dài sẽ làmkhó khăn cho công tác xác minh giải quyết Cũng giống như ở Việt Nam và một sốnước, nếu người được thi hành án không tự nguyên thi hành thì tòa thi hành án sẽ raquyết định cưỡng chế thi hành án, nhưng không kê biên những tài sản thuộc đồ dùngsinh hoạt tối thiểu như: quần áo, giường chiếu
Tóm lại, qua trình bày một số đặc điểm về tổ chức và hoạt động THADS một sốnước trên thế giới tác giả đưa ra một vài nhận xét sau: tổ chức và hoạt động THADS ởcác nước không giống nhau, tùy theo tình hình đặc điểm kinh tế- xã hộ, yếu tố truyền
Trang 35thống, tâm lý mà tổ chức THADS của mỗi nước thể hiện dưới hình thức công, báncông, hoặc do tư nhân đảm nhiệm Việc THA chủ yếu căn cứ theo đơn yêu cầu củangười được THA, thể hiện khá đầy đủ quyền tự định đoạt của đương sự Hầu hết cácnước đều quy định lệ phí THA, nhìn chung lệ phí THA do đương sự chịu, Nhà nướcchỉ hỗ trợ trong chừng mực cần thiết Thẩm quyền của cơ quan THA, Chấp hành viênđược pháp luật quy định khá rộng và đảm bảo hiệu lực thực thi Các nước trên đều cóLuật THADS riêng, quy định khá đầy đủ, chặt chẽ về tổ chức và hoạt động của cơ quanTHADS Đối với THADS ở Việt Nam hiện nay cần học tập rất nhiều kinh nghiệm củamột số nước như Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức, đặc biệt là thí điểm mô hình Thừaphát lại để tiến tới xã hội hóa công tác thi hành án dân sự, đảm bảo hơn quyền và lợiích hợp pháp của Nhà nước và mọi cá nhân
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của cơ quan Thi hành án dân sự.
Từ sau Cách mạng tháng tám 8/ 1945 thành công, hệ thống chính trị mới ra đời,trong đó Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (sau này là Nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam) đã đóng vai trò lịch sử hết sức quan trọng trong sự nghiệp cáchmạng của dân tộc Cùng với sự ra đời của Nhà nước kiểu mới, nền tư pháp mới của chế
độ dân chủ nhân dân cũng được hình thành và phát triển, thay thế nền tư pháp cũ củachế độ thực dân phong kiến đã tồn tại gần một trăm năm trước đó
Ngày 28/8/1945, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra tuyêncáo công bố danh sách nội các thống nhất quốc gia, trong đó có Bộ trưởng Bộ Tư pháp.Tiếp đó tại sắc lệnh số 33-SL ngày 13/9/1945 đã thành lập các Tòa án quân sự, thiết lập
hệ thống cơ quan xét xử của Nhà nước mới, cùng với sự ra đời của Bộ Tư pháp và tổ
Trang 36chức Tòa án, tổ chức THADS cũng được hình thành, đáp ứng yêu cầu của công tác xét
xử bảo vệ pháp chế
Qua hơn 60 năm hình thành và phát triển, công tác THADS Việt Nam đã góp phầnquan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Qua từng giai đoạn lịch sử, tổchức và hoạt động THADS Việt Nam ngày càng được hoàn thiện, củng cố phù hợp vớiyêu cầu, nhiệm vụ mà Nhà nước đặt ra
2.1.1 Giai đoạn từ tháng tám 1945 đến năm 1989.
Trước cách mạng tháng tám 1945, ở nước ta tồn tại chế độ Thừa phát lại Thừa phát lạiđược tổ chức ở Việt Nam với nhiệm vụ: Thông báo tòa khai mạc và bế mạc, gọi cácđương sự, nhân chứng, thi hành lệnh giữ trật tự phiên tòa, tống đạt giấy tờ theo yêu cầucủa Tòa án, thi hành án văn có hiệu lực pháp luật, triệu tập đương sự, lập các vi bằngtheo quy định của pháp luật (theo quy định của Luật Tố tụng dân sự ban hành theoNghị định ngày 16/3/1910 của toàn quyền Đông Dương) Thừa phát lại là những cônglại được pháp luật giao việc làm các truyền phiếu, các việc về tư pháp, việc thi hànhcác bản án, công văn cũng là công việc nội bộ trong Tòa án (theo Nghị định số111/BTP ngày 02/02/1950 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) [24, tr.13]
Như vậy, một trong những nhiệm vụ chính của Thừa phát lại là Thi hành án dân sự.Chế định Thừa phát lại đã được hình thành và tồn tại ở Việt Nam trước cách mạngtháng tám năm 1945 cho đến 1950 và sau đó tiếp tục tồn tại dưới chế độ ngụy quyềnSài gòn cho đến ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng(1975)
Sau Cách mạng tháng tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,một loạt các hệ thống cơ quan được thành lập, chế độ Thừa phát lại tiếp tục được duytrì và chịu sự quản lý của Ban công lại thuộc phòng giám đốc của Bộ Tư pháp
Đến năm 1946 tại sắc lệnh số 13 ngày 20/11/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thờiViệt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức của các tòa án và các ngạch Thẩm phán đã đặt
cơ sở đầu tiên cho tổ chức THADS Việt Nam Tại khoản 3 Điều 3 Sắc lệnh quy định
“Ban tư pháp xã có quyền thi hành những mệnh lệnh hoặc án” [24, tr.14]
Trang 37Như vậy, tổ chưc THADS đã được hình thành ngay trong những năm đầu sau Cáchmạng tháng tám năm 1945 và tồn tại dưới hai hình thức: Thừa phát lại và Ban Tư pháp
xã Tuy tồn tại hai lực lượng THA, nhưng việc THA do Thừa phát lại hay Ban Tư pháp
xã tiến hành đều thể hiện quyền lực Nhà nước và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡngchế của Nhà nước Điều này được thể hiện tại Sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 của Chủtịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Điều thứ nhất của Sắc lệnh này quy định:Các bản án toàn sao hoặc trích sao bản án hoặc mệnh lệnh do các phòng Lục sự phátcho các đương sự để thi hành các bản án hoặc mệnh lệnh của các Tòa án hộ đều phải
có thể thức thi hành, ấn định như sau: “Vậy, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa truyền cho các Thừa phát lại theo yêu cầu của đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý và Biện lý kiểm sát việc THA, Cát thị chỉ huy binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiếu luật yêu cầu”.
Về hoạt động THA, Thông tư số 24-BK ngày 26/4/1949 của Bộ trưởng Bộ Tưpháp về việc THA Hình và Hộ đã quy định cụ thể các nguyên tắc chấp hành, thể thứcchấp hành, cách thức thi hành các bản án và quyết định của Tòa án Thông tư trên đãxác định trách nhiệm thi hành án của Thừa phát lại, Ban Tư pháp xã và nhấn mạnh vaitrò của UBND xã, thị xã, khu phố và các cơ quan có liên quan trong việc hỗ trợ THA
Rõ ràng Nhà nước không chỉ tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự trong giaolưu dân sự, thương sự và tố tụng mà còn đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sựtrong việc bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình bằng cưỡng chế của Nhà nước Tuy còn ởnhững bước đi ban đầu nhưng tổ chức và hoạt động THADS đã có những đóng gópquan trọng vào việc hình thành và phát triển cơ quan THADS hướng tới hoàn chỉnh vàhoạt động hiệu quả như ngày nay
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 85/SL về “Cải cách bộ máy
tư pháp và luật tố tụng” tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong tổ chức vàhoạt động tư pháp nói chung và tổ chức, hoạt động THADS nói riêng Điều 19 của Sắc
lệnh quy định “Thẩm phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp
Trang 38hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ mà chính Tòa án huyện hay Tòa án trên đã tuyên” Theo quy định này, việc THADS do Thừa phát lại và
Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng Thẩm phán huyện dưới sự chỉđạo trực tiếp của Chánh án, sự kiện này đã làm thay đổi căn bản cơ chế tổ chức, hoạtđộng THADS THADS từ chỗ căn cứ vào yêu cầu của đương sự đã trở thành tráchnhiệm của Nhà nước Tòa án chủ động THADS mà không chỉ yêu cầu của người đượcTHA
Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức TAND năm
1960, Điều 24 Luật này xác định “Tại các TAND địa phương có nhân viên chấp hành
án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án và quyết định hình sự” Vấn đề vị trí, chức năng,
nhiệm vụ của nhân viên Chấp hành án được xác định rõ trong các trong Luật tổ chứcTòa án nhân dân đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động THADS.Ngày 13/10/1972, Chánh án Tòa án nhân dân Tối Cao đã ra Quyết định số 186/TC về
tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên, tên gọi “Chấp hành viên” ra đời từ
đó và tồn tại đến ngày nay
Nhà nước không tổ chức cơ quan THADS riêng mà chỉ đặt “Chấp hành viên” tạicác Tòa án địa phương để thực hiện chuyên trách việc THADS Chấp hành viên cónhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định về dân sự, những khoản xử phạt tiền, tịchthu tài sản, bồi thường hoàn trả tài sản trong các bản án, quyết định hình sự, giúpChánh án Tòa án nhân dân đôn đốc, kiểm tra công tác THA tại Tòa án nhân dân cấpdưới Chấp hành viên thực thi nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Chánh án tòa án nơi mìnhcông tác không có quyền trực tiếp chỉ đạo công tác của Chấp hành viên Tòa án cấpdưới
Ngoài ra pháp luật cũng quy định trách nhiệm của Ủy ban hành chính xã, phườngcùng các cơ quan có liên quan trong việc hỗ trợ THA, Viện kiểm sát nhân dân các cấpkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc chấp hành bản án, quyết định của Tòa án
Trang 39nhân dân(Điều 7 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân) Thông tư số 442-TC ngày4/7/1968 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc đẩy mạnh công tác THA đã xác địnhnhiệm vụ của chính quyền cấp xã là giáo dục, theo dõi đôn đốc đương sự tự nguyệnTHA, giúp Tòa án điều tra tình hình trong quá trình THA Để đưa công tác THA từngbước đi vào nề nếp, Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành điều lệ tạm thời về công tácTHA Công văn số 827/CV ngày 23/10/1979 quy định khá chi tiết về trình tự, thủ tụcTHA Nét đặc trưng trong nội dung quy định của Điều lệ tạm thời cũng như các vănbản pháp luật trong thời kỳ này là khẳng định trách nhiệm chủ động của Nhà nước(tòaán), đối với việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án; đồng thời tạo ra tâm lý thụđộng, ỷ lại của đương sự chỉ chờ vào sự bao cấp của Nhà nước [24, Tr.26].
Với sự ra đời của Hiến pháp năm 1980, hàng loạt các đạo luật về tổ chức của bộmáy của Nhà nước cũng được ban hành, nhằm kiện toàn bộ máy Nhà nước, phân định
rõ chức năng của từng loại cơ quan, tăng cường hiệu lực của quản lý Nhà nước bằngpháp luật Điều 16 của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 đã giao cho Bộ tư pháp(mới được thành lập sau hơn 20 năm giải thể) đảm nhiệm công tác quản lý Tòa án nhândân đị phương về mặt tổ chức Nghị định số 143-HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng
bộ trưởng(nay là Chính phủ) về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp đãquy định: Bộ Tư pháp có chức năng quản lý Tòa án nhân dân địa phương về mặt tổchức, trong đó gồm cả việc quản lý công tác THADS Theo Nghị định này, Bộ Tư pháp
có nhiệm vụ “trình Hội đồng bộ trưởng ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy chế chấp hành án” Tòa án nhân dân Tối cao đã bàn giao nhiệm vụ quản lý công
tác THA trong phạm vi cả nước sang Bộ Tư pháp bắt đầu từ 01/01/1982 Ngày18/7/1982, Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân Tối cao đã ký thông qua Thông tư liênngành số 472 về “quản lý công tác THA trong thời kỳ trước mắt” quy định: ở địaphương tại các Tòa án cấp tỉnh có phòng THA nằm trong cơ cấu bộ máy và biên chếcủa Tòa án để giúp Chánh án chỉ đạo công tác THA; ở các Tòa án cấp huyện có Chấphành viên hoặc cán bộ làm công tác THA dưới sự chỉ đạo của Chánh án Việc quản lý,
Trang 40chỉ đạo và tổ chức thực thi nhiệm vụ của Chấp hành viên vẫn do Chánh án Tòa án cùngcấp đảm nhiệm như đã quy định trong quyết định 186-TC ngày 13/10/1972 Biên chếcủa Tòa án nhân dân địa phương do Bộ Tư pháp phân bổ, căn cứ vào nhu cầu của côngtác THA, Chánh án Tòa án cấp tỉnh số lượng và bổ nhiệm Chấp hành viên hoặc cử cán
bộ làm công tác THA của Tòa án mình và Tòa án cấp dưới Cơ chế quản lý công tácTHA đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tư pháp và Tòa án từ trungương đến địa phương, đặc biệt là giữa các cơ quan tư pháp và Tòa án địa phương nơicông tác THA được trực tiếp thực hiện
Có thể thấy rằng, trong thời kỳ này tổ chức bộ máy cũng như nguyên tắc hoạt độngcủa cơ quan THA chưa được chủ trọng Cơ chế quản lý và tổ chức THA chưa tạo được
vị trí của Chấp hành viên tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra; mặt khác, tổchức và hoạt động THA là một giai đoạn khép kín trong Tòa án và tùy thuộc vào sự chỉđạo của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương Vai trò của Tòa án nhân dân Tối cao(và tiếp đó là Bộ Tư pháp từ 1981 đến 1992) trong việc quản lý Tòa án địa phương mớidừng lại ở vai trò quản lý chung, còn thực chất việc quản lý đội ngũ cán bộ Tòa áncũng như việc xây dựng đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động xét xử, THA do chínhquyền địa phương đảm nhiệm Nhiều năm liền công tác xét xử, còn THA hầu như ítquan tâm điều này dẫn đến tình trạng án xét xử không được thi hành chiếm tỉ lệ ngàycàng lớn trong lượng án phải thi hành hàng năm
2.1.2 Giai đoạn từ 1990 đến 1993.
Ngày 28/8/1989, Pháp lệnh THADS, một hình thức văn bản pháp lý có hiệu lựccao lần đầu tiên đã được ban hành, đặt cơ sở pháp lý cho việc tăng cường, hoàn thiện tổchức và hoạt động THADS Trên cơ sở đó, quy chế Chấp hành viên đã được ban hànhkèm theo Nghị định số 68/HĐBT này 6/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng Theo quyđịnh của Pháp lệnh THADS năm 1989 và quy chế Chấp hành viên, thì chỉ có Chấphành viên là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết địnhcủa Tòa án (trước đây việc THA, ngoài Chấp hành viên còn có thể do cán bộ THA thực