Vai trò của các tổ chức quốc tế IAEA International Atomic Energy Agency trong hoạt động QLNN đối với năng lượng ĐHN...39 KẾT CHƯƠNG I...41 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Trong đời sống xã hội, năng lượng điện ngày càng trở nên thiết yếu cho
sự phát triển các ngành, lĩnh vực, nhất là trong tiến trình hội nhập và phát triểnkinh tế toàn cầu Năng lượng điện là nguồn năng lượng cơ bản để vận hành, duytrì các mặt của đời sống xã hội, là yếu tố đầu vào quan trọng cho sự phát triểncủa mỗi quốc gia Tất cả các lĩnh vực, từ nông nghiệp đến công nghiệp, nhất làtrong tiến trình công nghiệp hóa đất nước thì việc đảm bảo nguồn năng lượngnhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân bền vững có ý nghĩa quyếtđịnh
Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, năng lượngđiện được cung cấp chủ yếu từ nguồn chính là: thủy điện và nhiệt điện Tuynhiên ai cũng biết rằng, khai thác tài nguyên thiên nhiên để sản xuất điện có ảnhhưởng rất lớn, nó có thể lảm biến đổi khí hậu – tự nhiên Trong khi mọi nguồntài nguyên thiên nhiên đều là có hạn, việc khai thác và sử dụng nó vượt quángưỡng cho phép thì không những nó không làm hồi phục được mà còn làm ảnhhưởng xấu đến điều kiện tự nhiên – xã hội của chính quốc gia đó
Theo các nhà nghiên cứu quy hoạch năng lượng, từ sau năm 2020, nhucầu điện năng của Việt Nam sẽ vượt quá khả năng cung cấp, mặc dù đã huyđộng mọi tiềm lực từ các nguồn năng lượng đang khai thác để bủ đắp vào phầnnăng lượng điện đang thiếu hụt
Các nhà hoạch định và cung cấp nguồn năng lượng đều thông nhất lựachọn một giải pháp mang tính tổng hợp gồm phát triển điện hạt nhân cùng vớivới nhập khẩu các dạng năng lượng khác như: điện, than, dầu khí trong đó, đặcbiệt quan tâm đến chiến lược phát triển ĐHN ở Việt Nam
Có thể nói rằng định hướng giải quyết nhu cầu năng lượng bằng việc phát triển điện hạt nhân là phù hợp với xu thế chung của thời đại, xu hướng phát triển chung của toàn thế giới là phát triển và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình.
Trang 2Theo kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn sản xuất , hiện các nhàmáy ĐHN thế hệ mới đảm bảo độ an toàn rất cao (đến 99,99%) và là loại hìnhnăng lượng thân thiện với môi trường Do nó sử dụng nguồn nguyên liệu tinhchế và phác thải môi trường có thể xử lý được gần như triệt để
Trước thực tế này, các nhà hoạch định chiến lược năng lượng ở hầu hếtcác quốc gia đều thống nhất rằng: ĐHN đóng vai trò quan trọng vào sự phát triểnkinh tế toàn cầu nói chung và mỗi quốc gia nói riêng
Xuất phát từ thực trạng cung ứng nguồn năng lượng cho phát triển kinh tế
xã hội Việt Nam và xu thế phát triển năng lượng ĐHN của thế giới Tác giả luậnvăn tập trung nghiên cứu về QLNN đối với năng lượng ĐHN từ thực tiễn triểnkhai dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam, nhằm mục đích gópphần hoàn thiện nội dung và hình thức QLNN về năng lượng ĐHN ở Việt Nam,
mà trước mắt là việc quản lý triển khai dự án nhà máy ĐHN đầu tiên
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm các nội dung liên quan đến côngtác QLNN đối với lĩnh vực năng lượng ĐHN;
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là từ thực tiễn quản lý cung cấp nănglượng điện hạt nhân nói chung và dự án NMĐHN Ninh Thuận – nhà máy điệnhạt nhân đầu tiên tại Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu khoa học
Tác giả luận văn tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ khoa họcquản lý hành chính công, vận dụng cơ sở phương pháp luận của duy vật biệnchứng - lịch sử
Trên cơ sở phương pháp luận, tác giải luận văn sử dụng phương phápkhoa học cụ thể như:
- Phương pháp trừu tượng khoa học để từ thực thiễn đối chiếu với lý luận khoahọc và từ lý luận đến thực tiễn;
- Phương pháp so sánh tổng hợp, thống kê; phân tích đánh giá (quy nạp và diễngiải) nhằm phân tích, so sánh các phương án, giải pháp để lựa chọn được phương
án vận dụng thực tiễn phù hợp, tối ưu
Trang 3Giả thuyết nghiên cứu khoa học:
Từ thực tiễn triển khai công tác quản lý dự án nhà máy điện hạt nhân NinhThuận – nhà máy điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam, tác giả luận văn nhận thấycần có một cái nhìn toàn diện, khoa học về công tác quản lý từ quản lý vĩ mô đếnquản lý vi mô để tạo một môi trường thuận lợi cho việc thực hiện dự án nhà máyđiện hạt nhân - dự án quan trọng quốc gia
Môi trường nghiên cứu được xác định là thực trạng môi trường pháp lýcủa Việt Nam và một số nước trên thế giới hiện nay (lấy số liệu đến năm 2010)
và giả định không có sự thay đổi thể chế chính trị - hành chính đến năm 2050
Từ kết quả quản lý nhà nước đối với dự án điện hạt nhân này có thể khái quáthóa về quản lý nhà nước đối với hệ thoogns điện hạt nhân ở Việt Nam trongtương lai,
Bố cục nội dung luận văn
Chương I: Lý luận chung về QLNN đối với năng lượng điện hạt nhân.Chương II: Thực trạng QLNN về năng lượng điện hạt nhân từ thực tiễntriển khai dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt nam
Chương III: Các kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế QLNN về năng lượngđiện hạt nhân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đây luận văn thạc sỹ nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với lĩnh vựckinh tế sản xuất điện hạt nhân dưới góc nhìn của các nhà hành chính công đầutiên ở Việt Nam Đây là một lĩnh vực rất mới ở Việt Nam, trong quá trình nghiêncứu đề tài, tác giả luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu xót Vì thế, Tác giả luậnvăn kính mong nhận được sự góp ý của các chuyên gia, các nhà khoa học đểhoàn thiện nội dung nghiên cứu của mình trong giai đoạn tiếp theo
Tác giả luận văn cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Hữu Hải, người đã động viên hướng dẫn Tác giả trong suốt quá trình thực hiện,
nghiên cứu hoàn thành luận văn./
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập, bằngchính công sức cá nhân (các tài liệu sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc thuthập rõ ràng không vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ của các tác giả khác./
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Thanh Hằng
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
Phương pháp nghiên cứu khoa học 2
Giả thuyết nghiên cứu khoa học: 3
Bố cục nội dung luận văn 3
LỜI CẢM ƠN 4
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC SƠ ĐỒ - BẢNG – BIỂU 7
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NĂNG LƯỢNG ĐIỆN HẠT NHÂN 8
I Nhận thức chung về QLNN trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội 8
II QLNN đối với năng lượng ĐHN 23
III Vai trò của các tổ chức quốc tế IAEA (International Atomic Energy Agency) trong hoạt động QLNN đối với năng lượng ĐHN 39
KẾT CHƯƠNG I 41
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NĂNG LƯỢNG ĐIỆN HẠT NHÂN TỪ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI DỰ ÁN NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM 42
I Tình hình phát triển điện hạt nhân và kinh nghiệm quản lý năng lượng ĐHN ở một số nước trên thế giới 42
II Khái quát về tình hình phát triển năng lượng ĐHN tại Việt Nam 50
III Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong QLNN đối với năng lượng ĐHN tại Việt Nam hiện nay 62
KẾT CHƯƠNG II 75
CHƯƠNG III HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NĂNG LƯỢNG ĐIỆN HẠT NHÂN 76
I Định hướng phát triển năng lượng điện hạt nhân 76
II Một số giải pháp QLNN về năng lượng điện hạt nhân tại Việt Nam 92
KẾT CHƯƠNG III 119
KẾT LUẬN CHUNG 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
I TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT 121
II TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG NƯỚC NGOÀI 121
III CÁC TRANG WEB VÀ THÔNG TIN INTERNET 122
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ - BẢNG – BIỂU
Trang 8CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
NĂNG LƯỢNG ĐIỆN HẠT NHÂN
I Nhận thức chung về QLNN trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
1.1 Khái niệm QLNN trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội
1.1.1 Khái niệm QLNN
Xuất phát từ nguồn gốc ra đời của Nhà nước nhằm điều hòa các mâu thuẫn
xã hội phát sinh trong quá trình vận động của các mối quan hệ sản xuất Trongbất kỳ một chế độ chính trị nào đều cần sự quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnhvực đời sống xã hội
Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa làcông cụ thống trị bằng quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị Chính nhờ vàocác quyền lực này mà giai cấp thống trị áp đặt ý trí của giai cấp mình lên toàn xãhội, điều khiển các hoạt động xã hội nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích trong đó
có lợi ích của giai cấp mình
Hơn nữa, trong xã hội phát triển nhất là trong môi trường kinh tế cạnhtranh, sự phát triển mạnh về lực lượng sản xuất làm mâu thuẫn lợi ích càng lớn
Để giải quyết các mâu thuẫn này không có gì khác là Nhà nước phải phát huyvai trò quản lý, điều hành, định hướng cho sự phát triển của toàn xã hội
Nhà nước có trong tay mình những công cụ để phát huy quyền lực, thể hiệnquyền lực của mình và giai cấp thống trị đứng sau đó áp đặt ý chí lên sự pháttriển của toàn xã hội
Nói tóm lại: QLNN là sự tác động của các cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền tới các quá trình kinh tế - xã hội, bằng hệ thống công cụ có tính chất nhà nước, nhằm đạt mục tiêu đã định.
1.1.2 Khái niệm QLNN về kinh tế – xã hội, ngành – lĩnh vực
Từ khái niệm trên thì chủ thể quản lý là các cơ quan nhà nước có chứcnăng thẩm quyền nhất định, được luật pháp qui định, điều này đòi hỏi cơ quanquản lý phải hoạt động đúng chức năng, thẩm quyền không được vượt quá thẩmquyền, không sai chức năng, nhờ đó các văn bản ban hành mới có hiệu lực pháp
lý, ngược lại sẽ vô hiệu và gây ra sự rối loạn trong quản lý
Trang 9Đối tượng QLNN về kinh tế chính là các quá trình kinh tế - xã hội với sựvận động phát triển không ngừng QLNN nói là sự quản lý vĩ mô của mọi quátrình kinh tế - xã hội với sự vận động phát triển không ngừng và sự mâu thuẫnnội tại của nó.
Nhà nước sử dụng các công cụ để quản lý xã hội bao gồm: các chính sách,pháp luật, công chức và các biện pháp quản lý khác để tác động điều chỉnh, dẫndắt định hướng các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đạt mục tiêu nhà nước đề ra
Hệ thống công cụ tác động mang tính nhà nước, nghĩa là có tính pháp luậtbằng luật pháp, bằng văn bản dưới luật, bằng các chính sách có hiệu lực pháp lýnhất định Do đó trong QLNN ngoài tác động giáo dục, thuyết phục, động viên,việc bắt buộc tuân thủ luật pháp là một tất yếu
Quản lý vĩ mô của nhà nước: Hệ thống cơ quan QLNN được chia thành cáccấp khác nhau từ Trung ương đến cơ sở (xã, phường), các cơ quan này đều cóchức năng quản lý nhà nước, song khác nhau ở thẩm quyền và phạm vi địa giớihành chính
Ở cấp Trung ương nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô, đó là hoạt động điềuhành của các cơ quan nhà nước Trung ương đối với các quá trình kinh tế - xã hộithuộc phạm vi cả nước, nhằm đạt mục tiêu chung của cả nước, quản lý vĩ mô củanhà nước có đặc điểm tác động của nhà nước vừa rộng khắp cả nước, vừa có tínhtổng hợp liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế - xã hội, tâm lý,
an ninh vừa có tính tác động dài hạn
Vì vậy có thể khái niệm chung về QLNN trên các lĩnh vực kinh tế là sự tác động của các cơ quan nhà nước có chức năng, thẩm quyền tới các quá trình kinh tế - xã hội, bằng hệ thống công cụ có tính chất quyền lực nhà nước, nhằm đạt mục tiêu phát triển kinh tế và công bằng xã hội (điều hòa các mâu thuẫn trong xã hội một cách công minh)
1.2 Mục tiêu QLNN trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội
Mục tiêu QLNN về kinh tế có thể mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 101.2.1 Mục tiêu chung (tối cao)
Mục tiêu chung, cao nhất của Nhà nước là nhằm điều hòa các mâu thuẫn xã hội,
để quản lý mọi mặt của xã hội theo định hướng chính trị, ý trí và quyền lực củagiai cấp thống trị
Ở Việt Nam, mục tiêu cao nhất trong QLNN đã được Đảng và Nhà nước khảngđịnh: Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng – văn minh, mọi gia đìnhđểu ấm no – hạnh phúc
Từ mục tiêu chung trong hoạt động QLNN như trên có thể phân ra thành cácnhóm mục tiêu như sau:
1.2.2 Nhóm Mục tiêu tăng trưởng
sơ đồ số 1 : Mục tiêu QLNN về kinh tế
Trang 11 Tăng trưởng về kinh tế bao gồm: tăng GDP; thu hút đầu tư; sinh lãi và hiệuquả sử dụng vốn đầu tư nội địa;
Tăng trưởng về quy mô và chất lượng của các đối tượng kinh tế (các tổ chứckinh tế, doanh nghiệp – cá thể kinh doanh) từ đó đưa lại nguồn lợi cho nền kinh
tế quốc dân
1.2.3 Nhóm mục tiêu ổn định kinh tế
Bao gồm các nội dung:
Duy trì sự ổn định của mức vật giá;
Ngăn ngừa và kiềm chế lạm phát;
Duy trì sự ổn định của thị trường việc làm, hạn chế thất nghiệp, nâng caochất lượng lao động tạo động lực kích thích sự phát triển thị trường lao độngchất lượng cao và lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu
Đảm bảo sự cân đối trong thu – chi ngân sách nhà nước; đảm bảo cán cânthanh toán quốc tế;
Đảm bảo thị trường thương mại cạnh tranh lành mạnh, cân đối cung – cầuhàng hóa
1.2.4 Nhóm mục tiêu về cơ cấu
Cơ cấu kinh tế bao gồm: cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, cơ cấu phân bổ nguồnlực, cơ cấu thành phần kinh tế;
Đảm bảo cơ cấu kinh tế cân đối mà vẫn phát huy được tiềm lực nội tại là tháchthức nhưng cũng là mục tiêu hàng đầu trong QLNN về kinh tế – xã hội
1.2.5 Nhóm mục tiêu phát triển bền vững
Bao gồm các nội dung:
Đảm bảo công bằng xã hội
Đảm bảo công bằng xã hội không chỉ đảm bảo điều hòa việc phân phối thịtrường mà còn đảm bảo thị trường cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo cơ hội chomọi thành phần kinh tế
Trang 12 Đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với việc khai thác tự nhiên hợp lý.Đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với việc khai thác tự nhiên hợp lý nhằm duytrì sự tái sinh và môi trường tự nhiên ổn định, cân bằng sinh thái, môi trườngtrong sạch
1.3 Nguyên tắc trong QLNN về kinh tế
Nguyên tắc là tập hợp những quy định, quy tắc chỉ đạo hành động, bắt buộc các
hành động phải thực hiện theo
Nguyên tắc trong hoạt động QLNN là tập hợp các quy định chung nhất bắt buộcmọi hoạt động QLNN phải tuân theo nhằm đảm bảo mục tiêu QLNN là xã hộicông bằng, văn minh, phát triển ổn định và bền vững
1.3.1 Các nguyên tắc chung nhất trong hoạt động QLNN
Nguyên tắc: Mọi hoạt động QLNN không trái quy luật khách quan
Nguyên tắc: phù hợp mục tiêu quản lý
Nguyên tắc: phản ánh đúng tính chất và các quan hệ quản lý
Nguyên tắc: tính hệ thống, nhất quán trong quyết định quản lý
1.3.2 Các nguyên tắc trong hoạt động QLNN về kinh tế : nhằm mục tiêu pháttriển nhà nước CHXHCN Việt Nam
Nguyên tắc: Thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế
Nguyên tắc này là nguyên tắc nhằm đảm bảo quyền lợi về kinh tế của mọi thànhphần kinh tế nhưng những quyền lợi kinh tế này phải phù hợp với mục tiêu chínhtrị của Nhà nước Nguyên tắc này chính là sự thể hiện bản chất của Việt Nam làQLNN về kinh tế là phù hợp với quy luật vận động khách quan của xã hội, kếthợp hài hòa giữa lợi ích giai cấp với lợi ích chung của toàn xã hội
Nguyên tắc: Tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc xuyên suốt các hoạt độngQLNN và thể thể hiện bản chất nhà nước XHCN của Việt Nam Các cơ quanquyền lực nhà nước do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, các
cơ quan HCNN do cơ quan quyền lực nhà nước bầu ra và chịu trách nhiệm trước
cơ quan bầu ra; Các cơ quan cấp dưới phải phục tùng cấp trên; Quyền lực quản
Trang 13lý nhà nước phải tập trung thống nhất, có sự phân cấp hợp lý để phát huy tínhchủ động của chính quyền địa phương, cơ sở.
Nguyên tắc: Kết hợp hài hòa các loại lợi ích xã hội
Đây là nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động quản lý của tất cả cácnhà nước Từ bản chất của con người: lao động nhằm thỏa mãn những nhu cầucủa bản thân, và sự thỏa mãn đó chính là lợi ích chủ quan của mỗi người, từ đólợi ích của người này sẽ có phần mâu thuẫn với người khác, lợi ích của nhómngười này sẽ mâu thuẫn với lợi ích của nhóm người khác Cũng chính từ đó, hoạtđộng quản lý nhà nước nhằm tới mục tiêu ổn định, phát triển xã hội thì buộc phảiđiều hòa các lợi ích chung của toàn xã hội Vì vậy,các hoạt động QLNN phảiphản án lợi ích cơ bản và lâu dài của toàn xã hội
Nguyên tắc: Hiệu lực, hiệu quả và tiết kiệm
Trong hoạt động kinh tế, xã hội đều nhằm thực hiện được mục tiêu đề ravới hiệu quả nhất và với mức chi phí bỏ ra thấp nhất Yêu cầu của nguyên táchiệu quả, tiết kiệm chính là ở chỗ phải đạt được kết quả của cá hoạt động kinh tếcao nhất trong phạm vi có thể đạt được
Nguyên tắc: Pháp chế
Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức, mọi hoạt động QLNN phải dựa trên cơ
sở pháp luật của Nhà nước Pháp luật với bản chất của nó là công cụ không thểthiếu như “bộ khung xương” của bất kỳ nhà nước nào nhằm vận hành và quản lý
xã hội Do đó, nguyên tắc này không những bắt buộc các thành viên trong xãhội thực hiện theo mà nó không cho phép các cơ quan Nhà nước thực hiện việcquản lý nhà nước một các chủ quan tùy tiện, tức là mọi hoạt động quản lý nhànước phải tuân theo pháp luật của Nhả nước
Nguyên tắc: Phân định và kết hợp tốt chức năng quản lý vĩ mô kinh tế vàchức năng vĩ mô của các doanh nghiệp
Mục tiêu của Nhà nước là phát triển kinh tế quốc dân, ổn định xã hội, tăngthu nhập quốc dân Để quản lý được nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải xácđịnh rõ ràng giữa đối tượng quản lý của mình với đối tượng quản lý của cácthành phần kinh tế khác trong xã hội Bởi đối tượng của hoạt động quản lý lại
Trang 14bao trùm lên các đối trượng khác trong xã hội vì vậy việc phân định phạm viquản lý và tạo cơ chế quản lý vĩ mô phân định với quản lý vi mô của doanhnghiệp Nói cách khác, QLNN tác động vào các tổ chức một các tổng thể vàthống nhất, nhưng không tác động làm pháp vỡ tính chủ động quản lý của tổchức vi mô.
Nguyên tắc: Gắn phát triển kinh tế với vấn đề phát triển văn hoá xã hội và
an ninh quốc phòng
Cũng như bản chất của Nhà nước, mọi nhà nước đều hướng tới mục tiêutoàn vẹn lãnh thổ Vì vậy, nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc phòng luôn phảiđược tuân thủ thực hiện trong mọi hoạt động xã hội, đặc biệt trong các hoạt độngQLNN, nguyên tắc đảm bảo an ninh quốc phòng càng phải được đặt lên hàngđầu và là nguyên tắc kiên quyết, nó thể hiện bản lĩnh dân tộc, chính trị của mỗi
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các nhiệm vụ công (công vụ)
Nhất là trong thời ký kinh tế hội nhập, biên giới hành chính đang bị chi phối bởibiên giới kinh tế, quyền lực kinh tế của các quốc gia phát triển đang ngày cànglớn mạnh và nó tác động trực tiếp lên các đối tượng kinh tế vi mô của các quốcgia khác trên chính phạm vi biên giới hành chính của các quốc gia này
1.3.3 Các nguyên tắc QLNN về kinh tế, nguyên tắc quản lý ngành kề hợp quản
lý theo lãnh thổ hành chính
QLNN theo ngành:
Ngành là tập hợp các đơn vị kinh tế có một số điểm chung về đầu vào, đầu
ra hay cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ Nhà nước phải quản lý theo ngành bởi
vì các đơn vị cùng ngành thường có các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, laođộng, nguyên liệu, tiêu thụ giống nhau cần được giải quyết một cách thốngnhất
QLNN theo ngành bao gồm các hoạt động sau:
+ Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự mất cân đối trong
cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân
+ Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung cho toànngành, bảo hộ sản xuất ngành nội địa
Trang 15+ Thống nhất hoá, tiêu chuẩn hoá quy cách, chất lượng hàng hoá và dịch vụ,hình thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan cóthẩm quyền ban bố.
+ Thực hiện các chính sách quốc gia trong phát triển nguồn nhân lực, nhiên liệu,trí tuệ khoa học và công nghệ chung cho toàn ngành
+ Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, pháp qui, thể chế kinh tế theochuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hìnhthành hệ thống văn bản pháp luật quản lý ngành
QLNN theo lãnh thổ:
Lãnh thổ kinh tế được hiểu:
+ Là lãnh thổ chứa đựng một nhóm các đơn vị kinh tế có quan hệ với nhau vềmột hay một số mặt nào đó trong quá trình hoạt động SXKD
+ Lãnh thổ kinh tế có nhiều cấp, do các đơn vị kinh tế có nhiều mối quan hệ màmỗi loại quan hệ lại có tầm quan hệ riêng, rộng hẹp khác nhau Không có đơn vịcông nghiệp nào của riêng một cấp, do riêng một cấp quản lý Mọi đơn vị kinh tếđều bị mọi cấp đồng thời quản lý nhưng chỉ về một vài mặt nhất định nào đó màthôi Lãnh thổ kinh tế đồng nhất với lãnh thổ hành chính, tuy trên thực tế khôngthể trùng khớp được Lãnh thổ hành chính lấy dân cư làm chuẩn phân định, cókết hợp với địa hình, địa vật, hệ thống kinh tế, nhưng lãnh thổ kinh tế có căn cứkhách quan riêng của nó Tuy vậy hai khái niệm này không thể tách rời nhau,hơn nữa lãnh thổ kinh tế phải phục vụ lãnh thổ hành chính xuất phát từ conngười là trung tâm
Vì vậy, QLNN về kinh tế theo lãnh thổ đồng thời là QLNN theo địa bànhành chính, đơn vị hành chính lãnh thổ QLNN của cơ quan quản lý ngành trênlãnh thổ, đây thực chất là sự quản lý của cơ quan quản lý ngành được thực hiệnbằng các cơ quan chuyên môn đặt theo lãnh thổ
QLNN của chính quyền lãnh thổ với những nội dung: Định hướng đầu racho các đơn vị kinh tế sao cho cân đối hài hoà về lượng, chất, thời gian trong sựtương đồng với nhau và với nhu cầu cũng như khả năng tiếp nhận của người tiêudùng trên lãnh thổ, xét theo khả năng thu nhập cũng như thị hiếu, vị hiếu của dân
Trang 16cư trên lãnh thổ; Tổ chức trực tiếp hay gián tiếp việc xây dựng kết cấu hạ tầngthuộc tầm lãnh thổ đó để đảm bảo chung cho tập đoàn kinh tế liên ngành đóngtrên lãnh thổ.
Sự kết hợp QLNN theo ngành và theo lãnh thổ:
Kết hợp QLNN theo ngành và lãnh thổ là sự kết hợp QLNN theo ngành vàlãnh thổ bởi những lý do sau: Thứ nhất, có thể có sự chồng chéo giữa 2 chiềuquản lý, gây trùng lập hay bỏ sót trong QLNN của tuyến; Thứ hai, mỗi chiềuquản lý có thể không thấu suốt được tình hình của chiều kia, từ đó có thể cónhững quyết định quản lý phiến diện, kém chuẩn xác; Thứ ba, mọi sự phân côngquản lý theo ngành và theo lãnh thổ đều chỉ có thể đạt được sự hợp lý tương đối
vì vẫn có khả năng bỏ sót hoặc chồng chéo Nếu tách bạch quá có thể làm chonhững chỗ bỏ sót, chồng chéo chậm được phát hiện và xử lý, dẫn đến hậu quả sẽtrở nên nghiêm trọng hơn
Nói chung QLNN kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ:
+ Thực hiện quản lý đồng thời theo cả 2 chiều: Theo ngành và theo lãnh thổ + Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo lãnh thổ không trùng, không sót.
+ Các cơ quan QLNN mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản, hiệp quản, tham quản với cơ quan thuộc chiều kia theo qui định cụ thể của nhà nước.
1.4 Chức năng QLNN trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội
QLNN là sự quản lý toàn diện trên mọi mặt, mọi lĩnh vực, QLNN nhằm tạomôi trường, định hướng phát triển, tổ chức, điều tiết kiểm tra tất cả các ngànhcác lĩnh vực Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình hình kinh tế - xã hộicủa từng giai đoạn mà việc sắp xếp thứ tự ưu tiên và nội dung các chức năngquản lý vĩ mô của nhà nước là khác nhau
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau và phân loại các chức năng khác nhau.Tuy nhiên có thể phân loại các chức năng cơ bản của nhà nước trong quản lý vềkinh tế
1.4.1 Khái niệm phân loại chức năng:
Trang 17Quản lý là một hoạt động hết sức đa dạng và phức tạp để thuận lợi choviệc thực hiện có thể phân chia hoạt động quản lý thành những nhóm hoạt độngchuyên biệt có cùng tính chất chuyên môn, từ đó giao cho các bộ phận có đủ khảnăng đảm nhiệm Đó là quá trình phân công chuyên môn hoá lao động quản lý,
từ đó hình thành các chức năng quản lý
Có thể nói các chức năng quản lý là những hành động chuyên biệt của hoạt động quản lý; là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hoá lao động quản lý.
1.4.2 Phân loại chức năng
Phân loại chức năng QLNN về kinh tế theo khoa học quản lý chung:
Một là: Chức năng tạo lập môi trường
Với chức năng này, bằng quyền lực và sức mạnh tổ chức của mình nhànước bảo đảm một môi trường thuận lợi, bình đẳng cho hoạt động sản xuất kinhdoanh, bao gồm các môi trường chính trị, pháp luật, kinh tế, tâm lý, xã hội, kếtcấu hạ tầng là những điều kiện cần thiết để các giới kinh doanh yên tâm bỏ vốnkinh doanh và kinh doanh thuận lợi ổn định phát đạt, góp phần phát triển có hiệuquả kinh tế đất nước Với chức năng này nhà nước có vai trò như một là "GiáĐỡ" giúp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời bảo đảm cácđiều kiện tự do, bình đẳng trong kinh doanh Nói cách khác, nhà nước có chứcnăng tạo ra các dịch vụ công về môi trường chính trị, pháp lý, an ninh, thủ tụcquản lý, điều kiện kinh doanh, thông tin an toàn xã hội phục vụ cho xã hội, trong
cơ chế thị trường, muốn có thị trường sản xuất - kinh doanh ổn định tiến bộ, cầnphải có bàn tay của nhà nước từ việc ban hành và bảo đảm thi hành pháp luậtđến bảo đảm các điều kiện và nguyên tắc cơ bản như quyền sở hữu, tự do kinhdoanh, xử lý tranh chấp theo pháp luật, đảm bảo một xã hội lành mạnh có vănhoá
Hai là: Chức năng định hướng, điều tiết, hoạch định phát triển kinh tế
Đây là một chức năng quan trọng của QLNN về kinh tế ở nước ta, điều nàybắt nguồn từ hai lý do
Trang 18Trước hết, trong qúa trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước cần định hướng cho các lực lượng kinh tế vậnđộng theo quỹ đạo của nhà nước ta, theo con đường xã hội chủ nghĩa, mặt kháckinh tế thị trường có đặc điểm là tự do phát triển sản xuất kinh doanh, nếu khôngđịnh hướng, hướng dẫn, đặc biệt trong quá trình chuyển đổi sẽ để tự phát vô tổchức, nổi loạn, hơn nữa nhà kinh doanh và các tổ chức kinh tế được tự chủ kinhdoanh, nhưng không thể nắm được hết tình hình và xu hướng vận động của thịtrường Do đó thường chạy theo thị trường một cách thụ động, dễ gây ra thua lỗthất bại và đổ vỡ , gây thiệt hại chung cho nền kinh tế.
Nhà nước có chức năng điều tiết, định hướng nền kinh tế phát triển theoquỹ đạo và mục tiêu kinh tế - xã hội đã được Đảng và Nhà nước định ra Nhànước có chức năng định hướng phát triển kinh tế, hoạt động hướng đích theo cácmục tiêu chung của đất nước, thông qua các công cụ như: chiến lược, quy hoạch,chính sách, kế hoạch, thông tư và nguồn lực của Nhà nước Điều cần chú ý làtrong điều kiện chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở nước ta, để thực hiện chứcnăng định hướng, hướng dẫn Nhà nước chủ yếu sử dụng cách thức và phươngpháp tác động gián tiếp mang tính chất mềm dẻo, uyển chuyển vừa đảm bảo tính
tự chủ của các cơ sở kinh tế, vừa đảm bảo mục tiêu chung Cách thức tác độnggián tiếp, một mặt cho phép tôn trọng các quy luật của thị trường, mặt khác tạo
ra cơ chế cho phép đối tượng quản lý gồm các cấp dưới và các doanh nghiệp tựlựa chọn giải pháp tối ưu nhất, hiệu quả nhất
B a là: Chức năng tổ chức bộ máy, sắp xếp, quản lý nguồn nhân lực:
Tổ chức là một chức năng quan trọng của QLNN nền kinh tế, đặc biệt trongthời kỳ quản lý kinh tế Trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường như hiệnnay của nước ta, Nhà nước có nhiệm vụ sắp xếp tổ chức lại các đơn vị kinh tế.Trong đó quan trọng nhất và cấp thiết nhất là sắp xếp củng cố lại các doanhnghiệp Nhà nước, tổ chức các vùng kinh tế, các khu công nghiệp, khu chế xuất.Đây là những công việc tạo nên cơ cấu kinh tế hợp lý
Nhà nước còn có trách nhiệm tổ chức lại hệ thống quản lý, sắp xếp lại các
cơ quan QLNN về kinh tế từ trung ương đến địa phương, đổi mới thể chế và thủ
Trang 19tục hành chính, đào tạo và đào tạo lại, sắp xếp các cán bộ công chức và quản lýdoanh nghiệp, thiết lập quan hệ kinh tế với các nước và các tổ chức quốc tế.
Bốn là: Chức năng điều hành, quản lý mọi sự vận hành nền kinh tế:
Có thể phân loại chức năng này thành các chức năng:
Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập trật tự,
kỷ cương trong hoạt động kinh tế, phát triển và ngăn ngừa các hiện tượng viphạm pháp luật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của nhândân, góp phần tăng trưởng kinh tế và từng bước thực hiện công bằng xã hội ởnước ta, trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường còn sơ khai, tìnhtrạng rối loạn tự phát, vô tổ chức và các hiện tượng tiêu cực còn khá phổ biến cólúc rất trầm trọng nên càng cần phải đề cao chức năng kiểm tra kiểm soát củaNhà nước
1.5 Phương pháp và công vụ QLNN về kinh tế:
1.5.1 Phương pháp QLNN về kinh tế
Các phương pháp quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể các cáchthức và biện pháp quản lý có mối quan hệ hữu cơ với nhau cùng tác động cóchủ đích của nhà nước lên hệ thống kinh tế quốc dân, nhằm đạt được mục tiêuquản lý kinh tế - xã hội đặt ra
Trong hoạt động quản lý kinh tế nhà nước có thể và cần phải thực hiệnđồng thời 3 phương pháp chủ yếu, đó là:
Phương pháp hành chính- tổ chức:
Là tổng hợp các phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế của nhànước là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết định dứt khoát mang tính bắtbuộc của nhà nước lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra
Trang 20 Phương pháp kích thích kinh tế:
Là việc áp dụng các phương pháp kinh tế, đó là các phương pháp tác độnggián tiếp của nhà nước thông qua các đòn bẩy kinh tế và các lợi ích kinh tế lêncác đối tượng quản lý, buộc họ phải chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệmtrước các kết quả hoạt động kinh tế của mình, mà không cần phải thường xuyêntác động về mặt hành chính
Phương pháp thuyết phục, giáo dục:
Các phương pháp giáo dục vận động trong QLNN về kinh tế là cácphương pháp tác động về mặt nhận thức, tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm đối với
sự nghiệp phát triển đất nước lên các đối tượng quản lý, để họ tự giác, quyết tâmhoạt động kinh tế có hiệu quả theo pháp luật, quy định của nhà nước
1.5.2 Công cụ QLNN về kinh tế
Công cụ quản lý nói chung là tất cả mọi phương tiện mà chủ thể quản lý
sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã
đề ra
Công cụ quản lý của nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện
mà nhà nước sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý kinh tế của nhà nướcnhằm đạt được các mục tiêu đã xác định
Thông qua các công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn tác độngquản lý của nhà nước mà nhà nước chuyển tải được ý định và ý chí của mìnhđến các chủ thể, các thành viên tham gia hoạt động trong nền kinh tế
Hệ thống công cụ quản lý kinh tế của nhà nước bao gồm:
Nhóm thứ nhất: các công cụ thể hiện ý đồ, mục tiêu của QLNN
Nhà nước soạn thảo kế hoạch quy hoạch các chương trình phát triển kinh tế
xã hội và ban hành các chính sách để hướng các chủ thể kinh tế thực hiện, các kếhoạch quy hoạch và các chương trình bằng cách sử dụng các đòn bẩy kinh tế như
ưu đãi về thuế, về lãi xuất cho vay cho những ai đầu tư vào các ngành, nhữngvùng mà nhà nước cần ưu tiên phát triển
Các công cụ này bao gồm:
Trang 21+ Đường lối: là những lý luận mang tính định hướng chính trị cho toàn bộ
hệ thống quản lý, thể hiện ý chí mục tiêu của đảng cầm quyền;
+ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội;
+ Kế hoạch: là tập hợp các mục tiêu phải làm và các phương tiện, nguồnlực, phương thức tiến hành để đạt tới các mục tiêu đã định; Kế hoạch vạch viễncảnh tương lai cho con người, tạo niềm tin hành động tích cực cho con người Kếhoạch là cơ sở để cho công tác kiểm tra có căn cứ thực hiện
+ Tiêu chuẩn, chất lượng, qui cách sản phẩm:
+ Chương trình, dự án kinh tế thuộc vốn nhà nước
Nhóm thứ hai: công cụ Pháp luật:
Pháp luật: là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra, thực hiện và bảo vệ nhằm mục tiêu bảo toàn và phát triển xã hội theo các đặc trưng đã định.
Một trong những nguyên tắc trong QLNN là “nguyên tắc pháp chế”, mà ởnước ta đó là “nguyên tắc pháp chế XHCN” Vì vậy, mọi hoạt đọng kinh tế - xãhội phải được diễn ra trong khuân khổ pháp luật
Nhà nước tạo môi trường pháp lý để làm điều kiện thuận lợi cho cho cácđối tượng, thành phần kinh tế đều có cơ hội phát triển trong nền kinh tế thịtrường, và xử lý mọi hành vi trái với pháp luật
Hệ thống pháp luật kinh tế đồng bộ, bảo toàn mọi hoạt động kinh tế, phảithể hiện chuẩn mực xử sự, hành vi trong các quan hệ kinh tế khi thực hiện cácmục tiêu nói trên bao gồm: Hiến pháp; các đạo luật, các nghị quyết của Quốchội; nghị quyết, nghị định của Chính phủ và quyết định, chỉ thị của Thủ tướngChính phủ; quyết định, thông tư, chỉ thị của các Bộ và cơ quan thuộc Bộ
Nhóm thứ ba: Công cụ chính sách công (thể hiện các tư tưởng, quan điểmcủa nhà nước)
Chính sách: Là tổng thể các quan điểm, tý týởng, các giải pháp và các công cụ mà Nhà nýớc sử dụng để tác động lên các chủ thể KT – XH nhằm giải quyết vấn đề nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.
Trang 22Các công cụ thể hiện các tư tưởng, quan điểm trong việc điều chỉnh cáchoạt động của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mụctiêu đã đề ra: Chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chínhsách ngoại thưong (thuế quan, hạn ngạch, trợ cấp xuất khẩu, bán phágiá ).Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sửdụng để phát triển kinh tế - xã hội ở bất kỳ quốc gia nào và nó thường được kếthợp với phương pháp kích thích kinh tế Chính sách công là một trong nhữngcông cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng để phát triển kinh tế - xã hội ở bất kỳquốc gia nào và nó thường được sử dụng trong phương pháp kích thích kinh tếnhằm hiệu quả cao cho nền kinh tế quốc dân Nhà nước thực hiện các chínhsách,biện pháp nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ công bằng
xã hội, thực hiện các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá
xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối tạo động lực mạnh mẽ phát triển sảnxuất, tăng năng xuất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xãhội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp và đi đôi với chương trình xoáđói giảm nghèo
Nhóm thứ tư: Các công cụ vật chất thuần tuý
Đây là các vật chất được cụ thể hóa tiềm lực kinh tế của một quốc gia, vìvậy Nhà nước cần phát huy tốt vai trò của công cụ này nhằm tối đa nguồn lợi từcông cụ này Hệ thống công cụ này bao gồm:
+ Đất đai, rừng núi, sông hồ, các nguồn nước;Tài nguyên trong lòng đất, tàinguyên trong không gian; Các nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa
+ Các nguồn lợi về tiền tệ: Hệ thống Ngân hàng Trung ương; Kho bạc Nhànước; Hệ thống dự trữ, bảo hiểm quốc gia
+ Doanh nghiệp nhà nước và vốn và tài sản nhà nước
Nhóm thứ năm: Công cụ để sử dụng các công cụ nói trên:
+ Bộ máy quản lý nhà nước; Cán bộ, công chức nhà nước;Các công sở
Nhìn chung, trong hoạt động QLNN sẽ sử dụng linh hoạt, kết hợp nhiều phương pháp quản lý kinh tế, trong đó phương pháp kích thích kinh tế là phương pháp chủ đạo, bằng cách sử dụng hệt hống các công cụ để tác động lên
Trang 23mọi chủ thể kinh tế trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân.
II QLNN đối với năng lượng ĐHN
2.1 Năng lượng ĐHN là một lĩnh vực kinh tế – xã hội trong tổng thể nền kinh
tế quốc dân
Năng lượng điện hạt nhân là năng lượng hạt nhân – nguyên tử được tạo ra
từ các phản ứng hạt nhân – nguyên tử bằng các nguyên liệu hạt nhân nhằm mụcđích để sản xuất ra điện Vì vậy, năng lượng điện hạt nhân không phải là Điện.Năng lượng điện là sản phẩm đầu ra của quá trình chuyển hóa năng lượng điệnhạt nhân
Có thể hiểu năng lượng điện hạt nhân theo mô hình sau:
Năng lượng điện hạt nhân cũng chính là năng lượng hạt nhân nhưng nókhác với năng lượng hạt nhân nhằm mục đích khác như (dùng trong y tế, quânđội, trong khoa học nghiên cứu - ứng dụng khác)
Thuộc phạm vi - đối tượng quản lý của
Luật Năng Lượng nguyên tử
Thuộc phạm vi - đối tượng quản lý của
Luật Điện lực
Sơ đồ mô tả khái niệm Năng lượng điện nguyên tử & Năng lượng
điện
Trang 24Tóm lại, có thể hiểu khái niệm: Năng lượng điện hạt nhân là một loại
năng lượng được sản sinh ra thông qua công nghệ lò phản ứng hạt nhân có kiểm soát nhằm sử dụng để tách năng lượng hạt nhân một cách hữu ích là làm ra điện
Vì vậy, để tạo ra năng lượng điện hạt nhân đòi hỏi cần có một hệ thống vàkhối lượng phản ứng hạt nhân lớn, liên tục nên bản thân nó tiềm tàng rất nhiềurủi ro Do đó nó cần có sự đầu tư lớn về mọi mặt (nhân lực, tài chính, thời gian)
và đòi hỏi sự chính xác, an toàn tuyệt đối
Nhà máy ĐHN: Nhà máy ĐHN là hệ thống cơ cấu các tổ máy ĐHN vàcác công trình phụ trợ khác tạo thành một tổng thể thống nhất nhằm sản xuất rađiện từ nguyên liệu hạt nhân một cách an toàn và hiệu quả nhất
NMĐHN là tổ hợp công trình bao gồm một hoặc nhiều tổ máy ĐHN, hệthống biến áp truyền tải điện lên lưới điện, nơi lưu trữ, lưu chuyển và xử lý chấtphóng xạ được đặt tại cùng nơi
Trong một Tổ máy ĐHN là tổ hợp công trình bao gồm một lò phản ứnghạt nhân, tua bin và máy phát điện và các thiết bị phụ trợ khác chuyển NLHN do
lò phản ứng hạt nhân sinh ra thành điện năng
2.2 Nhiệm vụ QLNN về năng lượng ĐHN
2.2.1 Xây dựng, tạo lập môi trường vĩ mô nhằm đảm bảo phát triển bền vữngtoàn diện cho ĐHN
Xây dựng, tạo lập môi trường vĩ mô như môi trường pháp lý, thể chế,chính sách quốc gia về ĐHN nhằm xây dựng một môi trường đảm bảo tạo điềukiện để phát triển toàn diện và thuận lợi cho ĐHN
Môi trường vĩ mô này phải đặt mục tiêu an toàn lên hàng đầu, coi trọng vàcoi là cơ bản áp dụng đối với tất cả cơ sở và hoạt động hạt nhân và trong tất cảcác giai đoạn trong suốt vòng đời của một cơ sở hay nguồn phóng xạ: bao gồmlập kế hoạch, chọn địa điểm, thiết kế, chế tạo thiết bị, xây dựng, nghiệm thu vàvận hành cũng như đóng cửa nhà máy Mục tiêu an toàn này cũng áp dụng đốivới vận chuyển vật liệu phóng xạ và quản lý chất thải phóng xạ
Trang 25Vì vậy, để đạt được mục tiêu an toàn này, Nhà nước phải tạo dựng mộtmôi trượng vĩ mô an toàn cho mọi hoạt động hạt nhân Điều này đòi hỏi rằngphải thực hiện một hệ thống cơ sở hạ tầng hạt nhân hiệu quả một cách kịp thời
để đảm bảo có thể giải quyết thỏa đáng những lo lắng của tất cả người có liênquan (và đặc biệt của công chúng) và rằng con người và máy móc phối hợp làmviệc cùng nhau một cách hài hoà để đảm bảo an toàn
Các yếu tố an toàn cơ bản của một hệ thống cơ sở hạ tầng hạt nhân, môi trường
vĩ mô để dự án ĐHN thực sự hiệu quả bao gồm:
Tạo dựng một môi trường pháp lý chặt chẽ để mọi hoạt động hạt nhân có cơ
sở hoạt động an toàn, ổn định: xây dựng khung pháp lý, tạo dựng năng lực phápquy:
Cơ quan pháp quy phải có năng lực giám sát tất cả các giai đoạn của dự ánNMĐHN, bao gồm đánh giá địa điểm, thẩm định thiết kế, xây dựng, vận hành,đóng cửa và quản lý chất thải Giống như tổ chức vận hành, cơ quan pháp quyphải luôn luôn tìm cách nâng cao năng lực Cơ quan pháp quy phải thườngxuyên kiểm tra tính hiệu quả/hiệu lực của mình thông qua tự đánh giá và/hoặcđánh giá tương đương của quốc tế (peer reviews)
Môi trường pháp lý bao gồm hệ thống pháp luật thiết lập một cơ quan phápquy đủ năng lực và độc lập cũng như một hệ thống pháp quy cung cấp khungpháp lý (quy tắc và tiêu chuẩn, quy trình cấp phép, đánh giá, thanh tra, bắt buộcthi hành nếu cần) theo đó xây dựng, vận hành và đóng cửa cơ sở hạt nhân có thểtiến hành
Môi trường tài chính ổn định, vững chắc:
Một cam kết theo đuổi ĐHN đòi hỏi khả năng tài chính không chỉ đủ để xâyđược nhà máy mà còn cho vận hành, đóng cửa và quản lý chất thải Điều này đòihỏi không chỉ tổ chức vận hành, mà cơ quan pháp quy, ngành công nghiệp vàgiáo dục phải bố trí đủ nguồn tài chính để duy trì các điều kiện đầy đủ cho đảmbảo an toàn trong một khoảng thời gian (khoảng 100 năm kể từ khi có quyết định
về chính sách tới khi đóng cửa nhà máy sau dừng vận hành)
Trang 26 Xây dựng môi trường đào tạo để cung cấp đủ năng lực kỹ thuật:
Sau bước đầu phụ thuộc trong một chừng mực nào đó vào kỹ nghệ nướcngoài, quốc gia đó phải phát triển năng lực trong nước thông qua những chươngtrình giáo dục và đào tạo đầy đủ để có thể cung cấp những nhân sự có đủ kỹnăng trong tất cả các lĩnh vực cần thiết để duy trì một mức độ an toàn hiệu quảtrong toàn bộ chương trình hạt nhân
Để đảm bảo trách nhiệm tối cao về an toàn, tổ chức vận hành cần có đủnăng lực về kỹ thuật để vận hành và bảo dưỡng máy móc thiết bị của mình Điềunày đòi hỏi phải có đủ cán bộ vận hành và cán bộ quản lý có kiến thức và kinhnghiệm, cam kết với văn hoá an toàn nơi mọi người đều nhận thức được tráchnhiệm cá nhân của mình đối với vấn đề an toàn Cần thu nhận kinh nghiệm từ tất
cả các cấp bao gồm quốc tế, để liên tục cải tiến không chỉ trong thiết kếNMĐHN, mà cả trong các chương trình đào tạo, cơ cấu tổ chức, quy trình vậnhành và bảo dưỡng nhà máy
Tạo dựng một môi trường xã hội sẵn sàng ứng phó trong tình huống khẩncấp
Bất kể tất cả nỗ lực đảm bảo an toàn, quốc gia cũng phải sẵn sàng chuẩn
bị cho khả năng có thể xảy ra tình huống khẩn cấp hạt nhân hoặc phóng xạ Cácbên liên quan phải có thỏa thuận thu xếp để có một phản ứng hiệu quả tại địađiểm sự cố, khi thích hợp, tại cấp địa phương, quốc gia và quốc tế
Tạo dựng môi trường hợp tác quốc tể rộng mở và tuân thủ, hệ thống hóa cácvăn bản pháp luật quốc tế:
Vì quốc gia phải chia sẻ thông tin với nhau và học tập kinh nghiệm lẫnnhau Mọi quốc gia bắt đầu chương trình hạt nhân phải có trách nhiệm tham giavào các tổ chức quốc tế mà tạo ra an toàn hạt nhân toàn cầu, cơ chế vận hành vàlợi ích của các dịch vụ của họ cũng như kinh nghiệm đạt được thông qua các mốiquan hệ này
2.2.2 Hoạch định chính sách phát triển ĐHN trong chiến lược phát triển kinh tế –
xã hội
Trang 27Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch kế hoạch dàihạn các chương trình phát triển cấp quốc gia về năng lượng nói chung và nănglượng ĐHN nói riêng phải bao trùm và có định hướng quy hoạch phát triển ĐHNtrong chiến lược chung hoạch định chính sách phát triển ĐHN trong chiến lượcphát triển kinh tế – xã hội về phát triển kinh tế – xã hội;
2.2.3 Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với chiến lượcphát triển ĐHN quốc gia;
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực quy hoạch phát triển kinh tế nănglượng hạt nhân quốc gia; trong đó, đặc biệt đầu tư để đào tạo, sử dụng đội ngũcông chức quản lý của Nhà nước
2.2.4 Quản lý điều hành hệ thống bộ máy, công cụ quyền lực nhà nước đối vớinăng lượng ĐHN:
Xuất phát từ nguyên lý về QLNN về lĩnh vực, ngành kinh tế để có cáinhìn tổng quát về nội dung QLNN về năng lượng ĐHN Nhà nước ta cần tậptrung giải quyết những vấn đề gì để thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư:Xác định nguyên tắc, tiêu chuẩn, mô hình tổ chức và chức năng, quyền hạn,trách nhiệm của bộ máy QLNN trong quản lý năng lượng ĐHN:
Tổ chức quản lý bộ máy nhà nước về lĩnh vực ĐHN:
Bộ máy quản lý nhà nước phải được vận hành theo nguyên tắc đúng chứcnăng Cách tổ chức bộ máy QLNN theo chức năng thực chất là giao thêm việccho các bộ phận chức năng đã có trong một tổ chức đã có Cách tổ chức nàykhông làm thay đổi nhân sự của tổ chức, không làm cho tổ chức biến động
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng phải thành lập các cơ quan chức năng mangtính độc lập, khách quan để tham gia vào các hoạt động điều hành, quản lý, giámsát mọi hoạt động NLHN
Nhà nước cũng có trách nhiệm quan trọng trong việc tổ chức bộ máy quản
lý dự án ĐHN độc lập:
Tức là tổ chức QLDA ĐHN này còn có trách nhiệm hơn các tổ chứcQLDA khác thuộc DNNN (đại diện cho Nhà nước quản lý nguồn đầu tư) là, Tổ
Trang 28chức QLDA này có trách nhiệm hơn, tính trách nhiệm này phải được đặt lênhàng đầu để thực thi các chức năng QLDA NM ĐHN.
Một dự án lớn như dự án NMĐHN đòi hỏi phải thực hiện hệ thống quản
lý tích hợp nhằm cung cấp một khuôn khổ thống nhất cho tất cả hoạt động vàquá trình để thực hiện tất cả các mục tiêu của tổ chức Mục tiêu này bao gồm antoàn, sức khoẻ, môi trường, an ninh, chất lượng và kinh tế và một số khía cạnhxem xét khác như trách nhiệm xã hội
Nhân sự, thiết bị và văn hoá tổ chức cũng như các chủ trương, chính sách,quy trình bằng văn bản hình thành nên hệ thống quản lý
Tổ chức bộ máy quản lý (từ QLNN đến QLDA) đều phải là tổ chức tíchhợp các chức năng là:
Tập hợp thống nhất tất cả các yêu cầu quản lý tổ chức;
Mô tả các hành động mang tính hệ thống và đã lên kế hoạch cần thiết để tạo
niềm tin rằng tất cả các yêu cầu này được thoả mãn;
Nhằm hướng tới mục tiêu đảm bảo các yêu cầu về sức khoẻ, môi trường, an
ninh, chất lượng và kinh tế phải được xem xét cùng với các yêu cầu an toàn, đểtránh khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực đến yêu cầu an toàn
Luôn luôn đặt mục tiêu An toàn là tối quan trọng trong hệ thống quản lý, vượt
lên trên tất cả các yêu cầu khác Hệ thống quản lý xác định và tích hợp các yêucầu chứa đựng trong các quy tắc, tiêu chuẩn, điều khoản pháp luật có thể ápdụng và các yêu cầu điều tiết của Quốc gia thành viên cũng như bất cứ các yêucầu đã thống nhất chính thức với các bên liên quan
Hệ thống tổ chức quản lý nhằm hướng tới xây dựng văn hoá an toàn: Hệ thống
quản lý khuyến khích và hỗ trợ một nền văn hoá an toàn mạnh mẽ thông qua.Đảm bảo một sự nhận thức chung về các khía cạnh chính của văn hoá an toàntrong tổ chức;
Cung cấp các phương tiện nhờ đó tổ chức hỗ trợ cá nhân và các nhóm thực hiện
nhiệm vụ của mình một cách an toàn và thành công, có cân nhắc đến ảnh hưởnggiữa các cá nhân, công nghệ và tổ chức;
Trang 29 Tăng cường thái độ học hỏi tại tất cả các cấp của tổ chức, không được phép giấu
những khuyết điểm vì mỗi khuyết điểm trong mọi hoàn cảnh diễn ra dự án đều
có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến sự cố;
Cung cấp các phương tiện để tổ chức tiếp tục tìm kiếm phát triển và nâng cao
văn hoá an toàn
Xây dựng hệ thống quản lý đảm bảo bao quát toàn bộ lĩnh vực năng lượnghạt nhân nói chung và quản lý hiệu quả đầu tư dự án ĐHN nói riêng:
Dự án đầu tư nói chung là một kế hoạch hành động đã được lập, phân tíchcác yếu tố tác động, xác định được các giá trị lợi – hại từ đó chủ đầu tư quyếtđịnh đầu tư các nguồn lực vào thực hiện kế hoạch đó
Dự án đầu tư xây dựng NMĐHN là một kế hoạch được cơ quan quan chuyênmôn của nhà nước thẩm định các giá trị lợi ích và chi phí đầu tư Từ đó cơ quannhà nước có thẩm quyền thực hiện việc triển khai dự án, giám sát, đánh giá,kiểm tra hiệu quả và đảm bảo dự án theo đúng chất lượng đã được thẩm định 2.2.5 Nhà nước quản lý đầu ra – đầu vào của quá trình xây dựng NMĐHN, sảnxuất năng lượng hạt nhân trong suốt vòng đời của nhà máy
Đầu vào của ĐHN bao gồm: toàn bộ các yếu tố cơ bản để một NMĐHN cóthể hoạt động được an toàn
Cung cấp NMĐHN:
Việc thực hiện dự án NMĐHN đầu tiên nói chung sẽ thông qua nhập khẩu
từ một hay nhiều nhà cung cấp nước ngoài có kinh nghiệm Cũng có sự tham giacủa quốc gia, nhưng sẽ ở các cấp độ khác nhau trong từng trường hợp cụ thể vàphụ thuộc chủ yếu vào cơ sở hạ tầng sẵn có ở quốc gia đó
Nhà nước cần thực hiện một đánh giá toàn diện về thị trường cung cấpnhà máy ĐHN để xác định: loại lò phản ứng, quy mô lò, công nghệ lò lựa chọn
từ đó đưa ra tính hấp dẫn khác nhau về mặt kinh tế, kỹ thuật và phân tích yêu cầu
về chu trình nhiên liệu hạt nhân có thể đáp ứng như thế nào Đánh giá này sẽ hỗtrợ cho việc lựa chọn , tạo điều kiện hỗ trợ đưa ra quyết định cuối cùng sau khi
dự án được cam kết theo đuổi chắc chắn Việc lựa chọn loại lò cho NMĐHN đầutiên cũng là cam kết lâu dài tiềm năng đối với loại lò đó cho các NMĐHN tiếp
Trang 30theo được xây dựng trong tương lai, cũng như với loại chu trình nhiên liệu vàcác yêu cầu cung cấp liên quan Việc lựa chọn chủ yếu dựa trên tiêu chí:
Tiêu chí thứ nhất: Tính được kiểm chứng và khả năng được cấp phép rõ ràng
“Tính được kiểm chứng và khả năng cấp phép rõ ràng” của NMĐHN dẫntới việc thiết lập các yêu cầu và tiêu chí quốc gia trong quá trình đấu thầu lựachọn nhà máy tham chiếu phục vụ mục đích của dự án như một hướng dẫn đốivới các đặc điểm chính: thiết kế; hiệu quả/hiệu suất; phạm vi cung cấp; tiêu chícấp phép;kinh nghiệm vận hành
Việc áp dụng tiêu chí “tính được kiểm chứng” giúp cho quốc gia triểnkhai thực hiện dự án ĐHN giảm thiểu nhiều nguy cơ, sắc xuất sảy ra sự cố Tuynhiên, việc áp dụng “tính được kiểm chứng” này quá khắt khe, nó có thể trênthực tế triệt tiêu tất cả các thiết kế NMĐHN trên thị trường khi chưa có nhà máynào được xuất khẩu trên cơ sở là bản sao của một nhà máy hiện hành
Khái niệm “khả năng được cấp phép rõ ràng” giúp làm giảm rủi ro về antoàn liên quan tới NMĐHN và tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình pháp quy đốivới Quốc gia lần đầu tiên xây dựng nhà máy Người ta thường khuyến nghị làkhả năng được cấp phép rõ ràng tại nước xuất khẩu công nghệ thông qua việc sửdụng nhà máy tham chiếu đã được cấp phép, ngụ ý một sự chấp nhận - của nướcnhận công nghệ - đối với yêu cầu và quy trình cấp phép của quốc gia cung cấpcông nghệ Sự hợp tác với cơ quan pháp quy của nước xuất khẩu nhà máy thamchiếu cũng là việc nên làm
Khi Nhà nước là chủ dự án – chủ đầu tư, thì Nhà nước cần lựa chọn tổchức kinh tế nào có đủ năng lực làm dự án nhà máy điện hạt hạt nhân Nếu chưa
có một tổ chức nào đủ năng lực thì cần có kinh nghiệm tương tự và tối đa hóacác yêu cầu cần đạt được của một tổ chức có thể đảm đương được dự án
Nhà nước phải cấp phép như sự công nhận được thể hiện dưới hình thứcgiấy chứng nhận, quyết định cho phép… chính thức
Tiêu chí thứ hai: Tính phát triển công nghệ hạt nhân.
Việc lựa chọn công nghệ nhà máy phải đảm bảo rằng công nghệ đó là tiên tiến
và đáp ứng được trình độ phát triển, không lạc hậu Tuy nhiên, các NMĐHN mới
Trang 31với các công nghệ mới được đặt lên ưu tiên nhưng vẫn phải tuân thủ tính phảiđược kiểm chứng, đồng nghĩa với việc công nghệ được lựa chọn phải được pháttriển hiện nay có thể không có sẵn và được thương mại hoá trong nhiều năm.Những thiết kế đang phát triển này đạt được cải tiến về mặt an toàn và kinh tế sovới thiết kế hiện có thông qua những thay đổi từ nhỏ tới vừa phải, vẫn đặt trọngtâm vào việc duy trì các đặc điểm thiết kế đã được kiểm chứng để tối thiểu hoácác rủi ro công nghệ
Cung cấp nhiên liệu, các dịch vụ chu trình nhiên liệu
Việc cung cấp một NMĐHN và cung cấp nhiên liệu cho nhà máy đó phảiđược xem xét đồng thời Vấn đề cung cấp nhiên liệu cho nhà máy phải đượcthực hiện trong suốt toàn bộ vòng đời của nhà máy đó Thất bại trong cung cấpnhiên liệu sẽ không những khiến cho đầu tư không hiệu quả, mà còn ảnh hưởngtiêu cực đến việc cung cấp điện của quốc gia đó dẫn tới hàng loạt hậu quả đốivới các hoạt động kinh tế và công nghiệp
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn loại lòphản ứng là vấn đề chu trình nhiên liệu – urani tự nhiên hay làm giàu - và nhữnghoạt động dịch vụ liên quan Chính sách chu trình nhiên liệu không chỉ ảnhhưởng đến NMĐHN đầu tiên mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch xây dựng các nhàmáy sau này Cho dù quyết định về nhà máy đầu tiên không nhất thiết nghĩa làcác nhà máy sau sẽ sử dụng cùng một loại công nghệ và cùng một chu trìnhnhiên liệu, sẽ có những ưu điểm rõ ràng liên quan tới
Độ sẵn sàng của nhiên liệu
Chủ dự án/công ty điện lực/nhà vận hành NMĐHN chủ yếu quan tâm đến haikhía cạnh chính của vấn đề nhiên liệu hạt nhân Thứ nhất là độ tin cậy trongcung cấp nhiên liệu tươi và thứ hai là xử lý nhiên liệu đã qua sử dụng Để giảiquyết hiệu quả hai vấn đề này, NMĐHN đã xây dựng quy trình quản lý nhiênliệu trong nội bộ nhà máy, quy trình quản lý này là thiết yếu để duy trì vận hànhnhà máy và giảm chi phí cho nhà máy
Khi một quốc gia xây dựng NMĐHN đầu tiên sẽ phải phụ thuộc nhiều vàocác nhà cung cấp từ các nước khác, với cam kết HTQT và không phổ biến vũ khí
Trang 32hạt nhân Trong thời gian đầu, một NMĐHN sẽ được cung cấp nhiên liệu để vậnhành trong một đến bốn năm, nhưng nhà máy này sẽ phải được cung cấp nhiênliệu trong toàn bộ đời sống khoảng 40 đến 60 năm hoặc lâu hơn.
Việc cung cấp và sản xuất nhiên liệu hạt nhân đã phát triển và rất nhiều sángkiến mang tính quốc tế do các quốc gia cung cấp nhiên liệu đề xuất hiện đangđược thực hiện
Đầu ra của ĐHN chính là xử lý, lưu trữ chất thải hạt nhân
Sau khi nhiên liệu hạt nhân được sử dụng trong lò phản ứng để tạo ranhiệt phục vụ cho các mục đích khác nhau, nó được gọi là “nhiên liệu đã qua sửdụng” và có thể phải trải qua các bước trong khâu “back end” của chu trìnhnhiên liệu, chu trình này bao gồm các bước cất giữ tạm thời và cuối cùng là vứt
bỏ, tái chế và tái sử dụng trước khi thải ra thành chất thải
Công ước chung về An toàn trong Quản lý chất thải hạt và An toàn Quản lýChất thải Phóng xạ buộc chính phủ của các quốc gia thành viên đã ký kết phải ápdụng một số biện pháp đảm bảo an toàn của nhiên liệu đã qua sử dụng và các cơ
sở quản lý chất thải phóng xạ và phải báo cáo đánh giá với cơ quan có thẩmquyển Nhà nước để kiểm soát hoạt động lưu trữ, xử lý chất thải hạt nhân Việclưu trữ, xử lý, tái chế chất thải hạt nhân phải được đặt ra ngay từ khâi đầu vàocủa cung cấp công nghệ, nó liên quan mật thiết đến việc chuyển giao công nghệ
Việc sử dụng nhiên liệu đã qua sử dụng sẽ phụ thuộc vào quyết định chínhsách của quốc gia liên quan đến khâu back end của chu trình nhiên liệu Vai tròcủa chính phủ trong khâu back-end đã được tăng cường trong thập kỷ qua, vìchính phủ ngày càng quan tâm đến vấn đề đóng cửa nhà máy và quản lý dài hạnchất thải phóng xạ Chính phủ có thể tham gia vào khâu back-end của chu trìnhnhiên liệu hạt nhân dưới nhiều hình thức Chính phủ có trách nhiệm đề ra cácchính sách quốc gia về chất thải hạt nhân, đưa ra quy trình tài trợ, chọn địa điểm
và đánh giá tác động môi trường của các cơ sở và có thể sẽ thực hiện chúng Ởmột số quốc gia thành viên, chính phủ xây dựng và vận hành các cơ sở và tiếnhành nghiên cứu phát triển, có thể trên diện rộng hoặc cụ thể tại địa điểm đượclựa chọn
Trang 33Lưu giữ ngắn hạn và quản lý chất thải phóng xạ, bao gồm nhiên liệu đãqua sử dụng, là trách nhiệm của chủ dự án/công ty điện lực/nhà vận hànhNMĐHN, thường là một phần của giấy phép vận hành NMĐHN Đối với vấn đềcất giữ dài hạn, cất giữ tập trung hay có cơ sở chôn cất có thể được yêu cầu, tuỳvào các quy định của chính phủ.
2.2.6 Nhà nước quản lý sở hữu vốn nhà nước, tài chính đối với dự án đầu tư xâydựng nhà máy ĐHN
Việc có nguồn tài chính đảm bảo và đầy đủ có thể là một trong nhữngràng buộc quyết định nhất ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án NMĐHN Tổngnhu cầu thu xếp tài chính để dự án NMĐHN mới bị chi phối bởi yếu tố chi phíđầu tư tức thời (overnight costs), thời gian xây dựng và chi phí vốn Mặc dùngười ta dự kiến rằng các thiết kế lò kiểu mới sẽ làm giảm chi phí vốn và thờigian xây dựng NMĐHN, tổng chi phí đầu tư các tổ máy hạt nhân có thể vẫn caohơn so với các phương án thay thế khác, cụ thể so với tuabin khí chu trình hỗnhợp Do vậy, thu xếp tài chính, khi xét về tính cạnh tranh của tổng chi phí phátđiện, là vấn đề chủ chốt cần được giải quyết trước khi thực hiện thành công dự
án NMĐHN
Nhìn chung, NMĐHN được thu xếp vốn theo phương pháp đa nguồntruyền thống, trong đó nhiều nguồn tài chính được tập hợp thành 1 gói tài chínhtổng thể bao gồm toàn bộ chi phí của dự án Nguồn đầu tiên là từ nhà đầu tư/chủ
dự án/công ty vận hành Nguồn chủ sở hữu này hình thành nền tảng của gói thuxếp tài chính Ngoài ra, phát hành trái phiếu, tín dụng ngân hàng trong nước vàtrong trường hợp là doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hay do nhà nước kiểmsoát, nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có thể giúp đáp ứng toàn bộ phần tàichính cần thiết
Thu xếp tài chính cho NMĐHN thường thuận lợi khi có nhu cầu điện chạynền, với chi phí sản xuất dự kiến ổn định, tính cạnh tranh của phương án hạtnhân, cơ chế điều tiết ổn định và có sự hỗ trợ trực tiếp hay gián tiếp từ chínhphủ
Xu hướng tiến tới phi điều tiết thị trường và tư nhân hoá tạo ra các thách
Trang 34thức mới đối với việc thu xếp tài chính cho thiết bị trong ngành năng lượng, đặcbiệt cho các nhà máy điện lớn Trong thị trường điện phi điều tiết, bản chất củacác rủi ro đầu tư đã thay đổi và nhà đầu tư có xu hướng ưu tiên những công nghệ
ít đòi hỏi vốn lớn và có tính linh hoạt hơn Các yếu tố rủi ro khác cũng đóng vaitrò quan trọng trong quyết định đầu tư, ví dụ độ ổn định điều tiết, các thỏa thuậnquốc tế, chính sách về môi trường và chính sách an ninh cung cấp.Các bên liênquan trong thoả thuận thu xếp tài chính là tổ chức tài chính và bên mua củaNMĐHN Bên mua có thể yêu cầu nhà thầu thiết bị hỗ trợ cụ thể trong quá trìnhthu xếp và đàm phán các khoản vay, với những điều khoản và điều kiện tốt nhất
Nhà nước phải lựa chọn và xác định rõ trách nhiệm của chủ dự án:
Chủ dự án đầu tư là người đại diện cho nhà nước về mặt sở hữu vốn và cótrách nhiệm như sau:
+ Trực tiếp thực hiện hoặc thuê các tổ chức tư vấn và các doanh nghiệp có
tư cách pháp nhân lập, hoặc thẩm định dự án do các tổ chức tư vấn khác lập;quản lý dự án, thực hiện dự án đầu tư thông qua hợp đồng kinh tế theo pháp luậthiện hành
+ Chủ đầu tư có thể sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau theo qui định đểthực hiện dự án và có trách nhiệm toàn diện, liên tục về quản lý sử dụng cácnguồn vốn đầu tư
+ Công bố nhu cầu, kêu gọi dân chúng và tiếp cận công chúng để thu hút
sự đồng thuận của công chúng
Trang 35 Quản lý chặt chẽ quy trình triển khai đấu thầu lựa chọn đối tác cung cấp cácnhà thầu tham gia đấu thầu:
Đây là khâu đầu trong toàn phần tìm người để thực thi dự án Nó báo chotất cả mọi người muốn làm thuê cho nhà nước hãy đến tham gia dự tuyển Tổchức đấu thầu, thi tuyển chọn người thi công thuê cho nhà nước
Bao gồm những công việc sau:
+ Tổ chức bộ máy quản lý của bên A (chủ đầu tư và ban QLDA)
+ Tiếp nhận đăng ký của bên A
+ Tiếp nhận đăng ký đấu thầu
+ Giao bài thi đấu, thực chất là giới thiệu công việc, cần thuê người làm(được đưa ra ở mục đấu thầu)
+ Giám khảo đấu thầu, chọn người xứng đáng
Quản lý và kiểm soát được nội dung ký hợp đồng nhất là với các nhà thầutrúng để thực hiện dự án:
Chủ đầu tư căn cứ vào thẩm quyền được giao tiến hành ký hoặc trình cấp
có thẩm quyền quyết định dự thảo hợp đồng
Quản lý chất lượng thi công của các nhà thầu (quá trình thi công)
Phối hợp với bên B lập kế hoạch tổng thể chu trình thực hiện dự án
Thực hiện nghĩa vụ của bên A với các điều khoản trong hợp đồng và quyền chủ
tế cao, cần sự hậu thuẫn của các quốc gia khác trên thế giới
2.2.9 Kiểm soát, giám sát, thanh tra và xử lý các vi phạm
Kiểm soát, giám sát, thanh tra và xử lý các vi phạm theo chức năng thẩmquyền được pháp luật quy định trong QLNN về ĐHN: từ khâu chuẩn bị đầu tư,đầu tư, quản lý dự án, cấp phép, thanh tra, giám sát, bảo vệ công trình trọngđiểm, bảo vệ an ninh các các nhân nắm bí quyết công nghệ
Trang 362.3 Nguyên tắc trong QLNN đặc thù về năng lượng ĐHN
Bên cạnh các nguyên tắc chung trong hoạt động QLNN luôn phải được ápdụng ở mọi phương diện quản lý của Nhà nước, riêng hoạt động QLNN về ĐHN
cần có những nguyên tắc đặc thù
Xuất phát từ tính đặc thù của việc ứng dụng NLHN nên QLNN về ĐHNcòn phải tuân thủ các nguyên tắc:
2.3.1 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật và điều ước quốc tế trong hoạt động hạt nhân 1
Hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử và bảo đảm an toàn bức
xạ, an toàn hạt nhân, an ninh nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân và thiết bị hạtnhân (sau đây gọi chung là an ninh) trong các hoạt động đó phải tuân thủ quyđịnh của các Luật, điều ước này
Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật pháp quốc tế với quyđịnh của luật khác về cùng một nội dung liên quan đến hoạt động trong lĩnh vựcnăng lượng nguyên tử và bảo đảm an toàn, an ninh trong các hoạt động đó thì ápdụng quy định của Luật luật pháp quốc tế
2.3.2 Nguyên tắc bảo đảm an toàn tuyệt đối, an ninh trong lĩnh vực năng lượngnguyên tử
Hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được thực hiện vì mụcđích hòa bình, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động liên quan đếnđầu tư xây dựng, vận hành và chấm dứt hoạt động của NM ĐHN phải bảo đảmyêu cầu cao nhất về an toàn và an ninh.Hoạt động trong lĩnh vực năng lượngnguyên tử phải bảo đảm an toàn cho sức khoẻ, tính mạng con người, môi trường
và trật tự, an toàn xã hội Hoạt động quản lý về an toàn, an ninh trong lĩnh vựcnăng lượng nguyên tử phải bảo đảm khách quan, khoa học
2.3.3 Nguyên tắc quản lý chặt chẽ về đầu tư, xây dựng, vận hành và chấm dứthoạt động của NM ĐHN
Việc đầu tư NMĐHN phải tuân theo quy hoạch phát triển điện lực quốcgia và các quy hoạch khác liên quan Việc đầu tư xây dựng và vận hành NMĐHN phải đạt được hiệu quả kinh tế, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giảm
Trang 37thiểu ảnh hưởng đối với môi trường, cải thiện và nâng cao đời sống của dân cưtại địa phương nơi có NM ĐHN.
NMĐHN thuộc danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninhquốc gia, phải được bảo vệ đặc biệt, tuyệt đối an toàn trong quá trình khảo sát,thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệcông trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia
Việc cấp phép cho NM ĐHN do cơ quan nhà nước thực hiện theo yêu cầucủa tổ chức, cá nhân, thể hiện trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc lựachọn địa điểm, thiết kế, xây dựng, vận hành, khai thác hay chấm dứt hoạt độngcủa các NM ĐHN Quy định này không loại trừ trách nhiệm chính trong việc bảođảm an toàn của tổ chức cá nhân được cấp phép
2.4 Thể chế HCNN đối với QLNN
2.4.1 Khái niệm về thể chế HCNN
“Thể chế nhà nước bao gồm toàn bộ các cơ quan Nhà nước với hệ thống quiđịnh do Nhà nước xác lập trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước vàđược Nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữaNhà nước với công nhân, các tổ chức nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội”.Thể chế HCNN là một hệ thống gồm luật, các văn bản pháp quy dưới luật tạokhuôn khổ quản lý cho các cơ quan HCNN, một mặt là thực hiện chức năngquản lý điều hành mọi làm việc của đời sống xã hội cũng như cho mọi tổ chức,
cá nhân sống và làm việc theo pháp luật Mặt khác là các quy định các mối tronghoạt động kinh tế cũng như các mối quan hệ giữa các cơ quan và nội bộ bêntrong của cơ quan HCNN
Tóm lại, thể chế HCNN được hiểu như sau: “Thể chế HCNN là toàn
bộ các yếu tố cấu thành Nhà nước để HCNN hoạt động quản lý Nhà nước một cách có hiệu quả đạt được mục tiêu của quốc gia”.
2.4.2 Vai trò của thể chế HCNN trong QLNN đối với năng lượng ĐHN
Thể chế HCNN là cơ sở pháp lý và quản lý HCNN
Thể chế HCNN với một hệ thống luật (bao gồm luật, các văn bản pháp quy) docác cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành chính là cơ sở pháp lý cho các cơ
Trang 38quan HCNN các cấp thực hiện quản lý bảo đảm sự thống nhất quản lý Nhà nướctrên phạm vi quốc gia.
Thể chế HCNN là cơ sở để xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy HCNN:
Tổ chức bộ máy HCNN thực hiện các chức năng quản lý đã được phân công(hành pháp hành động)
Thể chế HCNN được quy định sự phân chia chức năng, quyền hạn, tráchnhiệm và xác lập mối quan hệ giữa:
Các cơ quan hành chính cấp Trung ương, bao gồm: Chính phủ với các bộ, cơquan ngang bộ; Giữa các Bộ, cơ quan ngang bộ với nhau;
Các cơ quan hành chính địa phương: Giữa HĐND và UBND ở địa phương; GiữaUBND với các sở, ban ở địa phương với nhau;
Các mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính Trung ương với các cấp chínhquyền địa phương
Thể chế hành chính là cơ sở xác lập nhân sự các cơ quan HCNN
Thể chế hành chính giúp lãnh đạo, quản lý các cơ quan HCNN ban hành quyđịnh và sắp xếp nhân sự phù hợp với chức năng nhiệm vụ của các cơ quan đó
Từ đó, xác định rõ ràng chức năng nhiệm vụ không rõ ràng khoa học thì khó bốtrí hợp lý từng người cụ thể đúng người đúng việc…
Thể chế HCNN là cơ sở xây dựng quan hệ cụ thể giữa Nhà nước và côngnhân, giữa Nhà nước và tổ chức xã hội
Thể chế HCNN là cơ sở để xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan HCNN vớicông dân, tổ chức xã hội, doanh nghiệp Việc xác lập mối quan hệ này cần phải
cụ thể đầy đủ, từ đó xác định trách nhiệm của người dân với tổ chức, cá nhânđược trao quyền Thể chế HCNN quyết định mối quan hệ giữa cơ quan HCNhànước với công dân, tổ chức xã hội, doanh nghiệp
III Vai trò của các tổ chức quốc tế IAEA (International Atomic Energy Agency) trong hoạt động QLNN đối với năng lượng ĐHN
3.1 Khái quát về tổ chức quốc tế IAEA:
Trang 39Tổ chức quốc tế IAEA (International Atomic Energy Agency) là trungtâm thế giới của sự hợp tác trong lĩnh vực hạt nhân Nó được thiết lập như là “tổchức nguyên tử vì hòa bình" trên thế giới, vào năm 1957 trong Liên Hợp Quốc.
Cơ quan này làm việc với các nước thành viên và nhiều đối tác trên toàn thế giớinhằm thúc đẩy an toàn, an ninh và hòa bình trong lĩnh vực sử dụng công nghệhạt nhân
Ban Thư ký IAEA đặt trụ sở chính tại Trung tâm quốc tế Vienna ởVienna, Áo Hoạt động liên lạc và văn phòng khu vực được đặt tại Geneva, Thụy
Sĩ, New York, Mỹ, Toronto, Canada, và Tokyo, Nhật Bản IAEA chạy hoặc hỗtrợ các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm khoa học ở Vienna vàSeibersdorf, Áo, Monaco và Trieste, Italy
Ban Thư ký IAEA là một đội ngũ chuyên nghiệp đa ngành và 2200 nhânviên hỗ trợ từ hơn 90 quốc gia Cơ quan này do Tổng cục trưởng Tổng YukiyaAmano và sáu Phó Tổng giám đốc người đứng đầu bộ phận lớn
Các chương trình của IAEA và ngân sách được thiết lập thông qua quyết địnhcủa cơ quan hoạch định chính sách của mình - Hội đồng 35 thành viên củaThống đốc và Hội nghị Tổng của tất cả các nước thành viên Báo cáo về hoạtđộng của IAEA được gửi định kỳ hoặc như trường hợp bảo đảm với Hội đồngBảo an và Đại hội đồng LHQ
IAEA nguồn lực tài chính bao gồm ngân sách thường xuyên và các khoảnđóng góp tự nguyện Ngân sách thường xuyên hàng năm được thiết lập bởi Hộinghị Tổng, cũng như quỹ extradbudgetary và đóng góp tự nguyện cho Quỹ Hợptác kỹ thuật
3.2 Nhiệm vụ và chương trình IAEA:
Nhiệm vụ của IAEA được hướng dẫn bởi các lợi ích và nhu cầu của cácnước thành viên, kế hoạch chiến lược và tầm nhìn thể hiện trong Điều lệ IAEA
Ba trụ cột chính - hoặc lĩnh vực hoạt động - nền tảng cho nhiệm vụ của IAEA:
An toàn và an ninh trong việc ứng dụng năng lượng nguyên tử;
Nghiên cứu khoa học và sáng kiến công nghệ;
Trang 40Biện pháp tự vệ khi xảy ra các sự cố hạt nhân, tranh chấp hạt nhân giữacác cá nhân, tổ chức, quốc gia;
Nhiệm vụ thanh sát và xác minh các yếu tố vi phạm nguyên tắc chungtrong việc ứng dụng hạt nhân vào đời sống xã hội
3.3 Vai trò của IAEA đối với các nước thành viên
Vì vậy, quan hệ tốt với IAEA có một vai trò rất quan trọng đối với sự pháttriển an toàn ĐHN ở các nước, đặt biệt là các nước phát triển, cụ thể là:
3.3.1 Về vấn đề đảm bảo an toàn hạt nhân chỉ sử dụng NLHN vào mục đích hòabình:
Việc một nước được IAEA kết luận hằng năm chỉ là sử dụng NLHN vàomục đích hòa bình, không sản xuất vũ khí hạt nhân sẽ tạo điều thuận lợi; tranhthủ được sự trợ giúp về kỹ thuật của IAEA; tránh được những rắc rối về chính trịvới các nước láng giếng, các cường quốc hạt nhân và cộng đồng quốc tế
3.3.2 Về vấn đề an toàn hạt nhân và trợ giúp kỹ thuật:
IAEA có thể giúp các nước muốn phát triển ĐHN trong nhiều lĩnh vực antoàn hạt nhân và trợ giúp kỹ thuậ hạt nhân: Đánh giá và hoạch định nhu cầu nănglượng, trong đó có việc sản suất ĐHN; Cung cấp thông tin về khoa học và côngnghệ hạt nhân; về kinh nghiệm chọn mua các lò phản ứng hạt nhân; về kinhnghiệm xử lý chất thải hạt nhân; Tăng cường các biện pháp an toàn và an ninhcho các cơ sở hạt nhân, các nguồn phóng xạ thông qua các dự án hợp tác kỹthuật với IAEA;
3.3.3 Tư vấn cho các chuyên gia pháp lý
IAEA tư vấn cho các quốc gia về việc xây dựng tiêu chuẩn an toàn hạtnhân trong quá trình xây dựng và các tiêu chuẩn an toàn hạt nhân trong quá trìnhxây dựng các tiêu chuẩn an toàn hạt nhân quốc gia; Hỗ trợ nghiên cứu và giảiquyết các vấn đề liên quan đến phát triển ĐHN như : tư vấn về xây dựng cơ sở
hạ tầng cho phát triển ĐHN; soạn thảo hệ thống pháp luật trong nước về hạtnhân; xử lý chất thải hạt nhân; Tư vấn về một lộ trình phát triển ĐHN, nhữngviệc cần làm và nên làm để phát triển ĐHN;
3.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực