Tổng quan thành phần hóa học cây sơn vé, họ bứa
Trang 12 TONG QUAN
2.1 Giới thiệu về họ Bứa
Họ Bứa (Măng Cụt, Guttiferae, Clusiaceae) bao gồm khoảng 40 chi với hơn
1000 loài Ngoại trừ chi Hypericum thường được tìm thấy ở vùng ôn đới, hầu hết
phân bố ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm [3,4] Ở Việt Nam, họ Bứa có tất
cả 62 loài [5], phân bố khắp đất nước từ Cao Bằng, Lạng Sơn đến Đà Nẵng,
Kontum và Cà Mau, Phú Quốc [2,5]
2.2 Giới thiệu về chỉ Garcinia
2.2.1 Đặc điểm thực vật
Chỉ Garcinia gồm khoảng 400 loài, là một trong những chi lớn nhất của họ Bứa Chi này phân bố khắp các vùng Đông Nam A, déi khi được tìm thấy ở bán đảo Ấn Độ và vùng xích đạo Phi Châu Chúng có đặc điểm là vỏ trái, vỏ cây và
ngay cả gỗ thường tiết ra chất nhựa màu vàng, đôi khi màu trắng [3,4] Theo GS
Pham Hoang H6 [5], chi Garcinia 6 Viét Nam 1a chị lớn nhất với 29 loài
Cc loai thuéc chi Garcinia thuộc loại thân thẳng, có tán lá màu xanh đậm Chúng thường là đại mộc có độ cao trung bình 8~30m như bứa núi (G oliveri), sơn vé (Œ merguensis), bứa lần đen (G mierolineata) Một số ít là đại mộc nhỏ như bứa lá tròn dai (G oblongifolia) hoac 1a bui nhu btfa it hoa (G oligantha) La dai với các đường gân không rõ ràng Hoa vàng nhạt hoặc trắng hơi xanh, có 4
hoặc 5 cánh Bao phấn không cuống, đầu nhụy có chia thùy Trái có nhiều cơm
và nước cốt, 4—10 lớp, dạng đỉnh không đổi Hạt có lớp vỏ mỏng bao bọc [5,6]
2.2.2 Thành phần hóa học
Cho tới nay, các nhà nghiên cứu đã khảo sát thành phần hóa học của hơn 50
loài thuộc chi Garcinia nhyw đằng hoàng (ỚŒ hanburyi ), măng cụt (G mangostana), vàng nhựa (Ớ vilersiana), vàng nghệ (Ớ gaudichaudi), tai chua
(G cowa), v.v Các kết quả nghiên cứu cho thấy Garcinia là nguồn cung cấp
phong phú các xanthon, benzophenon, biflavonoid và triterpenoid
Trang 2Cũng như các chỉ khác thuộc họ Bứa, chỉ Ởarcinia sinh tổng hợp được các
polihidroxixanthon đơn giản lẫn các polihidroxixanthon mang nhóm thế alkil Các
hợp chất này là chất chỉ điểm (marker) đặc trưng của họ Bứa Kiểu mẫu oxigen- hóa của xanthon cô lập từ họ Bứa rất đa dạng và người ta đã xác định được trên
40 kiểu [7] Các pohHhidroxixanthon đơn giản có thể mang một, hai, ba, bến hay năm nhóm thé hidroxil hay metoxil Ngoai tr¥ 1,5-dihidroxixanthon (1) và 1,7- dihidroxixanthon (2) thuGng được cô lập từ nhiều loài Garcinia nhu G buchananii, G xanthochymus, G indica, G eugeniifolia, echinocarpa, G
terpnophylla, cac dihidroxixanthon khac it gap trong chi nay [6,7]
1,3,7-, 1,/3,56- hoặc 1,3,6,7- [7] 1,3,5-Trihidroxixanthon @) cô lập từ G xanthochymus [8] v4 1,3,6,7-tetrahidroxixanthon (4) tìm thấy trong cây măng cụt
G mangostana [9]
(4)
Xanthon với các vị trí khác mang oxigen cũng được cô lập như 1,5,6- trihidroxixanthon (5) tìm thấy trong cao cloroform của gỗ cây GC buchananii [6]
Trang 3và 1,3,5,7-tetrahidroxixanthon (6) cô lập từ gỗ loài Ớ pedunculata vào nằm 1974
[10]
`
Các xanthon mang nhóm thế alki thường là các xanthon trị- và tetraoxigen- hóa với các kiểu mẫu oxigen héa tương tự như các xanthon đơn giản
với một hoặc hai nhóm thế C¿ Trong số các nhóm thé C;, thường gặp nhất là
nhóm 3-meti-2-butemil (còn gọi là nhóm prenil bay isoprenil) Về mặt hóa thực vật, loài được nghiên cứu nhiều nhất là măng cụt (G mangostana) Các khảo sát hóa học cho thấy vỏ trái măng cụt chứa hai cấu tử chính là œ-mangostin (7) và B- Ga mangostin (8) a-Mangostin được Schmid cô lập được lần đầu tiên vào nim 1855
Sau đó Dragendorff (1930) và Murakurm (1932) đã có nhiều khảo sát nhằm xác định cấu trúc của chúng nhưng mãi đến năm 1958 thì Yates và Stout mới đưa ra được cấu trúc đúng sau khi thực hiện nhiều phản ứng giảm cấp cũng như tổng hợp
và nhiều xạ tia X [11] Đến năm 1970, Jefferson và các cộng sự cô lập thêm được y-mangostin (9), tiền chất của œ- và B-mangostin [12]
(7) R, =H, R, = Me (8) R, =R,=Me (9)R,=R,=H
Trang 4Nhiều xanthon mới vẫn tiếp tục được cô lập từ G mangostana Nam 1981,
từ cao eter dau héa của vỏ trái, Sen cô lập được 2 prenil xanthon mới là L5- dịihdroxi-2-(3-metil-2-butenm)-3-metoxixanthon (19) và 1,7-dibidroxi-2?-(3-metil- 2-butenil)-3-metoxixanthon (11) [13] Đây là các xanthon mang một nhóm thế €¡
Nhóm isoprenil có thể đóng vòng với nhóm hidroxil 6 vi ti orto dé tao thành hệ thống vòng chromen như trong piranojacareubin (12) tìm thấy trong Ở đensivenia [14] Năm 1999, một chromenoxanthon mới là dulxanthon E (13) được Kosela và cộng sự cô lập từ lá cây G dulcis [15]
ĐH a2) (13)
Đôi khi nhóm prenil bị hidrat-bóa như trong garcinon C (14) due tim thấy trong vO trai mang cut G mangostana vao nam 19811161
OH
Trang 5Tuy ít phổ biến hơn nhóm 3-meHil-2-butenil, nhóm 1,I-đimetil-2-propenil đô khi cling dude tim thay Macluraxanthon (15) ty vé cay G ovalifolia [17] va subelliptenon F (16) ty hai loai G subelliptica va G dulcis [14] 1A hai vi du vé
xanthon mang nhóm thế |,|-dimetil-2-propenil
Ngoài các nhóm C¿, nhóm Cio nhu geranil cling dude tim thay nhung ít gặp Nam 1977, một geranil xanthon mới là rubraxanthon (17) được cô lập trong loài
G cowa [14] Nhóm geranll cũng có thể bị biến đổi như trong hợp chat 1,5- dihidroxi-6-metil-6'(4"-metil-3”-pentenil)xanthon (18) cé lap tY G livingstone! vào năm 1992 [18]
Chi Garcinia con sinh tong hdp được một nhóm các xanthon kiểu hoàn có cấu trúc phức tạp như morellin (19) tim thấy trong vỏ hạt G morella Cau tric đúng của hợp chất này được công bố vào năm 1963 bằng phương pháp nghiền
6
Trang 6cứu nhiễu xạ tia X của dẫn xuất ester p-bromobenzensulfom] [19] Cho đến nay
hầu như các xanthon lềng này chỉ được tìm thấy từ chỉ Garcinia, bao gém G
morella, G hanburyi, G forbesii, G gaudichaudii va G bracteata Loai duy nhất khéng thuéc Garcinia nhung có chứa nhóm hop chat nay 18 Cratoxylum cochinchinense, cũng thuộc ho Bứa [20] Vào năm 2000, bốn xanthon lổng mới trong đó có acid gaudichauduc F (20) và acid gaudichauduc G (21) duge Ku va con sucé lap ty cao diclorometan cua v6 cay G gaudichaudii {21}
x
OEt O
Các benzophenon cũng được tìm thấy trong chi Garcima Cũng như
xanthon, các hợp chất này thường xuất hiện ở dang polihidroxil-héa Cac
polihidroxibenzophenon đơn giản thường được cô lập cùng với xanthon trong các
thực vật bậc cao nên người ta cho rằng chúng là tién chat cla xanthon Năm
1975, Holloway va cộng sự cô lập được maclurin (22) từ cao cloroform của gỗ
= ˆ A ca Z yo oF ' i
cây G magostana (9] Gan đây, một benzophenon đơn giản khác la 2',3.0
¬ i
Trang 7trihidroxi-2,4-dimetoxibenzophenon (23) cũng được cô lập từ gỗ loài G subelliptica [22]
(23)
Tương tự trường hợp xanthon, các benzophenon cũng hiện diện dưới dang isoprenil hóa Năm 2000, từ cao hexan của số loài G pseudoguttifera, Ali va cộng sự cô lập được 4 benzophenon trong đó có vismiaphenon C (24) và myrtiaphenon A (25) mang hai nhóm thé isoprenil [23]
Chi Garcinia con là nguồn thực vật đổi dao sinh tổng hợp nên các biflavonoid, 1A dimer cia flavonoid Cho tdi nay hầu hết các biflavonoid cô lập
được từ chị này có kiểu nối (1-2, H-8) và rất đặc trưng che chi Garcinia nên được goi 14 biflavonoid garcinia Chúng thường xuất hiện ở các loài CGarcimia mọc ở Châu Phi hơn các loài mọc ở Châu Á Ví dụ như garcimianin (26), một biflavonoid dạng flavanon-flavonol cô lap tr re loài Ớ koia [24]
Trang 8
Tuy hiếm gặp hơn, các biflavonoid có kiểu nối khác cũng được cô lập từ chi này, chẳng hạn như amentoflavon (27) từ G mulHflora có kiểu nối (1-3', H-§) và
cupressuflavon (28) từ Ơ Huimgstonet có kiều nối (1-8, H-§) [25]
Trang 9Các triterpenoid phổ biến như friedelan-3-ol (29) và friedelin (36) cũng
thường gặp nhưng các trierpenoid mới lại hiếm thấy Tuy vậy, gần đây
Rukachaisirikul và các cộng sự đã cô lập được 5 trierpenoid mới từ vỏ trái G hombroniana thu hai ¢ Thai Lan, trong đó có acid (24EF)-3o-hidroxi-l7,L4- friedolanostan-8,14,24-trien-26-oic (31) và acid 38-hidroxi-23-oxo-9,l6- lanostadien-26-oic (32) [26]
(29) R = H, OH (30) R= O
(32)
Ngoài xanthon, benzophenon, biflavonoid vA triterpenoid, chi Garcinia con sinh tổng hợp nên các hợp chất tự nhiên thuộc các nhóm khác nhưng những hợp
chất này thường Ít gặp.
Trang 102.2.3 Ung dung
Chi Garcinia cé nhiéu tng dụng trong đời sống như làm thức ăn, lên men thức uống, xà phòng, dầu nhờn, phẩm nhuộm và quan trọng hơn cả là được sử
dụng để chữa bệnh trong y học cổ truyền
G mangostana dude ding dé diéu trị các bệnh nhiễm khuẩn ngoài đa hoặc
vết thương Vỏ quả được sử dụng điều trị bệnh tiêu chảy, kiết lì G dulcis dùng
điều trị bệnh bạch huyết và quai bị Nước sắc từ vd G huillensis dùng điều trị
bệnh hoa liễu Trái Œ indica có tính kích thích tim và còn có thể sử dụng làm thuốc trị giun sán Mủ G morella được dùng làm thuốc xổ, điều trị giun sán và chữa bệnh phù Trái Ơ xanthochymus dùng trị bệnh bao tử [6]
Với nỗ lực tìm kiếm các loại thuốc mới từ tự nhiên, nhiều nghiên cứu về hoạt tính trên dịch trích thô cho thấy nhiều loài trong chi này có hoạt tính kháng
khuẩn mạnh và có nhiều triển vọng dùng làm thuốc Các nghiên cứu tiến hành
kết hợp giữa khảo sát thành phần hóa học và thử nghiệm hoạt tính sinh học trên
các hợp chất tỉnh khiết cô lập được từ nhiều loài cho thấy chúng có hoạt tính đa
dang a-Mangostin (7), y-mangostin (9) va các dẫn xuất tương tự cô lập tr G mangostana có tính kháng khuẩn và kháng nấm [27,28] œ-Mangostin còn có tinh
kháng viêm [29] và gần đây người ta cũng phát hiện hai hợp chất này còn có hoạt
tính kháng HIV-1 proteaz [30] Hoạt tính kháng nấm còn được phát hiện ở rubraxanthon (17), cấu tử chính cô lập từ mủ G parvfoia [31]
Nhiều xanthon cô lập từ họ Bứa cũng thể hiện hoạt tính kháng ung thư Năm
1997, Tosa và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính một số hợp chất xanthon cô lập từ năm loài họ Bứa là G mangostana, G dioica, G subelliptica, Calophyllum inophyllum va Mammea acuminata va nhan thấy chúng cé hoat tinh khang DNA topoisomeraz I va II, trong đó subelliptenon F (33) tt’ G subelliptica cé hoat tinh
mạnh nhất và nồng độ hiệu quả là 30 ug/ml đối với Topo I và ít hơn 1 hg/m] đối
TH
nu DOW, KM TU ETP
THU VILA
——
1]
Trang 11vdi Topo HL Kết quá này cho thấy hợp chất này rất có triển vọng dùng làm thuốc chống ung thư trong tương lại [32]
(33)
Một số xanthon cô lập được từ chỉ Garcimia có hoạt tính chống sốt rét Năm
1998, Likhirwitaywuid và cộng sự cô lập được Š xanthon mới từ G đuicis trong
đó có symphoxanthon (34) Cá 5 hợp chất này đều có hoạt tính ức chế sự tăng
trưởng ấu trùng Plasmodium falciparum ở mức độ trung bình {33]
Năm 1994, Minami và cộng sự thử nghiệm tính kháng oxid hóa của U1
xanhon cô lập từ gỗ loài Œ subellipica Kết quả cho thấy 1,2,5-
trihidroxixanthon, 1,2-dihidroxixanthon-5,6-dimetoxixanthon và 1 ,8-dihidroxi-6- metoxixanthon có hoạt tính mạnh hơn cả [34] Từ cây này người ta cũng tìm thấy một xanthon có tính kháng oxid hóa đối với Hpid là garcimaxanthon H @5) [35]
và môi xanthon có hoạt tính neurotrophic là garcimaxanthon B (36) [36]
Trang 12OH O_ ỌCH;
2.3 Garcinia merguensis
Tén khoa hoc: Garcinia merguensis Wight
Tên thường gọi: Sơn vé
Thuộc họ Bứa (Măng cụt, Guttiferae, Clusiaceae)
2.3.1 Đặc điểm thực vật
Sơn vé là cây thân gỗ cao đến 20m; nhánh non vuông Lá có phiến xoan
thon, dài 8—10cm, dau nhon hay có đuôi 5-l5mm, gân phụ mảnh Hoa đơn tính cùng gốc, với 4-6 cánh hoa, hoa đực có 4-6 bó nhị có cuống; hoa cái có bầu 2 ô chứa mỗi ô một noãn Quả tròn, đường kính 12mm, mau vàng lục, ăn được; hạt to 6-8mm, ra hoa vào tháng 2-5, ra quả tháng 5-6 Loài này mọc ở Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Indonesia Ở nước ta, cây mọc trong rừng rậm vùng Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Kontum, Gia Lai, Lâm Đồng [2,5]
2.3.2 Công dụng
Trái ăn được, vỏ dùng để nhuộm vàng, lá được dùng trong y học dân gian
để chữa bệnh phù [2].