Tổng quan Nghiên cứu và biện luận về tổng hợp chất dẫn dụ mọt
Trang 1PHAN THU NHAT
Trang 21, Khái niệm về pheromon
Những năm gần đây, người ta đã chứng mình được rằng, tác nhân gây ảnh
hưởng lên tập tính của động vật, không chỉ có hormon chất do tuyến nội tiết, có tác
dụng điểu chỉnh và phối hợp chức năng của các mô và cơ quan khác, mà cỏn có
pheromon chất do tuyến nội tiết chế tiết ra môi trưởng ngoài có tác dụng đến các cá thể khác củng loài Chúng ta thưởng nghĩ rằng thông tia được truyền tử động vật này cho động vật khác qua thị giác và thính giác, nhưng pheromon cũng là một
phương thức truyền đạt bằng cách tác động lên cơ quan khứu giác hoặc vị giác wn
Một số pheromon bằng cách nào đó đã tác động lên hệ than kinh trung ương
của động vật nhận và đã gây được phản ứng tập tính một cách nhanh chóng Thuộc nhóm pheromon này có các chất dẫn dụ sinh dục của một số loài bướm, cũng như
các chất đánh dấu và báo động do kiến tiết ra Các pheromon khác có tác động
chậm hơn và gây ra ở động vật nhận hàng chuối hiện tượng sinh lý có ảnh hưởng
đến sự sinh trưởng và biệt hóa Thuộc các hiện tượng này có sự điều hỏa sinh trưởng
của cảo cảo, sự điều hỏa sinh dục trong các tập đoàn của mối
Một trong những pheromon lý thú nhất là các chất dẫn dụ ở bướm Một số chất này đã được chiết xuất và xác định, ví dụ chất bombicon alcol với 16 nguyên tử
carbon có hai liên kết đôi, do bướm cái tằm đâu tiết ra Trong các râu của bướm đực
tầm đâu có các thụ quan vô củng nhạy cảm để thu nhận chất dẫn dụ, hoặc chất giplur -10-acetoxi - A’- hexadexenon do bướm của sâu róm tiết ra Có thể ghi dược xung động xuất phát tử râu những "điện râu để" đó chúng tổ rằng chỉ có bombicon gây nên phản ứng đặc trưng chứ không phải chất nào khác Khi có gió nhẹ, chất dẫn
dụ do con cái tiết ra sẽ phân tán ở khoảng cách vải kilômet và một vệt rộng khoảng
200 mét Mỗi con cái có trung bình khoảng 0,01mg chất dẫn dụ sinh dục Có thể
chứng mình bằng thực nghiệm rằng chỉ cân tất cả 10.000 phân tử chất dẫn dụ phát
tán từ nguễn ở cách con đực khoảng Í em cũng đã gây được phản ứng có hiệu qua Trong đó con đực thu nhận khoảng vải trăm phân tử hoặc có thể ít hơn, như vậy số chất dẫn dụ do một con cái tiết ra đủ để kích thích cho hơn 1 tỷ con đực Phân tử của chất dẫn dụ thường là khá lớn (10 - 17 nguyên tử carbon), do do ching co tính
đặc trưng cao
Khác với chất bombicon và giplua, chất dẫn dụ sinh dục của gián ở Châu Mỹ không phải là aleol có mạch carbon dai, mà là chất có vòng trung tâm gồm 3
nguyên tử carbon, liên kết với các nhóm meHil và một nhóm propanoxi Người fa đã tiến hành nhiều thí nghiệm nhiều tíng dụng chất dẫn dụ sinh duc lam chất diệt côn
trùng đặc trưng Người ta đem đặt các bình có chứa chất dẫn dụ sinh dục khắp cánh
2
Trang 3đồng với khoảng cách 10 mét, chất dẫn dụ sẽ khuếch tán ra không khí xung quanh
dẫn dụ con đực đến và như vậy đã làm hạ thấp xác suất gặp gỡ của con đực với con cai
Kién Solenopsis geminata di tim méi va quay vé té nhd tiét ra chất đánh dau,
do đó mà các kiến khác cũng có thể tìm được đường dẫn đến chổ có mỗi Sau hai
phút thì pheromon bay hơi hết vì vậy mà kiến không còn nhận ra đường cũ nữa
Vấn tính hay lo lắng nên kiến còn tiết ra các chất đặc biệt có tác dụng làm tín hiệu
báo động cho các kiến khác ở gần đó Các chất báo động có khối lượng phân tủ thấp hơn số với chất đẫn dụ sinh dục và cũng kém đặc thủ hơn, do đó nhiều loài kiến khác nhau có thể phản ứng cùng với một chất báo động
Ong thợ đi tìm mỗi có tiết ra chất geramiol, là một alcol có mạch nhánh (gồm
10 nguyên tử carbon), để gây sự chú ý của các ong thợ khác, điều nảy bổ sung cho
các thông tin được truyén đạt nhờ các điệu nhảy Ong chúa tiết ra acid 9- cetodecanic và các ong thợ sẽ hấp thụ chất này và chất này có tác dụng ức chế sự
phát triển buông trứng của chúng và làm chúng có khả năng xây dựng các ố ong
chúa, làm nơi cho ong chúa mới phát triển Loại acid này, cũng được dùng làm chất dẫn dụ sinh dục đối với ong đực trong thời gian hoạt động sinh dục
Gián đực thưởng tiết ra trên lưng mình một chất đặc biệt có tác dụng dẫn dụ
con cái và tập trung sự chủ ý của con cái trong thời gian giao hợp Ở một số côn
trùng khác, con đực mang đến cho con cái một quả cầu bằng tơ rồng để tập trung sự
chú ý của con cái vào quả cầu đó, ngoài ra quả cầu côn có các dau hiệu đặc biệt làm cho con cái nhận biết được con đực cùng loại
Giọng hót của chim, "tín hiệu gọi cưới" của một số loài cá, ch, nhái và côn trùng được sử dụng như những tín hiệu nhận biết nhau của các cá thể cùng loài Ech
cái chỉ nghe theo tiếng gọi của ếch đực cùng loài, chứ không phải loài khác dâu cho
đó là loài rât gần nhau
Đối với các côn trùng sống thành xã hội như kiến, ong vả mối thi pheromon đóng vai trò quan trọng trong sự điều chỉnh thành phan của tập đoàn và phối hợp
hoạt động của các thành viên trong tập đoàn Trong tập doàn mối có phân hóa một
số dang hình thái khác nhau: mối chúa, mối đực, "mối lính" và các mỗi thợ Tất cả
chúng đều được phát triển tử trứng đã được thụ tink, tuy nhiên mối chúa, mối đực và
mỗi lính có tiết ra những chất ức chế quá trình biến đổi, đặc biệt các pheromon có
tác động lên corpus allatam của mối thợ và ức chế quá trình biến đổi chúng thành
dạng đặc trưng khác Nếu như mối chúa chết thì chất pheromon “ức chế chúa"
không được tiết ra nữa và một hoặc vài mối thợ sẽ phát triển thành mỗi chúa
Trang 4Các thành viên của tập đoàn chỉ duy trì cho một mối chúa sống còn các mối chúa còn lại sẽ bị chúng ăn thịt Cũng giống như thế khi mối đực bị chết hoặc số lượng mối lính bị giảm đi thì các mối thd sẽ biến đổi thành các dạng đặc biệt có thể
thay thé chung
Con duc loai cao cao di cu ed tiết ra ở bề mặt thân thể chất pheromon có tác
dụng kích thích tốc độ sinh trưởng của con non
Chất pheromon không chỉ có 6 cén trùng mà có cả ở động vật có vú Nếu ta
nuôi trong cùng một chuồng nhiều con chuột nhắc cái (tử 4 con trẻ lên) thì ở chuồng
tần số chủa giả sẽ tăng cao Tuy nhiên, nếu đem cắt bỏ thành hành khứu giác của
chúng thì điều đó sẽ không xảy ra Nếu ta nhất vào một chuỗng nhiều chuột cái hơn nữa thì chu kỳ động dục của chúng bị phá hủy Nhưng nếu ta nhốt vào chuỗng một chuột đực thì mùi chuột đực có thể gây nên sự xuất hiện chu kỳ động dục ("hiệu ứng Briue")
Vấn đề có pheromon ở người hay không thì hiện nay vẫn còn chưa được rõ
Đã có nhiều đữ liệu lý thú chứng minh rằng acid 14-oxitetradecanic chỉ có ở phụ nữ
đã trưởng thành và sinh dục mới thụ cảm được, trong đó phụ nữ nhạy cảm nhất với
acid này là 6 giai đoạn rụng trứng Dân ông và em bé gái là ít nhạy cảm với mùi của acid đó, đàn ông sau khi đã được tiêm oestrogen sẽ trổ nên nhạy cảm hơn đối với
mùi acid đó
Tuy nhiên, chúng ta hiện còn biết rất ít về bản chất pheromon ở người và động vật có vú, cho đến nay người ta đã biết được khá nhiều các chất đóng vai trỏ làm tín hiệu hóa học, trong số các tín hiệu nghe, nhìn, ngữi, thì các tín hiệu mũi vị
ưu việt hơn hắn các tín hiệu nghe, nhìn, vì chúng được giữ lại trong khoảng thời gian nhất định Ngoài ra, sự ổn định của tín hiệu mùi cũng là yếu tố quan trọng giúp
kích động giới tính của cá thể đực và cái trong quá trình tiến hành giao hợp Hơn
nữa, tín hiệu mùi vị ở người và động vật có vú phức tạp hơn là vì chúng côn phụ thuộc vào giới tính, tuổi tác, trạng thái tâm sinh lý của người và động vật Khi giao hợp, cơ thể người cũng tiết ra pheromon ở dạng hormon steroid tương Ứng với đán
ông và đàn bà Đại đa số các pheromon được tiết ra từ các tuyến đưới da và các
tuyến sinh dục Ngoài ra steroid va cac chất đồng dạng của nó, cá thể cái còn tiết ra
roột số chất nhằm kích thích cá thể đực, đó là hỗn hợp các acid hữu cơ có mạch ngắn đơn giản tiết ra trong âm đạo, các acid bữu cơ nảy cũng có mặt ở các nỗng độ khác nhau trong âm đạo của phụ nữ Trong đó, số lượng acid thay đổi phụ thuộc vào giai đoạn của vòng kinh nguyệt
Trang 5Tóm lại, một trong những pheromon lý thú nhất vẫn là pheromon có tác dụng
ảnh hưởng đến hoạt động sinh dục hay côn gọi là pheromon giới tính Các loại cân
trùng cũng như động vật rất nhạy cảm để thu nhận chất dẫn dụ tử cá thể cùng loài
khác giống, bằng cách nảo đó các chất hóa học nảy đã tác động lên hệ thần kinh
trung ương, đã gây được những phản ứng một cách đặc hiệu và nhanh chóng Vì
vậy, việc khảo sát ảnh hưởng của pheromon lên hoạt tính sinh học là rất cần thiết trong bảo vệ thực vật và thiết lập cân bằng sinh thái,
1.1 Phân loại pheromon
Theo tải liệu công bố năm 1965, trên thế giới có khoảng 3 triệu các loại côn
trùng khác nhau Số lượng côn trùng sống trong củng một thởi gian ước tính lên đến một tỷ con, trong số đó có 99,9% là loài vô hại và có ích đối với con người, còn
khoảng 0,1% là có hai và cần phải tiêu diet
Các phương pháp tiêu điệt côn trùng bằng hóa học đã có từ lâu Dầu thé ky
XÃ, người ta mới biết sử dụng các loại hóa chất như dầu lửa (petroleum), arsenat chỉ nên Williams gọi các chất này là thể hệ thuốc trừ sâu thứ I '” Trong thập niên
40, các loại thuốc trừ sâu mới xuất hiện và đòi hỏi một ngành công nghiệp hóa chất tương đối phát triển, đó là DDT (Dieloro Diphenil Tricloroetan), và thể là cuộc chạy dua giữa côn trùng và thuốc trử sâu bắt đầu, vì trong quá trình sử dụng thuốc trừ sâu DDT, các loại côn trùng dẫn dẫn quen thuộc và trẻ nên kháng thuốc, người ta buộc,
phải nghiên cứu và đưa ra sử dụng những loại thuốc mới Các hợp chất hydrocarbon
clor hóa và các dẫn xuất là thế hệ thuấc trừ sâu thứ l1, và trong một thởi gian dài,
chủng được sử dụng rộng rải Năm 1966, riêng ở Hoa Kỳ, giá trị thuốc trử sâu các loại được đưa vào sử dụng lên đến 500 triệu USD ©
Tuy nhiên, các loại thuốc trừ sâu cổ điển cũng gây những tác hại to lớn đối
với thiên nhiên và con người Trước hết, các loại thuốc trừ sâu cổ điển hoàn toàn không có tính chuyên biệt, nghĩa là có khả năng diệt bất kỳ loại côn trùng nảo Nếu
chúng ta lưu ý đến tỷ lệ những loại côn trùng có hại (0,13⁄4) so với loại có ích
(99,9%), thì rõ ràng đây là một nhược điểm hết sức to lún, phá võ trầm trọng cân
bằng sinh thái vì không những độc hại với côn trùng có ích mà còn gián tiếp hay
trực tiếp gây tác hại đến con người và gia súc Sự kháng thuốc của các loại côn trùng có bại bắt buộc người ta phải sử dụng thuốc trử sâu với liễu lượng không
ngừng gia tăng, kết quả là dẫn đến môi trưởng bị ô nhiễm đến múc báo động Do
đó, yêu câu đặt ra đối với công tác bảo vệ thực vat la phải đưa vào sử dụng các loại
thuốc trử sâu có hoạt tính cao, giảm tối đa lượng hóa chất độc hại đưa vào thiên
Trang 6nhiên Để đáp ứng nhu cầu nảy, các loại thuốc trủ sâu có hoạt tính sinh học và nguồn gốc thiên nhiên được đặc biệt chú ý nghiên cứu
Trong khái niệm thuốc trừ sâu thế hệ thứ II, Wiliams kể đến các loài
hormon côn trùng và dẫn xuất, đặc biệt là các loại Juvenil hormon va pheromon
Juvenil hormon (CisHs;gO;) có công thức cầu tạo dựa trên cơ sở của mạch acid béo, chắc chắn rằng đó là dẫn xuất isoprenoid của acid mevalonic ‘”
zÐ
C
Oo Hormon juvenil (16-epoxi-7-etil-3-11- dimetil- 2,6-tridecadiencat metil}
Tính đặc thủ không bình thưởng của hormon là nhánh eHl Từ gỗ cây người
ta đã chiết xuất được chất có hoạt tinh của hormon juventil Người ta cho rằng cây
tự bảo vệ sự tấn công của côn trùng bằng cách tiết ra chất tương tự hormon làm cho
ấu trùng không trưởng thành được Cho nên người ta để nghị sử dụng hormon
juventil như là phương tiện để chống lại sự sinh sẵn của côn trùng
Pherormmon:
Đối với một số côn trùng, corpora allata có tiết ra các hormon có tác động
đến một số quá trình khác nhau, ví dụ: những hormon điều chỉnh quá trình tích lũy noãn hoàn trong trứng và sự chế tiết của các tuyến phụ sinh dục Đối với một số giản, con cái dẫn dụ con đực nhớ pheromon, mà sự tạo thành và tiết các pheromon
là do các hormon của corpora allata kiểm soát
Như đã biết, thế giới động vật có nhiễu cách truyền thông tin cho nhau, trong
đó việc liên lạc bằng các chất hóa học là hết sức phổ biến và đặc trưng P Karlson
gọi các chất hóa học đóng vai trỏ truyền tin nảy là pheromon Đó là các hóa chất mà các côn trùng đực hoặc cái tiết ra và truyền vào không gian để cho con khác giống cùng loài tiếp nhận và có phản ứng đặc hiệu d9
C6 thé chia pheromon côn trùng thành nhiều nhóm dựa theo chức năng sinh
ly, phương pháp tác dụng, phương pháp phản ứng của các loại côn trùng khác giống
hoặc theo cấu tạo hóa học của chúng.
Trang 7Karlson lúc đầu phân biệt các pheromon bằng cách đánh hơi và vị giác, nhưng cách phân biệt này không được sử dụng
Willson chia các loại pheromon theo tác dụng của chúng Theo ông, các loại
pheromon gây ra sự thay đổi sinh lý châm trong cơ thể côn trùng được gọi là các
pheromon sơ cấp (primet), còn các loại gây ra các phản ứng nhanh tức thời gọi là
pheromon thứ cấp (releaser) Trong nhóm sau này, tùy theo đặc tính phần ứng của
côn trùng, pheromon được chia thanh các loại:
- Pheromon tap hợp: có tác dụng đổi với cả hai giống (đực và cái) của côn
trùng khiến chúng tập hợp lại tại một chổ nhất định
- Pheromon báo động: để côn trùng thông báo cho nhau những chổ nguy
hiểm đe dọa đến tỉnh mạng
- Pheromon đánh đấu: để côn trùng thông báo cho nhau đường di, các khu vực có lương thực
- Pheromon ảnh hướng tới hoạt động sinh đục: gọi tắt là sex pheromon, là các chất do con đực hay con cái tiết ra để dẫn dụ con cùng loài khác giống Các loại sex pheromon này rất đặc trưng cho từng loài côn trùng và có tác đụng rất mạnh, chúng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống côn trùng
Phần lớn các công trình nghiên cứu đều chủ yếu để cặp đến sex pheromon
Do đó, trong luận án này, chúng tôi xin giới hạn phần nghiên cứu trong lĩnh vực sex pheromen
1.2 Ứng dụng của pheromon
Phần lớn các kết quả nghiên cứu về pheromon được ting dung dé bảo vệ thực
vật Trong cách bảo vệ thực vật hiện đại, thì sex pheromon có hứa hen nhiều hơn cả,
mặc dủ các loại pherormon khác (tập hợp, báo động, đánh dấu ) cũng đều được chú
ý nghiên cứu đây đủ
Thông thưởng sex pheromon được một giống (đa số là giống cái) tiết ra và côn trùng cùng loài khác giống cảm nhận bằng con đường đặc biệt sẽ có phản ứng
kịp thời với thông tin vừa nhận được Chẳng hạn con đực tiếp nhận được sex
pheromon của con cái truyền trong không gian, nó quay một vòng để định hướng
rỗi bay ngay về phía con cái để chuẩn bị cuộc gặp gd Pham vi tác dụng của pheromon là tử vải chục phân đến vài km Bằng thực nghiệm, người ta nhận thay
rằng các sex pheromon cũng có tác dụng kích thích và vài lượng nhỏ cũng đủ để
Trang 8gây phản ứng đặc trưng với côn trùng Vì thế, pheromon hết sức thích hợp cho công
tác bảo vệ thực vật hiện đại và phủ hợp với việc chống ô nhiễm môi trưởng Nhở có
độ chọn lọc rất cao nên pheromon hầu như không gây hại cho các côn trùng có ích,
chúng rất ít gây độc hại cho các loại động vật có xương sống và hầu như không gây tác hại đối với thể giới thực vật Một yếu tổ đáng lưu ý nữa đó là khi sử dụng
pheromon người ta không sợ bị hiện tượng "kháng thuốc" như các loại thuốc trử sâu
thông thưởng khác
Trong công tác bảo vệ thực vật, người ta sử dụng pheromon theo phương
pháp gián tiếp hoặc trực tiếp
- Phương pháp gián tiếp:
® Người ta thường sử dụng pheromon của loài côn trùng có hại Ở nước
ngoài nhưng chưa xuất hiện trong nước, kiểm tra mức độ ô nhiễm của các
lô hàng nhập khẩu nhằm ngăn chặn kịp thời sự xâm nhập của côn trùng,
ø Bằng cách đặt bẩy, người ta có thể xác định được chu kỷ sinh sản của
côn trùng có hại và trên cơ sở đó tiến hành công tác phòng chống
- Phương pháp trực tiếp:
e Người ta đặt một số lượng bẩy cần thiết trên toàn bộ diện tích cần bảo vệ, các côn trùng có hai trong khu vực này sé bị thu hút về phía đó và bị tiêu diệt hoặc bị vô hiệu hóa bằng phương pháp hóa, lý
e Trên toàn bộ diện tích cần được bảo vệ, người ta sử dụng một lượng lớn pheromon (10 - 150g/ha) để làm mất phương hướng các con đực, Chúng
không côn xác định được các con cái ở đâu nữa, do đó việc gặp gỗ giữa nhau bị trổ ngại, và gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chúng
Phạm vi áp dụng của từng phương pháp phụ thuộc rất nhiều vào điểu kiện
kinh tế như:
ø Chỉ phí sản xuất và sử dụng pheromon
e Thời gian phát huy hiệu lực của pheromon
Nói chung, đối với loại côn trùng không gây hại trầm trọng, hoặc các loại
pheromon có cấu tạo phúc tạp đắt tiễn, người ta thường sử dụng phương pháp gián
tiếp, còn phương pháp bảo vệ trực tiếp thưởng chỉ áp dụng đối với các loại côn trằng
có tác hại lớn, trên một vùng rộng và cấu tạo pheromon không phúc tạp lắm, việc
tổng hợp pheromon không quá tốn kém.
Trang 911 Rhynchonhorol
- Công thức phân tử: CạH,„O
- Phân tử lượng: 128.21
- Tén theo IUPAC: (2E)-6-metil-2-hepten-4-ol
- Công thức cầu tạo:
ILL Tinh chat
Rhynchophorol là hẵn hợp tiêu triển của 2 đồng phân quang học
Rhynchophorol là chất lỏng đạng dầu không máu, nhiệt độ sôi 70 °C / 13 ramHg hoặc 36-37 °C /3 Tor, np” = 1,4350
11.2 Nguồn gốc
Loại mọt Rhynchaphorus pabnarum (L) gây nhiều tác hại cho cây cọ dẫu,
cây dừa ở vùng nhiệt đới Nó sinh ra các ấu trùng giun tròn phát triển rất nhanh, gieo bệnh vòng đó trên cây chủ và làm chết cây chủ Để tránh bệnh vòng đó cẩn
phải diét mot Rhynchophorus palmarum và các ấu trùng, nhưng việc sử dụng các
loại thuốc trừ sâu rất tốn kém và rất có hại trên cây chủ Ngoài ra, các loại mot nay đục lổ và sống ấn bên trong cây chủ nên rất khó phát hiện Do đó, việc sử dụng pheromon dẫn dụ mọt Rhynchophorus palmarum đến bẫy có tấm độc để tiêu điệt
chúng là rất cân thiết, °”
D Rochat và các cộng sự đã cô lập được pheromon do con đực
Rhynchophorus palmarum tiết ra để dẫn dụ các con cái và cả con đực Bằng các phương pháp hấp phụ, sắc ký và phố nghiệm, các tác giá đã xác định pheromon này
là hẵn hợp của (2E) 6 metil 2 hepten 4 oÍ [1], (2E) 5 metil 2 hepten 4
Trang 10-ol [H] và (2E) - 2 - Octen - 4 -ol [III], trong dé hợp chất [1] có hàm lượng cao nhất và
có tác dụng quyết định °®
|
Ð Rochat và cộng sự cũng đã chúng mình các loai mot Rhynchophorus palmarum trưởng thành cũng bị thu hút mạnh do hỗn hợp các chất bay hơi tiết ra
trong quá trình lên men các mô trong cây chủ Các tác giả cũng đã xác định hỗn hợp nay bao gam (2E) - 6 - metil - 2 hepten - 4 - ol [[] còn gọi là rhynchophorol 1; 3 - metil - octan - 4 - ol [FV] còn gọi rhynchophorol 2 va 4 - metil nonan - 5 - ol [V]
còn gọi là rhynchophorol 3, trong đó [Í] van là chất có hàm lượng cao nhất và có tác dụng quyết định 63)
Mot cay co My (APWS), RAynchophorus palmarum (L.) san sinh 2 hop chat
sinh dục đặc biệt, được tách bằng phương pháp bốc hơi trên máy Supelpak - 2 và sắc ký khí Một chất với hàm lượng nhỏ không phát hiện được Hợp chất chính đạng
bốc hơi sinh ra bởi con đực được xác định là (2E) - 6 - metil - 2 - hepten - 4 - oi, Các tác gid để nghị đặt tên là rhynchophorol cho phân tỦ mới này,
11.3 Tổng hợp Rhynchophorol
Trong những năm gần đây, ngày cảng có nhiều công trình nghiên cửu tổng
hợp các pheromon để dẫn dụ côn trùng, nhất là các pheromon có ảnh hưởng đến
hoạt động sinh dục, còn được gọi là sex pheromon Các loại sex pheromon này rất
đặc trúng cho từng loại côn trùng và có tác dụng rất mạnh Ở các nước công nghiệp
phát triển, người ta hạn chế sử dụng thuốc trên sâu mà chủ yếu dùng các sex
pheromon để bảo vệ cây trồng Ở nước ta, việc sử dụng sex pheromon cỏn rất xa lạ,
do đỏ chúng ta cân phải nghiên cứu sớm để giúp cho việc sử dụng sex pheromon
được phổ biến hơn, vì đây là một phương pháp bảo vệ thực vật TẤt ưu việt so với
18