Sinh viên các trường đại học, cao đẳng là một đối tượng cần quan tâm vìđây chính là lực lượng lao động trí óc trong tương lai, lứa tuổi 17-22 lại là lúc cơthể tiếp tục hoàn thiện và phát
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đấtnước, tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của nhân dân nói chung cũng đã được cảithiện đáng kể Tuy vậy, vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ trẻ em bị suy dinh dưỡng
và người trưởng thành bị thiếu nhiệt lượng trường diễn (CED: Chronic EnergyDeficiency), bên cạnh đó là một tỷ lệ đáng kể thừa cân béo phì
Sinh viên các trường đại học, cao đẳng là một đối tượng cần quan tâm vìđây chính là lực lượng lao động trí óc trong tương lai, lứa tuổi 17-22 lại là lúc cơthể tiếp tục hoàn thiện và phát triển; ở những nước đang phát triển như ViệtNam, độ tuổi này có thể vẫn có hiện tượng lớn bù do ở những năm trước đó cơthể chưa tăng trưởng hết tiềm năng vốn có của nó Chính vì vậy, mọi lệch lạctrong dinh dưỡng đều có thể dẫn tới những ảnh hưởng không nhỏ và có thể để lạinhững hậu quả lâu dài cho sức khỏe, thể lực và làm giảm sút khả năng học tậpcủa sinh viên, từ đó dẫn tới giảm sút khả năng làm việc, lao động sau này
Trong một thời gian dài do hậu quả của chiến tranh, tình hình kinh tế củanước nhà còn gặp nhiều khó khăn nên TTDD của đại bộ phận nhân dân ta nóichung và của học sinh, sinh viên nói riêng còn đang thiếu về số lượng, kém vềchất lượng, chưa đảm bảo đủ nhu cầu để duy trì sức khoẻ tốt và nâng cao khảnăng lao động, học tập Các nghiên cứu về nhân trắc thể lực của người Việt Namtrong thế kỷ XX cho thấy trong khoảng gần 50 năm (1932 - 1925) không thấycác biểu hiện gia tăng về tầm vóc thể lực của người Việt Nam [14] Với sựchuyển đổi của nền kinh tế, Việt Nam đã bước vào một giai đoạn phát triển mới
và đã thu được những thành tựu đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp.Đời sống của nhân dân ta ngày càng được cải thiện và điều đó có ảnh hưởngkhông nhỏ tới thanh niên Theo nghiên cứu của Trần Đình Toán và cs (1994)trên 674 sinh viên trường đại học Văn hóa cho thấy tỷ lệ CED là 54,6 % Nghiên
Trang 2cứu của các tác giả Hà Huy Khôi và cs (1997) về TTDD của 1070 sinh viên Đạihọc Y Hà Nội, Thái Bình và Bắc Thái cho thấy tỷ lệ CED ở nam là 39,2%, ở nữ
là 47,9% Tác giả Hà Huy Tuệ và Lê Bạch Mai (2008) nghiên cứu TTDD vàmức tiêu thụ lương thực thực phẩm trung bình của người từ 16-60 tuổi tại xãDuyên Thái, tỉnh Hà Tây, kết quả cho thấy tỷ lệ CED của người trưởng thành là22,2% và tỷ lệ thừa cân béo phì là 16% Trong nghiên cứu về tình trạng thể lựcthanh niên Việt Nam năm 2009 ở 454 sinh viên Học viện Quân Y, tác giả Lê ThịTuyết Mai cho thấy có 27,5 % nam, nữ trong nghiên cứu trong tình trạng CED
Sự thay đổi về TTDD qua các thời kỳ cho thấy vai trò của dinh dưỡng và điềukiện xã hội có sự ảnh hưởng không nhỏ tới sự tăng trưởng của thanh niên trong
áp, đái tháo đường, bệnh sỏi mật, ung thư, [5, 26, 15, 11, 23]
Cho tới nay, đã có một số đề tài về sinh viên được tiến hành nhưng phầnlớn tập trung vào vấn đề thể lực, chưa có nhiều nghiên cứu về TTDD cũng nhưnhững yếu tố ảnh hưởng Đề tài “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố ảnhhưởng ở sinh viên mới nhập Trường Đại học Y Hà Nội” được tiến hành mục tiêu:
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của sinh viên trường đại học Y Hà Nội.
2 Đánh giá một vài yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của
sinh viên trường đại học Y Hà Nội.
Trang 3Chương 1:
TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm tình trạng dinh dưỡng
Từ lâu người ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng vàtình trạng sức khoẻ TTDD có thể được định nghĩa là tập hợp các đặcđiểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thểphản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Khi mới hình thành khoa họcdinh dưỡng, để đánh giá TTDD, người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơngiản như gầy, béo; tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock,Quetelet, Pignet Nhờ phát hiện về vai trò các chất dinh dưỡng và các tiến
bộ kỹ thuật, phương pháp đánh giá TTDD ngày càng hoàn thiện và ngàynay trở thành một chuyên khoa của dinh dưỡng học
TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinhdưỡng của cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầudinh dưỡng của con người khác nhau tuỳ theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (vídụ: thời kỳ có thai, cho con bú…) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực Cơthể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trảiqua quá trình tiêu hoá, hấp thu, phụ thuộc váo các yếu tố khác như sinh hoá
và sinh lý trong quá trình chuyển hoá mà việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụthuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể TTDD tốt phản ảnh sự cân bằnggiữa thức ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có TTDD không tốt ( thiếuhoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc
cả hai
Trang 41.2 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp nhân trắc học
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước vàcấu trúc cơ thể theo tuổi và TTDD Phương pháp nhân trắc học có ưu điểm làđơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn, trang thiết bị không đắttiền, dễ vận chuyển Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về TTDDtrong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng Tuy nhiên phươngpháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như: không đánh giá được sựthay đổi về TTDD trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định cácthiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu
Có thể chia ra các nhóm kích thước nhân trắc sau đây:
- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng
- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao
- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các
mô mềm bề mặt: Lớp mỡ dưới da và cơ
Như vậy, những kích thước cơ bản đối với mọi nhóm tuổi là chiều cao,cân nặng, nếp gấp da ở cơ tam đầu và vòng tay Muốn đánh giá TTDD phảibiết được tuổi, cân nặng, chiều cao cũng như các kích thước nhân trắc khác
Ở người trưởng thành dinh dưỡng hợp lý, cân nặng nói chung ổn định vàduy trì trong một giới hạn nhất định, ta gọi là cân nặng “nên có” hay “thích hợp”
Có nhiều công thức tính cân nặng “nên có” nhưng gần đây, Tổ chức y tếthế giới khuyên dùng “chỉ số khối lượng cơ thể” (Body Mass Index, BMI)trước đây gọi là chỉ số Quetelet(*) để đánh giá về tình trạng dinh duỡng [25].BMI thường được sử dụng cho người trưởng thành, khi có số đo chính xáccân nặng và chiều cao, người ta cho rằng tỷ lệ này có liên quan chặt chẽ vớitình trạng béo Chính vì vậy người ta thường gọi là chỉ số đánh giá tình trạngbéo phì hay chỉ số khối cơ thể Các chỉ số này đã được sử dụng cho nhữngnghiên cứu lớn về dịch tễ học đánh giá TTDD và béo phì bởi việc áp dụng các
Trang 5chỉ số này với việc lấy 2 số đo chiều cao và cân nặng dễ thực hiện, nhanh vàchính xác [16].
- Chỉ số khối lượng cơ thể :
BMI=
Cân nặng (kg) Chiều cao (m)2
Chỉ số BMI có liên quan chặt với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể, do đó làmột chỉ số được Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị để đánh giá mức độ gầy, béo [d,26] Ghi chú : Quetelet Adolphe (1796- 1876) là nhà toán học, thống kê học
và thiên văn học, người Bỉ
Năm 1988, James WP, Ferro- Luzzi A và Waterlow JC đã đề nghị mộtbảng phân loại để đánh giá các mức độ của CED (Chronic Energy Deficiency,CED) dựa vào BMI như sau :
CED độ 3 : BMI dưới 16
CED độ 2 : BMI từ 16 - 16,9
CED độ 1 : BMI từ 17 - 18,4
Người bình thường : BMI từ 18,5 - 24,9 [27,26]
Các mức độ béo cũng được chia như sau [26, 29]:
Bình thường: BMI từ 18,5 - 24,99
Thừa cân độ 1: BMI từ 25 - 29,99
Thừa cân độ 2: BMI từ 30 - 39,99
Thừa cân độ 3: BMI ≥ 40
Ở thanh niên người ta thường đo bề dày lớp mỡ dưới da, chu vi vòngcánh tay, vòng cơ và nhất là hay sử dụng chỉ số khối lượng cơ thể (BMI), cáchphân loại béo, gầy dựa vào chỉ số BMI trên [19, 23, 30, 32, 33, 34, 35]
Với người trưởng thành châu Á, WPRO khuyến cáo nên dùng cácngưỡng sau để đánh giá [38, 39]
Trang 6+ Tỷ lệ vừa : 10 – 19% quần thể có BMI < 18,5
+ Tỷ lệ cao : 20 – 29 % quần thể có BMI < 18,5
+ Tỷ lệ rất cao : 40 % quần thể có BMI < 18,5
- Cân nặng:
Cùng với chiều cao, cân nặng có trong hầu hết các điều tra cơ bản, trongcác nghiên cứu hình thái Cân nặng một người gồm hai phần: phần cố định vàphần thay đổi Tuy nhiên, cân nặng còn phụ thuộc vào chiều cao, giữa cânnặng và chiều cao ở người Việt Nam có mối tương quan khá chặt, hệ số tươngquan khoảng từ 0,60 đến 0,65 Vì vậy, trong các chỉ số thể lực phần nhiều có
cả cân nặng và chiều cao [8]
- Chiều cao đứng:
Chiều cao đứng bằng tổng chiều cao đầu, chiều cao cổ, chiều cao thân
và chiều cao chi dưới Chiều cao đứng cũng là một trong những đặc điểmhình thái quan trọng Nó được nói đến ở hấu hết những nghiên cứu nhân trắchình thái Chiều cao đứng có liên quan mật thiết đến thể lực Những người cóthể lực tốt thường có chiều cao đứng gần bằng chiều cao trung bình [19, 12]
1.3 Ảnh hưởng của thiếu nhiệt lượng trường diễn với sức khỏe, bệnh tật
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân ngày càngđược quan tâm hơn, lượng cung cấp lương thực thực phẩm tăng lên Điều này
Trang 7đã làm giảm tỷ lệ CED ở người trưởng thành, tuy nhiên vẫn còn ở mức cao ỞViệt Nam, theo một nghiên cứu về TTDD ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ (tuổi từ15-49) tại một huyện tỉnh Hải Dương (2006), tỷ lệ CED là 36,8% [19] Theo
Hà Huy Khôi và cs (1997) nghiên cứu về TTDD của 1070 sinh viên Đại học
Y Hà Nội, Thái Bình và Bắc Thái cho thấy tỷ lệ CED ở nam là 39,2%, ở nữ là47,9% Tác giả Hà Huy Tuệ và Lê Bạch Mai (2008) nghiên cứu TTDD vàmức tiêu thụ lương thực thực phẩm trung bình của người từ 16-60 tuổi tại xãDuyên thái, tình Hà Tây, kết quả cho thấy tỷ lệ CED của người trưởng thành
là 22,2% Trong nghiên cứu về tình trạng thể lực thanh niên Việt Nam năm
2009 ở 454 sinh viên học viện Quân Y, tác giả Lê Thị Tuyết Mai cho thấy có27,5 % nam, nữ trong nghiên cứu trong tình trạng CED [9, 13, 17, 16] Theonghiên cứu của Nuru Huda và Ruzita Ahmad (2010) về TTDD của 624 sinhviên có độ tuổi từ 18-26, kết quả chỉ ra rằng: có một tỷ lệ cao CED (27,4%),thiếu cân ở nữ (32,78%) cao hơn nam (20,07%) Trong đó, tỷ lệ CED của sinhviên đến từ Trung quốc là 29,81%, cao hơn nhóm sinh viên đền từ Ấn độ(27,96%) và Malaysia (25,33%) Abdelhamid kerkadi (2003) cho thấy sinhviên các nước Ả rập Thống Nhất tuổi từ 18-25 có tỷ lệ CED là 13% Còn ở
Ba Lan, tỷ lệ sinh viên nữ bị CED thì cao hơn (14,3%) [23, 31]
Nghiên cứu tại vùng Rwanda, châu Phi, Francosis (1990) cho thấy sốngày nghỉ ốm trong năm của phụ nữ có BMI thấp dưới 18,6 tăng lên rõ rệt.Nếu tính toán kỹ lượng thời gian nằm nghỉ hàng ngày và quy ra số ngày (16giờ tương đương 1 ngày) thì thấy rằng số ngày nghỉ của những người có BMIthấp là rất lớn [26]
(đã quy đổi)/năm
Trang 817,6-18,6 29 12
Tại Bangladesh, Pryer (1990) cũng đã ủng hộ quan sát này khi nhận thấy
có sự liên quan giữa số ngày nghỉ việc vì lý do sức khoẻ với tỷ lệ nam giới cóBMI thấp Còn ở Braxin, de Vasconcellos (1992) cho thấy nhóm ngày nghỉ
ốm trên một năm từ 8-14 ngày ở những người CED độ II là 2,9% cao hơnnhững người có BMI từ 20,0-24,9 (0,6%) [26]
Dinh dưỡng và điều kiện vệ sinh là những yếu tố chính làm giảm tỷ lệmắc bệnh nhiễm trùng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò quan trọngcủa dinh dưỡng đối với sự hình thành và duy trì khả năng miễn dịch của cơthể BMI như là một chỉ số tốt để đánh giá khả năng miễn dịch và tính nhạycảm đối với các bệnh nhiễm trùng BMI thấp làm giảm khả năng miễn dịch vàtăng tính nhạy cảm đối với các bệnh đó BMI thấp cũng có mối liên quan với
sự biến đổi nhiều chức năng quan trọng của tế bào dẫn đến thay đổi sự chuyểnhoá và tác động vật lý của thuốc Điều này đã ảnh hưởng tới tác dụng, liềulượng, thời gian và sự thành công của thuốc (Chandra, 1983) [25]
Người ta cũng nhận thấy rằng có sự liên quan giữa BMI thấp và tỷ lệ tửvong Satyanarayana và cộng sự (1991) nghiên cứu về nam giới ở Ấn Độ, tỷ
lệ tử vong tính trên 1000 dân trong 1 năm có liên quan đến BMI nhưsau [26,25]
Trang 9Ở Việt Nam, Đỗ Thị Kim Liên và cs (1997) nghiên cứu ở phụ nữ nôngthôn lứa tuổi sinh đẻ (tuổi từ 15-49) cho thấy có mối liên quan giữa thiếunăng lượng trường của bà mẹ với tình trạng suy dinh dưỡng của con Tỷ lệsuy dinh dưỡng của con các bà mẹ CED (60,0%) cao hơn hẳn tỷ lệ suy dinhdưỡng của con các bà mẹ có tình trạng thể lực bình thường (49,5%), sự khácbiệt có ý nghĩa thống kê với (p<0,05) Điều này cũng phù hợp vì người mẹgầy yếu thường sinh ra những đứa trẻ yếu, nhẹ cân, có thể đó là tình trạng suydinh dưỡng từ trong bụng mẹ [8].
1.4 Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì đối với cơ thể
Béo phì ngày càng trở nên phổ biến và phát triển mạnh mẽ trên thế giới.Theo WHO [29] ước tính hiện nay trên toàn Thế giới có khoảng 1 tỷ ngườithừa cân, tronng đó có hơn 300 triệu người béo phì Béo phì ngày nay khôngcòn là căn bệnh của những nước giàu mà đã trở thành vấn nạn của toàn cầu Béo phì là tình trạng tích luỹ thái quá và không bình thường của lipidtrong các tổ chức mỡ tới mức có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ Thừa cân làtình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao còn béo phì
là lượng mỡ tăng không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể [5, 10, 7] Người béo phì thường có tác hại là mất đi sự thoải mái lanh lợi trongcuộc sống Họ rất khó chịu về mùa hè do lớp mỡ dày đã trở thành như nhưmột hệ thống cách nhiệt Họ thường có cảm giác mệt mỏi chung toàn thân,hay nhức đầu, tê buồn ở hai chân Hiệu suất lao động giảm vì người béo phìphải mất thì giờ và công sức hơn để làm một công việc một động tác trong laođộng do khối lượng cơ thể quá nặng nề [7]
Người càng béo thì các nguy cơ mắc bệnh càng nhiều Trước hết, ngườibéo phì dễ mắc các bệnh tăng huyết áp, bệnh tim mạch do mạch vành, đáitháo đường, hay bị các rối loạn dạ dày, ruột, sỏi mật, và hậu quả là có thể
Trang 10dẫn tới tử vong Tỷ lệ chết thường tăng cao ở những người có BMI >29-30 [6,
11, 32, 23, 36]
Tăng và giảm cân có liên quan với huyết áp, các kết quả nghiên cứu đãchỉ ra rằng cứ giảm 1kg thì sẽ giảm 1,2-1,6 mmHg huyết áp tâm thu và giảm1,0-1,3 mmHg huyết áp tâm trương Nếu cứ giảm được 10% cân nặng cơ thểthì sẽ giảm được 20% nguy cơ mắc các bệnh mạch vành tim Phụ nữ ở độ tuổi
20 có chỉ số BMI từ 29-31 thì nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường không phụthuộc insulin cao hơn so với BMI<22 Nguy cơ mắc bệnh này cũng cao hơn ởngười trưởng thành tăng 5kg trong vòng 8 năm [26]
Ở Việt Nam, theo một nghiên cứu ở chiến sĩ công an, những người thừacân béo phì có tỷ lệ tăng huyết áp 14,5%, trong khi đó những người bìnhthường chỉ có 4,6% tăng huyết áp Như vậy tỷ lệ tăng huyết áp ở những ngườithừa cân, béo phì cao gấp 3,2 lần so với những người bình thường [19] Sựliên quan giữa béo phì và sỏi mật cũng được chứng minh, những phụ nữ cóBMI>32 có nguy cơ mắc bệnh sỏi mật tăng gấp 6 lần so với phụ nữ cóBMI<20 [26]
Chi phí dành cho béo phì chiếm tỷ lệ cao trong tổng số chi phí chăm sócsức khoẻ nhân dân Tại Mỹ (1995) chi phí dành cho béo phì lên tới 6,8% (70
tỷ đô la mỹ) trong tổng số chi phí dành cho chăm sóc sức khoẻ và 24 tỷ đô la
mỹ chi cho các hoạt động thể lực [36]
Nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng Cholesterol trong máu và huyết
áp tăng lên theo mức độ béo và khi cân nặng giảm sẽ kéo theo giảm huyết áp
và cholesterol Những phụ nữ béo phì đến tuổi mãn kinh, các nguy cơ ung thưtúi mật, ung thư vú và tử cung tăng lên Ở nam giới bệnh ung thư thận và ungthư tuyến tiền liệt hay gặp ở những người béo nhiều hơn [7]
Trang 111.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng
Quá trình lớn lên cùng với việc phát triển các kích thước nhân trắc cơ thểtrong một quần thể nhất định đã chứng tỏ là không hằng định, mà biến đổitheo thời gian, chịu ảnh hưởng của một vài yếu tố Một số nhà nghiên cứunhư Virey (1816), Villermé (1829) đã thảo luận vấn đề này ngay từ đấu thế kỷ
19, trước khi hiện tượng này được thực sự quan sát thấy vào một thế kỷ sau
đó Cho đến nay hầu hết các nhà sinh học đều thống nhất là sự tăng trưởngcủa cơ thể chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh, đặc biệt làdinh dưỡng [12] Theo Mueller thì sự phát triển của cơ thể cơ bản là do ditruyền quy định, nhưng nếu các điều kiện về dinh dưỡng và môi trường khôngthoả mãn thì mức phát triển không tương xứng với tiềm năng di truyền của nó [22] Trước những biến đổi nhanh chóng về kinh tế ở các nước công nghiệp cùngvới các vấn đề xã hội (được gọi là các yếu tố ngoại cảnh), tác giả Martorellthực hiện nghiên cứu một số đặc điểm tương đồng của xã hội nước Anh thế
kỷ 19 với các nước đang phát triển ngày nay và khẳng định rằng kích thước ởcác nước đang phát triển hiện nay là hình ảnh trẻ em nước Anh đã trải qua thế
kỷ 19 [28] Các yếu tố ngoại cảnh quan trọng nhất là dinh dưỡng và bệnh tật.Bên cạnh đó là các yếu tố khác, có ảnh hưởng gián tiếp do tác động của chúngđến TTDD và sức khoẻ của cơ thể Các yếu tố đó bao gồm:
3.5.1 Yêu tố kinh tế
Có sự liên quan khá rõ rệt giữa BMI với mức thu nhập của đối tượngđược nghiên cứu Garcia và Alderman (1989) nghiên cứu về 800 gia đìnhnông thôn thuộc 4 tỉnh ở Pakistan cho thấy những gia đình có thu nhập thấpnhất cả nam và nữ đều có BMI thấp hơn những gia đình có thu nhập cao nhất.Còn tại Brazil, những người có thu nhập trên 2500 USD/năm thì có tỷ lệ %BMI trên 27 cao hơn những người có thu nhập dưới 160USD/năm Ngược lại,những người có thu nhập thấp dưới 160 USD/năm có tỷ lệ % BMI dưới 18,5
Trang 12cao hơn những người có thu nhập cao trên 2500 USD/năm (Francois, 1989)[25] Một nghiên cứu khác ở Thái Lan cũng thấy rằng TTDD của những giađình ở tầng lớp xã hội thấp có tỷ lệ mắc các bệnh thiếu dinh dưỡng cao hơnnhững gia đình ở tầng lớp xã hội cao hơn [12]
Mức sống có tương quan rõ rệt với tỷ lệ thanh niên đạt chiều cao mụctiêu Nhóm thanh niên nghèo chỉ có từ 25 – 30% đạt mục tiêu về chiều caotrong khi ở nhóm người giàu cả ở thành thị và nông thôn có 45% đạt mục tiêu
về chiều cao trong khi ở nhóm người giàu cả ở thành thị và nông thôn có 45%đạt mục tiêu Mức sống rõ ràng đã có ảnh hưởng tích cực tới việc phát triểnchiều cao thanh niên [5] Qua báo cáo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2001– 2002 cho thấy mức sống càng cao thì tỷ lệ CED càng thấp và tỷ lệ thừa cân,béo phì càng cao
3.5.2 Địa dư
Sự gia tăng về cân nặng, chiều cao có liên quan tới địa dư sinh sống.Ngay từ thời Villermé (1829) đã có một phát hiện liên quan tới vấn đề này.Khi nghiên cứu con số thống kê các tiêu chuẩn tuyển lính năm 1800 – 1810,Villermé thấy có mối liên quan rõ ràng là khi quy định chiều cao nhập línhthấp thì số người lính ở vùng nông thôn tăng lên, người lính ở vùng thành phố
có xu hướng chiều cao cao hơn ở vùng nông thôn [37] Kết quả nghiên cứucủa Hoàng Văn Lương và cs (2004) ở đối tượng là nam thanh niên khámtuyển nhập ngũ tại 2 huyện H và P cho thấy chiều cao của nam thanh niên ởvùng đồng bằng cao hơn nhóm thanh niên ở vùng núi [11] Vùng nông thôn
có tỷ lệ CED cao hơn thành thị nhưng đồng thời có tỷ lệ thừa cân, béophì thấp hơn
3.5.3 Một vài yếu tố khác
Trang 13Một vài yếu tố khác như: kích cỡ gia đình cũng ảnh hưởng đến TTDDcủa trẻ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Các tác giả còn cho thấy tìnhtrạng học vấn của cha mẹ có liên quan đến chất lượng bữa ăn của con cái họ [11] Trình độ học vấn có ảnh hưởng qua nhiều kênh tới TTDD Học vấn cao
là cơ sở để hiểu cách giữ gìn sức khoẻ, cách chăm sóc và nuôi dưỡng con cái.Ảnh hưởng gián tiếp của trình độ học vấn là do người có trình độ cao hơncũng có khả năng kiếm nhiều tiền hơn, cho phép cải thiện đời sống, dinhdưỡng khoa học Một nghiên cứu ở Anh về vấn đề liên quan giữa tình trạngthất nghiệp của bố các em, những em có bố bị thất nghiệp có chiều cao thấphơn so với những em có bố đi làm việc [20]
Trang 14Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên năm thứ nhất năm học 2010-2011 Tiêu chuẩn chọn: Sinh viên trường Đại học Y Hà Nội Đối tượng tham
gia nghiên cứu không có bất thường về hình thể, ảnh hưởng tới nhân trắc,tham gia tự nguyện
Tiêu chuẩn loại: Những sinh viên không sẵn sàng tham gia nghiên cứu
và không có khả năng cung cấp thông tin sau khi đã giới thiệu mục đíchnghiên cứu Tất cả các đối tượng nghiên cứu muốn bỏ cuộc đều có thể chấmdứt vào bất kỳ thời điểm nào
Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang, mô tả.
Cỡ mẫu, cách chọn mẫu: Chọn toàn bộ sinh viên năm thứ nhất năm học
2010-2011
2.2 Phương pháp thu thập số liệu
Cân nặng của đối tượng được thu thập bằng cân điện tử Tanita của NhậtBản có độ chính xác 0,1kg Cân được đặt trên mặt phẳng cân bằng, sinh viên
bỏ dép và các vật nặng trước khi đứng lên cân
Chiều cao được đo bằng thước Microtoise của Pháp có độ chính xác tới0,1cm Sinh viên bỏ giầy dép và mũ trước khi đứng lên thước đo Sinh viênđứng thẳng, tay buông thẳng, quay lưng lại phía thước Kiểm tra 5 điểm trạm:chẩm, bả vai, mông, bắp chân và gót chân
Các chỉ số khác được thu thập bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn và đã đượcchuẩn hóa bằng điều tra thử
Thiết lập biến số và chỉ số cho nghiên cứu [7, 33]
Các khái niệm
Trang 15Công cụ thu thập
có ở trườngCân
ĐoDựa vào cân nặng vàchiều cao
Bảng danh sách lớp
CânThướcDựa vào cânnặng và chiều cao
- Chi phí do gia đình cung cấp
- Điều kiện nhà ở của gia đình
- Những vật dụng có tronggia đình
- Quê quán (vùng miền)
- Nơi ở hiện tại
Hỏi ghi Phiếu hỏi
- Trình độ văn hoá của bố, mẹ
Hỏi ghi Phiếu hỏi
2.3 Xử lý số liệu
Trang 16Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên được đánh giá theo ngưỡng phân loại CED của WPRO-2000 [8, 5]
Test 2 được sử dụng để đánh giá sự khác biệt giữa các tỷ lệ, T-test được
sử dụng để đánh giá sự khác biệt giữa 2 biến liên tục có phân bố chuẩn
Các loại sai số thường gặp trong điều tra cắt ngang:
- Giám sát viên cân đo lại ngẫu nhiên 5% số đối tượng
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
- Các sinh viên tham gia nghiên cứu một cách tự nguyện
- Thực hiện lấy số liệu vào thời điểm thuận tiện nhất: giữa giờ ra chơi, cuối giờ học hoặc buổi nghỉ
- Thiết kế câu hỏi ngắn <15 phút
- Nghiên cứu không ảnh hưởng sức khoẻ: không lấy máu, không dùng thuốc điều trị,
- Giải thích rõ với đối tượng về ý nghĩa và mục tiêu của cuộc điều tra
- Nếu các đối tượng nghiên cứu không muốn tiếp tục thì có thể dừng cuộc phỏng vấn bất cứ lúc nào kể cả sau khi đã kí cam kết hợp tác tự nguyện hoặc đang tiến hành phỏng vấn
- Sinh viên sẽ được tư vấn về chế độ dinh dưỡng hợp lý khi kết thúc
chương trình nghiên cứu
Trang 17Chương 3:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Giới
Biểu đồ 3.1.1: Phân bố về giới trong đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Tổng số sinh viên được điều tra là: 962 sinh viên, trong đó số
sinh viên nữ chiếm 54,0%, số sinh viên nam chiếm 46,0%
3.1.2 Tuổi
Biểu đồ 3.1.2: Tuổi của đối tượng nghiên cứu
Trang 18Nhận xét: Sinh viên trong nghiên cứu chủ yếu ở độ tuổi 18 chiếm
77,0%, sinh viên ở độ tuổi 17 chiếm tỷ lệ thấp nhất (9,1%)
3.1.3 Nơi ở
Biểu đồ 3.1.3 : Phân bố về nơi ở của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Sinh viên sống ở vùng nông thôn chiếm tỷ lệ 79,4 %, số sinh
Nhận xét: Tỷ lệ gia đình sinh viên có mức thu nhập trung bình, nghèo
(57,7%) chiếm tỷ lệ cao hơn gia đình sinh viên có mức thu nhập khá, giàu (42,2%)
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu
Trang 193.2.1 Tình trạng dinh dưỡng chung
Biểu đồ 3.2.1: Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu
Nhận xét: Đa số TTDD của sinh viên ở mức bình thường (61,5%) Tỷ lệ
sinh viên TNLTD là 33,5%, trong đó CED độ 1 là 26,5%, CED độ 2 là 5,2%
và độ 3 là 1,8% Tỷ lệ thừa cân, béo phì chiếm tỷ lệ đáng kể (6,1%)
3.2.2 Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên theo nhóm tuổi
Bảng 3.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng của sinh viên theo nhóm tuổi
Nhận xét: Tỷ lệ thừa cân, béo phì và CED phân bố đồng đều ở các nhóm
tuổi, trong đó sinh viên ở nhóm tuổi 17 có tỷ lệ thừa cân, béo phì chiếm tỷ lệcao nhất (7,3%), nhóm tuổi 19-22 có tỷ lệ thấp nhất (3,4%) Tỷ lệ CED caonhất ở nhóm tuổi 18 (33,5%) và thấp nhất ở nhóm tuổi 19-22 (25,9%)
Trang 203.2.3 Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên theo giới
Biểu đồ 3.2.3: Tình trạng dinh dưỡng theo giới
Nhận xét: Tỷ lệ thừa cân, béo phì của nam (9,0%) cao hơn của nữ
(3,5%), trong khi đó tỷ lệ CED của nữ (34,8%) chiếm tỷ lệ cao hơn nam(30,8%) Tỷ lệ béo phì độ 1 và độ 2 của nam chiếm tỷ lệ đáng kể (3,6%),trong đó có những nữ sinh viên ở mức CED độ 3 (1,2%)