1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu các loài thực vật dùng làm thuốc thuộc ngành địa y, rêu, dương xỉ, thông đất tháp bút

19 2,7K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN II : NỘI DUNG CHÍNH  CÁC CÂY DÙNG LÀM THUỐC THUỘC NGÀNH ĐỊA Y Trên trái đất, có lẽ không một loại sinh vật nào lại độc đáo bằng địa y.. Nhiều nơi đã dùng địa y để làm thức cho ngườ

Trang 1

TRƯỜNG dh KINH TẾ - KỸ THUẬT

KHOA DƯỢC



BÀI TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU CÁC LOÀI THỰC VẬT DÙNG LÀM THUỐC THUỘC NGÀNH ĐỊA Y, RÊU, DƯƠNG XỈ,

THÔNG ĐẤT THÁP BÚT

GVHD: THS NGUYỄN VINH HIỂN

Lớp : DS02A4

Họ và tên : NGÔ THỊ NGỌC NỮ

Năm 2010

Trang 2

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Trong thế giới thực vật đa dạng, phong phú, có rất nhiều loại cây dùng làm thuốc Nhưng ta cứ ngỡ rằng chỉ những cây thực vật bậc cao, có thân, lá, cành lớn thì mới có giá trị dược liệu cao.Thực tế cho ta thấy, cả những thực vật dù nhỏ bé, dù xuất hiện sớm, nguyên thủy đến mấy cũng là một kho thuốc

vô cùng quý giá Như Địa y, xuất hiện cách đây hơn 400 triệu năm, chỉ là những sợi nấm bao lấy những cục tảo lục và vi khuẩn Cyano lơ/ dương, vậy

mà cho ta rất nhiều vị thuốc quý Hay như Dương xỉ, xuất hiện từ thời trung

cổ, cũng được dùng làm thuốc ở khắp các nước từ Malaixia, đến Indonexia, Philipin, Ấn Độ, … Ngoài ra rêu, thông đất, tháp bút cũng cho ta nhiều vị thuốc cổ truyền quý giá.

Trong tập tiểu luận này, em xin trình bày một số cây thuốc thuộc các ngành Địa y, Dương xỉ, Rêu, Thông đất, Tháp bút.

PHẦN II : NỘI DUNG CHÍNH

CÁC CÂY DÙNG LÀM THUỐC THUỘC NGÀNH ĐỊA Y

Trên trái đất, có lẽ không một loại sinh vật nào

lại độc đáo bằng địa y Chúng độc đáo không chỉ bởi

gồm nhiều loại sinh vật bặc thấp gộp lại mà còn bởi

có màu sắc rực rỡ, nổi bậc với màu đỏ, cam, nâu,

vàng và màu xanh củng những hình thù vô cùng đa

dạng Địa y đã xuất hiện cách đây 400 triệu năm Địa

y là một dạng sinh vật đặc biệt được hình thành do sự

chung sống giữa một loại tảo và nấm Các sợi nấm hút nước và muối khoáng cung cấp cho tảo tảo nhờ có chất diệp lục, sử dụng chúng để chế tạo chất hữu

cơ nuôi sống cả hai bên Trong cuộc sống chung này, tảo và nấm đều có vai trò nhất định, không bên nào lệ thuộc hoàn toàn vào bên nào Hình thức sống

đó gọi là cộng sinh

Hiện nay có khoàng 13.500 đến 18.000 loại nấm địa y thuộc họ nấm nang ( cái chén) Ascomycetes, 20 loại nấm địa y thuộc họ nấm đảm

cùng 40 loài tảo và vi khuẩn địa y

Các thành viên trong địa y luôn tương hổ bảo vệ nhau cùng tồn tại Tảo và vi khuần Cyano cho địa y chất diệp lục để có thể sánh

Trang 3

ngang với cây cối quang hợp tổng hợp thức ăn từ nước và CO2 cũng như cung cấp vitamin cho nấm Ngược lại, nấm cũng bảo vệ tảo và vi khuẩn Cyano khỏi

bị khô, bị nắng gắt bằng cách bao bọc xung quanh Nhờ thế địa y địa y lan tỏa rất nhanh và ở nhiều môi trường khác nhau Chúng có thể sống trên sa mạc nóng bỏng, hấp thụ hơi nước từ sương (một đám địa y khô có thể hấp thụ được một lượng nước nặng gấp 3 đến 35 lần nó), sống được trên băng tuyết và hai vùng cực nam, bắc lạnh gía của trái đất trên bề mặt mọi chất liệu Thậm chí vẫn sinh sôi tốt khi ở ngoài không gian

Địa y tựu chung có bốn dạng : dạng Foliose giống với lá dẹt và mỏng ; dạng Crustose vẩy sừng ẩn giữa vỏ cây và sỏi đá chiếm 75 % các loại địa y ; dạng Fruticose cây bụi mọc ngược hoặc rũ xuống , là loại địa y bặc cao nhất với những nhánh gần giống với cây thật , và nổi bặc là loại địa y rêu tuần lộc

ở Bắc cực , dạng Squamulose lá bắc với nhừng thùy nhỏ tròn

Ngoài vẻ đẹp, địa y còn là một kho thuốc quý giá với 600 sinh tố ăn được, chữa bệnh và làm thuốc nhuộm tất cả các loại địa y đều ăn được ngoại trừ rêu Sói vì có độc chất cao nên người Nga đã dùng chúng để đầu độc chó sói Nhiều nơi đã dùng địa y để làm thức cho người và gia súc, họ ăn sống, nấu chin, hoặc nghiền lấy nước, phơi khô để lộc lấy tinh bột và pha chế vào bánh mì và canh.Về dinh dưỡng, địa y không chứa chất béo và cơ bản chứa Carbonhydrate một chất ga giúp tiêu hóa tốt

Thời trung cổ, nhiều nước đã dùng địa y chữa bệnh như Cetraria

islandica cỏ phổi( kết cấu giống như lá phổi) để chữa bệnh ho lao, viên phổi ; santhoria barietina địa y vàng (có màu sắc từ vàng nhạt đến vàng đậm) chữa bệnh vàng da ; Pettigera địa y chó ( thể quả giống như răng chó) chữa bệnh dại ; Usnea Florida chữa bệnh rụng tóc ; địa y đầu lâu ( mọc trên đầu lâu ) chữa chứng động kinh ; rêu Sói chữa bệnh da …Người ta cũng dùng những loại địa y có mùi thơm làm nước hoa và chất chống bay hơi,và dùng nước ép

từ một số loại địa y làm giấy quỳ khi gặp axit nhẹ như ammonia sẽ biến thành màu xanh lơ và axit nặng như giấm sẽ biến thành màu đỏ

Tuy nhiên vì nạn phá rừng, việc xây dựng nhà cửa và sưu tập ồ ạt, nhiều loại địa y đã bị biến mất Giờ đây rất khó tìm được loại địa y Usnea lonissima vốn chỉ sống ở những rừng già Tây Âu hay địa y Gymnoderma lineare vốn rất nhiều vào những năm 80 ở công viên quốc gia Great Smoky Mountains, Tennessee Mỹ Do đó, gần đây hôi nghiêng cứu địa y và rêu của Anh và Mỹ đã cấm việc sưu tập địa y ở một số địa điểm cũng như có chính

Trang 4

sách nhân rộng chúng trong các trung tâm sinh học Anh , Mỹ , Canada , Hà Lan , Nhật Bản….đều có nhiều trường và khoa nghiên cứu địa y

CÁC CÂY DÙNG LÀM THUỐC THUỐC THUỘC NGÀNH DƯƠNG XỈ

Dương xỉ là một ngành lớn, da dạng với khoản 300 chi, 10.700 loài, một số đã hóa thạch, gồm 3 lớp :Lớp lưỡi rắn, Lớp tòa sen và Lớp Dương xỉ Với nhiều cây được dùng làm thuốc trong y học

Quản trọng

Quản trọng, Sâm bòng bong, Sâm chân rết - Helminthostachys zeylanica (L.) Hook., thuộc họ Lưỡi rắn - Ophioglossaceae

Mô tả: Cây thảo có thân gỗ mọc đứng cao 30-50cm, với những rễ to và nạc nom như chân rết Cuống lá dài 20-30cm, dày, màu lục hay màu cánh gián Phiến không sinh sản hình bàn tay xoè ra của các đoạn thon, thót hẹp dần về phía gốc và về phía ngọn, nguyên hay hơi có răng cưa không đều; phần sinh sản là bông dài 10-15cm, rộng 0,5-1cm, ngoằn ngoèo như con giun, nằm

ở đầu một cái cuống đi từ gốc của phần không sinh sản

Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma Helminthostachyos

Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Nam Trung Quốc và các nước Á châu nhiệt đới Ở nước ta, cây mọc ở nhiều nơi, cuối mùa hạ đầu mùa thu, trên các bãi cỏ đá vôi và cả ở núi đất Thu hái thân rễ quanh năm, rửa sạch, thái phiến, phơi khô dùng

Tính vị, tác dụng: Quản trọng có

vị ngọt, tính mát; có tác dụng làm mát phổi, hóa đờm Ở Malaixia người ta xem như là bổ và hạ nhiệt Ở Ấn Ðộ xem như là nhuận tràng, chống độc và giảm đau

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Ở Inđônêxia, cũng như ở Malaixia, Philippin, người ta dùng những chồi non

để ăn sống hay nấu chín làm rau ăn, như kiểu ăn măng tây; thường các chồi non có nhiều phosphor, sắt Thân rễ được dùng trị ho có nhiều đờm, hen

Trang 5

suyễn và ho lao Liều dùng 12-20g rễ khô sắc uống Dùng ngoài, giã thân rễ tươi đắp vết thương và rắn độc cắn, đồng thời sắc nước uống

Ở Malaixia, người ta dùng ăn với trầu không để chặn ho; ở Java dùng

để trị lỵ, xuất tiết và giai đoạn đầu của bệnh lao phổi

Ở Ấn Ðộ, người ta dùng trị bệnh đau dây thần kinh tọa

CỐT TOÁI BỔ

(Cây Tổ Rồng, Tổ Phượng) Tên thuốc: Rhizoma Drynariae

Tên khoa học: Polypodium fortunei

O.Kuntze

Họ Dương Xỉ (Polypodiaceae)

Bộ phận dùng: thân rễ (vẫn gọi là củ)

Cây tổ rồng mọc bám chắc vào các cây cổ thụ

hoặc ở hốc đá Thứ củ già, khô, da màu nâu,

thịt hồng hồng, không mốc mọt, không lẫn tạp

chất hay rễ khác là tốt

Tính vị: vị đắng, chát, tính ấm

Quy kinh: Vào kinh Can và Thận

Tác dụng: hành huyết, chỉ huyết, trừ phong, bổ Thận

Chủ trị: chữa bong gân, gẫy xương, chân tay mỏi, tê liệt Trị các chứng Thận thấp, đau háng, đau xương

Liều dùng: Ngày dùng 8 - 20g

Cách bào chế

Theo Trung Y: Dùng dao đồng cạo sạch lông vàng, thái nhỏ, tẩm mật ướt đều, đồ một ngày, phơi khô dùng Nếu dùng gấp thì chỉ sấy khô, không đồ cũng được (Lôi Công)

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, cạo sạch lông, thái mỏng phơi khô dùng

Trang 6

Có khi tẩm mật hoặc tẩm rượu, sao qua dùng.

Dùng tươi: hái về bỏ hết lông tơ và các lá khô, rửa sạch giã nhỏ Dấp một ít nước vào rồi nướng cho mềm, đắp lên các vết đau Trong một ngày thay thuốc bó nhiều lần Nếu không đủ cốt toái bổ thì có thể lấy bã dấp lại nước rồi băng lại

Bảo quản: để nơi khô ráo, tránh ẩm mốc

- Thận suy biểu hiện như đau lưng dưới, yếu chân, ù tai, điếc hoặc đau răng: Dùng Cốt toái bổ với Bổ cốt chi, Ngưu tất và Hồ đào nhân để trị đau lưng dưới và yếu chân

Cũng có thể dùng Cốt toái bổ với Sinh địa hoàng và Sơn thù du để trị ù tai, điếc và đau răng

- Sưng và đau do chấn thương ngoài: Dùng phối Cốt toái bổ với Hổ cốt, Qui bản và Một dược

Kiêng ky: âm hư, huyết hư không nên dùng

Cốt toái bổ - vị thuốc dự phòng và điều trị loãng xương

Cốt toái bổ là một trong những cây thuốc có tác dụng dự phòng và điều trị loãng xương, điều trị gãy xương và các bệnh về xương khớp khác

Để nghiên cứu tác dụng chống loãng xương, người ta đã thử nghiệm tác dụng của cốt toái bổ trên hoạt tính của protease là men có vai trò gây khởi đầu

sự mất xương ở chuột cống và chuột nhắt trắng Trong nghiên cứu này, cả cao chiết cồn và cao chiết nước đều có tác dụng ức chế mạnh các cathepsin K và

L, là các yếu tố làm biến tính chất tạo keo trong xương, trong đó cao chiết cồn

có tác dụng mạnh hơn Cũng đã chứng minh trong thử nghiệm nuôi cấy tế bào

và trên cơ thể động vật sống hiệu quả tốt của thân rễ cốt toái bổ trên sự tăng sinh các tế bào xương của người và hoạt tính điều hòa miễn dịch

Các tế bào tiền - xương được nuôi cấy với các nồng độ khác nhau của cốt toái bổ và đã nhận xét thấy các nồng độ thấp có tác dụng kích thích sự tăng sinh tế bào xương và các nồng độ cao lại có tác dụng ức chế Ngoài tác dụng chống loãng xương, cốt toái bổ còn có các hoạt tính dược lý khác như tác dụng tăng cường chức năng nội tiết sinh dục nữ (và như vậy cũng là tác dụng gián tiếp chống loãng xương), chống viêm và viêm khớp

Các bài thuốc có cốt toái bổ

Trang 7

Bài thuốc bổ khí huyết, bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương, dùng cho người cao tuổi, người suy nhược cơ thể, gãy xương: Cốt toái bổ 12g; đảng sâm, hoài sơn, ba kích, mỗi vị 16g; hoàng kỳ, bạch truật, đương quy, cẩu tích, tục đoạn, mẫu lệ, mỗi vị 12g; thiên niên kiện 10g Sắc uống ngày một thang hoặc nấu cao lỏng uống

- Bài thuốc bổ gân xương, phòng và điều trị loãng xương: Bột cốt toái

bổ, bột sừng hươu nai, bột mẫu lệ, mỗi vị 2g Làm thành viên uống, hay uống dạng bột trong một ngày Uống liên tục trong thời gian dài Chữa đau lưng, mỏi gối do thận hư, yếu: Cốt toái bổ 16g; cẩu tích, củ mài, mỗi vị 20g; tỳ giải,

đỗ trọng, mỗi vị 16g; rễ gối hạc, rễ cỏ xước, dây đau xương, thỏ ty tử, mỗi vị 12g Sắc uống ngày một thang

- Chữa đau lưng, răng đau, ù tai do thận hư: Cốt toái bổ tán nhỏ 4-6g,

cho vào bầu dục lợn, nướng chín ăn

- Chữa phong thấp đau nhức thuộc huyết:

a Phương thuốc ngâm rượu: Cốt toái bổ 40g, rễ gắm 120g, vỏ chân

chim 100g, rễ rung rúc 80g; rễ bươm bướm (bạch hoa xà), rễ chiên chiến, mỗi

vị 60g; xích đồng nam, bạch đồng nữ, tiền hồ, ô dược, cỏ xước, rễ bưởi bung, mỗi vị 40g Nấu thành cao đặc rồi cho thêm rượu 40o thành 2 lít, ngâm trong

3 ngày Lọc lấy dịch trong, mỗi lần uống 30ml, ngày 2 lần

b Phương thuốc viên: Cốt toái bổ 160g (nấu với mật, phơi khô), cẩu

tích 240g (tẩm rượu nấu với nước muối, phơi khô), thạch hộc 160g (rửa với rượu, chưng kỹ, phơi khô), hy thiêm 160g (chưng với rượu và mật, phơi khô),

rễ cỏ xước 160g (dùng tươi, rửa với rượu), vỏ chân chim 160g (sao), rễ gắm 160g (sao), quán chúng 100g (phơi chỗ râm), lá ké đầu ngựa 40g (phơi trong râm) Các vị tán bột, làm thành viên, uống mỗi lần 8-12g với nước gừng hay rượu

- Chữa thấp khớp mạn tính (thể nhiệt): Cốt toái bổ, thạch cao, kê huyết

đằng, đan sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt, thiên hoa phấn, thổ phục linh, mỗi vị 12g, cam thảo 4g Sắc uống ngày một thang

- Thuốc đắp chữa bong gân, tụ máu: Cốt toái bổ tươi, bóc bỏ hết lông

tơ và lá khô, rửa sạch, giã nhỏ, rấp nước, gói vào lá chuối đã nướng cho mềm, đắp lên các chỗ đau, bó lại Thay thuốc bó nhiều lần trong ngày

Trang 8

Cẩu tích

Cẩu tích, Cây lông cu li - Cibotium barometz (L.) J Sm., thuộc họ Cầu tích -Dicksoniaceae

Mô tả: Cây có thân thường yếu,

nhưng cũng có thể cao 2,5-3m Lá lớn có cuống dài 1-2m, màu nâu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bóng phủ dày đặc Phiến dài tới 3m, rộng 60-80cm Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan-ngọn giáo dài 30-60cm Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông len Ổ túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu nâu, có 2 môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn, thuôn

Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma Cibotii, thường gọi là Cẩu tích,

Lông phủ ngoài thân rễ cũng được dùng

Nơi sống và thu hái: Cây phân bố rất rộng rãi ở ven rừng phục hồi sau

nương rẫy và trên các tràng cây bụi hoặc nơi đất ẩm gần bờ khe suối, rừng núi

ở khắp các tỉnh từ Lào Cai Hà Giang, qua Quảng Nam-Đà Nẵng đến Lâm Đồng Thu hoạch thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa thu- đông, cắt bỏ rễ con và cuống lá, cạo hết lông vàng để riêng Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4-10mm, phơi hay sấy khô Cần bảo quản nơi khô ráo Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng

Thành phần hóa học: Thân rễ cẩu tích chứa tinh bột (30%) và

aspidinol, lông vàng ỏ thân rễ có tanin và sắc tố

Tính vị, tác dụng: Cẩu tích có vị đắng ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ

can thận, mạnh gân xương, trừ phong thấp Người ta đã nghiên cứu tác dụng chống viêm, ức chế chủ yếu giai đoạn viêm cấp tính, cả tác dụng gây động dục kiểu oestrogen Lông cẩu tích có tác dụng cầm máu có tính cơ học bằng cách hút huyết thanh của máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông

Trang 9

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cẩu tích dung chữa phong hàn,

thấp tê đau lưng, nhức mỏi chân tay, khó cử động, đau dây thần kinh toạ, chứng đi tiểu són không cầm, di tinh, bạch đới Ngày dùng 10-20g dạng thuốc sắc

Lông vàng quanh thân rễ dùng đắp ngoài chữa các vết thương chảy máu Người ta thường để nguyên thân rễ với 4 gốc cuống lá tạo hình con vật 4 chân có lông vàng (Kim mao Cẩu tích) rồi phun rượu vào tạo ẩm cho lông mọc nhiều để lấy lông dùng cầm máu Hoặc lấy đoạn thân rễ có lông đem treo lên, thỉnh thoảng lại phun rượu để lông mọc tiếp

Đơn thuốc:

1 Chữa phong thấp, chân tay tê bại không muốn cử động Cẩu tích 20g, Ngưu tất 8g, Mộc qua 12g, Tang chi 8g, Tùng tiết 4g, Tục đoan 8g, Đỗ trọng 8g, Tần giao 12g, Quế chi 4g, nước 600ml, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày

2 Chữa thận hư, sống lưng đau mỏi, đái luôn, vãi đái, bạch đới, di tinh: Dùng Cẩu tích 15g, Thục địa 12g, Đỗ Trọng dây 10g, Dây tơ hồng (sao) 8g, Kim anh 8g, sắc uống

3 Chữa phong thấp đau nhức khớp xương, tay chân yếu mỏi hoặc bại liệt co quắp: Dùng Cẩu tích 15g, Tục đoạn 12g, Cốt toái bổ 12g, Đương quy 10g, Xuyên khung 4g, Bạch chỉ 4g, sắc uống

Ghi chú: Người thận hư mà có nhiệt, bí tiểu tiện hoặc nước tiểu vàng

đỏ, không nên dùng

Cỏ bợ

Rau bợ, Rau bợ nước, Cỏ chữ điền - Marsilea quadrifolia L., thuộc họ Rau bợ - Marsileaceae

Mô tả: Cây thảo, có thân bò dưới đất, mảnh, chia thành nhiều mấu, mỗi

mấu mang rễ và 2 lá có cuống dài Lá có 4 thuỳ chéo chữ thập Bào tử quả là

cơ quan mang bào tử, mọc 2-3 cái một ở gốc các cuống lá; các bào tử quả này

có lông dày

Trang 10

Mùa sinh sản tháng 5-6

Bộ phận dùng: Toàn cây

-Herba Marsileae

vùng quanh cực ôn đới, mọc

hoang, phổ biến ở ruộng nước và nơi

ẩm ướt dọc bờ ao, bờ ruộng, chỗ

nước cạn không chảy Thu hái cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần

Thành phần hoá học: Người ta đã biết trong Cỏ bợ có nước 84,2%,

protid 4,6%, glucid 1,6%, caroten 0,72%, vitamin C 76mg% Cỏ bợ còn chứa cyclolaudenol

Tính vị, tác dụng: Cỏ bợ có vị ngọt, hơi đắng, tính mát; có tác dụng

thanh nhiệt, lợi tiểu, tiêu sưng, giải độc, nhuận gan, sáng mắt, trấn tĩnh

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Người ta thường hái Cỏ bợ về làm

rau ăn sống, xào, luộc hoặc nấu canh với tôm tép Ðể làm thuốc, thường dùng trị: 1 Suy nhược thần kinh, sốt cao không ngủ, điên cuồng; 2 Viêm thận phù

2 chân, viêm gan, viêm kết mạc; 3 Sưng đau lợi răng; 4 Ðinh nhọt, sưng độc, sưng vú, tắc tia sữa, rắn độc cắn; 5 Sốt rét, động kinh; 6 Khí hư, bạch đới; 7 Thổ huyết, đái ra máu, sỏi thận, sỏi bàng quang, đái đường Ngày dùng 20-30g cây tươi phơi khô, sao vàng, sắc uống

Ðơn thuốc:

1 Tiêu khát, đái đường, dùng Cỏ bợ khô và Thiên hoa phấn lượng bằng nhau, tán nhỏ, hoà với sữa uống

2 Sưng lở, nổi mẩn do nhiệt, giã Cỏ bợ tươi xoa hoặc vắt lấy nước uống 3 Sỏi thận, sỏi bàng quang; giã nát lá tươi, thêm nước, gặn lấy nước trong uống sáng sớm, mỗi lần 1 bát, liên tiếp 5 ngày Dùng riêng hoặc phối hợp với búp non Dứa dại 20g, Ngải cứu 10g Phèn đen 10g

CÁC CÂY ĐƯỢC DÙNG LÀM THUỐC THUỘC NGÀNH RÊU

Ngày đăng: 10/08/2014, 06:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trứng kéo dài tức là các bông lá bào tử   gồm   các vẩy có dạng đinh mang các túi bào tử ở mặt dưới - tìm hiểu các loài thực vật dùng làm thuốc thuộc ngành địa y, rêu, dương xỉ, thông đất tháp bút
Hình tr ứng kéo dài tức là các bông lá bào tử gồm các vẩy có dạng đinh mang các túi bào tử ở mặt dưới (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w