1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Phần tổng quan thành phần hóa học của cao eter dầu hỏa

16 405 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phần Tổng Quan Thành Phần Hóa Học Của Cao Eter Dầu Hỏa
Tác giả Nguyễn Duy Điệt, Nguyễn Tư Định
Trường học Trường Đại Học Tây Nguyên
Chuyên ngành Hóa học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đắk Lắk
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 463,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần tổng quan thành phần hóa học của cao eter dầu hỏa

Trang 2

Hình1: Cây Kim Vang Barleria lupulina Lindl., ho Acanthaceae

Trang 3

L Mô tả thực vật

LI Hình thát [112103]

Cây Kim vàng còn được gọi là cây Trâm vàng hoặc cây Gai kim bóng

Tên Thái Lan : Slaed Pang Pawn

Tiên khoa học : Barleria lupulina Lindley, thuộc họ Ô rô (Acanthaceae)

Cây kim vàng là loại cây nửa bụi, sống nhiều năm, cây cao nhỏ, khoảng Im, thân và nhánh hơi vuông, màu nâu tím, không lông Nhánh mọc đối chữ thập Lá

bẹ (lá kèm) biến thành gai nhọn, ở mỗi đốt thường có bốn gai nằm hai bên gốc nhánh Lá đơn nguyên mọc đối chữ thập, có hình dáng hẹp dài Phiến lá trưởng thành dài khoảng 6-8cm, rộng khoảng 1cm Mặt dưới phiến lá có màu lục nhạt, mặt trên màu lục đậm Gân lá hình lông chim, riêng gân chính có màu hồng Cây lớn cỡ 3 tấc bắt đầu có gai, đến 5 tháng tuổi cây bắt đầu trổ bông, thông thường cây trổ bông vào khoảng tháng 10

Cụm hoa hình bông mọc ở ngọn nhánh, mỗi hoa có một lá bắc hình bầu dục, màu nâu tím Các lá bắc của cụm hoa xếp lớp tạo thành một chùy có chiều dài khoảng 3-10cm

Hoa to, không đều, lưỡng tính, đối xứng hai bên, hoa có màu vàng sặc sỡ trông rất đẹp Mỗi bông thường có 18-20 hoa nhưng không nở cùng một lúc Mỗi ngày chỉ nở 2 hoa cho đến khi hết Mỗi hoa ngoài lá bắc có kích thước tương đối

lớn còn có hai lá bắc con nhỏ hơn, màu lục nằm hai bền

Đài hoa gồm bốn lá đài không đều dính nhau ở gốc, mặt ngoài có nhiều lông Tràng hoa có hình ống, dài khoảng 2 cm, xẻ năm thùy thành hai môi, môi trên lớn có bốn thùy, môi dưới nhỏ có một thùy

Nhụy hoa gồm hai nhị lép, ngắn, hai nhị hữu dài dính trên ống tràng

Bao phấn màu vàng, một buồng, khai dọc, hướng trong dính giữa Hai bao phấn rời nhau ở đáy, hạt phấn rời hình bầu dục, màu xám có vân

Bộ nhị có hai lá noãn ở vị trí trước sau tạo thành một bầu trên hai ô, mỗi ô có hai noãn xếp chồng lên nhau trong đó có một noãn đảo

Quả gồm hai ô, mỗi ô chứa hai hạt dẹp, cán phôi cứng

Trang 4

1.2 Vàng phân bế

Cây kim vàng có nguồn gốc từ Madagasca (Châu Phi), ngoài ra còn tìm thấy

ở Ấn Độ, Mianmar, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Campuchia Ở nước la, cây kim vàng được trồng để làm cảnh, làm hàng rào Cây này đã được bác sĩ Trần

Đình Qui đưa từ Long An về trồng ở Daklak để chữa trị rắn cắn Hiện nay cây kim vàng được trồng ở nhiều nơi, phân bố nhiều nhất ở đồng bằng sông Cửu Long, miễn Đông Nam Bộ và miễn Nam Trung Bộ [4].

Trang 5

II Nhiing nghién citu vé mat héa học trên cây kim

Vàng,

Từ lâu, cây kim vàng được sử dụng để cấp cứu và chữa trị rắn độc cắn có kết quả khá thuyết phục trên lâm sàng Tuy nhiên, cho tới nay cây kim vàng vẫn chưa được nghiên cứu nhiều về mặt hóa học

Hai tác giả Việt Nam là Nguyễn Duy Điệt và Nguyễn Tư Hiển |4] đã xác định được trong cây kẽm vàng chứa 12 loại nguyên tố hóa bọc khác nhau Trong

lá có chứa các nguyên tố Al, Si, Mg, Ca, Sr, Fe, Mn, Ti, Cu, Na, Pb va trong than cũng có chứa các nguyên tố như trên, nhưng không có chứa Pb và có chứa thêm P Trong đó các nguyên tế Ca, Mg, Sĩ, AI chiếm tỷ lệ 1% trên tro trắng và các nguyên tố còn lại có tỷ lệ thấp hơn

Ngoài ra, bằng những phản ứng hóa học chung và đặc trưng, các tác giả đã xác định định tính được sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ thiên nhiên có trong cay kim vang nhu : saponin, triterpenoid, flavon, phytosterol, tanin, caroten, đường khử và chất béo

Ở Thái Lan, năm 1987, APICHART SUKSAMRARN [8][9] đã cô lập từ cao alcol etil sau khi đã loại béo bởi n-hexan, được 5 hợp chất iridoid glucosid là: Shanzhisid metil ester (1)

8-O-acetilshanzhisid metil ester (Barlerin) (2)

6,8-O, O-diacetilshanzhisid metil ester (acetil barlerin) (3)

6-O-acetilshanzhisid metil ester (4) va ipolarntiidosid (5)

Qui trình trích ly cdc hop chat iridoid ghucosid dude t6m tt trong so dé 1 Cấu trúc của các hợp chất nêu trên được nhận danh bằng phương pháp phổ

nghiệm như : UV, IR, MS, RMN CH, °C) va cdc cau trie được xác định thêm bằng phần ứng thủy giải và bằng cách điều chế các dẫn xuất acetil của chúng Các hợp chất ndy cho thấy có khả năng ức chế sự phát triển của phôi cây lúa

mì [9]

Trang 6

8-Q-acetilshanzhisid metil ester (2)

(Barlerin)

CQ.Me

- HH Ị”

6,8-O,O-diacetilshanzhisid metil ester (3) 6-O-acetilshanzhisid metil ester (4)

(Acetil barlerin)

Ipolamiidosid (5)

Trang 7

Sơ đồ 1 : Qui trình ly trích và cô lập 5 hợp chất iridoid glucosid từ cây kim

vàng, bộ phận trên mặt đất,

Cây Kim Vàng tươi

(bộ phận mọc trên mặt đất)

— Xay nhuyễn

—_ Trích với alcol ebl ở nhiệt độ phòng

—_ Thu hồi mội phần dung môi

¥

Dich trích alcol etil

Trích với n-hexan (5x200ml)

bởi n-hexan

Thu hồi dung môi đưới áp suất kém

¥

Cao alcel etil

— Sắc ký cột silica gel

—_ Kết hợp sắc ký bản đầy

ý

Thu được các iriodid 1,2,3,4 và 5

Năm 1997, PITTAYA TUNTIWACHWUTTIKUL va céng su [17] tiếp tục tìm hiểu thêm về các hợp chất iridoid giucosid của cây kim vàng Ngoài 5 hợp

chất iridoid glucosid đã xác định được vào nãm 1987, các tác giả đã chiết xuất được từ lá của cây kim vàng theo sơ đồ 2 và thu được 4 hợp chất iridoid glucosid mdi 14: 6-O-p-metoxi-cis-cinamoil-8-O-acetilshanzhisid metil ester (6); 6-O-p- metoxi- trans-cinamoil-&-O-acetilshanzhisid metil ester (7);

Trang 8

6-O-p-cis-coumaroil-8-O-acetilshanzhisid metil ester (8) va 6-O-p-trans-coumaroil-8-O-acetil shanzhi- sid metil ester (9)

Cấu trúc các hợp các hợp chất iridoid mới như sau :

AS 4 SA

6-O-p-metoxi-cis-cinamoil-8-O-acetil

shanzhisid metil ester (6)

O

OH

6-O-p-metoxi-trans-cinamoil-8-O-acetil

shanzhisid metil ester (7)

HON Not

OH 6-O-p-cis-coumaroil-8-O-acetil shanzhisid

metil ester (8)

Trang 9

HO

6-O-p-trans-coumaroil-8-O-acetil

shanzhisid metil ester (9)

Sơ đồ 2 : Qui trình ly trích các hợp chất iridoid từ lá tươi của cây kim vàng

Lá Kim Vàng tươi (1,62 kg)

— Lọc, thu hồi dung môi

\

Cao alcol etil

Dịch eter etil Dịch nước

(4x600m])

— Ly trích bằng EtOH 95% ở nhiệt độ phòng

Ly trích với n-BUuOH

Thu hổi dung môi

| dưới áp suất kém

(85,6 g):

— Sắc ký cột silica gel, dung môi

giải ly CH;Cl;-MeOH 20:1 đến CH;Clạ-MeOH-H;O 6:4:1

— Sắc ký cột lại nhiều lần

3;6;7;8§ và 9

Thu được các iridoid

Trang 10

HH Các nghiên củu về mặt được tính của cây kữn

vàng

fill Theo kinh nghiém dan gian [2]{S]

Theo y học cổ truyền, cây kim vàng có Vị cay, đắng, tính ôn, thông kinh, giải

độc, tiêu thúng Lá kia vàng dùng để trị đau răng, xuất huyết, ho, cẮt cơn suyến

hoặc có thể dùng toàn thân để trị viêm họng, sưng tấy, tê bại, nhức mối trật khớp

cũng rất hiệu nghiệm

Ở Thái Lan, lá tươi trị bọ đốt; mụn nhọt,

Ở Trung Quốc, thân được dùng để trị rắn cắn, chó đại cắn, ngã tốn thương, sưng đau, xuất huyết

IHII.2 Một số kết quả ban đầu trong chữa trị rắn cắn theo các báo

cáo nghiên cứu khoa học [4]1161

Đặc biệt, trong những năm trổ lại đây, cây kim vàng được một số cơ sở trong

và ngoài quân đội ở các tỉnh phía Nam và thành phố Hễ Chí Minh dùng để cấp

cứu, chữa trị rắn độc cắn có kết quả rõ rệt và khá thuyết phục trên lâm sàng [4] Tại đồng bằng Nam Bộ, lương y Hồ Bá Phước của bệnh viện Mộc Hóa, tính Long An đã dùng cây kim vàng chữa trị rắn cắn cho hơn 100 trường hợp, cho kết

quả rất tốt

Tại Daklak, bệnh viện y học dân tộc bất đầu dùng cây kim vàng từ năm 1993,

Sau đây là một số kết quả chữa trị rắn cắn được ghi nhận tại bệnh viện y học dân tộc Daklak từ năm 1993 đến 1996 [6]

Liễu dùng trị rắn cắn: lá tươi (100g), phèn chua (20g) (được gọi tắt là KVP) hai

thứ giã mịn, vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết bị rắn cắn, Cứ 15-30 phút cho uống một lần, trong bốn giờ đầu, sau đó cứ hai giờ cho uống một lần Ngừng uống khi

tình trạng sức khỏe ổn định (nhịp tim, huyết áp trở lại bình thường)

Tổng số trường hợp bị rắn cắn là 26 trường hợp, gồm: rắn lục (10), rắn hổ

mang (3), không rõ loại (13) Điều trị bằng KVP cho kết qua :

Bình phục không để lại di chứng : 24 trường hợp

Bình phục nhưng bị tháo khớp một ngón tay : 1 trường hợp

Bình phục nhưng bạn chế vận động : Í trường hợp

Trang 11

Bệnh án điển hình :

Bệnh án số 145 vào viện ngày 22/2/1994

Địa chỉ : Pơng Drang huyện Krongbuk, Daklak Bệnh nhân bắt rắn ở rừng để

bần, bị rắn hể mang bành cắn ngày 22/2/1994 tại đầu ngón tay cái bàn tay trái

Được garo, đưa đến bệnh viện tỉnh sơ cứu rồi chuyển đến bệnh viện y học dân

tộc sau 5 g1Ờ

Tình trạng bệnh nhân lúc vào viện còn tỉnh nhưng hốt hoảng, nôn mửa, nhịp

tìm nhanh 95 lần/phút, huyết áp 90/60, nhiệt độ 38,2 °C nhịp thở 30 lân/ phút

Toàn bộ cẳng tay trái, bàn tay trái, ngón tay cái đều sưng phù, nơi rắn cắn máu rÏ

Hhên tục

Xử lý : dùng hạt cây gió (Aguilari crassna Pierre, Thimeleaceae) dat vao noi

bị rắn cắn, chống nôn Điều trị bằng KVP, uống liên tục 3 ngày Sau đó truyền

dịch glucose 5% (500ml), Một chai Ringer lactat (500ml) Depersolon 30mg/ống, tiêm tinh mach Ampiciline (1g) bảy ngày tiêm bắp

Bệnh nhân ổn định dẫn sau 12 ngày Do tự rạch không đúng kỹ thuật, thiếu

vô trùng, ngón cái bị hoại tử, hóa mũ lan rộng phải tháo khớp 2 đốt Ra viện sau

24 ngày điều trị

Số trường hợp bị rắn cắn : 46 gồm có rắn lục (16 trường hợp), rắn hổ mang

(7 trường hợn), không rõ loại (23 trường hợp) Tất cả 46 trường hợp nhập viện

đêu được chữa trị bằng KVP, kết quả :

Bình phục không để lại di chứng : 44 trường hợp

Bình phục nhưng bị tháo khớp : 2 trường hợp

Bệnh án điển hình :

Bệnh án số 1473 vào viện ngày 11/10/1995

Địa chỉ : xã Tân Tiến, huyện Krông Pac Bệnh nhân bị rắn lục cắn ngón tay

trỗ trong khi làm có cà phê lúc 9 giờ ngây 11/10/1995

Tình trạng lúc vào viện : vùng nách sưng to phù nềễ Cánh tay trái đau nhức,

sưng to, ngón trỏ bị hoại tử, Xuất huyết da, mệt mối, nóng sắng Nhịp tm

90 lần/phút; huyết áp 90/60; nhiệt độ 39,6°C; nhịp thổ 30 lân/phút,

Xử lý: điểu trị bằng KVP, cho uống 30 phút 1 lần, bã đấp lên vết cắn liên tục trong bốn ngày Sau đó, dùng thêm 2 ống Gentamycine 80mg, 1 ống Laroscor-

bine 500mg, Paracetamol 500mg, Ampiciline 500mg

Trang 12

Ngày 19/10/1995 vết cắn khô, bệnh nhân trở lại bình thường Ra viện ngày

4/11/1995

* Naém 1996,

Tổng số trường hợp bị rắn cắn : 67 trường hợp, trong đó một trường hợp có thai 8,5 tháng, gồm :rắn lục (28), rắn hổ (1), không rõ loại (31) Tất cá 67 trường hợp đều được điều trị bằng KVP, kết quả :

Bình phục không để lại di chứng : 65 trường hợp

Một trường hợp bị sẩy thai do rắn độc cắn, nọc độc theo máu vào thai

Một trường hợp bị tử vong do sau 3 ngày rắn cắn mới nhập viện

Bệnh án điển hình :

Nguyễn văn Lệ : vào viện ngày 26/10/1996

Địa chỉ : khu kinh tế mới huyện Krông Pac Ban đêm rắn chui vào nhà, bệnh

nhân dùng tay bắt rắn bị cắn vào mu bàn tay lúc 22 giờ ngày 27/10/1996 Do ban

đêm nên không nhìn rõ loại rắn Bệnh nhân được đưa đến bệnh viện Krông Pac

để garo rồi đưa đến bệnh viện tỉnh, sau đó chuyển sang bệnh viện y học dân tộc

Tình trạng lúc nhập viện : bệnh nhân hốt hoảng đánh đá thân nhân, toàn thân

sưng phù Sau đó liệt cơ vận nhờn; nhịp tim 95 lần/phút; huyết áp 90/60; nhiệt độ

38,5°C; nhịp thở 32 lần/phút

Xử lý : điểu trị bằng KVP 15 phúƯlẫn trong 3 ngày Sau đó truyền dịch

glucose 5% 1 chai 500ml Ampiciline 1g 5 ngày, tiêm bap; Ringer lactat 1 chai 500ml

Bệnh nhân ổn định sau 48 giờ Sau đó được châm cứu chữa tri hết liệt cơ vận

nhờn Ra viện sau 30 ngày điều trị

Các kết quả nêu trên cho thấy dịch nước của lá cây kim vàng có khả năng chữa trị được rắn cắn với kết quả rất khả quan, nhất là nếu bệnh nhân được cho

uống dịch nước lá kim vàng ngay khi bị rắn cắn

—————~-

|bH,RH.TỰ NHIÊN

FH VEEN

——

Trang 13

IV Sơ bộ tìm hiểu về những cây thuốc được đân gian

sử dụng để chữa trị rắn cắn

Theo Mors [27] có rất nhiều cây thuốc được dân gian lưu truyền là có khả

năng chữa trị rắn cắn với 578 loài thuộc 94 họ cây khác nhau Nhưng có rất ít

nghiên cứu khoa học chứng mình một cách thực nghiệm về hiệu quả trị rấn cắn

của các cây thuốc nói trên Đến nay, phân nửa các nghiên cứu vừa nêu trên đều dùng dịch trích thô từ cây thuốc mà trong đó thành phần hoạt chất chính có khả

năng trị liệu thì không được xác ổịnh rõ,

Hiện đến nay, theo thống kế hằng năm có 30.000-40.000 người chết vì bị rắn

cắn và con số người bị chết không được báo cáo sẽ còn lớn hơn nhiều Những trường hợp bị chết vì lý do nây vẫn xây ra dù hiện nay đã có những kháng huyết thanh điều trị rắn cắn, cùng những phương tiện hiện đại để hể trợ cho việc điều trị nầy Lý do thường là người dân ở vùng nhiệt đới bị rắn cắn bất ngờ, ở những vùng

xa bệnh viện, nên khi họ được đưa đến bệnh viện thì đã quá trễ, hoặc có khi họ

được đưa vào bệnh viện kịp thời thì không phải bệnh viện nào cũng có kháng

huyết thanh đặc trị rắn cắn

Chính vì những lý do đó, việc biết được một hoặc nhiều cây thuốc có hiệu

quả thực sự trong chữa trị được rắn cắn là rất cần thiết, góp phần quan trọng trong

việc kéo đài thời gian cần thiết để có thể đưa bệnh nhân đến bệnh viện Hoặc hơn

thế nữa, nếu có thể cứu chữa được tại chỗ sẽ góp phần bảo vệ được sinh mạng

con người, nhất là những người sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh

Theo Walter Martz [28] có nhiều nhà nghiên cứu, nhất là ở các nước Châu Á

da thi nghiém in vivo va in viro nhiều loại cây thuốc mà theo dân gian có khá

năng chữa trị được rắn cắn; nhằm xác định xem cây thuốc nào thực sự có hiệu quả

trị rắn cắn Các thí nghiệm đã thử trên dịch trích thô của cây thuốc, điều chế theo phương pháp cổ truyền dân gian Các chất trích được cho chuột uống trước hoặc

sau khi chích nọc rấn vào chuột

Một vài nghiên cứu đã thử nghiệm trên những hợp chất cô lập từ những cây

thudc nhu Schumanniophyton magnificum, Eclipia prostata, Aristolochia shimadai,

Diospyros kaki

Ngày đăng: 22/03/2013, 08:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1  :  Qui  trình  ly  trích  và  cô  lập  5  hợp  chất  iridoid  glucosid  từ  cây  kim - Phần tổng quan  thành phần hóa học của cao eter dầu hỏa
Sơ đồ 1 : Qui trình ly trích và cô lập 5 hợp chất iridoid glucosid từ cây kim (Trang 7)
Bảng  1 :  Tỉ  lệ  sống  của  chuột  khi  bị  chích  nọc  rấn  jararaca,  nếu  trước  đồ  chuột  được  cho  uống  các  hợp  chất  cô  lập  từ  các  cây  theo  đân  gian  có  khả - Phần tổng quan  thành phần hóa học của cao eter dầu hỏa
ng 1 : Tỉ lệ sống của chuột khi bị chích nọc rấn jararaca, nếu trước đồ chuột được cho uống các hợp chất cô lập từ các cây theo đân gian có khả (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w