1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý tổng hợp vùng bờ ( Nguyến Bá Quý ) - Chương 5 pdf

15 210 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 405,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện chung, các chức năng môi trường do De Groot 1992 định nghĩa là “Khả năng của môi trường tự nhiên cung cấp hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của con người một cách bền

Trang 1

CHUONG 5 PHAN HE KINH TE - XA HOI

SỰ ĐA DẠNG CỦA CÁC CHỨC NĂNG, LỢI ÍCH VÀ XUNG ĐỘT

5.1 Giới thiệu

Giống như tất cả các môi trường tự nhiên, dải ven biển và các hòn đảo nhỏ

cung cấp một số chức năng và quá trình thiết yếu đối với phúc lợi xã hội kinh tế của con người Phúc lợi của người phụ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp vào khả năng sẵn có của hàng hóa và dịch vụ môi trường mà hệ thống biến và ven bờ có thể cung cấp Vì dải ven biển chính là khu vực chuyển tiếp hẹp giữa đất liền và biến cả, đặc trưng bởi

hệ sinh thái đa dạng như các rạn san hô, rừng ngập mặn, bãi biển, cồn cát và các vùng đất ngập nước, nhiều chức năng được thực hiện trên một khu vực nhỏ Sự tập trung các

chức năng cùng với vị trí không gian làm cho dải ven biển và đảo nhỏ trở thành địa điểm thu hút người dân tới sống tại các dải ven biển Có thể dự báo rằng khoảng 50 đến 70% dân số sẽ sống tại vùng ven biến Tốc độ phát triển kinh tế — xã hội của các vùng ven biến, cũng như mức tăng dân số ở đó là chưa từng có (WCC93,1994)

Trong điều kiện chung, các chức năng môi trường (do De Groot (1992) định nghĩa là “Khả năng của môi trường tự nhiên cung cấp hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của con người một cách bền vững”, có thể phân thành các loại như chức năng điều chỉnh, chức năng sản xuất và sử dụng, và các chức năng thông tin (De Groot; Vellinga et al 1994) Bảng 5.1 cho biết tổng quan của tất cả các chức năng môi trường theo các tài liệu Ngoại trừ một số chức năng (chăng hạn như bảo vệ chống lại ảnh hưởng có hại từ vũ trụ), các chức năng này đều liên quan đến dải ven biển và các đảo nhỏ Việc đánh giá chức năng nào là quan trọng nhất đối với một dải ven biển phụ

thuộc vào các đặc điểm sinh thái, hoàn cảnh kinh tế xã hội và các mục tiêu quản lý đối

với khu vực đó

Theo dòng thời gian, dải ven biển ngày càng trở thành nơi phát triển không bền vững vì đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác bị sử dụng không có kế hoạch với

mục tiêu mang lại lợi nhuận tối đa Điều này đã dẫn đất đai và các hệ sinh thái với các

chức năng cụ thể nào đó bị khai thác quá mức Việc khai thác đó không chỉ làm cạn

kiệt tài nguyên mà chức năng đó cung ứng mà còn làm cho các chức năng khác cũng không tránh khỏi thực trạng không thực hiện được chức năng của mình

Sự thực hiện các chức năng trong bất kỳ một hệ tự nhiên ven bờ nào cũng có

thể được những thành viên khác nhau trong cộng đồng dân cư ven bờ đánh giá theo những cách khác nhau do các nguồn tài nguyên (bao gồm cả không gian và lớp nên)

mà các chức năng này cung cấp được xem xét theo những quan điểm khác nhau Mặc

dù vậy, do các áp lực nội tại và bên ngoài, khi mà một hoặc nhiều chức năng không thể

thực hiện được hết khả năng của nó thì có thể sẽ nảy sinh các xung đột Ví dụ khi rừng

ngập mặn bị ô nhiễm vượt quá khả năng lọc, hoặc bị chặt phá hoặc phát quang một

cách vô tội vạ thì sẽ phải trả giá cho ngành thủy sản vì không có nơi cho cá sinh sản và

Trang 2

điêu đó cũng đồng nghĩa với việc ảnh hưởng đên một bộ phận dân cư vôn sông băng nghệ ngư Sự duy trì bên vững tât cả các chức năng có thê tạo ra lợi nhuận kinh tê cao hơn trong thời gian dài hơn

Bang 5.1: Tong quan vé các chức năng của môi trường

Các chức năng qui định

* Bảo vệ tránh ảnh hưởng có hại tầm vĩ mô

* Qui định cân bằng năng lượng vi mô và vĩ mô

* Qui định về thành phần hóa học của khí quyển

* Qui định về thành phần hóa học của biển

* Qui định về khí hậu (toàn cầu và địa phương)

bao gồm cả chu trình thủy văn

* Qui định về dòng chảy và phòng lũ (BV lưu vực)

* Nguôn nước lưu vực và nước hổi qui

* Chống xói mòn và bôi lắng

* Hình thành lớp thổ nhưỡng và bảo toàn độ phì

* Tích năng lượng mặt trời và tạo sinh khối

* Du trữ và tái sử dụng các chất hữu cơ

* Dự trữ và tái sử dụng dinh dưỡng

* Dự trữ và tái sử dụng nguồn thải của người

* Qui định về cơ chế kiểm soát sinh học

* Bảo vệ sự di trú và sinh vật non

* Bao ton da dang sinh hoc (gen)

Chức năng thông tin va giá trị nội tại của tự nhiên

Thông tin thấm mỹ

Các thông tin về tôn giáo

Thông tin lịch sử

Cảm xúc về văn hóa nghệ thuật

Các thông tin về khoa học và giáo dục

Chức năng sử dụng và cung cấp Tạo không gian và các lớp

Môi trường sống và lập nghiệp cho con người

Trồng cấy (Trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản)

Bảo toàn năng lượng

Du lịch và giải trí và báo vệ tự nhiên

Sản xuất oxy Nước (uống, tưới, công nghiệp ) Thức ăn và dinh dưỡng

Bảo vệ nguồn gen

Nguồn được liệu

Các sản phẩm sử dụng công nghiệp đệt Các sản phẩm sử dụng trong công nghiệp và XD Hóa sinh (không kế chất đốt và dược liệu) Chất đốt và năng lượng

Cỏ khô và chất dinh dưỡng Nguôn trang trí

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển bền vững Một trong

số đó phát biểu răng phát triển bền vững dải ven biển và đảo nhỏ chỉ thực hiện được

khi nó tạo cho hệ thống ven biển khả năng tự tô chức, nghĩa là tự thực hiện tất cả các

chức năng tiềm tàng mà không gây ra các ảnh hưởng bất lợi đối với các hệ tự nhiên hoặc người khác Khai thác quá mức các nguồn tải nguyên, ô nhiễm, đô thị hóa v.v

có thể kiềm chế dẫn tới phá hủy các chức năng quan trọng đối với cung cấp tài nguyên

ít được đánh giá về mặt tài chính, hoặc duy trì khả năng phục hồi của hệ ven biên

trước những biến động ngoại lai Ảnh hưởng của phát triển không bên vững có thể

cuối cùng dẫn đến sự suy thoái các hệ tự nhiên, mà chính nó bảo vệ chúng ta khỏi ảnh

hưởng của biến, môi trường sống của nhiều loài sinh vật và thức ăn cho con người và

khiến nảy sinh nhiều nguy cơ lớn đối với sức khỏe cộng đồng

82

Trang 3

5.2 Chức năng sử dụng trong hệ thống ven biến

5.2.1 Đặc điểm

Nói chung các gianh giới trong hệ thống xã hội không trùng khớp với các gianh giới trong hệ thông tự nhiên Các hoạt động ở phạm vi rộng hơn vùng bờ thường

bị ảnh hưởng của chính vùng ven bờ đó Ví dụ việc tăng nhiễm mặn do xói mòn bờ

biến có thể tác động đến các khu vực lớn hơn trong đất liền Việc mất bãi biến vui chơi

có thể tác động đến các hoạt động liên quan trong các khu vực lân cận

Không có sẵn các hướng dẫn hoặc tiêu chuẩn để xác định các gianh giới trong

hệ thống xã hội Chúng cần dựa trên nền tảng phân tích các hoạt động xã hội và kinh tế hiện tại và tương lai trong dải ven biến và khu vực đất liền như đã miêu tả trong các kế hoạch phát triển quốc gia và khu vực

Mục tiêu cơ bản của việc phát triển dải ven biển có thể miêu tả khái quát như

là hỗ trợ và đây mạnh phúc lợi con người, điều này thường được đánh giá trong các

khái niệm kinh tế như việc tạo ra các “sản phẩm”

Khái niệm sởn phẩm sử dụng ở đây được hiểu là các dịch vụ và thành phẩm

thỏa mãn nhu cầu của từng cá nhân trong xã hội Các tiêu chí khác về lập kế hoạch

phát triển cũng quan trọng Ví dụ như phân phối thu nhập giữa các nhóm trong xã hội

hay giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai và mức độ công việc

Tài nguyên thiên nhiên của dải ven biển được sử dụng, cùng với các yếu tô đầu

vào khác như nhân công và vốn để tạo ra của cải và dịch vụ Việc này đòi hỏi phải có

các nguồn tài nguyên có thể tái tạo và không tái tạo được

Có thể tái tạo là hệ thỗng có khả năng tái tạo tài nguyên trong một khoảng thời

gian hợp lí Ví dụ như việc khôi phục số lượng cá hoặc sự phân huỷ của các chất thải hữu cơ

Không thé tdi tao nghia la hé tu nhién khong thé tao ra tai nguyén trong mot

khoảng thời gian ngắn như việc lấy khoáng sản từ đáy biển hay làm rối loạn đáy biển bằng cách nạo vét hay đồ rác thải xuống biến

Vấn đề quản lý dải ven biển thường nhăm giải quyết các xung đột vé tai nguyên biến và lợi ích ở dải ven bờ Nhu cầu về tải nguyên thường liên quan trực tiếp đến các hoạt động của người sử dụng như không gian cho hoạt động nông nghiệp, nhưng cơ sở hạ tầng cơ bản cũng có tác động ngược lại đến tài nguyên Chăng hạn chúng ta ngăn cửa ra của đầm phá, nghĩa là chặn sự giao lưu với biển thì cũng có nghĩa

là mất đi môi trường nuôi dưỡng các loại cá biển của đầm phá

Tài nguyên dải ven biến bao gồm khoảng không, nước và đất Trong phạm vi này, có thể phân biệt bốn loại tài nguyên chính như sau:

- Khong gian:

Bao gồm không gian cho các hoạt động của người sử dụng như nông nghiệp, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy hải sản, công nghiệp, nhà ở, giải trí, v.v Những tiêu chí

Trang 4

cơ bản để xác định rõ khả năng sẵn có của tải nguyên không gian là diện tích bề mặt,

độ cao so với mực nước biễn, chiều dài, chiều sâu (ví dụ như độ sâu cho tàu bè đi lại)

- - Tài nguyên khoáng sản

Loại tài nguyên này bao gồm các vật liệu xây dựng (như cát, đá), dầu khí, quặng và nước, thậm chí cả không khí (theo chất lượng đặc biệt)

- - Tài nguyên sinh vật

Các hệ động và thực vật được dùng làm nguồn cung cấp protein và hydratcacbon

- Kha nang hấp thụ hoặc lọc sạch

Trong 3 loại tài nguyên ven biển kế trên, không gian biểu hiện khả năng hấp

thụ, chứa, phân huỷ, khuếch tán và chuyên chở các chất thải được coi như là kết quả

các quá trình trong môi trường và (đối với phần lớn) các hoạt động của người sử dụng

Ví dụ về sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ) được tạo ra tại dải ven biên được nêu trong

bảng 5.2

Việc sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ sẽ ảnh hưởng tới hệ ven biển ví dụ như việc đánh bắt cá, thay đôi chất lượng nước hoặc môi trường sống của các loài động thực vật bị ảnh hưởng một cách lâu dài, nhưng đồ nguồn nước thải hoặc sự cố

tràn dầu ảnh hưởng ngay tức thì đến hệ thống đó và có thể nhìn thấy ngay

Bảng 5.2: Ví dụ về hàng hóa và dịch vụ sản xuât ở vùng ven biên

Hàng hoá

Từ tài nguyên có thể tái tạo Từ tài nguyên không thể tái tạo

Cá có vây và các loại Ốc, sò Dâu và khí đốt

Năng lượng sóng và thuỷ triều Khoáng chất, cát và sỏi

Nước ngâm từ vùng côn cát

Lúa gạo từ hệ tưới tiêu theo thuỷ triều

Dịch vụ

Từ tài nguyên có thể tái tạo Từ tài nguyên không thể tái tạo

Khu vực vận tải biển dành cho hoạt động | Xử lý các chất phân huỷ như chất thải

Xử lý các chất chưa có thể phân huỷ như | Khu vực dành cho phát triển đô thị hải

Cơ sở hạ tầng cho giải trí như nơi tắm,

84

Trang 5

5.2.2 Chức năng sứ dụng

Dai ven biển là khu vực có các hoạt động kinh tế xã hội lớn và là khu vực sản

xuât lương thực chính Dựa vào sự phân câp của các chức năng khác nhau của người

sử dụng có thê xác định các loại như sau:

- Chức năng cơ bản, như sản xuất lương thực, cung cấp nước, cung cấp năng lượng

- Chức năng xã hội, như nhà ở, giải trí

- Chức năng kinh tế như vận tải, khai khoáng phát triển công nghiệp

- Chức năng công cộng như giao thông công cộng, quốc phòng, xử lý rác/ nước thải

Tình hình hiện tại và tương lai phải được miêu tả dưới dạng không gian sử dụng cho các hoạt động khác nhau, sản phâm và dịch vụ và các gia trị kinh tê và xã hội vôn có Hiện nay, hệ thông cơ sở dữ liệu đang phát triên có thê sử dụng một cách có

hiệu quả đề phản ánh các dữ liệu đó Việc sản xuât các sản phâm va dich vu trwc tiép

(doanh nghiệp tư nhân/ cơ quan nhà nước) và gián fiếp (cơ quan nhà nước) tạo ra lợi ích và chi phí cho người sử dụng hệ thông đó

Trước tiên, các loại sử dụng hệ ven bờ gồm có chủ thể nhà nước và tư nhân:

Lĩnh vực tư nhân:

- _ Các sản phẩm nông nghiệp vả thủy hải sản

- - Các hoạt động công nghiệp vận tải, khai khoáng, cấp nước và năng lượng

- - Các hoạt động buôn bán, nhà ở, vui chơi giải trí và vận tai

Lĩnh vực công cộng:

- Dich vụ cấp nước va năng lượng, xử lý nước thải, nhà ở, giao thông công cộng, quôc phòng

- _ Các nhóm lợi ích ở bậc cao hơn như vùng, quốc gia, quốc tế

Các hệ thống su dung thường xung đột lẫn nhau Ví dụ như đồ chất thải xung đột với đánh băt cá và nuôi trồng thủy hải sản Những xung đột này cân phải làm rõ đê giúp điêu chỉnh lợi ích của các nhóm sử dụng khác nhau

Việc đưa ra ưu tiên cần tiễn hành trên cơ sở các tiêu chí kinh tế và các tiêu chí

ít cụ thê hơn việc bảo tôn các giá trị tự nhiên, hoặc qua các quy chê của nhà nước (vì

mục tiêu quân sự chăng hạn)

Phân tích chính sách sẽ không đưa ra các quyết định, song lại chỉ ra những ảnh

hưởng lựa chọn đền môi nhóm sử dụng hệ thong va 6 cac cap cao hon, chang han như

những ảnh hưởng đền thu nhập và việc làm đôi với khu vực, quôc qia Những phân tích này làm cho các nhà hoạch định chính sách có thê đưa ra quyết định có cơ sở hơn

5.3 Khía cạnh kinh tế xã hội

5.3.1 Các bên liên quan trong quản lý dải ven biến

Một khi cần lập quy hoạch thì rất cần nhiều bên có thể tham gia vào việc quy hoạch tài nguyên, kê cả các bên tư nhân cũng như chính phủ

Trang 6

Các cơ quan chính phủ phải tham gia vào quá trình lập kế hoạch, qui hoạch vì những lí

đo sau:

- Nhiều nguồn tài nguyên là tài sản công cộng Việc cung cấp một số sản phẩm

hay dịch vụ nào đó chắng hạn như việc khai thác tài nguyên của một khu bảo ton tu

nhiên về nguyên tắc là dành cho tất cả mọi người Nhưng làm như vậy có thể dẫn tới việc cạn kiệt tài nguyên nếu xảy ra trường hợp đánh bắt cá quá nhiều hoặc có quá

nhiều áp lực đối với khu bảo tồn tự nhiên đó

- Hau hết việc sử dụng các nguồn tài nguyên sẽ có tác động bất lợi đến các mục đích sử dụng khác và sẽ dẫn đến kết quả không tối ưu nếu ta không tính đến những tác

động này Một ví dụ về “tác động ngoại lai” là việc đồ rác thải xuống biên, việc làm

này sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với nghề cá và các hoạt động giải trí Sự can thiệp của Chính phủ nói chung là rất cần thiết để giảm bớt hoặc loại bỏ những tác động ngoại lai như vậy

- Một số sản phẩm đầu ra của hệ thống khó có thể “định giá thị trường” được, ví

dụ như môi trường trong sạch chăng hạn Rất có xác định việc “sẵn sàng chỉ trả” cho những sản phẩm đầu ra ấy Xã hội chỉ có thể xác định người ta sẵn sàng chỉ trả bao nhiêu cho “nhu cầu chính đáng” đó thông qua quá trình quản lý của nhà nước Điều này cũng đúng đối với việc cung cấp các “nhu cầu cơ bản của con người” (như uống nước sạch) cho những người không thể chỉ trả cho các nhu cầu của họ

- Đầu ra của hệ thống có thể bồ trợ nhau, ví như việc sử dụng không gian cho nghề cá và hoạt động khai khoáng Việc này nói chung cần có sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được sự bình đăng trong việc phân phối dịch vụ và sản phẩm

Nhiều cấp chính quyển sẽ tham gia vào quá trình ra quyết định Ở cấp quốc gia, rất nhiều bộ sẽ tham gia vào quá trình này (Bộ Thủy sản, khai mỏ, giao thông vận tải, môi trường, ) Các cơ quan ở các cấp thấp hơn cũng sẽ tham gia như các cơ quan cấp tỉnh, địa phương, các ban và thành phố liên quan đến nước khu vực có cùng lợi ích trong việc phát triển dải ven bờ

Điều này có nghĩa là cơ câu ra quyết định rất phức tạp vì những cơ quan nảy sẽ không muốn chia sẻ thâm quyên chỉ với một cơ quan quản lý như cơ quan quản lý dải ven bờ

Bên cạnh đó, còn có những nhóm tư nhân có cùng lợi ích đại diện cho người

sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp của hệ thống Ví dụ như ngư dân, công nghiệp dầu

mỏ, chủ tàu Các tổ chức bảo tồn tự nhiên tư nhân cũng đóng vai trò ngày cảng tích cực thông qua ảnh hưởng của họ tới công luận và hệ thống chính trị

5.3.2 Các khía cạnh thể chế và luật pháp

Việc quản lý các nguồn tài nguyên đòi hỏi một khung thể chế và pháp luật hợp

lý Các biện pháp kế hoạch hóa và chiến lược sẽ không giúp ích được gì nếu quy định của pháp luật không cho phép chúng thực thi và không có hiệu lực và nếu không có các cơ sở hạ tầng rõ ràng về tổ chức để quản lý hệ thống dải ven bờ

S6

Trang 7

Khung pháp luật phải xác định quyền sở hữu và thấm quyển quản lý hệ thống các nguôn tài nguyên Các biện pháp cưỡng chế như quy định, chỉ phí (ví dụ tiền phạt

vì làm ô nhiễm) trợ cấp cần được sử dụng

Ngay cả khi khu vực tiến hành kế hoạch nằm trong một vùng thì nhiệm vụ

quản lý cũng thường không được giao cho duy nhất một cơ quan, vì việc quản lý có thể can thiệp vảo trách nhiệm của chính quyên trung ương và địa phương Tình hình sẽ

trở nên phức tạp hơn nếu có nhiều vùng hoặc nhiều quốc gia tham gia vào quá trình quản lý như trong trường hợp quản lý nguồn cá biến tại Biển Bắc (Norh Sea), nơi mà

uỷ ban Châu Au quy dinh viéc danh bắt cá nhăm đảm bảo sản lượng tối ưu bền vững

Như đã trình bày trong phần 3.2.1, một trong những vấn đề đặc thù trong việc quản lý dải ven biển chính là vẫn để biên giới đất liên — biển thường đánh dẫu sự thay đôi về pháp lý, ở nhiều quốc gia, quản lý biển được giao cho nhà nước trong khi quản

ly đất liên thường thuộc thâm quyên cấp tỉnh Ở Mỹ, luật CZM (quản lý dải ven biển) đưa ra một khung pháp lý cho van đề quản lý dải ven biến và hầu hết các bang có vùng ven biển phải đưa ra một kế hoạch quản lý dải ven biến Phương pháp của Anh trong quan ly dai ven bién lai hay thay đối và thường không có quy định rõ ràng Vấn đề an ninh trên biển thuộc quyền của Bộ Nông nghiệp nhưng chính các tô chức tư nhân như National Trust lại là những người quản ly tốt nhất những dải ven biển có gia tri về cảnh quan

Van dé thé ché phải đưa ra một khung qua đó có sự phân chia nhiệm vụ và

trách nhiệm Giải pháp khả thi là hội động quốc tế (ví dụ IMCO, Hội đồng tư vẫn biển

quốc tế) và các thoả thuận, sự chuyển giao tat cả các trách nhiệm cho một co quan có san hoặc mới được thành lập hoặc một trong những cơ quan liên quan phải trở thành

cơ quan đứng đầu

Một ví dụ về cơ quan được thành lập riêng là DRBC (Uỷ ban lưu vực sông

Delawre) Uỷ ban này là một cơ quan liên bang tập hợp sức mạnh của nhà nước và của chính quyên trung ương DRBC được thành lập theo pháp luật và có phạm vi quyền

lực rộng lớn bao gồm cả việc giám sát và điều hành DRBC có nhiệm vụ lập các kế hoạch tại lưu vực sông Delawre Công việc được thực hiện thông qua lập và duy trì một kế hoạch toàn diện, đồng thời xem xét và thâm định mọi hoạt động dự kiến thực

hiện trên lưu vực, mà các hoạt động đó ảnh hưởng đến tài nguyên nước của vùng lưu vực DRBC có thể phủ quyết bất cứ đề xuất nào có ảnh hưởng bắt lợi đến việc quản lý

tài nguyên nước ở một khu vực hay bộ phận lãnh thô nào thuộc lưu vực nào đó

Những thay đổi về thể chế nói chung thường diễn ra chậm và không phù hợp với cải tiễn quản lý dải ven biển Điều cốt yếu nhất là quyết tâm cải tiến sự quản lý hệ thống

5.3.3 Các khía cạnh kinh tế

Phân tích kinh tế rất quan trọng đối với việc lập kế hoạch phát triển vùng ven

biến như :

Trang 8

- Phân tích kinh tế vi mô nhằm phân tích thái độ của người sử dụng đối với hệ

thống ví dụ như phản ứng của ngành công nghiệp phải trả chi phí cho việc đồ chất thải

- Phân tích chỉ phí lợi ích và phân tích tài chính nhăm đánh giá tính khả thi về mặt kinh tế và khả năng tài chính cho một chiến lược phát triển nào đó

- Phân tích kinh tế vĩ mô (cấp quốc gia và khu vực) nham dat được kế hoạch hoạt

kinh tế trong khu vực dự án

Những khía cạnh này sẽ được miêu tả một cách tóm lược dưới đây

Tổng quan

Phát triển kinh tế xã hội để cập đến phát triển chung của xã hội lên một cấp cao

hơn trong lĩnh vực phúc lợi xã hội Khía cạnh “kinh tế” đề cập hàng hoá, dịch vụ liên quan với phúc lợi vật chất Khía cạnh “xã hội” bao gồm tất cả các đặc điểm văn hoá xã

hội của phúc lợi

Nhờ nhận ra mối liên hệ cơ bản giữa phát triển và tăng trưởng kinh tế mà người ta sử dụng các chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm quốc nội (GNP) tính trên đầu người như là chỉ số phát triển Tuy nhiên, loại tham số này vẫn tồn tại một số điểm bất hợp lý, ví dụ như thiếu các thông tin về chủng loại hàng hoá và dịch vụ được cung cấp,

về các ảnh hưởng tiêu cực như suy thoái môi trường và về phân phối thu nhập

Điều này dẫn tới phải chú ý tới các nhân tố khác, như mức độ mà thông qua đó những nhu câu thiết yếu của con người được thoả mãn và tới tăng trưởng một cách chọn lọc, và ngảy càng chú trọng hơn tới vấn đề chất lượng cuộc sống

Kinh tế học có thể được định nghĩa là sự nghiên cứu thái độ của con người đối với lựa chọn cách phân phối hàng hoá và dịch vụ để sử dụng các nguồn tài nguyên hiếm một cách tốt nhất Những khái niệm cơ bản bao gồm các nguồn tài nguyên khan

hiếm, mong muốn của con người, sự lựa chọn

Các nguồn tài nguyên

Nói chung, có thể phân loại các nguồn tải nguyên thành ba loại sau:

- Tài nguyên thiên nhiên như Như đất, nước, khoáng sản, dau, tai nguyên sinh học

- - Nguôn lao động bao gồm ca lao động nói chung và chuyên gia

- _ Nguôn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng làm tăng năng suất lao động và vốn

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn đầu vào quan trọng nhất đối với quá trình phát triển vì đây là nguồn tài nguyên sơ cấp chang han nguyên liệu thô, thực phẩm và cung cấp nhiều dịch vụ như xử lý chất thải của người hoặc cung cấp giải trí và thưởng thức thấm mỹ

Một số tài nguyên thiên nhiên đã định rõ người sở hữu, như đối với trường hợp

lâm nghiệp hoặc ngư nghiệp tư nhân Lợi nhuận từ việc sử dụng những nguồn tài nguyên như vậy thường phù hợp với thị trường Những nguồn tài nguyên khác phụ thuộc vào quy định sử dụng rõ ràng

88

Trang 9

Lợi nhuận từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên thường phù hợp với hệ thống

thị trường Những hàng hóa và lợi nhuận thu được như vậy có thể được coi “công

cộng” đòi hỏi có sự quản lý và phát triển của các cơ quan có thâm quyên

Khai thác kho tải nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp sẽ làm cạn kiệt

không thé tai tạo được chắng hạn việc khai thác than Những nguồn khác có thể tái tạo

như ngư nghiệp và các nguồn năng lượng có khả năng tái tạo Việc sử dụng quá mức các nguôn tải nguyên có thể gây ra sự suy thoái hoặc tuyệt chủng

Sự tôn tại của tài nguyên thiên nhiên là nhân tố cơ bản trong việc lập kế hoạch

phát triển kinh tế Phát triển dựa trên nguồn tài nguyên không tái tạo đòi hỏi phải theo

giai đoạn với việc thay thế đầu vào hoặc có các hình thức hoạt động kinh tế khác

Phát triển dựa trên các nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo như ngư nghiệp hay nông nghiệp có thể chỉ ra những biến động có thể đánh giá được trong sản xuất và

thu nhập Một rủi ro khác là những thiệt hại không thể khắc phục đối với những nguồn

tài nguyên có thể do ô nhiễm hoặc các chiến lược khai thác không hợp lý gây ra

Hệ thống thị trường

Mục đích phân bổ các nguồn tải nguyên cho các hoạt động khác nhau là nhằm đáp ứng những mong muốn của con người đối với các nhu cầu thiết yếu như thức ăn, nơi ở, và cả những nhu cầu liên quan khác như hàng hóa xa xỉ Cách phân phối các

nguồn tài nguyên quý hiếm tao ra van đề phải có sự lựa chon

Ba nhóm đóng vai trò quyết định trong hệ thống là: Người sở hữu tài nguyên, người sản xuất và người tiêu dùng Thị trường đóng vai trò liên kết giữa các nhóm này

Việc mua bán tài nguyên và sản phẩm diễn ra trên thị trường, nơi giá cả tạo ra một cơ

chế phản hồi

Cả cung và cầu đều là chức năng của giá cả Giá cao hơn sẽ kích thích người sản xuất tăng sản lượng và giảm sốt sắng của người mua Thái độ này của người sản xuất và người tiêu dùng sẽ làm cân bằng giá cả và điều kiện sản xuất Thị trường sẽ không bao giờ hoạt động tốt theo cách nảy Thái độ của người sản xuất bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tránh các rủi ro, thiếu cạnh tranh (độc quyên) và sự can thiệp của chính phủ Lấy ví dụ về hoạt động nông nghiệp, nơi mà giá các nông sản chính và các nông sản xuất khâu bị ảnh hưởng bởi mức giá được bảo trợ (giá bao cấp) và trợ cấp nham giảm biến động trong sản xuất, bảo vệ người sản xuất và người tiêu dùng hoặc khuyến khích xuất khẩu

Kinh tế phúc lợi

Trên thực tế, người tiêu dùng mua hàng hóa và dịch vụ trên thị trường đang lựa chọn một phân phối riêng các tài nguyên cần thiết để sản xuất chúng Trong một vài trường hợp, thị trường tỏ ra không là đại diện mong muốn của khách hàng Các dịch

vụ thường không thé chia sé được và việc cung cấp dịch vụ cho một số người là khó

khăn nếu không có những người khác hưởng thụ những dịch vụ ấy

Trang 10

Giá cả sẽ không bị khống chế trừ khi chính phủ can thiệp vào lĩnh vực hàng

hóa công cộng Những hàng hóa thuộc loại này chăng hạn như giáo dục hay các công

viên tại các đô thị

Một ví khác về sự thất bại của thị trường chính là sự không thoả mãn của

người tiêu dùng thông qua các yếu tố phi thị trường như ô nhiễm Phúc lợi của người dân còn chịu ảnh hưởng của vật chất bên ngoài tác động đến hệ thống thị trường Vì lí

do này, các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ các yếu tố ngoại (exterrnalities) để phân biệt với những ảnh hưởng về mặt phúc lợi

Trong những trường hợp như vậy có thể có cơ sở để chính phủ can thiệp vào nhăm thay đổi sự phân bổ tài nguyên để giải thích những đóng góp nảo vào phúc lợi không năm trong cơ chế thị trường Sự can thiệp này mang tính chủ quan và dựa trên

ưu tiên chính tri

Sự can thiệp của chính phủ sẽ dẫn tới việc phân phối lại lợi ích đối với các

nhóm xã hội như phân phối thu nhập giữa các cá nhân hoặc vùng miễn Trong các khái

niệm phúc lợi, bỏ qua các nguyên nhân khác khi thay đối phân bố phúc lợi thì phân

phối tối ưu ở những nơi phúc lợi ít ỏi của các cá nhân băng nhau Điều nảy đòi hỏi phải có những giải pháp thỏa mãn sự hài lòng của người tiêu dùng trong cùng một

điều kiện Tuy nhiên, về cả lý thuyết lẫn thực tiễn thì điều này không thể xảy ra Do đó

không có câu trả lời kinh tế nào cho vấn đề những yếu tố nào tạo ra sự phân phối thu nhập lý tưởng Kinh tế học có thể góp phần xác định phân phối tối ưu tài nguyên theo quan điểm xã hội nếu xác định được mẫu số chung Nếu đây là cách phân phối tốt nhất thì dựa vào các khái niệm công bang va thang thắn do phương pháp quản lý quyết

định

Phân tích chỉ phí lợi ich (Benefit - cost Analysis - BCA)

BCA là một trong số các công cụ để cải tiến việc ra quyết định thông qua đánh giá chi phí và lợi ích của các dự án công bao gồm cả các ảnh hưởng vô hình Nguyên tac va van dé chu yếu của BCA được minh họa một cách ngăn gọn thông qua một số câu hỏi sau:

1 Chi phí và lợi ích nào nên được quan tam?

Điều này liên quan tới một số khía cạnh sau:

- _ Các ảnh hưởng khu vực, quốc gia, xuyên biên giới có được quan tâm tới không?

- _ Kế hoạch có ảnh hưởng tới giá cả các mặt hàng ở ngoài khu vực tiến hành kế hoạch không?

- _ Những ảnh hưởng phụ của phát triển kế hoạch, như các hoạt động kinh tế của công nghiệp cung ứng thể hiện như thế nào?

- - Các yếu tô ngoại lai như ô nhiễm nước trong và ngoài khu vực tiễn hành kế hoạch,

sẽ được các dự án mới tính đến như thế nào?

90

Ngày đăng: 09/08/2014, 18:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  5.2:  Ví  dụ  về  hàng  hóa  và  dịch  vụ  sản  xuât  ở  vùng  ven  biên - Quản lý tổng hợp vùng bờ ( Nguyến Bá Quý ) - Chương 5 pdf
ng 5.2: Ví dụ về hàng hóa và dịch vụ sản xuât ở vùng ven biên (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm