1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf

14 657 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này trình bày kết quả việc sử dụng các số liệu thực đo và mô hình chất lượng nước để đánh giá ảnh hưởng của nuôi tôm nước mặn, lợ đến nguồn nước tại thời điểm hiện tại và trong t

Trang 1

46

_

Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước

do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị

Nguyễn Tiền Giang*, Trần Ngọc Anh, Nguyễn Thanh Sơn, Trần Anh Phương, Ngô Chí Tuấn, Nguyễn Đức Hạnh

Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

Ngày nhận 02 tháng 01 năm 2009

Tóm tắt Trong những năm gần đây, việc nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ ở tỉnh Quảng Trị có xu

hướng ngày càng gia tăng Bên cạnh lợi ích về kinh tế mà hoạt động này mang lại, nuôi tôm nước mặn, lợ có nguy cơ gây ô nhiễm các nguồn nước, làm ảnh hưởng đến các ngành dùng nước và hệ sinh thái Bài báo này trình bày kết quả việc sử dụng các số liệu thực đo và mô hình chất lượng nước để đánh giá ảnh hưởng của nuôi tôm nước mặn, lợ đến nguồn nước tại thời điểm hiện tại và trong tương lai theo không gian và thời gian Kết quả cho thấy tại thời điểm hiện tại chất lượng nước sông còn tốt Nồng độ các chất hữu cơ của nước thải xả ra từ một vài khu nuôi tôm tập trung vượt quá tiêu chuẩn cho phép bảo vệ đời sống thủy sinh Đến năm 2020, nếu không có các giải pháp giảm thiểu lượng ô nhiễm từ các khu nuôi trồng tập trung thì nó có thể ảnh hướng xấu đến chất lượng nước ở hạ lưu hai con sông chính Bến Hải và Thạch Hãn

Từ khoá: Nuôi tôm, chất lượng nước, MIKE 11, Quảng Trị

Trong những năm gần đây, nuôi trồng thuỷ

sản (NTTS) đã trở thành 1 ngành kinh tế mũi

nhọn của nước ta với những bước phát triển

vượt bậc, đóng góp đáng kể vào công cuộc xóa

đói giảm nghèo [1] Tuy nhiên, những tác động

khó lường lên môi trường nước vùng nuôi cũng

như các khu vực lân cận của hoạt động nuôi

trồng thủy sản đang đặt ra những vấn đề cấp

bách cần giải quyết Đó là vấn đề cân bằng giữa

lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, giữa lợi

ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích của

NTTS với các ngành khác, giữa lợi ích cá thể

(các hộ tham gia hoạt động NTTS) và lợi ích

cộng đồng Thực tế đã chứng minh rằng, nếu quá tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế trước mắt, bất chấp những hậu quả môi trường thì chi phí cho việc phục hồi môi trường và thiệt hại mà NTTS gây ra cho các ngành khác thậm chí còn lớn hơn lợi nhuận mà nó thu được Mặt khác, chính NTTS cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi hoạt động của mình do sự tác động ngược trở lại của môi trường bị ô nhiễm [2] Vì vậy,

để đảm bảo một ngành NTTS bền vững, đạt hiệu quả kinh tế cao thì các nghiên cứu về tác động của hoạt động NTTS đến môi trường và từ

đó đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm là một yêu cầu khách quan và cấp bách

∗ Tác giả liên hệ ĐT: 84-4-38584943

E-mail: nguyentiengiang@yahoo.com

Trong những năm qua, hoạt động NTTS nước lợ, mặn phát triển khá mạnh mẽ và có xu hướng ngày càng gia tăng ở hầu hết các huyện ven biển của tỉnh Quảng Trị Tuy nhiên, so với

Trang 2

tiềm năng hiện có, diện tích khai thác vẫn còn

khá khiêm tốn Vì vậy, với những kết quả bước

đầu đạt được, Quảng Trị đã định hướng mở

rộng diện tích và nâng cao năng suất NTTS,

đưa NTTS trở thành ngành kinh tế mũi nhọn

Để có cơ sở cho việc lập quy hoạch, việc cung

cấp đầy đủ thông tin về tác động qua lại giữa

NTTS và môi trường cho các nhà hoạch định

chính sách là rất việc làm cần thiết và quan

trọng Dựa vào các thông tin này, người ra quyết

định có thể lựa chọn những phương án thích hợp,

dung hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi

trường, đảm bảo có một ngành NTTS phát triển

ổn định, có hiệu quả kinh tế cao

Trước những đòi hỏi bức thiết trên, bài báo

này trình bày một số kết quả nghiên cứu với

mục tiêu là sử dụng kết hợp các phương pháp

điều tra thực địa và công cụ mô hình toán, tập

trung xác định diễn biến của các yếu tố môi

trường theo không gian và thời gian tại thời điểm hiện tại (2007) và trong tương lai (2020) ở hai vùng hạ lưu sông Bến Hải và Thạch Hãn trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, dưới ảnh hưởng các kịch bản phát triển khác nhau của hoạt động nuôi tôm nước lợ, mặn

2 Khái quát khu vực nghiên cứu

Quảng Trị là một tỉnh thuộc khu vực Bắc

phía Bắc, giáp tỉnh Quảng Bình; phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế; phía Tây là biên giới Việt

- Lào và phía Đông là biển Đông, với chiều dài

bờ biển là 75 km (hình 1) Tỉnh có tổng diện

vị hành chính, gồm 8 huyện và 2 thị xã

Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị

Về khí hậu, Quảng Trị nằm trong vùng

khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng, ẩm mang đầy

đủ sắc thái khí hậu các tỉnh miền Trung Việt

Nam Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô và

mùa mưa Mùa khô từ tháng XII tới tháng VIII

năm sau, mùa mưa từ tháng IX tới tháng XI

Về tài nguyên nước, trên địa phận tỉnh

Quảng Trị có ba hệ thống sông chính là Thạch

Hãn, Bến Hải và Ô Lâu trong đó sông Thạch

Hãn là sông có diện tích lưu vực lớn nhất (2660

có giá trị mô đun biến động trong khoảng 54 -

so với trung bình cả nước, phần lớn nước tập trung vào mùa lũ (khoảng 75-85%) trong khi mùa kiệt chỉ chiếm từ (15-25%), gây khó khăn cho hoạt động sản xuất đặc biệt là nông nghiệp

và NTTS

Trang 3

3 Hiện trạng về diện tích và phân bố nuôi

tôm nước mặn, lợ

Với 75 km bờ biển và 2 cửa sông, tiềm

năng NTTS nước mặn, lợ của Quảng Trị là

tương đối lớn Tổng diện tích tiềm NTTS nước

mặn, lợ của toàn tỉnh vào khoảng 6361 ha,

trong đó: mặt nước biển eo, vịnh (570 ha), đất

cát ven biển (3250 ha), đất bãi triều, mặt nước

hoang hoá ven sông (620 ha), ruộng nhiễm mặn

(1881 ha) và diện tích đồng muối (40 ha) Tuy

nhiên, so với tiềm năng hiện có, diện tích NTTS

của tỉnh mới chỉ chiếm một phần khá nhỏ Đến

năm 2007, tổng diện tích này mới chỉ đạt 832.6

ha bằng 13% diện tích có khả năng NTTS (hình

2) Vì vậy, tiềm năng NTTS nước mặn/lợ của

Quảng Trị còn rất lớn đòi hỏi cần có các

phương án qui hoạch hợp lý nhằm tận dụng

tiềm năng này, góp phần nâng cao thu nhập của

người dân, đóng góp cho sự phát triển kinh tế

của tỉnh Về hiện trạng phân bố diện tích NTTS

nước mặn lợ, nhóm tác giả đã tiến hành khoanh

vùng và lên bản đồ các vùng nuôi tôm tập trung

năm 2007 dựa vào GPS và công nghệ GIS (các

vùng kẻ ca rô trên hình 3) Kết quả cho thấy các

khu nuôi tôm tập trung hiện tại phân bố chủ yếu

ở phần hạ lưu hai sông Bến Hải và Thạch Hãn,

là các khu vực chịu ảnh hưởng triều Các khu

nuôi tôm này chịu ảnh hưởng của nước thải từ

các khu công nghiệp, bệnh viện, nông nghiệp

như nhà máy cao su Trường Anh, nhà máy giấy

Bắc Trung Bộ, bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị

0

1000

2000

3000

4000

5000

6000

7000

2004 2005 2006 2007 Tiềm năng

Năm

Hình 2 Diện tích NTTS mặn, lợ tiềm năng và diện

thực nuôi theo các năm

4 Đánh giá hiện trạng ảnh hưởng của nuôi tôm nước mặn, lợ đến môi trường nước

Dựa vào kết quả phân tích mẫu nước thu thập được ở một số vị trí quan trắc (hình 3) ở các thời điểm khác nhau, nghiên cứu đưa ra một

số kết luận sau:

Hình 3 Phân bố khu nuôi và vị trí các điểm lấy mẫu

nước mặt và nước ngầm

Sự gia tăng về diện tích nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ trong những năm gần đây dẫn tới

sự gia tăng tải lượng các chất hữu cơ và cặn lơ lửng Tuy nhiên do khả năng tự làm sạch hiện thời của hai con sông là lớn nên chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng

Theo không gian, nồng độ chất ô nhiễm hữu

cơ và cặn lơ lửng đặc biệt lớn tại các khu nuôi tôm tập trung Nồng độ BOD, COD trong mẫu nước thải lấy từ hai hồ nuôi tôm điển hình vào thời kỳ thu hoạch (giữa tháng VII) đều lớn hơn

nhiều so với Tiêu chuẩn thải nước thải công

nghiệp vào vực sông dùng cho mục đích bảo vệ thủy sinh TCVN 6984:2001 Đặc biệt có vị trí

nồng độ các chất ô nhiễm mặc dù cao hơn khu vực không chịu ảnh hưởng nhưng đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép [2]

Trang 4

50

100

150

200

250

Vị trí

100 200 300 400 500 600 700 800

COD Tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn 60 60 60 60 60

Vị trí 1 Vị trí 2 Vị trí 3 Vị trí 4 Vị trí 5

Hình 4 Nồng độ BOD và COD tại một số vị trí xả thải

Theo thời gian, so sánh nồng độ BOD và

COD vào các thời điểm khác nhau cho thấy vào

tháng III nồng độ COD là lớn nhất, trong khi đó

nồng độ BOD lại đạt giá trị lớn nhất vào tháng

IV và tháng VII, là hai tháng kiệt nhất trong

năm (hình 5) Tuy nhiên, với các tiêu chuẩn nước mặt (TCVN 5942 :1995) thì chất lượng nước ở các vùng thượng nguồn vẫn đạt tiêu chuẩn loại A và ở gần cửa sông là loại B, xấp xỉ loại A

0

0.2

0.4

0.6

0.8

1

1.2

Tháng

BH3 BH5

0 2 4 6 8 10 12

Tháng

BH3 BH5

Hình 5 Nồng độ ô nhiễm hữu cơ tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI

Với nguồn nước dưới đất và nước ven bờ,

kết quả phân tích các chỉ tiêu tại khu vực NTTS

tập trung cho thấy hầu hết các thông số phân

tích đều có nồng độ nằm trong giới hạn cho

phép, chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm

Về ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất khác lên mô trường nước, các kết quả phân tích

VII (thời điểm các ao nuôi tôm thu hoạch và xả nước), và tháng XI (thời điểm mùa lũ khi các

Trang 5

chất ô nhiễm khuyếch tán từ đồng ruộng ra hệ

thống sông và hoạt động nuôi tôm gần như

không diễn ra) cho thấy bên cạnh ô nhiễm do

NTTS, các nguồn ô nhiễm từ sản xuất nông

nghiệp là đáng kể (hình 6) Vì vậy, khi xem xét

các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, cần đặt bài toán trong bối cảnh tương tác với các ngành kinh tế khác để có thể đề xuất những biện pháp thích hợp

0

0.2

0.4

0.6

0.8

1

1.2

1.4

1.6

1.8

Vị trí

Tháng 7 Tháng 11

0 0.002 0.004 0.006 0.008 0.01 0.012 0.014

Tháng 11 Tháng 7

Hình 6 Nồng độ NOx- (trái) và PO43- (phải) tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI

Như vậy, tại thời điểm hiện tại, do diện tích

NTTS còn chưa lớn, tình trạng ô nhiễm chỉ diễn

ra cục bộ tại một số vị trí xả thải của các ao

nuôi và trong thời gian các ao nuôi xả thay

nước Tuy nhiên, trong thời gian tới, khi diện

tích NTTS tăng lên và vẫn giữ nguyên cách

thức thay, xả nước như hiện tại thì khả năng

gây ô nhiễm môi trường có thể sẽ khác Các kết

quả tính toán cụ thể với các phương án sử dụng

đất cho NTTS trong tương lai sẽ được trình bày

ở mục các tiếp theo

5 Dự báo diễn biến chất lượng nước bằng

mô hình MIKE 11

5.1 Cở sở lý thuyết mô hình dự báo diễn biến

chất lượng nước

Từ kết quả phân tích ở mục 4 hai chỉ tiêu ô

nhiễm hợp chất hữu cơ là BOD và COD được

lựa chọn làm chỉ tiêu chất lượng nước để mô

phỏng và dự báo Về lý thuyết, để mô phỏng

diễn biến các chỉ tiêu chất lượng nước này cần

xem xét đầy đủ hai quá trình chính là vận

chuyển và khuyếch tán dưới tác động của dòng

chảy và quá trình sinh, hóa thể hiện sự tương

tác của các yếu tố chất lượng nước với nhau và giữa các yếu tố này với môi trường Quá trình thứ nhất thường được mô phỏng dựa trên các hệ phương trình vi phân mô tả chuyển động của nước (hệ Saint Vernant) và phương trình chuyền tải khuyếch tán (pt 1) Quá trình thứ hai được mô phỏng bằng các phương trình vi phân thường thể hiện sự biến đổi theo thời gian của các chất ô nhiễm dưới tác động của môi trường tới tham số đang xem xét [3,4] Mô hình MIKE

11 đã được lựa chọn do tính thông dụng và độ tin cậy của mô hình để mô phỏng các quá trình trên Trong MIKE 11, các quá trình diễn biến nồng độ được mô phỏng bằng 3 mô đun: mô đun thủy động lực (HD), mô đun lan truyền chất (AD) và mô đun chất lượng nước (WQ) Trong đó, mô đun HD giải hệ phương trình Saint-Venant để xác định lưu lượng và mực nước tại các mặt cắt trên hệ thống sông, làm cơ

sở cho việc tính toán của 2 mô đun còn lại Mô đun lan truyền chất giải phương trình khuyếch tán, mô phỏng quá trình lan truyền các chất ô nhiễm trong sông do sự chênh lệch về mật độ

và tác dụng vận chuyển của dòng nước, trong khi mô đun WQ giải các phương trình vi phân thường, mô phỏng quá trình tương tác sinh, lý, hóa giữa các chất gây ô nhiễm và môi trường

Trang 6

[5,6] Tuy nhiên Radwan và công sự [4] chứng

minh rằng có thể giản hoá bài toán bằng cách sử

dụng hệ số phân huỷ tuyến tính để mô phỏng

BOD mà không cần sử dụng đầy đủ mô đun

WQ Do vậy, để mô phỏng lan chuyền BOD và

COD trong hai hệ thống sông tỉnh Quảng Trị,

phương trình dưới đây trong MIKE 11 được

dùng làm phương trình chủ đạo

độ của nguồn gia nhập/ra khỏi của hệ thống;

là gia nhập khu giữa;

2

q

t

gian và thời gian

5.2 Thiết lập mạng thủy lực

Khu vực nghiên cứu có hai hệ thống sông chính là Bến Hải và Thạch Hãn Nối kết giữa hai hệ thống sông này là sông Cánh Hòm Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, còn có sông Vĩnh Định, nối từ cống Việt Yên thuộc xã Triệu An chảy qua các huyện Triệu Phong, Hải Lăng rồi nhập với hệ thống sông Ô Lâu trước khi đổ ra biển Sơ đồ thủy lực mô phỏng phần

hạ lưu được tính toán của các sông này được minh họa trên hình 7

Hình 7 Sơ đồ mạng lưới tính toán thuỷ lực hệ thống sông Bến Hải - Thạch Hãn

5.3 Số liệu

5.3.1 Số liệu địa hình

a) Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50 000, của Cục

Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (2006)

b) Tài liệu mặt cắt ngang và trắc dọc các hệ

thống sông chính tỉnh Quảng Trị: sông Bến Hải

từ Gia Vòng đến Cửa Tùng, sông Sa Lung từ

cầu đường sắt Sa Lung đến cầu Hiền Lương,

sông Thạch Hãn từ đập Thạch Hãn đến Cửa Việt, sông Cam Lộ từ cầu Cam Tuyền đến Đông Hà, sông Cánh Hòm từ cống Xuân Hòa đến cống Mai Xá, và sông Vĩnh Định từ đập Việt Yên đến cầu Hội Yên II

5.3.2 Số liệu thủy văn

Mực nước triều tại trạm thủy văn Cửa Việt, lưu lượng tại trạm Gia Vòng và mực nước thượng lưu đập Thạch Hãn, mực nước trạm

q C AKC x

C AD

x

x

QC

t

AC

2 +

=

+

Trang 7

Thạch Hãn - Đo đạc lưu lượng biên trên trực

tiếp bằng máy đo lưu lượng Q - liner tại cầu

Cam Tuyền trên sông Cam Lộ và cầu đường sắt

trên sông Sa Lung ngày 14/8/2007

Mực nước triều tại Cửa Tùng được hiệu

chỉnh theo mực nước tại Cửa Việt Các số liệu

này được nhập vào 4 biên lưu lượng thượng lưu

và 2 biên mực nước hạ lưu

5.3.3 Số liệu chất lượng nước

a) Vị trí và diện tích đầm nuôi, dung tích

nước đầm nuôi, thời gian và vị trí xả thải vào hệ

thống kênh, vị trí kênh đổ vào hệ thống sông

chính (hình 8)

b) Các yếu tố chất lượng nước trong đầm

được thu thập qua các đợt khảo sát chuyên đề từ

ngày 7-15/8/2007 và từ 25/11-2/12/2007, các đợt khảo sát định kỳ trong các tháng IV-10/2007, và kế thừa một số các báo cáo trước [7,8]

c) Quy trình thay, xả nước theo từng vụ của các ao nuôi xác định qua khảo sát hiện trạng và điều tra của nhóm nghiên cứu được xác định như sau:

Giai đoạn 1: tháng thứ 3, thay 75% thể tích

ao nuôi trong vòng 1 tháng, các lần thay cách đều nhau, trung bình mỗi lần thay khoảng 25% thể tích ao

Giai đoạn 2: đầu tháng thứ 4, thay 75% thể tích ao nuôi trong vòng 15 ngày cách đều nhau, sau đó giữ nguyên 15 ngày trước thu hoạch

Hình 8 Vị trí các khu vực nuôi tôm trên sông Bến Hải và sông Thạch Hãn

Giai đoạn 3: xả hoàn toàn 100% thể tích ao

nuôi ngay sau thu hoạch

Tổng lượng nước xả thải và lưu lượng xả ra

sông, hồ sẽ được tính toán từ diện tích nuôi tôm

nước mặn, lợ đã điều tra 2007 Kết quả trình bày trong bảng 1

Bảng 1 Lưu lượng nước xả thải qua các thời kỳ sinh trưởng của tôm

Lưu lượng nước xả ( m3 s )

TT Khu vực nuôi Diện tích (1000m 2 ) Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3

Trang 8

( m3 s )

Lưu lượng nước xả

TT Khu vực nuôi Diện tích (1000m 2 ) Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3

Xét theo chu kỳ sinh trưởng của tôm, chất

lượng nước trong ao nuôi cũng có những thay

đổi Để có thể hình thành bộ số liệu dành cho

tính toán mô hình, nghiên cứu này đã sử dụng

giá trị nồng độ các chất ô nhiễm trong tháng

VII theo thực đo chất lượng nước thải từ ao

nuôi tôm ở Triệu Phước (7/2005 - Trung tâm

Quan trắc Môi trường Quảng Trị), sau đó dùng

hàm quan hệ theo thời gian của Quan Thi

Quynh Dao và cộng sự [8] để tính toán nồng độ

chất ô nhiễm theo chu kỳ sinh trưởng của tôm

như được trình bày trong bảng 2

Bảng 2 Nồng độ chất ô nhiễm theo các thời kỳ sinh

trưởng của tôm

Nồng độ (mg/l)

TT Chỉ tiêu môi trường GĐ1 GĐ2 GĐ3

5 Tổng Phốt-pho 0.3 0.55 0.7

Từ các số liệu trên, tải lượng các chất ô nhiễm

gia nhập vào hệ thống được tính toán và đưa vào

trong mô hình như là các biên nội của hệ thống tại

các vị trí tương ứng với vị trí ao nuôi dưới dạng

nguồn điểm ở trung tâm khu nuôi và dạng nguồn

phân bố đều theo chiều dọc sông với các khu nuôi

kéo dài dọc sông (trên 1km)

5.3.4 Thông số mô hình

Trong nghiên cứu này, các thông số về độ

nhám (trong mô đun HD), hệ số khuếch tán (mô

đun AD) được lấy từ kết quả hiệu chỉnh và

kiểm định cho mô hình xâm nhập mặn [9] Hệ

số phân huỷ tuyến tính được lựa chọn dựa vào kiểm định định tính thông qua các số liệu chất lượng nước hiện có

5.4 Dự báo tình hình ô nhiễm do nuôi trồng thủy sản

Để dự báo tình hình ô nhiễm trong khu vực

do hoạt động nuôi tôm nước mặn lợ, cần nghiên cứu xây dựng các kịch bản đặc biệt là dự thảo

về quy hoạch phát triển nuôi tôm nước mặn, lợ đến 2020 Hai phương án phát triển vùng nuôi tôm đến năm 2020 có tính đến tác động của vùng nuôi tôm đến môi trường xung quanh được đề xuất là:

+ Kịch bản 1: Toàn diện tích tiềm năng

được sử dụng hết làm các hồ nuôi, Q75% tháng VII tại các biên trên, các hồ chứa và nhu cầu dùng nước theo quy hoạch đến 2020 và mực nước biển trung bình, chất lượng nước xả vẫn giống hiện trạng (bất lợi nhất)

+ Kịch bản 2: Có 30% diện tích tiềm năng

được sử dụng cho ao xử lí nước cấp và ao xử lí nước thải, Q75% tháng VII tại các biên trên, các hồ chứa và nhu cầu dùng nước theo quy hoạch đến 2020 và mực nước biển trung bình, chất lượng nước xả đã được cải thiện giảm 50%

so với trong ao nuôi

Dựa vào diện tích NTTS tương ứng các phương án, sử dụng tương quan diện tích- tổng lượng nước thải, nghiên cứu sẽ xác định được lưu lượng nước thải ứng với từng phương án này Kết quả tính toán với các kịch bản được trình bày dưới đây:

Trang 9

a) Kịch bản 1: Các kết quả tính toán với 2

thông số cơ bản là BOD và COD được thể hiện

trên các hình từ 9 đến 13 Hình 9 biểu diễn quan

hệ giữa nồng độ BOD dọc theo sông Bến Hải từ

Gia Vòng về đến Cửa Tùng theo kịch bản 1 Đó

là thời điểm lúc 7h, ngày 24/7/2007, thể hiện

mức độ ô nhiễm lớn nhất, do các ao nuôi đồng

loạt xả nước sau thu hoạch Khu vực xung

quanh Vĩnh Sơn, Vĩnh Lâm, Vĩnh Thành và

Trung Hải có diện tích nuôi tôm sú khá lớn nên

đỉnh của nồng độ ô nhiễm xuất hiện ở khu vực

phía hạ lưu Hiền Lương, gần khu vực cống

ngăn mặn Xuân Hòa

[m] -8.0

-6.0 -4.0 -2.0 0.0 2.0 4.0 6.0 8.0 10.0 12.0 14.0 16.0 18.0 20.0 22.0 [meter]

1000000.0 1500000.0 2000000.0 2500000.0 3000000.0 3500000.0 4000000.0 5000000.0 6000000.0 6500000.0 7000000.0 7500000.0 8000000.0 8500000.0 9000000.0 9500000.0 10000000.0 11000000.0 [mu-g/m^3] 24-7-2007 07:00:00

BEN-HAI 0 - 18989

BEN-HAI 18989 - 28420

BOD

Hình 9 Biểu đồ BOD theo dọc sông Bến Hải lúc

7h00, ngày 24/7

0

2

4

6

8

10

12

5/15/2007

0:00

5/25/2007

0:00

6/4/2007

0:00

6/14/2007 0:00 6/24/2007 0:00 7/4/2007 0:00 7/14/2007 0:00 7/24/2007 0:00 8/3/2007

0:00 Ngày

0 10 20 30 40 50 60

5/15/2007 0:00 5/25/2007 0:00 6/4/2007 0:00 6/14/2007 0:00 6/24/2007 0:00 7/4/2007 0:00 7/14/2007 0:00 7/24/2007 0:00 8/3/2007

0:00 Ngày

Hình 10 Đường biểu diễn BOD và COD theo thời gian trên sông Bến Hải phía trước cống Xuân Hòa

Xem xét đường quá trình nồng độ BOD

theo thời gian tại điểm trên sông Bến Hải, phía

trước cống Xuân Hòa (hình 10a), thời gian duy

trì nồng độ BOD vượt quá cho phép đối với

nước mặt loại A theo TCVN 1995 - 5942 là 24

ngày tương ứng với thời điểm thay xả nước giai

đoạn 2 và 3 Nồng độ BOD trong nước sông ở

giai đoạn 3 đã vượt gấp 2 lần chỉ tiêu cho phép,

và chỉ đạt chất lượng loại B

Quy luật biến đổi theo thời gian của COD cũng tương tự với BOD (hình 10b), tuy nhiên trạng thái ô nhiễm COD xuất hiện sớm hơn, từ giai đoạn thay nước thứ nhất, và kể cả so với tiêu chuẩn dành cho nước mặt loại B thì nồng

độ COD trong giai đoạn xả thay nước cuối cùng vẫn vượt mức cho phép

Trang 10

0.0 1000.0 2000.0 3000.0 4000.0 5000.0 6000.0 7000.0 8000.0 9000.0 10000.0 11000.0 12000.0 13000.0

[m]

-7.0

-6.0

-4.0

-2.0

0.0

2.0

3.0

5.0

7.0

[meter]

0.0 500000.0 1000000.0 2000000.0 3000000.0 4000000.0 5000000.0 6000000.0 7000000.0 8000000.0 9000000.0 10000000.0 11000000.0 [mu-g/m^3]

24-7-2007 11:00:00

SA-LUNG 0 - 13298

BOD

[m]

-7.0 -6.0 -4.0 -2.0 0.0 2.0 3.0 5.0 7.0 [meter]

0.0 5000000.0 10000000.0 15000000.0 20000000.0 25000000.0 30000000.0 35000000.0 40000000.0 45000000.0 50000000.0 [mu-g/m^3]

24-7-2007 11:00:00

SA-LUNG 0 - 13298

COD

Hinh 11 Biểu đồ BOD và COD theo dọc sông Sa Lung lúc 11h00, ngày 24/7

Trên nhánh sông Sa Lung, nồng độ COD và

BOD cực đại xuất hiện muộn hơn trên sông Bến

Hải do ảnh hưởng của thủy triều đẩy nguồn ô

nhiễm lên chậm hơn (hình 11) Giá trị cao nhất

là tại vị trí gần ngã ba sông Bến Tám Gần giống như sông Bến Hải, mức độ ô nhiễm COD cao hơn nhiều so với BOD và là điều cần được lưu tâm

[m]

-11.0

-9.0

-7.0

-5.0

-3.0

-1.0

0.0

2.0

4.0

6.0

8.0

10.0

12.0

[meter]

0.0 500000.0 1000000.0 2000000.0 3000000.0 4000000.0 5000000.0 6000000.0 7000000.0 8000000.0 9000000.0 [mu-g/m^3]

24-7-2007 13:00:00

THACH-HAN 0 - 23925

91 10

21 22

THACH-HAN 23925 - 34825

BOD

[m]

-7.0 -6.0 -4.0 -2.0 -1.0 0.0 2.0 4.0 6.0 8.0 9.0 10.0 [meter]

0.0 2000000.0 4000000.0 8000000.0 10000000.0 12000000.0 16000000.0 20000000.0 24000000.0 28000000.0 32000000.0

[mu-g/m^3]

24-7-2007 15:00:00

CAM-LO 0 - 8866

COD

Hinh 12 Biểu đồ BOD theo dọc sông Thạch Hãn lúc 13h00, ngày 24/7

0

2

4

6

8

10

12

5/15/2007

0:00

5/25/2007

0:00

6/4/2007

0:00

6/14/2007 0:00 6/24/2007 0:00 7/4/2007 0:00 7/14/2007 0:00 7/24/2007 0:00 8/3/2007

0:00 Ngày

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50

5/15/2007 0:00 5/25/2007 0:00 6/4/2007 0:00 6/14/2007 0:00 6/24/2007 0:00 7/4/2007 0:00 7/14/2007 0:00 7/24/2007 0:00 8/3/2007

0:00 Ngày

Hinh 13 Đường biểu diễn nồng độ BOD và COD theo thời gian trên sông Thạch Hãn,

điểm gần cầu phao Đông Lễ

Ngày đăng: 09/08/2014, 17:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Trị (Trang 2)
Hình 2. Diện tích NTTS mặn, lợ tiềm năng và diện - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 2. Diện tích NTTS mặn, lợ tiềm năng và diện (Trang 3)
Hình 3. Phân bố khu nuôi và vị trí các điểm lấy mẫu - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 3. Phân bố khu nuôi và vị trí các điểm lấy mẫu (Trang 3)
Hình 4. Nồng độ BOD và COD tại một số vị trí xả thải. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 4. Nồng độ BOD và COD tại một số vị trí xả thải (Trang 4)
Hình 5. Nồng độ ô nhiễm hữu cơ tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 5. Nồng độ ô nhiễm hữu cơ tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI (Trang 4)
Hình 6. Nồng độ NO x -  (trái) và PO 4 3-  (phải) tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 6. Nồng độ NO x - (trái) và PO 4 3- (phải) tại một số vị trí của tháng VII và tháng XI (Trang 5)
Hình 8. Vị trí các khu vực nuôi tôm trên sông Bến Hải và sông Thạch Hãn. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 8. Vị trí các khu vực nuôi tôm trên sông Bến Hải và sông Thạch Hãn (Trang 7)
Bảng 1. Lưu lượng nước xả thải qua các thời kỳ  sinh trưởng của tôm - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Bảng 1. Lưu lượng nước xả thải qua các thời kỳ sinh trưởng của tôm (Trang 7)
Hình 9. Biểu đồ BOD theo dọc sông Bến Hải lúc - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 9. Biểu đồ BOD theo dọc sông Bến Hải lúc (Trang 9)
Trên các hình từ 9 đến 13. Hình 9 biểu diễn quan - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
r ên các hình từ 9 đến 13. Hình 9 biểu diễn quan (Trang 9)
Hình 14. Biểu đồ BOD theo dọc sông Bến Hải  lúc 07h00, ngày 24/7. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 14. Biểu đồ BOD theo dọc sông Bến Hải lúc 07h00, ngày 24/7 (Trang 11)
Hình 15. Biểu đồ BOD và COD theo dọc sông Sa Lung lúc 11h00, ngày 24/7. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 15. Biểu đồ BOD và COD theo dọc sông Sa Lung lúc 11h00, ngày 24/7 (Trang 12)
Hình 16. Biểu đồ BOD và COD  theo dọc sông Thạch Hãn  lúc 15h00, ngày 24/7. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đánh giá hiện trạng và dự báo nguy cơ ô nhiễm nguồn nước do nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, lợ tỉnh Quảng Trị " pdf
Hình 16. Biểu đồ BOD và COD theo dọc sông Thạch Hãn lúc 15h00, ngày 24/7 (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm