1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đặc điểm phân bố và biến động năng suất sinh học sơ cấp ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ " ppsx

7 523 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 614,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp các kết quả nghiên cứu hiện có về năng suất sinh học sơ cấp NSSC ở vịnh Bắc Bộ cho thấy: 1.. Hiểu biết đầy đủ về các quy luật phân bố, biến động của NSSC sẽ có ý nghĩa to lớn đ

Trang 1

21 _

Đặc điểm phân bố và biến động năng suất sinh học sơ cấp

ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ

Đoàn Bộ*

Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

Ngày nhận 02 tháng 01 năm 2009

Tóm tắt Tổng hợp các kết quả nghiên cứu hiện có về năng suất sinh học sơ cấp (NSSC) ở vịnh

Bắc Bộ cho thấy:

1 Vùng biển phía tây vịnh Bắc Bộ là thuỷ vực nhiệt đới ven bờ có sức sản xuất sơ cấp cao, giá trị trung bình NSSC thô ở trung tâm và cửa vịnh vào cỡ 100±20 mgC/m3/ngày, gần bờ và cửa sông 150±50 mgC/m3/ngày, cá biệt có nơi, có lúc đạt trên 300 mgC/m3/ngày Giá trị cực tiểu NSSC thô

là 40 mgC/m3/ngày tại cửa vịnh vào tháng 10-1959, nhỏ hơn khoảng 10 lần so với giá trị cực đại

412 mgC/m3/ngày tại tây nam đảo Cô Tô vào tháng 8-2000

2 Phân bố NSSC trong khu vực nghiên cứu có xu thế giảm từ bờ ra khơi, từ bắc vào nam, mùa hè lớn hơn mùa đông Theo độ sâu, NSSC thường đạt cực đại trong lớp nước 10-20m

1 Mở đầu

Năng suất sinh học sơ cấp (NSSC) là đại

lượng đặc trưng cho khả năng sản xuất vật chất

hữu cơ sơ khởi của vùng biển, trong đó sức sản

xuất sơ cấp của thực vật phù du

(Phytoplankton) thường chiếm ưu thế Đây là

nguồn vật chất cơ sở từ đó các động vật bậc cao

có thể sử dụng tiếp lên theo các kênh dinh

dưỡng của hệ sinh thái vùng biển Trên thực tế,

những vùng biển có NSSC cao cũng thường là

những nơi khai thác hải sản cho sản lượng lớn

Hiểu biết đầy đủ về các quy luật phân bố, biến

động của NSSC sẽ có ý nghĩa to lớn đối với

khoa học và thực tiễn, đặc biệt trong việc đánh

giá tiềm năng nguồn lợi hải sản của vùng biển

Ở vịnh Bắc Bộ, các nghiên cứu về NSSC

tuy được bắt đầu từ khá sớm (trong Chương

trình hợp tác Việt-Trung 1959-1960) song cho đến nay nội dung này còn chưa nhiều, lại tập trung chủ yếu ở một số khu vực biển ven bờ phía tây và hầu như chưa có khu vực nào được nghiên cứu lặp lại Do vậy khó có thể tìm ra những quy luật chung về phân bố và biến động của NSSC vịnh Bắc Bộ Ngay việc so sánh các kết quả nghiên cứu cũng có những bất cập bởi

sự khác nhau về thời gian, khu vực và nhất là phương pháp

∗ ĐT: 84-4-35586898

E-mail: bodv@vnu.edu.vn

Trên cơ sở tập hợp các nghiên cứu hiện có

từ 1960 đến nay về NSSC ở các khu vực khác nhau trong vịnh Bắc Bộ, bài báo đưa ra những đánh giá và nhận định về đặc trưng phân bố và biến động của quá trình sản xuất vật chất hữu

cơ sơ khởi của vùng biển, chú trọng nửa phía tây vịnh Bắc Bộ Nghiên cứu này được hoàn thành với sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học Tự nhiên giai đoạn 2006-2008 trong khuôn khổ đề

tài nghiên cứu cơ bản mang mã số 705206

Trang 2

2 Tài liệu và phương pháp

Tài liệu sử dụng trong nghiên cứu này được

tổng hợp từ các nguồn:

- Các kết quả tính NSSC theo phương pháp

độ lệch biến trình ngày ôxy hoà tan của Chương

trình hợp tác Việt-Trung (1959-1960) và hợp

tác Việt-Xô (1961-1962) về điều tra khảo sát

tổng hợp trên toàn vịnh Bắc Bộ [1]

- Các kết quả tính NSSC theo phương pháp

mô hình toán tại vùng biển Ba Lạt-Bạch Long

Vĩ của đề tài KT-03-10 (1991-1995) [2]

- Các kết quả tính NSSC theo phương pháp

hiệu ứng tiêu hao dinh dưỡng trong quang hợp

tại vùng triều cửa sông Hồng của đề tài

KT-03-11 (1991-1995) và tại vịnh Hạ Long của dự án

SIDA/SAREC (1996-1997) [3,4]

- Các kết quả tính NSSC theo phương pháp

bình đen-trắng và phương pháp mô hình toán

tại vùng biển Quảng Ninh của đề tài

KĐL-CIS-01 (1999-2000) [5,6]

- Năm 2003-2004, đề tài KC-09-17 thuộc Chương trình Biển KC.09/01-05 đã tiến hành các chuyến khảo sát tổng hợp vùng biển vịnh Bắc Bộ, phần chủ quyền của Việt Nam, trong đó có việc

bố trí thí nghiệm xác định NSSC tại 3 trạm liên tục 1 ngày đêm bằng phương pháp bình đen-trắng Đây là những tư liệu mới nhất bổ sung cho việc nghiên cứu NSSC ở vịnh Bắc Bộ [7]

3 Kết quả nghiên cứu

Trên cơ sở tập hợp kết quả từ các nghiên cứu hiện có, kể các các nghiên cứu mới nhất của đề tài KC-09-17 trong năm 2003-2004 có thể thấy và so sánh NSSC ở các khu vực khác nhau trong vịnh Bắc Bộ và Biển Đông như bảng 1, 2

Bảng 1 Giá trị trung bình năng suất sinh học sơ cấp thô (mgC/m3/ngày) tại các khu vực trong vịnh Bắc Bộ (tổng

hợp các kết quả nghiên cứu hiện có)

NSSC thô (mgC/m3/ngày) Các khu vực

Mùa

hè đông Mùa

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn, thời gian nghiên cứu

Ven bờ tây bắc vịnh 121

Ven bờ tây nam vịnh 105

Ven bờ đông vịnh 108

Cửa vịnh 81

Độ lệch biến trình ngày Ôxy hoà tan Hợp tác Việt- Trung, Việt-Xô điều tra

VBB 1959-1962 Lân cận cửa sông Hồng, mùa hè 120

Khu vực Bạch Long Vĩ (giữa vịnh), mùa hè 80 Mô hình toán Đề tài KT-03-10 (8/1994) Vùng triều cửa sông Hồng, cuối mùa hè 150 Đề tài KT-03-11

(10/1994) Vịnh Hạ Long, mùa đông 66

Hiệu ứng dinh dưỡng PO4

Dự án SIDA/

SAREC (1/1997) Xung quanh đảo Cô Tô Quảng Ninh, mùa hè 175 Đề tài KĐL-CIS-01

(8/2000) Đông nam đảo Cát Bà, mùa đông 146

Bình đen trắng

Đề tài KĐL-CIS-01 (12/2001)

Vùng biển ven bờ Quảng Ninh (độ sâu

<10m) mùa hè

228 Đề tài KĐL-CIS-01

(8/2001) Vùng biển thoáng Quảng Ninh mùa hè (độ

sâu 10-35m) 194 Đề tài KĐL-CIS-01 (8/2000) Vùng biển thoáng Quảng Ninh mùa đông (độ

Mô hình toán

Đề tài KĐL-CIS-01 (12/2001)

Vịnh Bắc Bộ (Khu vực Hải Phòng) 147 157 Đề tài KC-09-17

Trang 3

Vịnh Bắc Bộ (Khu vực Thanh Hoỏ) 97 195

Vịnh Bắc Bộ (Khu vực Quảng Bỡnh) 232 337 Bỡnh đen trắng (2003-2004) Bảng 2 Năng suất sinh học sơ cấp thụ (mgC/m3/ngày) tại cỏc khu vực khỏc nhau trong Biển Đụng Cỏc khu vực trong Biển Đụng NSSC thụ

(mgC/m3/ngày) Phương phỏp nghiờn cứu Nguồn, thời gian nghiờn cứu Vựng nước trồi Nam Trung Bộ

(mựa hố 1993) 60±45 14C và bỡnh

đen-trắng

Nguyễn Tỏc An [8]

Vựng rạn san hụ nam VN 36±25 14C Nguyễn Tỏc An [8]

Thềm lục địa nam VN (<200m) 46±16 14C và bỡnh

đen-trắng

Nguyễn Tỏc An [8]

Vựng biển khơi miền Trung 45 Mụ hỡnh toỏn Đoàn Bộ [9-11]

Vựng biển sõu giữa Biển Đụng

(xuõn-hố 1996) 3±3 Mụ hỡnh toỏn Đoàn Bộ [12]

Đầm phỏ Tam Giang-Cầu Hai (mựa

đụng 1995) 130 Mụ hỡnh toỏn Đoàn Bộ [11]

Trong đợt khảo sỏt thỏng 10, 11 năm 2003

do đề tài KC-09-17 thực hiện, NSSC thụ ở cỏc

tầng cỏc trạm dao động từ 131 đến 375

mgC/m3/ngày, trung bỡnh cho cả 3 trạm đạt 230

mgC/m3/ngày với xu thế giảm từ bắc vào nam

và cực đại khụng rơi vào lớp nước mặt trừ trạm

22 (hỡnh 1) [7] Đõy là những giỏ trị khỏ cao so

với cỏc nghiờn cứu trước đõy, song cũng là những giỏ trị đó từng gặp ở vựng biển ven bờ phớa tõy vịnh Bắc Bộ Hụ hấp của thực vật chiếm khoảng trờn dưới 50% lượng sản phẩm

do chớnh nú tạo ra, hiệu quả tự dưỡng đạt khoảng 1,8 đến 2,2, chuyển húa năng lượng tự nhiờn đạt khoảng 0,01-0,04

0 100 200 300 400

Trạm 8 (Khu vực HảI Phòng)

Trạm 22 (Khu vực Thanh Hoá)

Trạm 34 (Khu vực Quảng Bình)

mgC/m3/ngày

Tầng mặt Tầng giữa Tầng đáy

Hỡnh 1 Năng suất sinh học sơ cấp thụ (mgC/m3/ngày) tại cỏc trạm liờn tục đợt khảo sỏt thỏng 10, 11 năm 2003

Trong đợt khảo sỏt thỏng 8 năm 2004,

NSSC thụ ở cỏc tầng cỏc trạm dao động từ 78

đến 341 mgC/m3/ngày, trung bỡnh cho cả 3 trạm đạt 159 mgC/m3/ngày, tương đương với cỏc kết

Trang 4

quả nghiờn cứu hiện cú [7] Xu thế phõn bố

năng suất sơ cấp ở phớa bắc cao hơn phớa nam,

thấp nhất ở khu vực giữa miền khảo sỏt (hỡnh

2) Đặc điểm cực đại năng suất khụng rơi vào

lớp nước mặt được bảo toàn như ở đợt khảo sỏt

thỏng 11 năm 2003 Hụ hấp của thực vật cũng

chiếm khoảng trờn dưới 50% lượng sản phẩm

do chớnh nú tạo ra, hiệu quả tự dưỡng đạt khoảng 1,99 đến 2,38 (được coi là tương đương với đợt khảo sỏt trước), chuyển húa năng lượng

tự nhiờn đạt khoảng 0,006-0,012 (nhỏ hơn so với đợt trước do cường độ bức xạ tự nhiờn trong thỏng 8 dồi dào)

0 100 200 300

Trạm 8 (Khu vực Hải Phòng)

Trạm 19 (Khu vực Thanh Hoá)

Trạm 30 (Khu vực Quảng Bình

mgC/m3/ngày

Tầng mặt Tầng giữa Tầng đáy

Hỡnh 2 Năng suất sinh học sơ cấp thụ (mgC/m3/ngày) tại cỏc trạm liờn tục đợt khảo sỏt thỏng 8 năm 2004

Mặc dự cỏc tư liệu hiện cú về NSSC vịnh

Bắc Bộ chưa nhiều, song bước đầu cũng cú thể

đưa ra bức tranh phõn bố năng suất sinh học sơ

cấp trong vịnh như hỡnh 3, đồng thời rỳt ra được một số nhận xột cơ bản như sau:

Trang 5

105 106 107 108 109 110

17 18 19 20 21 22

17 18 19 20 21

22 Trung Quèc

Lµo

Hµ Néi Qu¶ng Ninh

Tp.H¶i Phßng

Th¸i B×nh Nam §Þnh

Thanh Hãa

NghÖ An

Hµ TÜnh

Qu¶ng Binh

Qu¶ng TrÞ Thõa Thiªn HuÕ

§¶o H¶i Nam

§.B¹ch Long VÜ

228 194 145

150 120

121 80

80

108

105

150

140

80

19 4

Hình 3 Sức sản xuất sơ cấp thô (mgC/m3 3/ngày) tại vịnh Bắc Bộ

Về giá trị và xu thế biến động của NSSC:

- So với các khu vực khác trong Biển Đông

[8,9,10,11,12], vùng biển phía tây vịnh Bắc Bộ

là thuỷ vực nhiệt đới ven bờ có sức sản xuất sơ

cấp cao, NSSC thô ở khu vực trung tâm và cửa

vịnh (nơi có độ sâu trên 50m) có giá trị trung

bình cỡ 100±20 mgC/m3/ngày, gần bờ và cửa

sông 150±50 mgC/m3/ngày, cá biệt có nơi, có

lúc đạt trên 300 mgC/m3/ngày

- So với các khu vực khác trong Biển Đông

[8,9,10,11,12], vùng biển phía tây vịnh Bắc Bộ

là thuỷ vực nhiệt đới ven bờ có sức sản xuất sơ

cấp cao, NSSC thô ở khu vực trung tâm và cửa

vịnh (nơi có độ sâu trên 50m) có giá trị trung

bình cỡ 100±20 mgC/m

- Từ 1959 đến nay, NSSC ở vịnh Bắc Bộ

không có biến động nhiều Theo giá trị trung

bình, NSSC lớn nhất và nhỏ nhất ở các khu vực

khác nhau chỉ hơn kém nhau độ 2-3 lần, các cực

trị đã gặp cũng chỉ hơn kém nhau khoảng 10

lần Cụ thể: cực tiểu NSSC thô là 40

mgC/m3/ngày tại cửa vịnh tháng 10-1959 (tính

toán của Nguyễn Tác An qua độ lệch biến trình ngày DO [1]) nhỏ hơn khoảng 10 lần so với cực đại 412 mgC/m3/ngày tại tây nam đảo Cô Tô tháng 8-2000 (tính toán của đề tài KĐL-CIS-01 theo phương pháp bình đen trắng [6]) Tuy nhiên sự biến động như trên còn qúa nhỏ so với những biến động NSSC tại các vùng biển ôn đới (trên 50 lần) [1]

- Từ 1959 đến nay, NSSC ở vịnh Bắc Bộ

không có biến động nhiều Theo giá trị trung

bình, NSSC lớn nhất và nhỏ nhất ở các khu vực

khác nhau chỉ hơn kém nhau độ 2-3 lần, các cực

trị đã gặp cũng chỉ hơn kém nhau khoảng 10

lần Cụ thể: cực tiểu NSSC thô là 40

mgC/m

Về phân bố của NSSC:

- Xu thế chung phân bố theo mặt rộng của NSSC ở vùng biển phía tây vịnh Bắc Bộ là giảm từ bờ ra khơi, từ bắc vào nam Khu vực tây bắc vịnh (Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình) có NSSC cao nhất (và cũng được nghiên cứu nhiều nhất), khu vực giữa và cửa vịnh có NSSC nhỏ hơn (hình 3) Theo độ

- Xu thế chung phân bố theo mặt rộng của NSSC ở vùng biển phía tây vịnh Bắc Bộ là giảm từ bờ ra khơi, từ bắc vào nam Khu vực tây bắc vịnh (Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình) có NSSC cao nhất (và cũng được nghiên cứu nhiều nhất), khu vực giữa và cửa vịnh có NSSC nhỏ hơn (hình 3) Theo độ

/ngày) tại vịnh Bắc Bộ

3/ngày, gần bờ và cửa sông 150±50 mgC/m3/ngày, cá biệt có nơi, có

lúc đạt trên 300 mgC/m3/ngày

3/ngày tại cửa vịnh tháng 10-1959 (tính

toán của Nguyễn Tác An qua độ lệch biến trình ngày DO [1]) nhỏ hơn khoảng 10 lần so với cực đại 412 mgC/m3/ngày tại tây nam đảo Cô Tô tháng 8-2000 (tính toán của đề tài KĐL-CIS-01 theo phương pháp bình đen trắng [6]) Tuy nhiên sự biến động như trên còn qúa nhỏ so với những biến động NSSC tại các vùng biển ôn đới (trên 50 lần) [1]

Trang 6

sâu, NSSC thường đạt cực đại trong lớp nước

10-20m

- NSSC trong mùa hè có giá trị lớn hơn

trong mùa đông tuy độ chênh lệch không nhiều

Về hiệu suất sinh thái của vùng biển:

Vịnh Bắc Bộ đặc trưng cho vùng biển nhiệt

đới ven bờ giàu dinh dưỡng Khả năng tự dưỡng

của vùng biển luôn lớn hơn 1 (thường đạt trên

dưới 2) chứng tỏ vật chất hữu cơ (năng lượng)

ban đầu được tạo ra không những đủ chi dùng cho

chính sinh vật sản xuất mà còn được tích lũy để

các sinh vật bậc cao sử dụng theo các kênh dinh

dưỡng của hệ sinh thái vùng biển

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Tác An, Sơ bộ nhận xét về năng suất

sinh học bậc 1 ở vịnh Bắc Bộ, Tuyển tập Nghiên

cứu biển, tập II, phần 1, Nha Trang, 2004

[2] Đoàn Bộ, Phùng Đăng Hiếu, Nghiên cứu năng

suất sinh học sơ cấp của thực vật nổi vùng biển

ven bờ tây vịnh Bắc Bộ, Tuyển tập Hội nghị

khoa học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,

Đại học Quốc gia Hà Nội lần thứ hai, Hà Nội

23-25 tháng 11 năm 2000, Chuyên ngành Khí

tượng-Thuỷ văn-Hải dương học, Sở Văn

hoá-Thông tin Hà Nội, 2001

[3] Đỗ Trọng Bình, Kết quả tính toán năng suất sinh

học sơ cấp và hiệu quả sinh thái của thực vật nổi

vào mùa khô (tháng 1-1997) tại vịnh Hạ Long,

Tài nguyên và Môi trường Biển, tập IV, NXB

Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1997

[4] Đoàn Bộ, Nguyễn Đức Cự, Nghiên cứu năng

suất sinh học sơ cấp của thực vật nổi trong hệ

sinh thái vùng triều cửa sông Hồng, Tài nguyên

và Môi trường biển, T.3, NXB Khoa học và Kỹ

thuật, Hà Nội, 1996

[5] Doan Bo, A model for nitrogen transformation

cycle in marine ecosystem, Proceedings

Extended Abstracts Volume, Theme 1, Session 3:

Biogeochemical Cycling and Its Impact on

International Scientific Symposium, 19-23 April

2004, Hangzhou, China, Published by Marine

and Atmospheric Laboratory, School of Environmental Earth Science, Hokkaido University, Japan, 2005

[6] Lê Đức Tố và ctv, Báo cáo tổng kết đề tài KĐL-CIS-01“Điều tra nghiên cứu hệ thống đảo ven

bờ vịnh Bắc Bộ phục vụ cho việc qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển”, Trung tâm Thông tin-Tư

liệu Quốc gia, Hà Nội, 2001

[7] Nguyễn Thế Tưởng và ctv, Báo cáo tổng kết đề tài KC-09-17 “Điều tra tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường vịnh Bắc Bộ”, Trung tâm Thông tin-Tư liệu Quốc

gia, Hà Nội, 2005

[8] Nguyễn Tác An, Năng suất sinh học sơ cấp và hiệu ứng sinh thái của dòng nước trồi ở vùng

biển Nam Trung Bộ, Các công trình nghiên cứu vùng nước trồi mạnh Nam Trung bộ, NXB Khoa

học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1997

[9] Đoàn Bộ, Mô hình toán học phân bố sinh vật nổi

và năng suất sinh học sơ cấp ở vùng nước trồi

thềm lục địa Nam Trung Bộ, Tạp chí Sinh học,

Tập 19, số 4 (1997) 35

[10] Đoàn Bộ, Mô hình sinh thái thuỷ động lực và

một số kết quả áp dụng tại biển Việt Nam, Tuyển tập Hội nghị khoa học công nghệ biển toàn quốc lần thứ 4, Tập 1: Khí tượng-Thuỷ văn, Động lực

biển Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, 1999

[11] Đoàn Bộ, Sử dụng mô hình toán trong nghiên cứu hệ sinh thái biển ở vùng biển Bình Thuận- Ninh Thuận và đầm phá Tam Giang-Cầu Hai,

Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội,

T XVII, No2 (2000) 7

[12] Doan Bo, Liana Mc Manus, et all, Primary productivity of phytoplankton in study sea area

of RP-VN JOMSRE-SCS 1996, Proceedings of Scientific Conference on the Philippines - Vietnam Joint Oceanographic and Marine Scientific Research expedition in the South China Sea 1996, Hanoi, 1997

Trang 7

Characteristics of distribution and change of primary

productivity in the sea area of the West tonkin bay

Doan Bo

Faculty of Hydro-Meteorology & Oceanography, College of Science, VNU

Overview of present study results on primary productivity in Tonkin Bay shows that:

1 The sea area of the west Tonkin Bay is coastal tropical waters with high primary productivity The mean value of rought primary productivity is about 100±20 mgC/m3/dayin the off-shore and open sea,150±50 mgC/m3/day and sometime over 300 mgC/m3/day in the river mouths and near-shore.The minimum value of primary productivity (40 mgC/m3/day in open sea in the Oct-1959) is about ten times less than its maximum (412 mgC/m3/day in south-west of Coto island in the Aug-2000)

2 The distribution trend of primary productivity in the sea area of west Tonkin Bay decreases from near-shore to off-shore and from north to south The primary productivity in summer is higher than that in winter, and its maximum occurs in the water layer 10-20m depth

Ngày đăng: 09/08/2014, 17:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Giá trị trung bình năng suất sinh học sơ cấp thô (mgC/m 3 /ngày) tại các khu vực trong vịnh Bắc Bộ (tổng - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đặc điểm phân bố và biến động năng suất sinh học sơ cấp ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ " ppsx
Bảng 1. Giá trị trung bình năng suất sinh học sơ cấp thô (mgC/m 3 /ngày) tại các khu vực trong vịnh Bắc Bộ (tổng (Trang 2)
Hình 1. Năng suất sinh học sơ cấp thô (mgC/m 3 /ngày) tại các trạm liên tục đợt khảo sát tháng 10, 11 năm 2003 - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đặc điểm phân bố và biến động năng suất sinh học sơ cấp ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ " ppsx
Hình 1. Năng suất sinh học sơ cấp thô (mgC/m 3 /ngày) tại các trạm liên tục đợt khảo sát tháng 10, 11 năm 2003 (Trang 3)
Hình 2. Năng suất sinh học sơ cấp thô (mgC/m3/ngày) tại các trạm liên tục đợt khảo sát tháng 8 năm 2004 - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đặc điểm phân bố và biến động năng suất sinh học sơ cấp ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ " ppsx
Hình 2. Năng suất sinh học sơ cấp thô (mgC/m3/ngày) tại các trạm liên tục đợt khảo sát tháng 8 năm 2004 (Trang 4)
Hình 3. Sức sản xuất sơ cấp thô (mgC/m 3 3 /ngày) tại vịnh Bắc Bộ. - Báo cáo nghiên cứu khoa học " Đặc điểm phân bố và biến động năng suất sinh học sơ cấp ở vùng biển phía Tây vịnh Bắc Bộ " ppsx
Hình 3. Sức sản xuất sơ cấp thô (mgC/m 3 3 /ngày) tại vịnh Bắc Bộ (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm