1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt

80 530 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hải Dương Học Biển Đông (Lê Đức Tố) - Chương 4 ppt
Trường học Trường Đại học Dân lập Hải Dương
Chuyên ngành Khoa học Môi trường, Hải Dương Học, Địa chất
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiềm năng tài nguyên khoáng lớn nhất biết được hiện nay của Biển Đông tập trung chủ yếu trong phạm vi các thềm lục địa bao quanh thuộc địa phận của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Campu

Trang 1

Chương 4

Tài nguyên thiên nhiên và môi trường

biển Việt Nam

4.1 Tài nguyên khoáng sản

4.1.1 Khái quát

Vùng biển được đặc trưng bởi cấu trúc địa chất phức tạp và sự đa dạng các kiến trúc kiến tạo Đặc trưng này đã khống chế quy luật sinh thành và tích luỹ các dạng tài nguyên khoáng sản, trước tiên là dầu khí Với kết quả tài nguyên khoáng sản theo từng khu vực tự nhiên của Biển

Đông là: trũng nước sâu, các khối quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thềm lục địa

Vùng trũng nước sâu (có độ sâu từ 3.000 - 4.300m nước) nằm giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa còn ít được nghiên cứu Dựa vào cấu trúc lớp phủ Kainozoi và bề dày trầm tích có thể dự đoán một khu vực có tiềm năng hyđrocarbon phân bố ở phần tây nam của vùng trũng (hình 26, 27) Các dạng tài nguyên khác chưa phát hiện được Theo tiền đề kiến trúc

có thể dự đoán về các biểu hiện của quặng mangan dạng kết hạch ở đáy trũng Tiềm năng khoáng sản của các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa bước đầu được đánh giá Các tài liệu hiện có cho thấy khả năng tích luỹ dầu khí đáng kể trong các bồn trũng Đệ tam của quần đảo Hoàng Sa Trữ lượng tiềm năng có thể đạt đến hàng tỉ thùng (Barels) dầu mỏ (1 tấn = 6,304 barels) Từ giữa thập kỉ 50 của thế kỉ này đã phát hiện phosphorit- guano (phân chim) làm nguyên liệu phân bón trên các đảo Hoàng Sa (Saurin, 1955) Kết quả khảo sát của Công ty Kỹ nghệ Phân bón Việt Nam (1973) cho thấy có sự phân bố khá rộng rãi tài nguyên này trên nhiều đảo, với trữ lượng tập trung đáng kể ở các đảo Hữu Nhật, Quang ánh, Hoàng

Sa, Quang Hoà Tây, Quang Hoà Đông, Phú Lâm, Linh Côn Dự tính tổng trữ lượng đạt được 6,6 triệu tấn, trong đó trên đảo Hữu Nhật có 1,4 triệu tấn, Đảo Quang ánh 1,2 triệu tấn và đảo Hoàng Sa 1 triệu tấn Một phần lớn trữ lượng kể trên đã bị khai thác từ khi Trung Quốc chiếm đóng trái phép quần đảo này (1974)

Trang 2

Trên quần đảo Trường Sa cũng đã bị phát hiện thấy dấu hiệu của dầu khí và phosphorit-guano Căn cứ vào cấu trúc và bề dày trầm tích của lớp phủ Kainozoi ở đấy, có thể dự đoán được một số kiến trúc có tiềm năng chứa dầu khí (hình 26, 27) Kết quả khoan thăm dò vùng Reed-Bank đã phát hiện được các biểu hiện chủ yếu là khí thiên nhiên trong các trầm tích đá vôi ám tiêu có khoảng tuổi Oligoxen - Đệ Tứ

Tiềm năng tài nguyên khoáng lớn nhất biết được hiện nay của Biển

Đông tập trung chủ yếu trong phạm vi các thềm lục địa bao quanh thuộc

địa phận của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Brurney và Philippin Nổi bật lên hàng đầu là trữ lượng lớn về dầu mỏ và khí đốt, tiếp đến là các loại sa khoáng ven biển và biển, ở nhiều nơi đạt trữ lượng lớn

4.1.2 Tài nguyên dầu mỏ và khí thiên nhiên

Bức tranh toàn cảnh về tiềm năng dầu khí của thềm lục địa Biển

Đông (kể cả eo biển Đài Loan, vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan và thềm Sunda)

được trình bày trên hình 26 (thành lập theo tài liệu của ESCAP, 1987)

Vùng vịnh Bắc Bộ có tiềm năng tập trung vào bể Sông Hồng, bể Yiangchai, và Tây Lôi Châu (hay Lôi Châu - Bạch Long Vĩ) Kết quả khoan khảo sát trên địa phận Trung Quốc đã phát hiện được biểu hiện dầu khí Mức tiềm năng được xếp vào loại cao về dầu mỏ, khí đốt đã được khai thác

Trên thềm lục địa Đông Nam Việt Nam từ lâu đã biết hai bể dầu khí Cửu Long và Nam Côn Sơn Những kết quả nghiên cứu thăm dò cho phép khẳng định tiềm năng lớn của hai bể này Trữ lượng công nghiệp đã đánh giá ở trũng Cửu Long (mỏ Bạch Hổ và Rồng) là đối tượng khai thác dầu

mỏ của nước ta trong nhiều năm trước mắt

Trên cơ sở tổng hợp tài liệu địa chất - địa vật lý, có thể hình dung việc phân định các khu vực của thềm lục địa Việt Nam thành 5 mức về tiềm năng dầu khí là : triển vọng cao, triển vọng (trung bình), triển vọng thấp, chưa rõ triển vọng và không triển vọng (Hồ Đắc Hoài, 1990)

Thuộc mức triển vọng cao là các đới nâng Rồng, Bạch Hổ, Cửu Long, Trần Tân và phần bao quanh (thuộc bồn trũng Cửu Long) và các đới nâng Dừa, Mãng Cầu (thuộc bồn trũng Nam Côn Sơn) Thuộc mức triển

Trang 3

vọng có thể kể đến miền võng Hà Nội, đơn nghiêng phân dị Huế (cánh tây nam của bồn trũng Sông Hồng), phần đông bắc lô 16, 17 với các cấu tạo nổi tiếng là Tam Đảo, Bà Đen (bồn trũng Cửu Long) và các trũng phía bắc của cấu tạo Dừa và Mãng Cầu (bồn trũng Nam Côn Sơn) và đới Hoàng Sa Xếp vào mức triển vọng thấp và phía tây của bồn trũng Cửu Long và đơn nghiêng phân dị phía tây của bồn trũng Nam Côn Sơn

Các cấu tạo như đơn nghiêng Thanh Nghệ, lõm sụt Quảng Ngãi, Trũng trung tâm của bể Sông Hồng, các đới nâng Bạch Long Vĩ, Tây Bắc Hoàng Sa, Phan Rang và Phú Quốc được xếp vào mức chưa rõ triển vọng

Xếp vào mức không triển vọng là các diện tích còn lại của thềm lục

địa

Cần nhận xét rằng do mức độ nghiên cứu chưa đồng đều và nhiều vấn đề còn chưa được nhận thức đầy đủ nên việc phân chia trên chỉ là bước đầu

Trên phạm vi thềm lục địa Nam Trung Quốc có phân bố các bể chứa dầu khí như : cửa sông Châu Giang, vịnh Quảng Châu và Đông Nam Hải Nam, tất cả đều được dự đoán có tiềm năng thuộc mức cao về dầu mỏ Một

số lỗ khoan đã phát hiện được lưu lượng dầu công nghiệp

Trên địa phận vịnh Thái Lan phân bố hai bể dầu khí lớn là Pattani

và Malay với rất nhiều mỏ lớn và hai mỏ cực lớn về dầu và khí đã phát hiện

và đang khai thác Bể Pattani thuộc về Thái Lan, bao quanh nó còn có các

bể vệ tinh như Chuaphan, West Kra, Panjang Tổng trữ lượng khí thiên nhiên của khu vực này đạt đến 8,8 nghìn tỉ feet khối (số liệu 2/1995) Các

mỏ nổi tiếng nhất của bề này là Satun 56 tỉ feet khối (số liệu 2/1995, "B" (44 tỉ m 3 khí) và Evaran (18 tỉ m 3 khí)

Bể Malay nằm về phía đông nam của bể Pattani và có các bể vệ tinh

là Peniu ở phía nam và Tây Natuna ở phía đông Trên phạm vi của bể đã phát hiện 10 mỏ dầu, 11 mỏ dầu khí và 9 mỏ khí Các tầng sản phẩm nằm ở

độ sâu 1-2,2 km trong các đá tuổi Mioxen Đã phát hiện được hàng chục

mỏ khí đốt trong đó có hai mỏ lớn với trữ lượng hơn 100 tỉ m 3 mỗi mỏ và 12

mỏ vừa với trữ lượng 10 - 100 tỉ m 3 Các mỏ tập trung về phía đông nam của bể, nơi phát hiện được 4 mỏ dầu với trữ lượng từ vài chục đến 100 triệu tấn dầu vào 10 mỏ vừa với trữ lượng mỗi mỏ dưới 10 triệu tấn dầu

Trang 4

Tiềm năng lớn về dầu khí tàng trữ trong lòng đất của thềm lục địa Calimantan (Borneo) và tập trung trong lưu vực hai bể trầm tích lớn là Sarawak và Bruney- Sabah Bề Sarawak có tiềm năng lớn về khí thiên nhiên ở đây đã phát hiện được 22 mỏ khí, trong đó có 8 mỏ có trữ lượng

từ 10 đến 100 tỉ m 3 và mỏ dầu khí quy mô nhỏ (trữ lượng từ 1-10 triệu tấn) Phần lớn diện tích của bể tiếp tục kéo dài về phía bắc ra ngoài phạm vi thềm lục địa giáp với sườn phía nam của quần đảo Trường Sa Bề dày trầm tích ở bể này đạt trên 9.000m Tiềm năng dầu khí chưa được đánh giá

Toàn bộ trữ lượng dầu khí của Bruney Daesalam và phần lớn của Sabah (Malaysia) tập trung trong bể Bruney Sabah (hay North West Sabah) ở đây đã phát hiện được hơn 30 mỏ, trong đó có mỏ Seria có trữ lượng lớn (140 triệu tấn) và 4 mỏ khác có trữ lượng từ 10 - 100 triệu tấn Những nghiên cứu địa vật lý gần đây cho thấy khả năng phát hiện các trữ lượng đáng kể ở phần phía bắc của bể này là hoàn toàn hiện thực, nhất là trong các thành tạo kiểu đá vôi ám tiêu Điều này cho phép suy luận rộng

ra cho phần phía nam của vùng biển quần đảo Trường Sa kế cận

Một trong những nơi tập trung dầu khí của Philippin phát hiện được

ở vùng thềm lục địa Đông Bắc Palawan và phần phía tây của bể trung tâm Luzon phân bố ở thềm lục địa hẹp phía tây đảo Luzon Trong phạm vi bể

Đông Bắc Palawan, dầu khí tập trung trong các tầng đá vôi ám tiêu

Những tài liệu trình bày trên đây là cơ sở cho nhận định khá thống nhất của nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế về tiềm năng dầu khí lớn của lưu vực Biển Đông

4.13 Khoáng sản sa khoáng ven biển Việt Nam

Sa khoáng ven biển Việt Nam đã được chú ý đến từ những năm 60 của thế kỷ này Các báo cáo đáng lưu ý : "Inmenit Bình Ngọc" (Lê Văn Bảy, 1962), "Kết quả công tác xạ hàng không ven bờ vịnh Bắc Bộ" (Grôsdy và nnk, 1963), "Báo cáo tìm kiếm cát trắng Văn Hải" (Nguyễn

Đình Thiên, 1977), "Báo cáo thăm dò tỉ mỉ cát trắng Cam Ranh"(Nguyễn

Đình Thiên, 1982) Đặc biệt gần đây có các báo cáo mang tính tổng hợp hệ thống cao hơn như "Đặc điểm địa chất và triển vọng khoáng sản titan sa khoáng ven biển Việt Nam" (Nguyễn Kim Hoàn và nnk, 1981) "Báo cáo tìm kiếm cát trắng ven biển Hòn Gốm - Vũng Tàu tỷ lệ1 : 200.000"

Trang 5

(Nguyễn Viết Thắm, 1984), "Địa chất và khoáng sản rắn ven biển Việt Nam" (Nguyễn Viết Thắm, 1984), "Địa chất và khoáng sản rắn ven biển Việt Nam" (Nguyễn Biểu, Nguyễn Kim Hoàn, 1985), và một số báo cáo tìm kiếm tỉ mỉ, thăm dò các mỏ sa khoáng titan-zircon-đất hiếm ven biển thuộc loại lớn như mỏ Cát Khánh (Degi) - tỉnh Nghĩa Bình, mỏ Hàm Tân - tỉnh Bình Thuận, mỏ Kr Song - tỉnh Thừa Thiên - Huế

Trước ngày giải phóng miền Nam, khoáng vật nặng trong cát ven biển ở phía nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào) đã được khảo sát sơ bộ bởi các nhà

địa chất Việt Nam và Australia Đã có một số bài báo đăng trong "Địa chất khảo lục miền Nam Việt Nam" của Noaks, Nguyễn Tấn Thi và nnk (1970- 1974) về cát nặng, cát đen ở một số điểm quặng mỏ cụ thể như : Huế, Vĩnh Nữ, Bình Thuận Các tài liệu này chỉ mô tả một cách sơ lược thành phần khoáng vật có ích, tính trữ lượng dự báo của quặng trên cơ sở một số lỗ khoan đơn lẻ, nên chúng chỉ được coi là những mô tả cho các điểm quặng

sa khoáng, chưa có các mô tả địa chất cần thiết và việc khoanh định thân quặng theo chỉ tiêu công nghiệp quy định đối với khảo sát, đánh giá mỏ

Các kết quả nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò cho thấy trong cát ven biển Việt Nam có chứa nhiều khoáng sản có ích dưới dạng sa khoáng Quặng sa khoáng có giá trị nhất ở ven biển Việt Nam là : quặng titan (inmenit, rutin leucoxen, quataz ), quặng zirconi (zircon), cát thuỷ tinh (thạch anh), thứ yếu là : quặng đất hiếm phóng xạ (monoazit, xenotin, zirtholit, uraninit ), quặng thiếc (caxitêrit) và vàng tự sinh Ngoài ra còn một số loại khoáng sản khác có thể khai thác, sử dụng kèm khi khai thác các loại khoáng sản trên như grơnat, disten, epidot

Quặng titan - zirconi - đất hiếm

Các loại quặng này luôn đi cùng nhau Nhân dân thường gọi là "cát

đen" do màu đen của khoáng vật inmenit chiếm chủ yếu Chúng phân bố suốt dọc ven biển Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên Nhưng các mỏ có giá trị công nghiệp lớn, trung bình tập trung trong đoạn ven biển Trung

Bộ : từ Sầm Sơn đến Vũng Tàu (hình 28)

Dựa theo chỉ tiêu phân loại mỏ titan công nghiệp của I.I.Maluxev, có thể phân chia các mỏ inmenit - zirconi - đất hiếm ven biển Việt Nam ra các

cỡ mỏ như sau :

Trang 6

 2 vùng mỏ và mỏ cỡ lớn (trữ lượng 500 ngàn tấn titan) là vùng mỏ Cát Khánh (bao gồm Cát Khánh, Mỹ Tho), mỏ Hàm Tân

 7 vùng mỏ và mỏ cỡ trung bình (trữ lượng = 50 -:- 500 ngàn tấn titan)

là: vùng mỏ Thuận An (bao gồm Quảng Ngạn, Kẻ Song, Vĩnh Nữ), mỏ

Kỳ Anh, Mũi Né, Hòn Gốm, Cẩm Hoà, Kỳ Ninh và mỏ Chùng Găng

Hình 26 Sơ đồ tiềm năng dầu khí lưu vực Biển Đông

(Theo tài liệu của ESCAPE, 1987)

Trang 7

7- Chưa rõ tiềm năng

 6 mỏ cơ nhỏ (trữ lượng = 25 -:- 50 ngàn tấn titan) là Nam Hàm Tân,

Cẩm Nhượng, Đồng Xuân, Cửa Hội, Quảng Xương, Long Hải Nhiều

điểm quặng (trữ lượng < 25 ngàn tấn titan) có ý nghĩa công nghiệp địa phương Trong đó nên lưu ý đến 3 điểm: Thiện ái, Bình Ngọc, Vĩnh Thái (có trữ lượng từ 10-22 ngàn tấn titan) Tổng trữ lượng quạng titan - zirconi - đất hiếm sa khoáng ven biển Việt Nam đã tính được là (tính theo khoáng vật)

- Quặng titan : 8.421.126 tấn

- Quặng zirconi : 846.451 tấn

- Quặng đất hiếm : 36.873 tấn

Đây là trữ lượng tính đến 1985 Từ đó đến nay, một số mỏ đã được khảo sát chi tiết hơn (tìm kiếm tỉ mỉ hoặc thăm dò) như mỏ Hàm Tân, Kẻ Song Kết quả khảo sát chi tiết đều cho số lượng trữ lượng lớn hơn trước Vì khi khảo sát chi tiết thường khống chế được chiều dày thân quặng tốt hơn khi khảo sát sơ bộ, nên trữ lượng titan - zirconi - đất hiếm sa khoáng ven biển thực tế chắc chắn sẽ lớn hơn số lượng nêu trên khoảng vài triệu tấn đối với quặng titan, vài trăm ngàn tấn đối với quặng zirconi và vài chục ngàn tấn đối với quặng đất hiếm Đa số các thân quặng này đều nằm lộ thiên, số rất ít nằm chôn vùi trong cát ven biển (một số thân quặng ở Mũi

Né, Hàm Tân .) Chiều dày trung bình của thân quặng dao động trong khoảng 1m - 1,8m, số ít 0,6 - 0.8m, đặc biệt có thể đạt tới 6-8 m (ở mỏ Kẻ Sung, Cát Khánh ) Hầu hết các thân quặng đều nằm trong trầm tích bãi biển hiện đại và trầm tích biển - gió (dãy đụn cát ven biển) Tuổi của sa khoáng chủ yếu là Holoxen giữa (Q3

IV ) ít hơn Holoxen giữa - muộn (Q2 3

IV )

và Holoxen (Q2 3

IV ).Trong trầm tích Pleistoxen giữa muộn (cát đỏ Phan Thiết) cũng có chứa các thân quặng có hàm lượng thấp Hàm lượng của mỗi loại quặng thay đổi ở từng mỏ riêng biệt Căn cứ vào hàm lượng của quặng titan và quặng zirconi, phân chia ra hai nhóm mở

Trang 8

 Nhóm mỏ sa khoáng titan : bao gồm các mỏ chỉ có hàm lượng

quặng titan đạt giá trị công nghiệp

 Nhóm mỏ sa khoáng titan - zirconi : bao gồm các mỏ có hàm

lượng của cả hai loại quặng titan và zirconi đạt giá trị công nghiệp (bảng 4.1) Quặng đất hiếm không đạt hàm lượng công nghiệp ở bất cứ mỏ nào, nên chưa được coi là quặng đi kèm Dựa vào kết quả khảo sát thực địa và phân tích trong phòng nhận hấy tuy có sự thay đổi về số lượng, chất lượng của các loại quặng trong từng mỏ cụ thể, nhưng nhìn chung các khoáng vật quặng titan, zirconi và đất hiếm luôn đi cùng nhau trong sa khoáng ven biển Việt Nam, tạo nên các mỏ thuộc loại hình sa khoáng tổng hợp inmenit-rutin-zirconi-monozit ven biển, có tuổi chủ yếu là Holoxen muộn (Q3

IV ) Đây là loại hình mỏ sa khoáng ven biển rất phổ biến trên thế giới, như : Australia, Mỹ ấn Độ, Liên Xô cũ chiếm đa số tổng trữ lượng quặng titan-zirconi đang được khai thác, sử dụng

Trang 9

H×nh 27 C¸c bÓ trÇm tÝch §Ö Tam

Trang 11

Hình 28 Sơ đồ phân bố khoáng sản sa khoáng ven biển Việt Nam

Trang 12

(Theo Nguyễn Kim Hoàn và nnk, 1991)

Sau đây là một số nét đặc trưng của các loại quặng nêu trên :

Quặng titan: quặng titan sa khoáng ven biển Việt

Nam có thành phần chủ yếu là inmenit, thứ yếu là Leucoxen, rutin, anataz và brukít Inmenit chiếm đa số tuyết đối trong tất cả các mỏ Leucoxen, rutin va anataz

có mặt trong hầu hết các mỏ, nhưng hàm lượng thấp; Leucoxen có hàm lượng đáng kể 40 kg/m 3 , rutin có hàm lượng cao nhất tới 4-5 kg/m 3 còn lại chỉ trong khoảng 1-3 kg/m 3 ; anataz chỉ tính được bằng kg/m 3 , hoặc chỉ có ít hạt trong mẫu Hàm lượng trung bình quặng titan trong tất cả các mỏ đều đạt loại giàu đến rất giàu trong khoảng 50-

100 kg/m 3 , trừ mỏ Kẻ Sung là loại trung bình Kích thước độ hạt của khoáng vật quặng titan đa số trong khoàng 0,10-0,30 mm, số ít : 0,.30 - 0,45 mm hoặc 0,05 - 0,10 mm Chất lượng quặng titan thuộc loại tốt, chất có hại (Ca 2 0 3 )

thấp

Trong những năm gần đây, quặng titan ven biển Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu công nghệ của nhiều ngành công nghiệp trong nước như: sản xuất que hàn điện, chế tạo TiO 2 nhân tạo, luyện ferotitan Bước

đầu đã xuất khẩu, nhưng số lượng còn ít

Quặng zircont: quặng Zirconi có mặt trong sa

khoáng ven biển ở dạng khoáng vật zircon Nói chung zircon có hàm lượng khá cao trong sa khoáng ven biển Việt Nam ở bất cứ nơi nào zircon đều có thể khai thác cùng với quặng titan Cần lưu ý rằng ở nhiều mỏ, chỉ tính

Trang 13

riêng zircon cũng đạt hàm lượng công nghiệp Hàm lượng zircon trung bình trong các mỏ là 3 -:- 19,5 kg/m 3 Các mỏ

có hàm lượng zircon cao là Kỳ Khang, Kỳ Ninh, Quảng Ngãi, Hàm Tân (12 -:- 26 kg/m 3 ) Kích thước độ hạt của zircon thường nhỏ hơn khoáng vật titan, ở đa số các mỏ biến đổi trong khoảng 0,10 - 0,20mm, số ít bằng 0,05 -:- 0,10 mm và 0,20 - :- 30mm Tính quặng zicon ven biển Việt Nam hiện nay đã

được sử dụng trong một số công nghiệp đồ sứ, gạch men

đạt chất lượng tốt

Quặng đất hiếm: quặng đất hiếm phóng xạ (Ce,La, Th, Y, U ) được

biểu hiện ở dạng các khoáng vật : monazit, xenotim, zirtholit, uraninit Monazit vào xenotim có độ phổ biến cao, có mặt ở hầu hết các mỏ, nhưng hàm lượng thấp, thường trong khoảng 1Kg/m 3 Zirtholit gặp ở nhiều mỏ, còn

Bảng 4 1 : Trữ lượng và chất lượng cát thuỷ tinh ven biển Việt Nam

Cỡ mỏ Số thứ

tự

(ngàn tấn)

Chất lượng

Thuỷ tinh dân dụng

5 Phan Ri Thanh 28.515 Thuỷ tinh dân dụng

Lớn

Trang 14

8 Dinh Thày 20.708 Thuỷ tinh dân dụng

đá khác nhau (macma axit, trung tính, bazơ, biến chất, trầm tích ), từ trong lục địa đưa ra ven biển, sau đó chịu

Trang 15

tác động của động lực biển và gió, tái trầm tích, nâng cao hàm lượng, tập trung tạo nên các mỏ sa khóang titan -

zirconi-đất hiếm ven biển hiện tại

Cát thuỷ tinh: cát thuỷ tinh là một trong những sa

khoáng chủ yếu của ven biển Việt Nam Chúng phân bố rải rác dọc bờ biển từ bắc đến nam, có mỏ ở ngoài đảo như Vân Hải (tỉnh Quảng Ninh) Hầu hết các mỏ cỡ lớn tập trung trong đoạn ven biển Nam Trung Bộ từ Cam Ranh đến

Bình Châu (hình 28)

Đến nay đã có 17 mỏ cát thuỷ tinh ven biển được tìm kiếm, thăm dò Tổng trữ lượng là : 583.935 ngàn tấn (Bảng 4.1) Ngoài ra còn một số mỏ như Chu Lai, Tam Quan, Sa Huỳnh , ) có triển vọng tốt, nhưng chưa được đánh giá

ở đa số các mỏ ven biển, cát thuỷ tinh có chất lượng làm thuỷ tinh dân dụng Chỉ riêng ở mỏ Cam Ranh, Vân Hải cát có chất lượng cao (đủ tiêu chuẩn cát pha lê, cát dụng cụ quang học )

Quặng thiếc: theo tài liệu của Liên đoàn Bản đồ (1978) và Liên đoàn

Địa chất 6 (1983), thiếc sa khoáng ven biển được biểu hiện ở hai vành phân tán caxiterit Du Long - Ma Ti (Thuận Hải) và Bắc Tuy Hoà (Phú Yên) Hàm lượng caxiterit ở Du Long, Ma Ti biến đổi từ vài chục đến gần

200 g/m 3 ở Bắc Tuy Hòa trong khoảng vài g/m 3 đến vài chục g/m 3 Caxiterit trong trầm tích lòng sông suối và thềm bậc I nhưng không tạo thành sa khoáng có giá trị công nghiệp cao Caxiterit ở đây thường đi kèm với khoáng vật nặng zircon, rutin, leucoxen, zirtholit, vonframit, monazit Gần sa khoáng Du Long - MaTi, đã phát hiện được thiếc gốc có liên quan với granít Du Long - MaTi (phức hệ ancroet) và các thể pecmatit hạt trung

đến thô Trong đới đập vỡ gặp các mạch thach anh chứa caxiterit và vonframit (Nguyễn Văn Mài, 1985) Có lẽ thiếc ở đây thuộc thành hệ caxiterit-pecmatit và caxiterit - vonframit - thạch anh nhiệt dịch nhiệt độ cao Ngoài ra còn gặp caxiterit trong một số mẫu ở sa khoáng titan-zircon

Trang 16

ven biển Sầm Sơn, Cà Ná , mỗi mẫu có vài hạt caxiterit Theo tài liệu của Viện Hải Dương học (Nha Trang) đã gặp caxiterit trong một số mẫu cát ở trầm tích đáy biển nông vùng Thuận Hải, Phú Yên Tóm lại, cho đến nay với các tài liệu điều tra, tìm kiếm, thăm dò cho phép khẳng định rằng trong dải cát ven biển Việt Nam chứa nhiều khoáng vật quặng có giá trị công nghiệp ở dạng sa khoáng Đặc biệt trong các năm 1992-1994 vừa qua Cục

Địa chất Việt Nam đã tiến hành đề án nghiên cứu sa khoáng tại dải ven bờ (đến độ sâu 30m nước) Kết quả đã phát hiện nhiều thể sa khoáng có triển vọng về inmenit, zirconi, rutin, monazit, thiếc, vàng tại ven bờ các tỉnh Trung Bộ

Để tiếp tục điều tra nghiên cứu tiềm năng sa khoáng ven biển, cần lưu ý một số điểm sau đây :

1 Trữ lượng quặng titan-zirconi-đất hiếm nêu ở đây chỉ là con số tính riêng cho phần cát ven biển đang được lộ ra, chưa kể đến phần cát ven biển đã bị phủ bởi lớp thổ nhưỡng (ruộng lúa, khoai mẫu ) Trữ lượng chắc sẽ được tăng lên khi thăm dò kỹ hơn (vì chiều dài thân quặng sẽ

được khống chế đầy đủ hơn)

2 Cần có đề án điều tra đánh giá khoáng vật nặng ở đáy vùng biển nông

đoạn bờ biển

4.2 Tài nguyên sinh vật

Phù hợp với tính chất sinh vật biển nhiệt đới, tài nguyên sinh vật biển Việt Nam rất đa dạng về thành phần với những đăc sản biển nhiệt đới Thực vật có các nguồn lợi rong biển, ngập mặn vùng triều cửa sông Về

động vật, ngoài cá biển còn có các loài đặc sản bao gồm các loài trai, sò, mực, tôm, hải sâm , các loài rùa biển, chim biển Bên cạnh nguồn lợi hải sản khai thác, các thuỷ vực nước lợ - mặn ven biển với điều kiện sinh thái thuận lợi cho việc nuôi trồng hải sản, hàng năm có thể cho hàng chục nghìn tấn sản phẩm

4.2.1 Nguồn lợi rong biển

Trong tổng số 639 loài rong biển đã thống kê được hiện nay trong vùng biển nước ta, có khoảng 90 loài (14%) có giá trị kinh tế, trong đó ngành rong đỏ có tới 51 loài, tiếp đến là rong nâu 27 loài Về giá trị sử

Trang 17

dụng, có thể chia thành các nhóm khác nhau

 Rong làm nguyên liệu công nghiệp có khoảng 24 loại, dùng chế biến

sản phẩm công nghiệp như: agar, alginat, carageenan, iốt v.v

 Rong làm dược liệu đã được phát hiện khoảng 18 loài có thể dùng làm

thuốc chữa các bệnh giun sán, điều tiết sinh sản, huyết áp, bướu cổ

 Rong thực phẩm có khoảng 30 loài, thuộc rong đỏ, rong lục

 Rong làm thức ăn gia súc có khoảng 10 loài, chủ yếu là rong nâu và

có trữ lượng rong mơ rất lớn là 12.200 tấn, còn ở miền Nam khu vực từ Đà Nẵng tới Thuận Hải có trữ lượng rong mơ lớn hơn cả là 20.000 tấn

Rong câu là nguyên liệu để chế biến agar, sản phẩm có hơn 50 công dụng khác nhau trong y học, Công ty thực phẩm và nhiều ngành công nghiệp khác ở vùng biển Việt Nam đã tìm thấy khoảng 19 loài Các loài có giá trị khai thác cao là các loài sống trong vùng nước lợ ven biển, trong các

đầm phá và đồng muối Trữ lượng rong câu trong vùng biển nước ta khoảng 7.000 - 9.700 tấn tươi, trong đó rong câu chỉ vàng (G verrucosa)

khoảng 80%, các loài khác có rong câu thừng ( G chorda), rong câu cong

( G arcuata), rong câu thắt (G blodgettii), khoảng 20% Khu vực Quảng

Ninh - Hải Phòng, riêng rong câu chỉ vàng trong đầm nước lợ (2.100 ha) hàng năm cho sản lượng khoảng 3.000 tấn Khu vực Bình Trị Thiên theo

số liệu trước đây hàng năm có thể khai thác 5.000 tấn

Ngoài rong mơ, rong câu, ở nước ta còn sử dụng các loại rong khác như rong cải biển ( Ulva), rong mứt (Porphyra), rong đông (Hypnea), rong

Trang 18

giakasyn ( Monortoma), rong cọc (Gigartina), rong thun thút (Catenella)

làm thực phẩm hữu cơ như rong bún, rong câu thường, rong câu giấy

Một số loài rong biển làm thực phẩm hoặc dược liệu quí như rong

đại bò ( Codium repens), rong guột chùm (Caulerpa racemosa), rong đá

cong ( Gelidiella cerosa), rong chùm đẹp (Grateloupia livida), rong câu tấn

( Gracilaria edulis) rong câu chân vịt (G eucheumoides), rong thun thút

( Catenella nipae), rong đông sao (Hypnea cornuta), hiện nay đang bị khai

thác mạnh mẽ, có nguy cơ giảm sản lượng, cần có biện pháp bảo vệ

4.2.2 Nguồn lợi cá biển

Trong số 1.700 loài cá đã biết ở biển ven bờ Việt Nam có khoảng 210 loài có giá trị kinh tế, có sản lượng đánh bắt cao nhất (chưa kể đến cá vùng nước sâu còn chưa biết được đầy đủ) Trong số này chỉ có khoảng 20 loài

có giá trị kinh tế cao (chiếm trên 1% tổng sản lượng) Nếu tính riêng từng vùng biển thì chỉ có rất ít loài có sản lượng đạt tới hoặc vượt 20% tổng sản lượng cả vùng Trong mỗi mẻ lưới kéo thường đánh được 30-40 loài cá, trong tổng sản lượng không có loài nào chiếm ưu thế tuyệt đối

Các khu vực biển khác nhau có các nhóm loài có tỉ lệ sản lượng cao khác nhau : ở vịnh Bắc Bộ các loài trong họ cá trích (Clupeidae) chiếm số lượng chủ yếu của nhóm cá nổi gần bờ Trong lưới kéo đáy có cá miễn sành (Sparidae) chiếm tới 20,87%, cá nục (Carangidae) 19,79%, cá hồng (Lutianidae) 9% Vùng biển Trung Bộ, thành phần chính của cá kinh tế ở

đây là các loài cá nổi đại dương và gần bờ như cá ngừ chù (auxis thasari),

cá thu vạch ( Cyubium comémoni), cá chuồn (exocoetidae), cá mục đỏ

( Decapterus kuroides), cá cơm Theo kết quả lưới kéo đáy của tàu Liên Xô

(1979-1984) thì các loài trong họ cá mú ( Seranidae) có sản lượng lớn

Vùng biển Đông Nam Bộ có các loài trong họ cá mối ( Synodidae) và cá

nục ( Carangidae) chiếm tới 30-34% Vùng biển Tây Nam Bộ, cá liệt

(leiognathidae) chiếm tỉ lệ cao nhất (trên dưới 30%), họ cá nục ( Casangidae) chiếm tới 18,7%, trong đó cá chỉ vàng (Selaroides leptolepis)

tới 10,6%, cà hồng 7.4% ; cá hồ ( Trichiuridae), cá thu ngừ (Scombridae)

sản lượng có khi đạt tới 20-30% tổng sản lượng

Dựa trên các kết quả điều tra thăm dò, cũng như qua thực tế khai

Trang 19

thác đã có thể xác định trong phạm vi vùng ven biển nước ta (từ kinh độ

110 0 đông, vĩ độ 6 0 Bắc, về phía bờ Việt Nam ) có 12 bãi cá quan trọng ở vùng ven bờ và 3 bãi cá trên các gò nổi vùng khơ (hình 29)

Các bãi cá chính có diện tích rộng, tương đối ổn định đều phân bố ở vùng biển nông ven bời thuộc vịnh Bắc Bộ, biển Đông Nam Bộ và Tây Nam

Bộ Các bãi gò nổi vùng khơi mới được phát hiện trong thời gian gần đây

Đã xác định được toạ độ, diện tích, độ sâu, năng suất bình quân, trữ lượng

và khả năng khai thác 20 nghìn tấn cá là : bãi cá Bạch Long Vĩ, bãi cá giữa vịnh Bắc Bộ, Hòn Gió, Thuận An, Nam cù lao Thu Các bãi cá khác chỉ đạt 5-10 nghìn tấn cá/năm Các bãi gò nổi vùng khơi chỉ 2-3 nghìn tấn/năm Các bãi cá ở vùng biển phía nam (Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ) và các bãi cá ở vùng nước xa bờ sâu trên dưới 50m thường có năng suất ổn định,

có khả năng đánh bắt quanh năm, trong khi đó các bãi cá vùng nước nông ven bờ (độ sâu trên dưới 20 m) vùng biển miền Bắc và miền Trung thường chỉ có sản lượng đánh bắt cao vào vụ hè thu

Dựa vào các kết quả điều tra phân bố sản lượng đánh bắt hiện có đã

có thể xây dựng bản độ phân bố theo mùa trên toàn vùng biển cho 12 loài cá kinh tế quan trọng như cá nục, cá hồng, cá mối, cá lượng, cá bạc má, cá chim, cá chỉ vàng làm cơ sở cho việc dự báo đánh bắt

Sự biến động phân bố theo mùa các đàn cá trong vùng biển nước ta phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ gió mùa ở vịnh Bắc Bộ, mùa gió đông bắc các đàn cá nổi và cá đáy di chuyển xuống các vùng nước sâu trên 50m Các

đàn cá nổi đại dương cũng ra xa bờ Sản lượng đánh bắt ở khu vực ven bờ giảm hẳn xuống Mùa gió tây nam, các đàn cá nổi ven bờ, cá nổi di cư đại dương lại di chuyển vào vùng nước nông ven bờ, cửa sông, ven các đảo gần

bờ để đẻ Sản lượng đánh bắt ở khu vực gần bờ tăng cao

Hiện tượng di chuyển thẳng đứng ngày đêm của các đàn cá cũng đã

được khẳng định dựa vào sai khác thành phần sản lượng cá theo ngày đêm, cũng như các tư liệu thu được nhờ máy dò thuỷ âm Hiện tượng này đã tạo nên chệnh lệch sản lượng của lưới kéo đáy ban ngày cao hơn ban đêm từ 12-24%, ở vịnh Bắc Bộ và từ 20-50% ở Đông Nam Bộ Việc làm sáng tỏ các quy luật di chuyển của các đàn cá trên đây trong vùng biển nước ta có ý nghĩa quan trọng đối với việc cải tiến kỹ thuật, xác định mùa vụ khai thác

Trang 20

để nâng cao hiệu quả đánh bắt

Hình 29 Sơ đồ phân bố các bãi cá khai thác chủ yếu trên Biển Đông Việt Nam

Trang 21

Trong Chương trình Biển 48B (1986-1990) đã sử dụng các số liệu

đánh bắt khảo sát trên toàn vùng biển từ 1984-1988 và tổng hợp tư liệu điều tra trong 12 năm từ 1977-1988 để có được độ chính xác cao hơn Trong phương pháp tính trữ lượng cá nổi bằng kỹ thuật thuỷ âm đã có kết quả thực nghiệm tính hệ số phản hồi âm đối với một số loài cá trong điều kiện biển nước ta để có hệ số thích hợp Trong phương pháp tính trữ lượng cá

đáy theo diện tích, đã có những bổ sung cơ bản về tần số đánh bắt và hệ số

đánh bắt, dựa trên số liệu khai thác thực tế vùng biển nước ta Ngoài ra, còn áp dụng phương pháp quy đổi các tàu đánh bắt khác nhau ra đơn vị tàu chuẩn, nhờ vậy đã sử dụng được nhiều nguồn tư liệu khác nhau và do

đó đảm bảo độ tin cậy cao hơn Nhờ vậy đã xác định được tổng trữ lượng cá biển Việt Nam là 2.770.000 tấn (lấy số tròn), trong đó cá đáy (chưa tính vùng biển sâu) là 1.030.000 tấn và cá nổi là 1.730.000m tấn Ngoài ra, còn

có nguồn lợi cá vùng gò nổi ngoài khơi Đà Nẵng, Qui Nhơn, Phan Thiết, Côn Sơn ở độ sâu 200-300 m trữ lượng ước tính 10.000 tấn, bao gồm chủ yếu cá thu hồ và cá đỏ môi (hình 30)

Tính toán phân bố trữ lượng cá biển theo các vùng biển cho thấy trữ lượng lớn nhất tập trung ở vùng biển Đông nam Bộ, chiếm tới 44% tổng trữ lượng 1.222.300 tấn) ; các vùng biển khác (Vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Tây nam Bộ) chỉ chiếm từ 16-20 % tổng trữ lượng Sự phân bố trữ lượng cá đáy cũng có hình ảnh tương tự, với vùng biển đông Nam Bộ chiếm tới 68% tổng trữ lượng cá đáy, biển miền Trung và vịnh Bắc Bộ chỉ 6-7% Sự phân bố trữ lượng cá nổi có khác : tuy vùng biển Đông Nam Bộ có trữ lượng cá nổi, song các vùng biển khác, đặc biệt là biển miền Trung, có trữ lượng cá nổi không quá ít, chiếm khoảng 18-28% tổng trữ lượng cá nổi (300.000 - 500.000 tấn)

Khả năng khai thác cá biển hợp lý, tương ứng với cách tính toán phù hợp với đặc điểm sinh học cá biển và kỹ thuật đánh bắt ở nước ta hiện nay

được xác định là 1.105.000 tấn, trong đó khả năng khai thác cá nổi khoảng 694.000 tấn và cá đáy 411.000 tấn Vùng biển Đông Nam Bộ có khả năng khai thác lớn nhất (488.000 tấn), chiếm tới 44% trong vùng biển nước ta khả năng khai thác cá ở vùng gò nổi khoảng 2.500 tấn

Trong tính toán trữ lượng cá biển Việt Nam cho tới nay còn tồn tại việc

Trang 22

đánh giá nguồn lợi nhóm cá tầng mặt di cư từ vùng khơi Biển Đông vào vùng biển Việt Nam theo mùa (cá thu, cá ngừ, cá chuồn ) do điều kiện kỹ thuật còn chưa tiến hành được đầy đủ, vì vậy cần được lưu ý trong đánh giá chung cũng như có biện pháp giải quyết trong thời gian tới

390.000 48.409 - 438.409

83,3 16,8 - 100,0

156.000 31.364 - 198.364

83,0 17,0 - 100,0

16,9

2 Miền Trung Cá nổi

Cá đáy

500.000 61.646 - 561.646

89.0 11.0 - 100.0

200.000 24.658 - 226.659

89.0 11.0 - 100.0

23.3

3 Đông Nam

Bộ

Cá nổi Cá đáy

524.000 698.307 - 1.222.307

42.9 57.1 - 100.0

209.600 279.323 - 488.923

42.9 57.1 - 100.0

44.1

4 Tây Nam Bộ Cá nổi

Cá đáy

316.000 190.679 - 506.679

62.0 39.0 - 100.0

126.000 76.272 - 202.272

62.0 38.0 - 100.0

63.0 37.0 - 100.0

671.100 411.617 - 1.108.717

62.8 37.2 - 100.0

100.0

Trang 23

Về tình hình biến động nguồn lợi cá biển Việt Nam, phân tích chuỗi số liệu trong 12 năm (1977-1988) về năng suất đánh bắt cá biển ở các vùng biển,

về tỉ lệ thành phần đánh bắt đối với trên 50 loài cá kinh tế chính, cho thấy xu hướng biến động năng suất hàng năm của toàn vùng biển là khá lớn, nhưng để khẳng định xu hướng tăng hay giảm trên toàn vùng biển còn cần được tiếp tục theo dõi Tuy nhiên, so sánh tỉ lệ thành phần cá đánh bắt được bằng lưới kéo

đáy sơ bộ đã có thể thấy tỉ lệ cá kinh tế quan trọng như cá hồng, cá phèn, cá nục, trong những năm 50 thường chiếm tới 5%, cho tới nay đã giảm đi rõ rệt, trong khi đó, thành phần cá tạp lại tăng lên Có thể coi đây như những dấu hiệu báo động nguồn lợi cá biển nước ta, cần được chú ý nghiên cứu để có

được kết luận đầy đủ hơn

4.2.3 Nguồn lợi tôm biển

Thành phần loài tôm biển nước ta đa dạng, cho tới nay đã biết 101 loài thuộc 34 giống của 11 họ (một số loài còn chưa thu được mẫu vật) Trong số này họ tôm he ( Penaeidae) có số loài lớn nhất (75 loài), ấu trùng

tôm trứng ( Pandalidae) có 10 loài, tôm hùm (Palinuridae) có 9 loài, tôm vỏ

( Scyllaridac) có 5 loài, tôm rồng (Homaridae) có 5 loài có giá trị kinh tế và

xuất khẩu gồm khoảng 50 loài Đó là chưa kể tôm moi ( Sergestidae) có sản

lượng lớn, song chưa có giá trị xuất khẩu

Đa số các loài tôm biển nước ta có phân bố rộng hoặc hẹp trong vùng nhiệt đới ấn Độ - Tây Thái Bình Dương Một số ít loài ở vùng biển sâu có phân bố cả ở Đại Tây Dương - Địa Trung Hải Số loài địa p;hương hiện chỉ thấy trong vùng biển Việt Nam không nhiều (7 loài) Về phân bố theo độ sâu, có thể phân biệt các nhóm sau :

1 Nhóm phân bố gần bờ chủ yếu tập trung ở độ sâu 0-50m Nhóm này bao gồm phần lớn các loài có giá trị kinh tế và xuất khẩu quan trọng như tôm he ( Penaeus mergiensis, P indicus), tôm rằn (P Semisulcatus), tôm

sú ( Pmonodon), tôm nướng (P orientalis), tôm rảo (P ensis), tôm vàng

( P joyneri), tôm hùm (Panulirus), tôm vỗ (Thenus orientalis)

2 Nhóm phân bố xa bờ : hay gặp ở độ sâu từ 50-200m, cũng là các loài có giá trị kinh tế quan trọng trong nghề cá xa bờ như tôm he nhật (P

japonicus)

3 Nhóm phân bố biển sâu : gồm các loài chỉ găp ở vùng biển sâu

Trang 24

140-380m hoặc sâu hơn Đây là những đối tượng khai thác của nghề cá vùng khơi trong tương lai, nhất là các loài tôm he, tôm rồng, tôm vồ biển sâu Theo đặc tính thích ứng sinh thái, có thể phân biệt các nhóm sau

đây

1 Nhóm rộng muối : thích ứng rộng muối, sinh sống ở nơi có biên độ dao

động độ muối lớn, độ trong tháp ở vùng cửa sông Đại diện nhóm này là tôm rảo

Trang 25

Hình 30 Phân bố năng suất sản lượng (kg/h)

Trang 26

2 Nhóm hẹp muối : thích ứng hẹp muối, giai đoạn ấu trùng có thể sinh sống ở vùng cửa sông độ mặn thấp, song trưởng thành phải sống ở nơi

có độ muối cao xa bờ Trong nhóm này có thể kể các loài tôm he, tôm rồng, tôm vồ phổ biến trong khai thác

3 Nhóm rạn đá : sống nơi có độ mặn cao, có rạn đá, hang ngầm, rạn san hô làm nơi cư trú Nhóm này bao gồm nhiều loài tôm hùm, tôm vồ sống ở ven bờ hay vùng biển sâu

Sản lượng tôm phân bố không đều, sai khác giữa hai vùng biển phía bắc và phía nam Vùng biển Nam Bộ, đặc biệt là các tỉnh Minh Hải và Kiên Giang chiếm tới trên 80% sản lượng cả nước Năng suất đánh bắt tôm cũng thay đổi theo khu vực biển và theo mùa mưa và mùa khô Các loài tôm phân bố dọc ven biển từ bắc xuống nam, trong số này có thể kể các bãi tôm quan trọng nhất, có sản lượng lớn

 Vùng biển vịnh Bắc Bộ : Bãi Miếu (Quảng Ninh), bãi vịnh Bái Tử

Long, bãi Cát Bà, bãi Ba Lạt, bãi Hòn Ne - Lạch Ghép - Lạch Quèn (Thanh hoá)

 Vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ, bãi Hòn Thu, bãi Nam Vũng

Tàu, bãi cửa sông Cửu Long

 Vùng biển Tây Nam Bộ : bãi Tây Bắc Phú Quốc, bãi Đông Anh - Nam

Du, Bãi Ông Đốc - Hòn Chuối

Đa số các bãi tôm ở độ sâu không lớn (không kể tôm vồ , tôm rồng ở

độ sâu lớn) từ bờ tới 30-40m, tôm tập trung nhiều hơn cả ở độ sâu 3-4m tới 20m thuận lợi cho việc đánh bắt

Các số liệu thống kê sản lượng tôm đánh bắt hàng năm ở nước ta còn chưa thật đầy đủ Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu hiện có, có thể ước tính sản lượng tôm đã khai thác hàng năm ở biển nước ta bình quân 27.000 - 33.000 tấn tôm các loại, thấp nhất là 24.800 tấn, cao nhất 44.000 tấn Mức

độ khai thác hiện nay so với khả năng khai thác nguồn lợi tôm biển ở vùng gần bờ, các khu vực biển cũng khác nhau ở ven biển phía tây vịnh Bắc Bộ, trong thời kỳ 1977-1983 mức độ khai thác, chỉ đạt 23,1% khả năng cho

Trang 27

phép Trong khi đó, ở vùng biển ven bờ Đông và Tây Nam Bộ, mức độ khai thác đã đạt tới 100,9% khả năng cho phép, có khi vượt giới hạn tới 12-20%

Rõ ràng ở đây không những không có khả năng gia tăng sản lượng mà ngược lại, cần có sự điều hoà để bảo vệ nguồn lợi

Riêng vùng biển xa bờ, nơi còn có trữ lượng tôm lớn như tôm vồ, tôm hùm, hầu như còn khai thác rất ít

4.2.4 Nguồn lợi đặc sản vùng triều

Nguồn lợi đặc sản vùng triều cửa sông phía bắc Việt Nam (ngoài tôm, cá) thuộc các nhóm thân mềm (hàu, sò , tu hài, ngao, vọp, con dắt ), giáp xác (cua rèm, còng, cáy), giụn (sái sùng) là những đặc sản có giá trị thực phẩm được sử dụng hàng ngày Trong số này, có những đối tượng có giá trị cao, có triển vọng trở thành đối tượng xuất khẩu như : sò, ngao, tu hài, vọp, cua rèm, sái sùng Các loài đặc sản này thường phân bố thành các bãi đặc sản tập trung dọc ven biển từ Quảng Ninh đến Nghệ Tĩnh, tổng diện tích ước tính đến 780 km 2 Theo số liệu điều tra từ trước, riêng ở Quảng Ninh đã có tới 37 bãi đặc sản, có những bãi sái sùng diện tích hàng nghìn hecta, trữ lượng ước tính hàng nghìn tấn, bãi cua ở Thái Bình tới 2.000 ha, bãi ngao ở Xuân Thuỷ (Nam Định) tới 1.000 ha, trữ lượng tới 100-200 tấn, bãi vọp ở Kim Sơn có diện tích tới 2.000 ha, trữ lượng ước tính tới 720 tấn

Cho tới nay việc khai thác đặc sản vùng triều phía bắc nước ta còn ở quy mô nhỏ : phương thức khai thác thủ công, chủ yếu đáp ứng nhu cầu thực phẩm hàng ngày Mức độ khai thác tính riêng ngao, vọp ở Hà Nam Ninh chỉ khoảng vài chục tới trăm tấn Tuy nhiên, do chưa giải quyết

được các khâu chế biến, lưu thông tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu, nên giá trị sản phẩm thấp, việc khai thác chưa phát triển Vấn đề nuôi trồng các đối tượng này còn chưa được đặt ra và giải quyết Mặt khác, do tình trạng khai thác vô tổ chức nên nguồn lợi đặc sản này biến động mạnh mẽ Các bãi đặc sản hình thành rồi mất đi hàng năm không kiểm soát nổi do khai thác quá mức hoặc do các nhân tố tự nhiên khác Tình hình trên đây cho thấy các vấn đề khai thác nguồn lợi đặc sản tự nhiên vùng triều cửa sông ven biển nước ta cần được đặt ra và giải quyết trên cơ sở khoa học và kinh tế đạt hiệu quả cao hơn

Trang 28

4.2.5 Nguồn lợi nuôi trồng hải sản vùng triều cửa sông

Tiềm năng nguồn lợi nuôi trồng hải sản ở vùng triều cửa sông ven biển phía bắc Việt Nam và trong cả nước cho tới nay chưa phải đã được

đánh giá đầy đủ Phân tích các kết quả điều tra khảo sát về các yếu tố môi trường sinh thái chủ yếu (trao đổi nước, nhiệt độ, độ mặn, pH, hàm lượng oxy, nền đáy, cơ sở thức ăn tự nhiên, nguồn giống, kiểu diễn thế sinh thái .) liên quan tới việc nuôi trồng hải sản của vùng bãi triều và đầm nuôi từ Quảng Ninh tới Thanh Hoá trong thời gian 1986-1990, đối chiếu với đặc tính sinh lý sinh thái của các đối tượng nuôi phổ biến và khả năng đã cho thấy mức độ các điều kiện sinh thái nuôi trồng thuận lợi và không thuận lợi cho nuôi trồng hải sản của từng loại hình đầm nuôi, từng khu vực bãi triều ven biển phía bắc Việt Nam

Có thể nêu lên một số nhận định chung sau đây :

1 Vùng biển cửa sông phía bắc Việt Nam có tiềm năng môi trường nuôi tròng hải sản lớn, với các yếu tố sinh thái nuôi trồng chủ yếu thuận lợi, bảo đảm cho sinh trưởng phát triển tốt của các đối tượng nuôi, trước hết cho tôm biển (tôm sú, tôm thẻ, tôm rảo, tôm vằn ), rong câu Bên cạnh

đó, các thiên tai như bão, nước dâng , lũ và thời tiết lạnh về mùa

đông lại là các nhân tố hạn chế việc sử dụng tiềm năng

2 Khu vực Móng Cái - Đồ Sơn và Lạch Trường - Mũi Ròn có điều kiện thuận lợi nhiều hơn, quĩ thời gian nuôi lớn hơn so với khu vực Đồ Sơn - Lạch Trường có biến động độ muối và tần suất bão lớn nhất

3 Ngoài những nguyên nhân kinh tế xã hội, nguyên nhân chủ yếu của tình hình hiệu quả sử dụng môi trường nuôi trồng hải sản ở vùng triều cửa sông ven biển phía bắc Việt Nam cho tới này còn chưa cao, nghề nuôi trồng chưa phát triển so với vùng phía nam, là do phương thức nuôi trồng cổ truyền hiện nay chưa phù hợp với đặc điểm điều kiện sinh thái môi trường thiên nhiên của vùng này

Trong tình hình điều kiện sinh thái môi trường kém ổn định, diễn biến nhanh ở vùng ven biển phía bắc Việt Nam, phương thức nuôi trồng hiện nay phụ thuộc vào con giống tự nhiên và dựa vào môi trường nuôi thiên nhiên là chính với năng suất rất thấp, sản phẩm nuôi kém giá trị

Trang 29

thương phẩm, thu hoạch chậm, vẫn tồn tại từ lâu nay, rõ ràng là không thích hợp, khó đảm bảo an toàn cho sản xuất, hiệu quả kinh tế không cao

và không ổn định Điều này ảnh hưởng xấu tới phát triển sản xuất và tâm

lý người sản xuất

Từ những thực thế trên có thể nêu một số ý tưởng có tính phương hướng đối với nghề nuôi trồng hải sản ở phía bắc :

1 Do tính chất thiếu ổn định của điều kiện tự nhiên của vùng biển cửa sông ven biển phía bắc (bão, lạnh, nước lũ, tầng sinh phèn ở nền đahy), cần tạo ra những qui trình nuôi nhanh, thu hoạch nhanh, với những sản phẩm có giá trị hàng hoá cao, sản lượng cao, để có thể nhanh chóng

bù lại vốn đầu tư ban đầu, tránh khỏi thua lỗ do thiên tai, bão, lũ , lụt

và các nguyên nhân đột xuất khác

2 Để đạt yêu cầu trên, vấn đề trước hết phải giải quyết là con giống Cần nghiên cứu để đưa vào nuôi trồng ở ven biển phía bắc giống tôm mới có giá trị sản phẩm cao hơn, sức chịu đựng tốt hơn với nhiệt độ thấp, độ muối thấp thay thế cho nguồn giống tôm tự nhiên hiện nay, chủ yếu là tôm rảo, tôm bác giá trị thấp, Mở rộng sản xuất giống nhân tạo với quy mô và phương thức thích hợp, từ dân dã đến hiện đại, đảm bảo mật độ nuôi cần thiết nhằm tăng nhanh sản lượng tôm nuôi

Những loài tôm có khả năng đáp ứng yêu cầu trên đây như Penaeus

japonicus, P orientalis có ở vùng biển nước ta, là đối tượng nuôi

hiện nay ở vùng cận nhiệt đới phía bắc (Trung Quốc , Nhật .) cần

được nghiên cứu trong việc thay thế con giống nuôi tôm ở vùng ven biển phía bắc nước ta

3 Cùng với việc giải quyết vấn đề giống, trong khi phát triển nuôi quảng canh có cải tiến để tận dụng môi trường nuôi cần đưa nhanh qui trình nuôi tôm bán công nghiệp hoặc công nghiệp ở mức độ bán thâm canh vào nuôi trồng hải sản ở những khu vực có điều kiện thuận lợi ở ven biển phía bắc, với những biện pháp bổ sung thức ăn chế biến, tăng cường lưu thông nước, chống dịch bệnh

4 Một vấn đề quan trọng trong phương hướng phát triển nuôi trồng hải sản ở vùng ven biển phía bắc (và cả phía nam) là cấu tạo ra các mô

Trang 30

hình nuôi trồng đa canh, với đối tượng nuôi đa dạng hơn, trên toàn cục cũng như trong từng khu vực, từng đầm nuôi cụ thể Phương thức nuôi trồng đa dạng về đối tượng thay cho phương thức độc canh hiện nay, chủ yếu là con tôm và rong câu, phù hợp với điều kiện tự nhiên đa dạng, thiếu ổn định để vừa đảm bảo an toàn về mặt kinh doanh, cạnh tranh thị trường thế giới trong tình hình hiện nay, tận dụng vốn và nhân lực Các đối tượng như cá, trai , hầu, rong biển cần được nghiên cứu để mở rộng thành phần đối tượng nuôi hơn

4.2.6 Nguồn lợi thuỷ sản đầm phá và các vùng biển

Với diện tích lớn, điều kiện thuỷ lý hoá thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật di chuyển từ lục địa theo các sông và từ phía biển khơi theo nước triều, các đầm phá có một tiềm năng nguồn lợi thuỷ sản đáng kể vừa

về trữ lượng tôm, cá, rong có thể khai thác hàng năm, vừa về sản lượng thuỷ sản có thể tạo ra bằng cách nuôi trồng

Sản lượng thuỷ sản ở phá Tam Giang - Cầu Hai trong những năm gần đây có chiều hướng giảm sút từ 3.500 tấn năm 1960 chỉ còn 2.000- 2.500 tấn và thấp hơn nữa trong những năm gần đây Điều này có thể do nhiều nguyên nhân, song cần lưu ý tới hai nguyên nhân quan trọng cần

được nghiên cứu giải quyết:

 ảnh hưởng của qúa trình ngọt hoá : có những dẫn chứng cho thấy phá

Tam Giang - Cầu Hai đang có xu hướng cạn và ngọt đi do tác dụng của các bồi tích từ các cửa sông đổ vào đây, đồng thời do hiện tượng lấp cửa thông với biển Các qúa trình này thường dẫn đến sự nghèo đi cả về thành phần loài và sản lượng thuỷ sản Vì vậy, trong phương hướng sử dụng phá Tam Giang - Cầu Hai và biện pháp ngăn qúa trình bồi lắng và ngọt hoá phải được đặt ra như những điều kiện bảo đảm cho ổn định nuôi trồng và cân bằng sinh thái ở đây

 Kỹ thuật khai thác lạc hậu và không đúng quy định đã làm tổn hại đến

nguồn lợi : không kiểm soát kỹ thuật đánh bắt thuỷ sản hiện đang được

sử dụng phổ biến với cỡ mắt lưới, khe đăng quá nhỏ, đánh bắt không phân biệt kích thước và mùa vụ, vớt rong trong đầm phá không hạn chế, chắc chắn làm ảnh hưởng đến trữ lượng tôm cá và rong Vì vậy phải có các biện pháp kỹ thuật đánh bắt nhằm bảo vệ nguồn lợi

Trang 31

Khả năng phát triển nuôi trồng ở các đầm phá đã được khẳng định Các đối tượng nuôi trồng có triển vọng trước mặt là các loài tôm, cá, rong câu mặn lợ, phát triển tốt trong đầm phá cho tới nay Trước hết cần có đầu tư thích

đáng để có thể sử dụng hết diện tích nuôi tôm cá, rông câu đã được quy hoạch Cần giải quyết tốt hơn các vần đề tuyển chọn giống, các chế độ bón phân , thu hái nhằm nâng cao năng suất nuôi trồng hơn hiện nay Về lâu dài, để đưa sản lượng các thuỷ vực này lên cao hơn nữa, một mặt nên có những biện pháp kỹ thuật nuôi trồng tăng sản ở một số khu vực hẹp, mặt khác

có những phương án lớn bổ sung thêm đối tượng nuôi trồng, nguồn giống nhân tạo nhằm tận dụng hết tiềm năng sinh học của toàn khối nước và nền đáy

đầm phá, trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ hơn điều kiện môi trường sống, mô hình chuyển hoá vật chất năng lượng của đầm phá, để có thể xác định có căn

cứ cơ cấu đối tượng nuôi trồng, khả năng sản lượng, các biện pháp kỹ thuật thích hợp để đạt năng suất cao, các biện pháp bảo vệ an toàn cho vật nuôi Các vấn đề trên cần được giải quyết đầy đủ, đồng bộ với quan điểm công nghiệp nuôi trồng thuỷ sản trên quy mô diện tích lớn

Cho tới nay vấn đề sử dụng các vũng biển phổ biến ở dọc ven biển miên Trung còn ít được đề cập tới Hầu như các nghiên cứu, thảo luận, chủ yếu mới chỉ giới hạn ở các vùng nước lợ mặn bên trong để ngăn biển, vùng cửa sông Các kết quả khảo sát sơ bộ trong thời gian qua về các vũng biển đã cho thấy ở một số vũng biển, năng suất sinh học sơ cấp - nguồn vật chất khởi đầu - tương đối cao hơn so với vùng biển xa bờ Điều này liên quan tới vấn đề quan hệ thức ăn, chuyển hoá vật chất giữa các khâu từ thực vật tới động vật rồi tới sản phẩm sau cùng - trong các vũng biển nhiệt

đới rất phức tạp, hệ số chuyển hoá không như những tính toán vốn có ở các vùng biển khác Tuy nhiên, điều có thể khẳng định là ở các vùng biển

có những cơ sở vật chất ban đầu có giá trị thức ăn (thực vật nổi, chất mùn bã trong nước và trong nền đáy) tương đối phong phú, có điều kiện sống ổn

định, có nhiều cấu tạo thiên nhiên như hang đá, rạn san hô, thực vật ngập mặn ven biển là nơi ở tốt cho nhiều loài thuỷ sản Vì vậy, hướng sử dụng

có triển vọng đối với các vũng biển ở nước ta, bên cạnh việc tận dụng khai thác nguồn lợi thuỷ sản thiên nhiên, có thể nghiên cứu phát triển nuôi trồng các đối tượng thích hợp với điều kiện vũng vịnh như : cá lồng, trai,

sò, vẹm, trai ngọc, tôm, hùm, hải sâm, rong mơ vốn không thích hợp trong

Trang 32

điều kiện môi trường đầm phá, cửa sông Đây cũng là địa bàn để phát triển một số ngành công nghiệp nuôi trồng thuỷ sản như nuôi trai hầu ( Ostreiculture) hiện nay còn chưa bắt đầu ở nước ta

Về lâu dài, để nâng cao biện pháp sử dụng các vũng biển khai thác nguồn lợi sinh vật biển, cần suy nghĩ tới các phương án lớn, tạo nên những trữ lượng tôm, cá mới cho các vũng biển bằng các biện pháp tạo nguồn giống và nơi ở nhân tạo ở các vùng biển này

4.3 Tài nguyên muối và các hoá phẩm biển

Muối là nguồn tài nguyên hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời sống của xã hội.Cũng giống như lương thực, thực phẩm và nước uống, muối ăn (NaCl) được sử dụng trước hết như là một loại thực phẩm thiết yếu hàng ngày không thể thiếu được của mỗi người Ngoài ra muối còn là nguồn nguyên liệu quan trọng của nhiều ngành kinh tế khác như : công nghiệp, nông nghiệp, y tế, quốc phòng và nhất là các ngành công nghiệp hoá phẩm khác : clo, axits clohyđric, xút, sôđa, các hợp chất magiê, natri cácbonát, natri clorats phục vụ cho nhiều ngành sản xuất như làm xà phòng, dệt vải, sản xuất giấy, thuộc da, luyện cao su, luyện kim, lọc dầu, làm thuỷ tinh, sản xuất dược liệu, thuốc trừ sâu, mì chính , vv

ở nước ta cho đến nay vẫn chưa phát hiện thấy các mỏ muối có trữ lượng công nghiệp lớn trên đất liền nên về lâu dài biển được coi là nguồn nguyên liệu duy nhất để sản xuất muối ăn

Vùng biển và bờ Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển sản xuất muối ăn và một số loại hoá phẩm khác từ nước biển Suốt chiều dài trên 3.200 km bờ biển và quanh một số hải đảo hầu như nơi nào cũng có thể sản xuất muối Dọc bờ biển có nhiều bãi rộng, nồng độ muối khá cao, trung bình trên dưới 30%o, điều kiện khí hậu nhiệt đới có số giờ nắng cao trên dưới 2.000 giờ, lượng bức xạ lớn là những điều kiện rất thuận lợi cho các nghề làm muối thủ công phát triển, đặc biệt vùng biển Trung Bộ, nhất là các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, là khu vực khá lý tưởng để phát triển sản xuất muối và các hoá phẩm biển qui mô lớn Tại đây thời tiết nắng

ấm quanh năm, số giờ nắng trung bình hàng năm từ 2.000-2.300 giờ,

Trang 33

lượng mưa thấp chỉ 1.300-1.500 mm/năm (riêng khu vực Ninh Thuận - Bình Thuận chỉ có 600-800 mm/năm) Lượng bốc hơi lớn, từ 1.700-1.800 mm/năm, nước biển luôn có nồng độ muối cao và ổn định, trung bình 32- 34%o rất thích hợp cho việc sản xuất muối biển bằng phương pháp phơi nước năng suất cao Tại khu vực này nhiều nơi đạt năng suất trung bình trên dưới 100tấn/ha Sản lượng thường chiếm tới 30% tổng sản lượng muối của toàn quốc Chất lượng muối ở đây cũng khá cao, ngoài việc cung cấp muối thực phẩm còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp hoá chất như chế xút, axit clohydric và một số loại hoá chất cơ bản khác Có thể nói dọc bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên địa phương nào cũng có khả năng phát triển sản xuất muối biển

ở khu vực ven biển Nam Bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp của các hệ thống sông nên nước biển có độ mặn thấp và biến đổi theo mùa rõ rệt Về mùa mưa, nhiều nơi độ muối giảm xuống dưới 20%o, nên năng suất các

đồng muối ở đây không cao (riêng các khu vực ven biển Đồng Nai, Vũng Tàu và Kiên Giang có độ muối khá cao và ổn định quanh năm) Tuy nhiên, vùng ven biển Nam Bộ lại có điều kiện khí hậu cận xích đạo với số ngày nắng rất cao, mùa mưa tập trung vào thời gian ngắn và ít bị ảnh hưởng của gió bão, rất thuận lợi cho việc sản xuất muối từ nước biển Mặt khác,

đất đai ở đây chủ yếu là các loài đất mặn, phèn, ít thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp nên vùng ven biển Nam Bộ có tiềm năng diện tích lớn để phát triển sản xuất muối biển

Theo đánh giá sơ bộ tiềm năng diện tích để phát triển đồng muối vùng ven biển nước ta là khoảng 50.000 đến 60.000 hecta, trong đó tập trung phần lớn ở vùng biển Nam Bộ tới 60% Trong tương lai nếu phát triển sản xuất, khai thác tối đa tiềm năng này, đồng thời kết hợp với các biện pháp nâng cao năng suất và chất lượng thì hàng năm có thể thu được trên dưới 4 triệu tấn muối biển, không những thoả mãn nhu cầu trong cả nước về muối thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp hoá học mà còn

có thể xuất khẩu

4.4 Điều kiện phát triển giao thông vận tải

Biển và bờ Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc phát triển giao thông vận tải và các dịch vụ hàng hải Với hình thể đất nước hẹp

Trang 34

về chiều ngang và kéo dài trên 15 vĩ độ, nền kinh tế chủ yếu mới được phát triển ở hai đầu thì nhu cầu giao lưu kinh tế giữa hai miền là rất lớn và trục bắc - nam đã trở thành trục vận tải chính của đất nước, trong đó vận tải biển đóng vai trò rất quan trọng

Nước ta có bờ biển dài, vùng biển rộng với nhiều cửa biển và các vũng vịnh lớn, kín gió, phân bố khá đều từ bắc xuống nam tạo nên một hệ thống cảng biển rộng khắp làm cơ sở cho việc phát triển ngành vận tải biển

đa dạng bao gồm cả vận tải viễn dương, vận tải ven biển và vận tải pha sông biển Mặt khác, vùng biển nước ta nằm án ngữ giữa tuyến giao lưu quốc tế xuyên đại dương, các đường hàng hải quốc tế chính thông thương giữa ấn Độ Dương với Thái Bình Dương cũng như giữa nhiều nước trong khu vực đều đi qua vùng biển của ta và rất gần bờ biển Trung Bộ, là động lực quan trọng thúc đẩy ngành vận tải biển và dịch vụ bằng hàng hải nước

ta có điều kiện phát triển một cách toàn diện trong tương lai

Hiện nay dọc bờ biển từ bắc vào nam, chúng ta đã xác định được rất nhiều địa điểm có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc xây dựng cảng biển, trong đó nhiều nơi có khả năng xây dựng cảng lớn nước sâu, phân bố trên từng khu vực cụ thể

4.4.1 Khu vực Quảng Ninh

Khu vực Quảng Ninh có điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hòn đảo của vịnh Hạ Long và Bái Tử Long là một bức tường thành che chắn sóng gió, tạo điều kiện an toàn cho hoạt động của các đội tàu và cảng, đảm bảo

số ngày hoạt động cao trong năm Trong khu vực này có khá nhiều điểm thuận lợi cho xây dựng cảng như: Cái Lân, Hòn Gai, đảo Con Quạ, Hòn Buộm Đặc biệt khu vực Cái Lân là khu vực rộng rãi có mức nước sâu từ 11-14m, sóng nhỏ thường dưới 1m, luồng lạch ra vào thuận tiện ít bị bồi lấp cho phép tàu có trọng tải lớn cập bến Có thể nói đây là nơi duy nhất

có thể xây dựng cảng biển nước sâu ở khu vực phía bắc Các khu vực đảo Con Quạ, Hòn Buộm cũng là nơi có khu nước rộng rãi, mức nước sâu đảm bảo cho tàu trọng tài 30.000 tấn có thể ra vào được

Hiện nay tại khu vực Quảng Ninh đã hình thành cảng tổng hợp, cảng dầu B12, các khu trung chuyển cho cảng Hải Phòng, các nơi neo đậu cho tàu LASH và nhiều cảng biển nước sâu.Tuy nhiên phát triển cảng biển

Trang 35

ở khu vực này, nhất là các cảng chuyên dùng cần thiết lưu ý đến vấn đề bảo

vệ tự nhiên, môi trường và sinh thái ven biển Cần có sự kết hợp hài hoà giữa phát triển cảng biển với phát triển ngành du lịch biển trong một quy hoạch tổng thể của cả khu vực

4.4.2 Khu vực Hải Phòng

Khu vực Hải Phòng là khu vực có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi

để hình thành các cảng biển lớn Tại đây có cơ sở vật chất kỹ thuật khá tốt, mạng lưới cấu trúc hạ tầng khá phát triển lại có các điều kiện sinh hoạt và dịch vụ thuận tiện, là những tiền đề rất quan trọng để hình thành và phát triển công nghiệp cảng biển Về điều kiện tự nhiên của khu vực này cũng

có một số đặc điểm có mực nước sâu (trên 10m), mặt bằng rộng rãi có khả năng xây dựng hải cảng như Đình Vũ, Phà Rừng, Lạch Huyện Nhưng tại các điểm này đều gặp một trở ngại rất lớn là luồng lạch cho tầu ra vào cảng Tất cả các đặc điểm trong khu vực sông Cấm, kênh Đình Vũ và sông Bạch Đằng (trừ Lạch Huyện ở Cát Hải) đều có chung luồng ra vào là qua cửa Nam Triệu, luồng này có lượng phù sa bồi lấp rất lớn Để đảm bảo cho tàu 10.000 tấn có thể ra vào thường xuyên, ngoài khối lượng nạo vét cơ bản

là 5 triệu mét khối phù sa hàng năm còn phải nạo vét một khối lượng lớn nữa (khoảng 3 triệu m 3 /năm) đòi hỏi chi phí rất cao Mặc dù cũng có thể

mở luồng qua cửa Lạch Huyện và kênh Cái Tráp vào sông Bạch Đằng, nhưng cần vốn đầu tư rất lớn nên cũng không có triển vọng Hơn nữa,

điều kiện chạy tàu luồng lạch dài, ít thuận tiện và không đảm bảo an toàn cho tàu ra vào cảng

Hiện nay, tại khu vực này cảng Hải Phòng là cảng biển lớn của cả nước với công suất thiết kế 4,5 triệu tấn/năm (bao gồm cả Chùa Vẽ và Vật Cách) Nhưng cảng nằm sâu trong sông, luồng lạch ra vào khó khăn không cho phép các tàu lớn cập bến

4.4.3 Khu vực Thái Bình - Hà Nam Ninh

Khu vực Thái Bình - Hà Nam Ninh là khu vực có nhiều cửa sông lớn Tính từ Lạch Tray đến cửa Đáy gồm có : cửa Lạch Tray, cửa Văn úc (sông Văn úc), cửa Trà Lý (sông Bắc Lý), cửa Ba Lạt (sông Hồng), cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ) và cửa Đáy (sông Đáy) Các cửa sông này đều

Trang 36

có mức nước nông, bãi bồi lớn ở trước cửa biển, luồng lạch chỉ đạt 2-3m Vì vậy, xét về điều kiện tự nhiên bờ biển và địa chất công trình thì tất cả các cửa sông này đều không có khả năng để hình thành cảng biển

4.4.4 Khu vực Thanh Hoá

ở đây có hai địa điểm được xem xét là Nghi Sơn và đảo Hòn Mê, Nghi Sơn là khu vực đã được khảo sát nhiều năm, có khả năng để hình thành cảng biển Khu vực này có mặt bằng hẹp lại hoàn toàn là cát, cao trình nước nông, chỉ đạt từ 1 đến 2m, sóng gió mạnh , chiều cao sóng trung bình trong mùa gió đông nam đạt tới 3m, gây trở ngại cho các hoạt động của tàu vào cảng

Ngược lại, khu vực đảo Hòn Mê lại có mực nước sâu từ 14-20m Xung quanh khu vực này có nhiều đảo khác như Hòn Sót, Hòn Miều, Hòn Bung bao bọc tạo thành một vùng biển tương đối yên tĩnh có khả năng xây dựng một cảng biển nước sâu Hiện nay nơi đây vẫn là nơi trú ẩn cho các tàu đánh cá những khi gặp bão và làm khu vực chuyển tải cho các cảng sông Thanh Hoá

4.4.5 Khu vực Nghệ An - Hà Tĩnh

Khu vực Nghệ An - Hà Tĩnh có khá nhiều cửa biển lớn nhỏ, trong đó

có một số địa điểm có khả năng xây dựng cảng biển như Cửa Lò, Cửa Sót, Mũi Ròn

Cửa Lò nằm cách Vinh 18km, trong một vùng vịnh được che chắn bởi dãy núi Nghi Thiết tạo thành một khu vực khá an toàn và thuận lợi cho tàu bè ra vào cảng Từ năm 1979 cảng Cửa Lò đã được khởi công xây dựng gồm hai bến tàu và kho bãi với công suất bốc dỡ 0,5 triệu tấn/năm.Song hiện nay cảng đang gặp nhiều khó khăn do sa bồi luồng lạch Mặc dù luồng ra vào cảng tương đối ngắn, chỉ 3 km, nhưng cho đến nay vẫn chưa

có biện pháp thích hợp nạo vét sa bồi hàng năm

Cửa Sót nằm không xa thị xã Hà Tĩnh Độ sâu ở đây khoảng 2-3m, nhưng ra xa khoảng 2-3 km thì độ sâu đạt tới 10m, biên độ thuỷ triều trung bình 2m Như vậy xét về điều kiện tự nhiên thì khu vực này có khả năng để xây dựng cảng biển Trước đây khu vực này cũng đã được khảo sát nhằm mục đích xây dựng cảng cho khu gang thép số II ở Thạch Khê Nhưng độ

Trang 37

sâu ở đây quá nhỏ không cho phép tàu trọng tải lớn ra vào cảng

Mũi Ròn nằm ở phía nam huyện Kỳ Anh Đây là khu vực có mực nước sâu đạt tới 10-14m cho phép tàu có trọng tải lớn ra vào thuận tiện Xét

về điều kiện tự nhiên ở biển khá thuận lợi Tuy nhiên, do mặt bằng xây dựng ở đây hẹp, địa hình phức tạp không có đường đi vào nên việc hình thành một cảng biển lớn cũng sẽ gặp nhiều khó khăn và đòi hỏi đầu tư lớn

Các địa điểm khác như của Hội, cửa Nhượng, cửa Khẩu đều rất nông không có điều kiện để xây dựng cảng

4.4.6 Khu vực Quảng Trị - Huế

Khu vực Quảng Trị - Huế có hai cửa biển chính là cửa Việt và cửa Thuận An có điều kiện khá thuận lợi để xây dựng cảng biển Cửa Việt có

độ sâu sát bờ từ 8-10m Ngoài biển có bãi cát ngắn di chuyển theo mùa, độ sâu ngoài bãi cát từ 3-4m Biên độ thuỷ triều ở đây khoảng 2,5m Đây là khu vực có khả năng xây dựng một cảng biển, nhưng cũng cần đầu tư ban

ra vào cảng thuận tiện

4.4.7 Khu vực từ Đà Nẵng đến Bình Thuận

Khu vực từ Đà Nẵng ở phía nam đèo Hải Vân có bán đảo Sơn Trà che chắn ở ngoài khơi rất thuận lợi cho các tàu vào trú ngụ và làm hàng Mực nước trong vịnh tương đối sâu cho phép tàu trọng tải lớn cập bến Chính vì vậy Đà Nẵng đã sớm trở thành một hải cảng lớn của khu vực miền Trung Hiện nay cảng Đà Nẵng đang phục vụ công tác xuất nhập khẩu của các tỉnh Trung Bộ và một phần cho nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào với tổng công suất 1,5 triệu tấn/năm Cũng có mực nước sâu trên 10m cho phép tàu trọng tải 15.000 tấn ra vào thuận lợi.Trong tương lai cảng Đà Nẵng còn có khả năng mở rộng công suất lên 2,5 - 3 triệu tấn/năm

Đầm Thị Nại cạnh thị xã Quy Nhơn có mực nước sâu trung bình

Trang 38

3,5-5m, biên độ triều 2,5m Luồng ra vào cảng rộng, độ sâu trung bình khoảng 5m Đây là khu vực có khả năng xây dựng cảng biển Tại đây trước kia đã hình thành một quân cảng và sau này giao lại một phần cho ngành giao thông vận tải quản lý và khai thác Công suất cảng Quy Nhơn hiện nay khoảng 0,5 triệu tấn/năm nhưng khối lượng hàng hoá thông qua ít Trước

đây đã có những kiến nghị xây dựng tại khu vực này một cảng biển lớn nước sâu phục vụ cho khu vực duyên hải Trung Bộ và Tây Nguyên

Vịnh Cam Ranh : có thể nói là khu vực có điều kiện tự nhiên lý tưởng cho việc hình thành một cảng biển nước sâu lớn của vùng bờ biển nước ta Trước đây và cho đến nay vịnh Cam Ranh là khu vực dành riêng cho quân sự Trong giai đoạn tới có thể nghiên cứu để sử dụng cảng Cam Ranh cho các nhiệm vụ khác nhau

4.4 8 Khu vực Vũng Tàu và sông Thị Vải

Khu vực bờ biển Đông Nam Bộ có rất nhiều cửa sông lớn như: cửa Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Cô Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định

An, cửa Tranh Đê rồi đến các cửa Ghềnh Hào, cửa Bẩy Hạp đều là các khu vực nông và sình lầy không có điều kiện để xây dựng cảng biển

4.4.9 Khu vực vịnh Thái Lan

Khu vực vịnh Thái Lan cũng là khu vực sình lầy khó có điều kiện để hình thành các cảng biển Riêng tại cửa sông Ông Đốc có khả năng xây dựng một cảng biển nhưng quy mô nhỏ Ngoải ra, khu vực Hòn Chông (Kiên Giang) được khu đảo Bà Lụa bao quanh nên có điều kiện tốt cho tàu

bè trú đậu và làm hàng Song luồng lạch vào cảng cũng nhiều khó khăn và

điều chủ yếu là tại khu vực này không có cơ sở kinh tế cho việc hình thành cảng biển

Tóm lại, đánh giá điều kiện tự nhiên biển và bờ biển Việt Nam cho thấy, dọc bờ biển nước ta có nhiều địa điểm có khả năng thuận lợi để xây các cảng biển và du lịch hàng hải Song, một địa điểm tuy thuận lợi về mặt tư nhiên nhưng có thể trở thành cảng biển hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác, trong đó các yếu tố kinh tế xã hội, trình độ và khả năng phát triển của các lãnh thổ ven biển đóng vai trò quyết định

4.5 Hiện trạng Môi trường biển Việt Nam

Trang 39

Thiên nhiên vùng biển nước ta với các hệ sinh thái nhiệt đới đặc trưng có vùng dải ven biển kéo dài trên 15 vĩ độ và thềm lục địa rộng trên một triệu kilômét vuông với nhiều cảnh quan kỳ thú đã tạo nên một môi trường sinh thái có những đặc điểm riêng Đó là :

Những tiềm năng sinh học lớn với các hệ sinh thái có năng suất sinh học lớn của các hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, các rạn san hô, các bãi cỏ biển, đầm phá ven biển, các vùing nước trồi (upwelling) trên thềm lục địa Mặt khác, tiềm năng sinh học của các hệ sinh thái biển Việt Nam lại bị hạn chế bởi tính chất phức tạp của điều kiện thiên nhiên vùng biển nhiệt đới không điển hình với những biến động lớn trong năm của quá trình khí quyển, thuỷ quyển, thạch quyển, sinh quyển Trước hết đường bờ biển không ổn định, đới bờ thường xuyên chịu tác động của thiên tai mà chủ yếu là bão, lụt, nước dâng, trrong đó có ảnh hưởng của hiện tượng El- Nino Các tính toán bước đầu cho thấy ở vùng biển phía bắc dưới tác động này, mực nước biển trong vòng 30 năm qua đã dâng cao thêm 2-3 cm/năm Nếu những tính toán của các tổ chức quốc tế hiện nay như CSIRO là đúng thì từ năm 2070 nước biển có thể dâng cao tới 90cm so với năm 1990 và sẽ gây ra những tác hại hết sức to lớn cho vùng ven biển nước ta

Bên cạnh tác nhân thiên nhiên, còn phải kể tới tác nhân nhân sinh Vùng ven biển nước ta bao gồm 23 tỉnh, thành phố lớn, tập trung tới 1/3 số dân cả nước Sau hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm gây nhiều tác hại lớn cho môi trường sinh thái Các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển công nghiệp, văn hoá xã hội đang ngày càng gia tăng cùng với tốc độ gia tăng dân số, cũng đều có tác động lớn tới môi trường biển, việc phá rừng với tốc độ lớn trong 40 năm qua, nhất là rừng ngập mặn ven biển, hoạt động khai thác dầu khí trên thềm lục địa, khai thác hải sản với cường độ cao ở biển ven bờ

Có thể thấy tình trạng suy thoái môi trường biển rõ nét hơn cả ở các hiện tượng suy giảm thảm rừng ngập mặn, suy thoái bãi triều lầy cửa sông ven biển, các rạn san hô ven biển và ven đảo, cũng như ở hiện tượng xói lở, bồi lắng ô nhiễm dần và các chất thải hữu cơ xảy ra có nơi nghiêm trọng như một số khu vực ven bờ biển, cửa sông

4.5.1 Suy giảm thảm rừng ngập mặn

Trang 40

Tình trạng suy giảm thảm rừng ngập mặn diễn ra ở cả vùng ven biển phía bắc và phía nam , với hậu quả sinh thái nặng nề Giảm sút thảm rừng ngập mặn do nhiều nguyên nhân Trong thời kỳ 1960-1975, dưới tác động của chất diệt cỏ (defoliant) của không quân Mỹ rải xuống đã huỷ diệt trên 100.000 ha rừng ngập mặn ở ven biển Nam Bộ Từ sau 1975, mức độ tàn phá rừng ngập mặn ven biển ở cả hai vùng phía bắc và phía nam, tiếp tục diễn ra không kém phần nghiêm trọng, do các hoạt động khai thác vô tổ chức, chặt phá rừng để khai thác gỗ, than củi, xây dựng đầm nuôi tôm làm diện tích rừng bị thu hẹp nhanh chóng, như ở Minh Hải, trong 5 năm (1982-1987) do chặt phá, thảm rừng ngập mặn đã giảm đi gần 20.000 ha Rừng ngập mặn bị phá hoại đã dẫn tới nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng; hệ sinh thái rừng bị phá vỡ, nguồn lợi sinh vật rừng phong phú bị mất, bờ biển xói lở do mất đi hàng cây chắn sóng, đất rừng không được che phủ, nguồn chất dinh dưỡng từ lá cây phân huỷ không còn nên nhanh chóng thoái hoá trên diện lớn

Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển thảm rừng ngập mặn ven biển nước ta, thời gian qua, những chương trình phục hồi rừng ngập mặn ven biển đã được triển khai, một số nơi đã đạt kết quả khả quan như ở Duyên Hải - Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, để mục tiêu này đạt được đầy

đủ, cần có những giải pháp toàn diện cả về khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, thể hiện đồng bộ trong từng khu vực và trong cả nước với sự đầu tư thích đáng về nhân lực, tài chính và hợp tác quốc tế

4.5.2 Suy thoái môi trường đất bãi triều cửa sông ven biển

Bãi triều lầy là loại hình đất ngập nước ven biển do tác động của dòng bồi tích các sông tải ra, của các chuyển động tân kiến tạo trên đới ven biển và các nhân tố hữu sinh khác trong mối quan hệ tương tác biển và lục

địa ở vùng phía bắc, bãi triều lầy phổ biến ở các vùng cửa sông từ Móng Cái tới Thanh Hoá có diện tích hàng chục nghìn hecta Khi mới hình thành, bãi triều lầy là môi trường giàu dinh dưỡng, có tiềm năng hải sản và quỹ đất bối có giá trị kinh tế cao Vì vậy, trên vùng đất này diễn ra nhiều hoạt động kinh tế khai thác nguồn lợi: quai đê lấn biển khai thác nông nghiệp, đắp bờ tạo đầm nuôi hải sản, làm muối, cũng như khai thác hải sản

tự nhiên, sản phẩm cây sú vẹt

Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết về đặc điểm các qúa trình địa mạo, địa

Ngày đăng: 09/08/2014, 17:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Tuyên bố về đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam 12/11/1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên bố về đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam
Năm: 1982
15. Biển Việt Nam, Vũ Phi Hoàng, Nhà xuất bản Giáo dục 1990. 16. Xem [8] ®iÒu 86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển Việt Nam
Tác giả: Vũ Phi Hoàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1990
18. Ocean Yearbook 3, Elisaheth Mann Borgese vaf Norton Ginsburg. University of Chicago Press 1982, trang 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ocean Yearbook 3
Tác giả: Elisabeth Mann Borgese, Norton Ginsburg
Nhà XB: University of Chicago Press
Năm: 1982
35. Lê Duy Bách, 1989. Quy luật hình thành và tiến hoá của kiến trúc thạch quyển Việt Nam và các miền kế cận "Thông tin tư liệu Mỏ - Địa chất", Số 15-17, 115 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin tư liệu Mỏ - Địa chất
36. Lê Duy Bách, 1989. Trong sách "Địa chất Biển Đông và các miền kế cận". Thông tin khoa học Viện KHVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Biển Đông và các miền kế cận
42. Bùi Công Quế, 1990. Nghiên cứu đặc điểm các dị thường địa vật lý, cấu trúc vỏ trái đất và cơ chế kiến tạo sâu ở các vùng động đất mạnh lãnh thổ Việt Nam. "Các khoa học về trái đất", số 12 (1), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khoa học về trái đất
43. Bùi Công Quế, Nguyễn Hiệp, 1990. Đặc điểm các trường địa vật lý thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận. Báo cáo khoa học của đè tài 48B.03.02.Chương trình biển 48B, 1986, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm các trường địa vật lý thềm lục địa Việt Nam và các vùng kế cận
Tác giả: Bùi Công Quế, Nguyễn Hiệp
Nhà XB: Báo cáo khoa học của đè tài 48B.03.02.Chương trình biển 48B
Năm: 1990
53. Lê Duy Bách, 1989. Kiến tạo lãnh thổ Đông Dương. Trong sách "Địa chất Biển Đông và các miền kế cận". Thông tin Khoa học Viện KHVN, tr.75- 79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Biển Đông và các miền kế cận
54. Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng, 1989. Đặc điểm kiến tạo bán đảo Đông Dương. Trong sách "Địa chất Biển Đông và các miền kế cận". Thông tin Khoa học Viện KHVN, tr.156-168 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Biển Đông và các miền kế cận
Tác giả: Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng
Nhà XB: Thông tin Khoa học Viện KHVN
Năm: 1989
55. Lê Duy Bách, Ngô Thắng, 1990. Về phân vùng kiến tạo thềm lục địa Việt Nam và các miền kế cận. "Các khoa học về trái đất", số 12(3), tr. 65-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khoa học về trái đất
56. Bản đồ địa chất Campuchia, Lào và Việt Nam tỉ lệ 1 : 1.000.000 kèm theo thuyết minh : "Địa chất Campuchia, Lào và Việt Nam". Chủ biên : Phan Cự Tiến, Tổng cục Mỏ - Địa chất, Hà Nội, 1989, Tái bản lần II, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Campuchia, Lào và Việt Nam
58. Trịnh Dánh, 1985. Những nét cơ bản về trầm tích Đệ tam ở Việt Nam. Trong sách "Địa chất và Khoáng sản", tập II. Viện Địa chất Khoáng sản Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất và Khoáng sản
59. Nguyễn Định Dỹ, Đinh Văn Thuận, 1985. Những phức hệ bảo tử phấn hoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phức hệ bảo tử phấn hoa
Tác giả: Nguyễn Định Dỹ, Đinh Văn Thuận
Năm: 1985
64. Lưu Tỳ, Nguyễn Quỳnh, Trần Cánh, 1986. Địa mạo thềm lục địa Dông Dương và các vùng kế cận. Trong sách "Địa chất Campuchia, Lào và Việt Nam". NXBKHKT. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Campuchia, Lào và Việt Nam
Nhà XB: NXBKHKT. Hà Nội
72. Hamilton Warren, 1979. Tectonics of the Indonesian region USGS prof Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tectonics of the Indonesian region
Tác giả: Hamilton Warren
Nhà XB: USGS
Năm: 1979
77. Luo Qhetan, Zhang Rui Xienjg. He Liansheng, 1981. Tectonics and deposits of the Cenozoic era in the South China Sea. In "The Hydrocarbon Potential and Possibilities of Joint Development". Pergamon Press.p, 1093- 1098 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Hydrocarbon Potential and Possibilities of Joint Development
82. Keru and John D. Pigott, 1986. Episodic rifting and subsidence in the South China Sea. Bull. AAPG. Vol. 70. No. 9. p[ 1136-1155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Episodic rifting and subsidence in the South China Sea
Tác giả: Keru, John D. Pigott
Nhà XB: Bull. AAPG
Năm: 1986
97. Phan Nguyên Hồng, 1991. Hệ sinh thái rừng ngập mặn (tài liệu chưa công bè ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ sinh thái rừng ngập mặn (tài liệu chưa công bè)
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Năm: 1991
100. Lê Duy Bách, 1989. Đặc điểm kiến tạo và tiềm năng khoáng sản lưu vực Biển Đông. Trong sách "Địa chất Biển Đông và các miền kế cận".Thông tin Khoa học Viện Khoa học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất Biển Đông và các miền kế cận
110. UN-ESCAP, 1987. Oil and Natural Gas Resources in the ESCAP Region ; Geology, Reerves, Production, Potential, Distribution, Bankok, Thailand.Chương 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oil and Natural Gas Resources in the ESCAP Region ; Geology, Reerves, Production, Potential, Distribution
Tác giả: UN-ESCAP
Nhà XB: Bankok, Thailand
Năm: 1987

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 26. Sơ đồ tiềm năng dầu khí lưu vực Biển Đông  (Theo tài liệu của ESCAPE, 1987) - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Hình 26. Sơ đồ tiềm năng dầu khí lưu vực Biển Đông (Theo tài liệu của ESCAPE, 1987) (Trang 6)
Hình 27. Các bể trầm tích Đệ Tam - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Hình 27. Các bể trầm tích Đệ Tam (Trang 9)
Hình 28. Sơ đồ phân bố khoáng sản sa khoáng ven biển Việt Nam - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Hình 28. Sơ đồ phân bố khoáng sản sa khoáng ven biển Việt Nam (Trang 11)
Hình 29. Sơ đồ phân bố các bãi cá khai thác chủ yếu trên Biển Đông Việt Nam - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Hình 29. Sơ đồ phân bố các bãi cá khai thác chủ yếu trên Biển Đông Việt Nam (Trang 20)
Bảng 4.2: Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở Biển Đông nước ta  (Bùi Đình Chung, Phạm Ngọc Đẳng và nnk, 1994) - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Bảng 4.2 Trữ lượng và khả năng khai thác cá ở Biển Đông nước ta (Bùi Đình Chung, Phạm Ngọc Đẳng và nnk, 1994) (Trang 22)
Hình 30. Phân bố năng suất sản lượng (kg/h) - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Hình 30. Phân bố năng suất sản lượng (kg/h) (Trang 25)
Bảng 4.3.  Nồng độ dầu trung bình trong nước và - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Bảng 4.3. Nồng độ dầu trung bình trong nước và (Trang 47)
Bảng 4. 4 Hàm lượng dầu trong nước biển tại khu vực các  giàn khoan cuối năm 1989 - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Bảng 4. 4 Hàm lượng dầu trong nước biển tại khu vực các giàn khoan cuối năm 1989 (Trang 48)
Bảng 4. 5. Phân bố sản phẩm dầu trong nước quanh   bán đảo Vũng Tàu 5/1990. - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Bảng 4. 5. Phân bố sản phẩm dầu trong nước quanh bán đảo Vũng Tàu 5/1990 (Trang 50)
Bảng 4. 6. Mức tăng  sản lượng thuỷ sản của   n¨m 1992 so víi n¨m 1980 - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 4 ppt
Bảng 4. 6. Mức tăng sản lượng thuỷ sản của n¨m 1992 so víi n¨m 1980 (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w