1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx

79 267 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm điều kiện tự nhiên Biển Đông (Lê Đức Tố) - Chương 2
Trường học Trường Đại Học Dầu Khí Việt Nam
Chuyên ngành Địa chất
Thể loại Chương
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 4,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên phạm vi vùng biển và đồng bằng ven biển Việt Nam, các thành tạo Paleogen hiện biết được ở một số mặt cắt ở phần sâu của trũng Sông Hồng, trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn gồm các trầm t

Trang 1

Chương 2

Đặc điểm điều kiện tự nhiên Biển đông

2.1 ĐặC ĐIểM địA CHấT ĐịA MạO

Biển Đông nằm ở một vị trí đặc biệt trên bình đồ kiến trúc hiện đại của hành tinh - đới chyển tiếp giữa các miền kiến trúc kiểu địa máng uốn nếp có tuổi tạo lập khác nhau thuộc phần đông nam đại lục á - Âu và các miền động hiện đại của các đai động hành tinh Tây Thái Bình Dương và Địa Trung Hải - Hymalaya Vì vậy, đã từ nhiều thập kỷ nay, vùng biển kỳ thú này luôn hấp dẫn sự quan tâm của nhiều nhà khoa học địa chất Những hiểu biết cơ bản hiện nay về cấu trúc thạch quyển và tiềm năng khoáng sản của lưu vực Biển

Đông dựa vào các kết quả điều tra của các nước trong khu vực là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Brunây, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và phần rất quan trọng là các kết quả nghiên cứu nhiều năm của CCop, ESCAP và một số

tổ chức quốc tế khác ở phần này chúng tôi chỉ trình bày những nội dung cơ bản về các thành tạo địa chất, đặc điểm kiến tạo, đặc điểm cấu trúc hình thái

và các hoạt động động đất của Biển Đông

2.1.1 Các thành tạo địa chất

Cấu trúc địa chất của biển Việt Nam được đặc trưng bởi các thành tạo

địa chất đa nguồn, được sinh thành trong suốt lịch sử phát triển lâu dài khoảng

3 tỉ năm từ Tiền Cambri sớm đến nay Các nhóm thành tạo tuổi trước Kainozoi bao gồm các hệ tầng trầm tích phun trào, biến chất và các phức hệ macma xâm nhập phân bố chủ yếu trên đới duyên hải, các đảo và quần đảo của thềm lục địa Việt Nam Còn các thành tạo tuổi Kainozoi phủ trên toàn bộ phần còn lại của đới duyên hải, thềm lục địa, vùng đáy biển và các quần đảo biển khơi

Các đá trước Kainozoi

Các thành tạo này lộ chủ yếu trên hệ thống đảo ven bờ Tuy nhiên một

số đảo ven bờ còn được cấu tạo bởi đá trầm tích và đá phun trào bazan tuổi Neogen và Đệ tứ Chúng ta sẽ xem xét đặc điểm các thành tạo trước Kainozoi cho các vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, vùng biển miền Trung và

Đông Nam Bộ

Trong vịnh Bắc Bộ các đá thuộc hệ tầng Tấn Mài (0 - S) phân bố từ

Trang 2

phía nam đứt gãy lớn Tiên Yên - Móng Cái đến quần đảo Cô Tô, trên các đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên, Tràng Tây, Thanh Lân, Cô Tô, phần dưới là cát kết tufogen, đá phiến sét - silic, cát kết và phần trên là đá phiến thạch anh xerixít, cát bột kết

Điệp Đồ Sơn (D1) phân bố trên vòng cung các đảo từ Hạ Mai, Nất Đất, Phượng Hoàng, Thượng Mai đến Cảnh Cước, Cao Lô, Sậu Nam, Thoi Xanh, Vĩnh Thực, gồm các trầm tích lục nguyên hạt thô : cuội sạn kết, cát bột kết, cát kết dạng quaczit và phiến sét màu tín đỏ

Các trầm tích Devon thuộc điệp Dưỡng Động (D1,2) gồm các bột kết, thấu kính đá vôi - sét và đá vôi gặp trên các đảo Cao Lô, Cái Lim, Trà Bản, Vạn Cảnh, Ngọc Vừng Hệ tầng Lỗ Sơn (D2) phân bố trên các đảo Cái Bầu, Cái Lim, Soi Đán, Trà Bản với thành phần chủ yếu là đá vôi màu xám đen, đá vôi Đolomit, đá vôi silic, trên cùng là đá phiến silic

Các trầm tích Paleozoi thượng (C - P) phân bố rộng rãi Hệ tầng Cát Bà (C1) chiếm diện tích chủ yếu của đảo Cát Bà, đa số các đảo đá trong vịnh Hạ Long, Bái Tử Long và quần đảo Long Châu gồm đá vôi màu đen, đá vôi silic,

đá vôi sét, cát bột kết Hệ tầng Quang Hanh (C-P) phân bố ở trung tâm đảo Cát Bà và trên một số đảo nhỏ (đảo Hang Trại, Đầu Bê, Cống Đỏ ) gồm đá vôi xám trắng, đá vôi đolomit, đá vôi silic và đá vôi trứng cá

Các thành tạo Mesozoi là các đá trầm tích tuổi T3 và J1-2 có chứa than

Điệp Hòn Gai (T3 n-r hg) phân bố ở phần đông nam đảo Cái Bầu và trên các

đảo Vạn Vược, Vạn Mạc, phần dưới là cuội kết, sạn cát kết, bột sét kết, đá phiến, sét than và than đá ; phần trên có cuội kết, cát kết thạch anh, bột kết và

ít đá phiến sét đen Hệ thống Hà Cối (J1-2) phân bố thành dải hẹp trên các đảo Vĩnh Thực, Cái Chiên, Vận Mặc Vạn Vược, Cái Bầu và một số đảo nhỏ khác Phần dưới của hệ tầng gồm cuội kết, cát bột kết, sét vôi, đá phiến sét than, thấu kính than; phần trên gồm cát bột kết, sét kết và thấu kính đá vôi

Đảo Bạch Long Vĩ được cấu tạo bởi đá sét kết, cát bột kết xen cuội kết tuổi Neogen

Trong vịnh Thái Lan các đảo và quần đảo được cấu tạo bởi các đá có tuổi Cổ sinh Trung sinh và Tân sinh Theo kết quả lập bản đồ địa chất và hiệu

đính tỉ lệ 1 : 200.000 của Liên đoàn Địa chất 6 (1993) có thể tóm tắt các đặc

điểm chính như sau :

Trang 3

 Cổ nhất là các đá thuộc hệ tầng Hòn Chông (D2 - C1) phân bố trên các đảo Hòn Heo và Hòn Đội Trưởng (quần đảo Bà Lụa), gồm : cát kết thạch anh xen phiến sét

 Tiếp đến là hệ tầng Hòn Ngang (C), phân bố khá rộng rãi trên các đảo thuộc quần đảo Hải Tặc, Bà Lụa, Nam Du, gồm porfia thạch anh xen cát kết,phiến sét, chuyển lên đá fenzit, đá silic sét, đôi nơi có lớp phun trào axít

 Hệ tầng Hòn Mấu (C1 - P1) có diện tích bó hẹp ở phía bắc Hòn Mấu gồm aglomerat, phiến silic xen phun trào andezit

 Đã được xếp vào hệ tầng Hà Tiên (P) lộ không nhiều ở quần đảo Bà Lụa (Đá Lửa, Lò Cốc ) và phía bắc Hòn Tre Lớn, gồm đá vôi màu xám sáng, xám tối dạng khối hoặc phân lớp dày

 Thuộc các thành tạo Meôi có hệ tầng Hòn Nghệ (T2), hệ tầng Phú Quốc (K1) và hệ tầng Nha Trang (K2)

Hệ tầng Hòn Nghệ (T2) lộ ở tây bắc đảo Hòn Nghệ gồm đá vôi xám sáng, chuyển lên đá phiến sét, bột kết, cát kết

Hệ tầng Phú Quốc (K1) phân bố tại đảo Phú Quốc, quần đảo An Thới, Thổ Chu và một số đảo nhỏ khác, gồm cát kết dạng quaczit, sét bột kết, chuyển lên cát cuội sạn kết và cát kết

Hệ tầng Nha Trang (K2) gồm các đá phun trào axit kiềm lộ ra ở đảo Hòn Nghệ, Hòn Trung, Hòn Trước, Nam Du

Trên các đảo còn gặp các đá Macma xâm nhập tuổi khác nhau ở Hòn Tre, Đá Bạc phân bố các đá granodiorit, monzodiorrit, thuộc phức hệ Định Quán, tuổi J3 - K1 Đảo Hòn Rái cấu tạo bởi đá granit hạt lớn, granosienit, thuộc phức hệ Đèo Cả, tuổi K2

Các đảo ven bờ Trung Bộ và Đông Nam Bộ phân bố rải rác, có thành phần khác nhau ở phía bắc, ven bờ Thanh Hoá và Nghệ An các đảo cấu tạo chủ yếu bởi đá trầm tích, khi ở phía nam chủ yếu là các đá macma và trầm tích phun trào

Hòn Mê (Thanh Hoá) phía đông bắc là các đá bazan andezit tuổi P2, phía tây nam đảo là các trầm tích cuội kết, cát sạn kết, bột kết màu đỏ, tuổi

T3- Hòn Nghi Sơn cũng cấu tạo bởi các đá màu đỏ tương tự Tại Hòn Ngư và

Trang 4

Hòn Mát (ở ven bờ Nghệ An) chủ yếu phân bố các đá cát bột kết tuf phun trào tuổi T2

Các đá macma xâm nhập chiếm lĩnh đa số các đảo ven biển Trung Bộ

và đông Nam Bộ Cù Lao Chàm (Quảng Nam - Đà Nẵng), cù lao Cỏ (Bình

Định), cù lao Xanh (đông Cù Mông), Hòn Lớn (vịnh Văn Phong - Khánh Hoà), Hòn tre (Nha Trang), đảo Bình Ba (Cam Ranh), đảo Cái Hòn (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) và Hòn Khoai (Minh Hải) Đó là các

đá granit granodiorit, diorit, granosyenit, tuổi từ trước Carbon (cù lao Chàm) (cù lao Cỏ, cù lao Xanh), Jura-Creta (Côn Đảo, Hòn Trứng Lớn ) đến Creta - Paleogen (Hòn Lớn, Hòn Tre, Côn Đảo) Bên cạnh các đá xâm nhập, trên một

số đảo (Hòn Tre, Côn Đảo) còn gặp các đá ryolit, đaxit, tuf và cát cuội kết tuổi Creta

Cũng cần lưu ý là ngoài các đá trước Kainozoi, các đảo ven biển miền Trung còn được đặc trưng bởi các thành tạo trẻ hơn do các hoạt động núi lửa

Đó là các đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lý Sơn (Quảng Ngãi) và vùng đảo Phú Quý (Bình Thuận), cấu tạo bởi đá bazan và trầm tích biển tuổi N-Q

Các thành tạo Kainozoi

Các thành tạo Kainozoi đóng vai trò rất quan trọng trong cấu trúc địa chất vùng biển và các miền kế cận Chúng tạo nên kiến trúc vỏ phủ của thềm lục địa, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, trũng nước sâu Biển Đông và các đồng bằng lớn ven biển (sông Hồng, sông Cửu Long .) của Việt Nam Các thành tạo Kainozoi thường nằm phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo có tuổi cổ hơn Cấu trúc mặt cắt của các thành tạo Kainozoi bao gồm các phân vị

địa tầng có tuổi Paleogen (chủ yếu Neogen và Oligoxen), Neogen, Đệ tứ và các thành tạo phun trào bazan Neogen - Đệ tứ

Trên phạm vi vùng biển và đồng bằng ven biển Việt Nam, các thành tạo Paleogen hiện biết được ở một số mặt cắt ở phần sâu của trũng Sông Hồng, trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn gồm các trầm tích kiểu molas lục địa, tích tụ trong các bồn trũng giữa núi Chúng được phân chia thành các hệ tầng Phù Tiên (ở trũng Sông Hồng) và cù lao Dung (ở trũng Cửu Long), có tuổi Oligoxen

Các thành tạo trầm tích Oligoxen được phân chia thành các hệ tầng với các tên gọi địa phương khác nhau là hệ tầng Đình Ca (miền võng Hà Nội), hệ tầng Trà Cú (ở đồng bằng sông Cửu Long), hệ tầng Trà Tân (trũng Cửu Long),

Trang 5

và hệ tầng Cau (trũng Nam Côn Sơn).Chúng đặc trưng bởi các trầm tích lục

địa và tam giác châu ven biển hoặc biển nông

Các thành tạo Neogen phân bố rộng rãi trong các bồn trũng Kainozoi Chúng đã được phân chia chi tiết thành các phân vị có tuổi tương ứng là Mioxen sớm, Mioxen giữa, Mioxen muộn và Plioxen với các tên gọi địa phương khác nhau

Trầm tích Mioxen sớm được phân chia thành các hệ tầng như : hệ tầng Phong Châu (miền võng Hà Nội), hệ tầng Bạch Hồ (trũng Cửu Long) và hệ tầng Dừa (trũng Nam Côn Sơn) Mặt cắt chủ yếu bao gồm sét kết và các kết tướng tam giác châu (trầm tích biển châu thổ)

Trầm tích Mioxen giữa được đặc trưng bởi phần dưới là các tập sét và chuyển lên trên là cát kết xen kẽ với sét kết và bột kết thuộc tường biển nông Kết thúc mặt cắt là cãc trầm tích tường biển lùi, tam giác châu Chúng được phân chia ra các hệ tầng : Phú Cừ (miền võng Hà Nội), Côn Sơn (trũng Cửu Long), Thông và Mãng Cầu (trũng Nam Côn Sơn)

Trầm tích tuổi Mioxen muộn phát triển rất rộng rãi trong các trũng Kainozoi vùng biển Việt Nam, bao gồm hệ tầng Tiên Hưng (miền võng Hà Nội), hệ tầng Đồng Nai (trũng Cửu Long) và hệ tầng Nam Côn Sơn (trũng Nam Côn Sơn) Hệ tầng Tiên Hưng đặc trưng bằng trầm tích châu thổ chứa than, trong khi đó hệ tầng Đồng Nai chủ yếu là các trầm tích biển, còn hệ tầng Nam Côn Sơn lại gồm các thành tạo đá vôi, sét vôi ở phần trung tâm và cát gắn kết yếu ở phần rìa

Các thành tạo tuổi Plioxen phát triển rất rộng rãi trong phạm vi các bồn trũng thềm lục địa và các đồng bằng ven biển sông Hồng và Cửu Long Chúng chủ yếu là các trầm tích biển

Trên phạm vi trũng Nam Côn Sơn và trũng Cửu Long phân bố rộng rãi các trầm tích biển tuổi Plioxen (hệ tầng Biển Đông) gồm sét, bột, cát

Các trầm tích Đệ tứ phân bố hết sức rộng rãi trên phạm vi thềm lục địa, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa và lòng chảo nước sâu Biển Đông, nhưng mức độ nghiên cứu còn thấp và không đều

Trên phạm vi thềm lục địa đông nam, các trầm tích Đệ tứ có chiều dày

đáng kể, đạt tới 600m ở trũng Nam Côn Sơn và 250m ở trũng Cửu Long (Võ Dương, Nguyễn Văn Đức, 1982), Lê Văn Cự (1986) đã chia ra các phân vị :

Trang 6

hệ tầng Định An tuổi Plioxen - Pleistoxen sớm, hệ tầng U Minh tuổi Pleistoxen giữa, hệ tầng Đồng Tháp tuổi Pleistoxen giữa muội và hệ tầng Hậu Giang tuổi Holoxen Trên phạm vi một số vùng của thềm lục địa Việt Nam đã phát hiện các trầm tích Pleistoxen lộ ngay trên bề mặt đáy biển

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cấu tạo bởi san hô, mảnh vụn sinh vật và đá bazan ở quần đảo Trường Sa mới biết được phần trên cùng của mặt cắt có tuổi Pleistoxen muộn - Holoxen (Đỗ Tuyết, 1978) Còn ở quần

đảo Hoàng Sa đã xác định được các thành tạo từ Pleistoxen dưới đến Holoxen trên (Trần Tuấn Nhân, 1978) Tuổi các phân vị này được xác định khá tốt nhờ các di tích hoá thạch phong phú

Một trong những thành tạo địa chất quan trọng của Kainozoi là phun trào bazan, phân bố trên vùng duyên hải Trung Bộ và trên thềm lục địa kế cận (đảo Cồn Cỏ, cù lao Ré, đảo Tro, cù lao Thu ) Một số diện phân bố bazan trên bề mặt đáy biển thềm lục địa được khoanh định đưa vào các dị thường kiến trúc trên các mặt cắt địa chấn

Đá bazan này thường là các loại bazan olivin, bazan olivin kiềm, dolerit olivin kiềm, ít hơn là bazan trachyt, bazanit, thường có màu xanh, xám xanh, xám nâu nhạt, cấu tạo đặc xít và bọt lỗ rỗng xen kẽ lẫn nhau ở các khu vực phân bố các đá bazan này thường còn thấy bảo tồn tốt các kiến trúc núi lửa phễu, miệng, họng núi lửa với các thành tạo đặc trưng cho tướng bùng nổ như bom, dăm núi lửa, bọt núi lửa xen lẫn trong các dòng dung nham Một đặc

điểm khác dễ nhận thấy của các bazan olivin tuổi này là kiến trúc nứt khối dạng cột lăng trụ điển hình

Thành phần khoáng vật chủ yếu của các đá bazan này (tuổi QII, IV) gồm

có plagioclaz từ 10 đến 50-60%, olivin từ vài phần trăm đến 60-70%, trung bình từ 15-30%, qugit từ vài đến 15-20%, thường có nền vi tỉnh hoặc thuỷ tỉnh Đặc biệt trong các đá bazan kiềm cao và á kiềm gặp các bảo thể đá siêu bazic có thành phần chủ yếu là peridotit, thứ đều là dunit trong các bazan trên rìa lục địa, và lerzolit- spinel, thứ đều là pyroxenit trong các bazan trên thềm lục địa Kích thước trung bình của các bao thể đạt vài cemtimét, lớn nhất đạt tới 40cm như ở đảo Tro Thành phần hoá học nhìn chung so với các đá bazan tuổi N-Q1 có hàm lượng SiO2 và Al2O3 thấp hơn, còn TiO2, MgO, CaO và tổng kiềm cao hơn Về mặt trật tự thời gian thì hoạt động phun trào bazan ở rìa lục

địa đã kết thúc vào khoảng đầu Holoxen, trong khi đó các hoạt động núi lửa

Trang 7

bazan ở thềm lục địa đặc biệt là phần phía nam còn tiếp tục cho tới hiện đại

Trầm tích tầng mặt đáy biển

Trầm tích tầng mặt đáy biển Việt Nam bao gồm các kiểu chủ yếu là : tảng, cuội sỏi, cát, cát chứa bùn, sét, cát vỏ sò ốc và kiểu không xác định(theo nguyên tắc phân loại của Polk R.L.) (hình 6)

Các trầm tích tảng thường gặp ở các chân đảo, các mũi nhô đá gốc và một số nơi trên bề mặt đáy biển : ở ngoài khơi Vũng Tàu ở độ sâu nước 30m,

ở vùng biển Khánh Hoà, vùng Hòn Lớn Nha Trang và trong vùng biển Ninh Thuận - Minh Hải

ở thềm lục địa phía bắc (vịnh Bắc Bộ và bắc Trung Bộ), tảng chỉ gặp rải rác ở những nơi địa hình đặc biệt như vùng cửa sông, eo biển và giữa các chân

đảo (cửa sông Hà Cối, eo biển Cửa Đại, vùng Tiên Yên, Trà Cổ, Đầm Hà ) Nếu trong thành phần của các tảng ở phía nam giàu cacbonat và đá vôi thì ở phía bắc tảng lại có thành phần chủ yếu là đá phun trào axits, cát kết, cát bột kết giàu silic; độ mài tròn và hình dạng, kích thước của đá tảng ở phía bắc cũng khác biệt so với phía nam

Nhìn chung, trên bề mặt thềm lục địa Việt Nam, tảng chỉ có mặt ở những nơi có địa hình phức tạp, đặc biệt chúng thường ở gần hoặc ngay trong các điểm lộ đá

ở phần phía nam, cuội sỏi gặp ở những nơi có địa hình phức tạp, ven

bờ, chân đảo và gần nơi có điểm lộ đá gốc Theo thành phần chúng là các đá giàu cacbonat, đá vôi Sự có mặt của kiểu trầm tích này trước đây đã được nhiều tác giả xác nhận và sau đó Phạm Văn Thơm (1980) đã mô tả chi tiết

ở phần phía bắc, trầm tích cuội sỏi có mặt rải rác ở các vùng ven bờ, cửa sông, có biển và giữa các đảo Cuội sỏi ở đây tương đối đồng đều về kích thước (cửa sông Hà Cối)

Trầm tích cát chiếm hầu hết diện tích bề mặt đáy biển thềm lục địa phía nam Việt Nam, trong khi đó ở vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan, cát chỉ có diện phân bố không đáng kể so với các kiểu trầm tích khác

ở vùng biển phía nam, trầm tích cát phân bố thành một đới dài từ Cà Ná mở rộng về phía nam Có thể phân chia chi tiết các loại cát lớn, cát trung

và cát nhỏ Loại cát lớn và cát trung chỉ chiếm một diện nhỏ hẹp và tạo thành một dải cát bờ Phan Thiết - Hàm Tân và vùng Bạc Liêu, chúng chủ yếu có

Trang 8

thành phần là thạch anh, fenspat, chứa rất ít hoặc không có mảnh xác sinh vật, độ chọn lọc và mài mòn tương đối tốt

Cát nhỏ là kiểu trầm tích ưu thế trong vùng Theo thành phần có thể phân ra hai khu vực khác nhau rõ rệt với ranh giới nằm ngang vĩ tuyến Vũng Tàu ở khu bắc Vũng Tàu trong thành phần cát nhỏ lượng cacbonat đạt trên 10%, đôi khi đến 30% Trong khi đó ở khu nam Vũng Tàu, cát có hàm lượng cacbonat ít hơn rõ rệt (5 - 10%) và độ chọn lọc tốt hơn nhiều Nhìn chung, cát nhỏ có màu xám vàng, hầu như không chứa hoặc có chứa rất ít bùn cát Trong thành phần vật chất, có các vỏ xác sinh vật, chủ yếu là các loại thân mềm (Mollusca), một ít Foraminifera và Diatomea Thành phần chính của phần vô cơ là thạch anh trong suốt (70 - 80%), fenspat và các màng đá khác (5-10%) Các khoáng vật nặng như inmenit, magnetit, zircon và muscovít có hàm lượng rất thấp (Trịnh Thế Hiếu, 1981)

ở phần phía bắc (chủ yếu là ở trong vịnh Bắc Bộ), cát có diện phân bố hẹp và thường tạo thành các đới ở trung tâm vịnh và bao quanh vùng tây nam

đảo Hải Nam Nhìn chung, cát ở đây có thành phần chủ yếu là thạch anh và fenspat Chủ yếu là cát lớn - cát trung hoặc cát lớn lẫn cát trung Màu sắc của cát so với phần phía nam cũng khác biệt, màu chủ yếu là vàng hơi nâu đến hơi

đỏ, có lẽ do nguồn tiếp vật liệu chính là laterit

Trong vịnh Thái Lan, các trầm tích cát tạo thành hai diện nhỏ: một ở phía đông đảo Phú Quốc và một ở phía tây nam ngoài khơi đảo này Về kích thước chúng thuộc loại cát lớn (gần đảo Phú Quốc), cát trung (ngoài khơi tây nam đảo Phú Quốc) cả hai loại cát này đều có màu hơi nâu

Trên thềm lục địa Việt Nam, kiểu trầm tích cát chứa bùn được vạch

định tương đối tốt ở phía bắc, rất khó ở phía nam Trong vịnh Bắc Bộ, cát chứa bùn có mặt ở trung tâm tạo thành một dải dạng elíp lớn bao quanh dải cát lớn - trung Bạch Long Vĩ Ngoài ra còn ba dải khác : một dải ngoài khơi biển Thanh Hoá, dải thứ hai chạy sát bờ biển từ Nghệ An vào Quảng Nam, dải khác chạy ôm theo đới cát lớn phía tây nam đảo Hải Nam

Trong thành phần kiểu trầm tích này, tỉ lệ cát/bùn là 2/1, lượng sinh vật trung bình chiếm khoảng 10-20%, màu sắc thay đổi theo khu vực địa lý từ xám xanh (vịnh Bắc Bộ) chuyển sang xám vàng (ven bờ Quảng Nam-Đà Nẵng)

Trầm tích bùn chứa cát phân bố rất hạn chế ở phía bắc cũng như phía

Trang 9

nam thềm lục địa ở vịnh Bắc Bộ kiểu trầm tích này tạo thành một lưỡi nhỏ từ phía nam Hải Phòng vươn xuống phía nam và một vài diện nhỏ ở trung tâm vịnh Bắc Bộ ở miền Trung, kiểu trầm tích này tạo thành một dải chạy sát bờ

từ Đà Nẵng vào đến Nha Trang - Khánh Hoà

ở thềm lục địa phía nam rất khó phân biệt diện tích riêng của bùn chứa cát hoặc cát chứa bùn Chỉ ở ngoài khơi trước cửa sông Tiền, sông Hậu bùn chứa cát tạo thành một diện tích hẹp Trong thành phần kiểu trầm tích này, tỉ

lệ giữa bùn/cát là 3/1 Loại này có màu vàng phớt nâu, đây có thể là vật liệu phong hoá từ các mũi nhô và từ bờ đưa ra

Bùn-cát là kiểu trầm tích có tỉ lệ bùn/cát xấp xỉ 1/1 Kiểu này ít phổ biến trên bề mặt đáy thềm lục địa Việt Nam Trong phạm vi phần phía nam chúng chỉ có mặt ngoài khơi xa với diện phân bố không lớn với lượng mảnh xác sinh vật thường tương đối cao (20 - 30%), màu sắc chủ yếu là xám xanh hơi nâu vàng

Cát chứa bùn sét có màu xám xanh, độ chọn lọc trung bình, độ ướt cao

Tỉ số cát/bùn sét gần 1/1 kiểu này tạo thành một dải hẹp ngoài khơi từ Phan Thiết xuống phía nam, ranh giới trong tiếp giáp cới vùng cát nhỏ rộng lớn của phần phía nam thềm lục địa Việt Nam, phía ngoài là ranh giới của kiểu trầm tích sét biển khơi Biển Đông Ranh giới trong của kiểu trầm tích cát chứa bùn sét gần trùng với đường đẳng sâu 200m

Bùn sét và sét bùn kiểu trầm tích này về thành phần tương đối giống nhau Tuỳ thuộc vào tỉ lệ cấp hạt lớn hơn 0.005mm và nhỏ hơn 0.005 mm để phân ra bùn sét hay sét bùn (hàm lượng cấp hạt 0.05 - 0,005mm nhiều là bùn sét ; 0.005 - 0,001 nhiều là sét bùn)

ở thềm lục địa phía bắc, bùn sét và sét bùn có màu xám xanh chứa mảng xác sinh vật chiếm hầu hết diện tích bề mặt đáy biển và có xu thế vươn xuống phía nam với diện phân bố càng thu hẹp lại

Điểm đặc biệt là dải sét bùn tiền delta (avandelta) của hệ thống sông Hồng và của hệ thống sông Mê Kông có bề rộng và sự phân bố gần tương tự nhau (ranh giới ngoài ở độ sâu 20 - 22m)

ở phần phía nam, các kiểu trầm tích bùn sét và sét bùn chiếm diện tích phân bố rất nhỏ, trừ một hố và rãnh sâu ở vùng biển khơi Ninh Thuận - Minh Hải Bắt đầu từ Vũng Tàu chạy gần song song với đường bờ biển Nam Bộ ranh

Trang 10

giới ngoài của dải bùn sét này gần trùng với đường đẳng sâu 20-22m Đây là kiểu trầm tích tiền delta điển hình Càng xuống phía nam bùn sét và sét bùn

mở rộng dần diện phân bố, đặc biệt là bùn sét

Trong vịnh Thái Lan, khoảng 4/5 bề mặt đáy biển được phủ bởi trầm tích mịn là bùn sét và sét bùn (Emery, Niimo) Nếu so sánh giữa bùn sét và sét bùn trên toàn bộ bề mặt đáy biển Việt Nam thấy rằng phía bắc (vịnh Bắc Bộ)

và trong vịnh Thái Lan lượng mảnh xác sinh vật nhiều hơn ở ven bờ thềm lục

d địa phía nam Về màu sắc, kiểu trầm tích này có màu gần tương tự nhau là xám xanh hoặc xám xanh hơi đen Còn ở dải avandelta sông Mê Kông và

Đồng Nai màu xám hơi vàng Về cấp hạt, trầm tích trong vịnh Thái Lan mịn hơn trong vịnh Bắc Bộ

Sét là kiểu trầm tích có kích thước hạt nhỏ nhất, đồng thời là kiểu trầm tích chủ yếu của đáy biển khơi thềm lục địa Việt Nam Chúng có màu xám hơi nâu vàng, phớt đỏ, lượng mảnh xác sinh vật rất ít (khoảng 5-7%)., thành phần chủ yếu là các khoáng vật sét

Ngoài các kiểu trầm tích được trình bày ở trên, trong phạm vi tầng mặt

đáy thềm lục địa Việt Nam còn có một số kiểu trầm tích mà diện phân bố của chúng hoặc rất hẹp hoặc chỉ là các vệt lẫn trong vùng phân bố của các kiểu trầm tích khác Đó là: cát vỏ sò ốc (Trịnh Thế Hiếu, 1981), đá trầm tích Đệ tam (Phạm Văn Thơm, 1985) và kiểu không xác định (Nguyễn Hữu Sửu, 1990)

Cát vỏ sò ốc tạo thành từ vỏ sò ốc vỡ vụn, hàm lượng cacbonat khá cao (50-79%), gặp ở khu vực phía bắc vịnh Phan Thiết và ngoài khơi Phan Rang

Trầm tích có thành phần không xác định chủ yếu là các mảng đá, mảng san hô, sò ốc hỗn hợp, đặc biệt lượng cacbonát khá cao, kích thước hạt các vật liệu thu được cũng rất hỗn hợp Chính vì vậy mà chúng được phân thành một kiểu trầm tích riêng biệt kiểu không xác định (Nguyễn Hữu Sửu, 1990) Đã phát hiện chúng ở gần cù lao Thu, Hòn Tranh trong khu vực quần đảo Katvich

và gần quần đảo Hoàng Sa

Ngoài ra, ở ngoài khơi vùng thềm lục địa nam Việt Nam ở độ sâu tương

đối lớn đôi nơi gặp vết lộ đá trầm tích Đệ tam

Trang 11

Hình 6 Sơ đồ mẫu trầm tích tầng mặt thềm lục địa Việt Nam

và vùng kế cận ( theo Nguyễn Hữu Sửu,1990)

Trang 12

Hình 7 Sơ đồ tân kiến tạo biển Việt Nam và các miền kế cận

(Theo Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng, 1990)

1 Đường đẳng trị biến dạng tân kiến tạo trên lục địa 4 Đứt gẫy giới hạn các địa hào và rift

2 Đường đẳng trị bề dày trầm tích Kainozoi vùng biển 5 Trục giãn đáy đại dương đã tắt

Trang 13

2.1.2 Đặc điểm kiến tạo

Các kiến trúc kiến tạo chính Theo cách phân vùng phối hợp giữa nguyên tắc truyền thống theo tuổi uốn nếp kết thúc với quan điểm động lực mới về tiến hoá thạch quyển, bình đồ kiến trúc hiện đại của Biển Đông và các vùng kế cận bao gồm các yếu tố kiến trúc cơ bản là (hình 7)

1 Xecment Việt Nam của hệ uốn nếp Caledoni Việt - Trung

2 Đới khâu kiến tạo Sông Hồng

3 Hệ địa máng uốn nếp Việt - Lào

4 Địa khối Indonesia

5 Hệ địa máng uốn nếp Đà Lạt - Campuchia

6 Khối Tiền Cambri Cardamon (Pursat)

Trải qua lịch sử tiến hoá lâu dài từ Tiền Cambri sớm đến nay, bình đồ kiến trúc của thạch quyển lục địa Việt Nam và các miền kế cận đã ngày càng phức tạp bởi các thế hệ kiến trúc chủng loại khác nhau, được nảy sinh trong các kiến trúc sinh kế khác nhau Careli, Baicali, Caledoni, Hecxini, Kimmeri

và Alpi Căn cứ vào các đặc điểm cấu trúc và tiến hoá của các thế hệ kiến trúc

kể trên có thể phân chia chúng thành hai loại cơ bản : loại kiến trúc Tiền Cambri và loại kiến trúc Phanerozoi

Thềm lục địa Việt Nam có móng uốn nếp đa sinh, hợp thành từ các kiến trúc uốn nếp có tuổi sinh thành khác nhau từ Proterozoi đến cuối Trias Cấu trúc của móng uốn nếp này có đặc tính khối khảm rõ rệt, được phản ánh ngay trong bình đồ cấu trúc của loại kiến trúc Kainozoi nằm chồng phía trên Quá trình hình thành các kiến trúc sau địa máng thuộc các chủng loại khác nhau ở mỗi đới kiến trúc uốn nếp cụ thể đã bắt đầu vào các thời điểm khác nhau Với các tài liệu hiện có, có thể ghi nhận những pha kịch phát vào đầu Mesozoi, vào đầu Jura và vào cuối Creta-Pleogen

Bức tranh toàn cảnh của cấu trúc Kainozoi thềm lục địa Việt Nam được phản ánh trong hình hài các đường đồng bề dày trầm tích Kainozoi, có thể hình dung là một chuỗi các bồn trũng có qui mô khác nhau và định hướng khác nhau trải trên móng uốn nếp đa sinh và khuôn lấy bờ biển hình chữ "S'

Trang 14

của Việt Nam, chuỗi bồn trũng này bị cắt đôi thành hai phần bởi đới khâu kiến tạo kế thừa Sông Hồng được thể hiện trực tiếp trong phạm vi thềm lục

địa và oằn võng sâu vịnh Bắc Bộ phương tây bắc - đông nam Đến lượt mình, các bồn trũng Kainozoi lại được ngăn cách bởi những kiến trúc nâng (hay sụt tương đối) có qui mô bé hơn nhiều và thường chỉ là các kiến trúc rìa nhưng lại

có cấu trúc nội tại rất phức tạp Theo kết quả nghiên cứu hiện nay, các bồn trũng kể trên tuy lệ thuộc các kiểu nguồn gốc khác nhau nhưng cũng có chung một cơ chế sinh thành là căng dãn và sụt lún,và dường như đều trải qua ba thời

kỳ phát triển : Paleogen, Mioxen và Plioxen - Đệ tứ Sự phát triển của chúng nằm trong mối tương quan chặt chẽ với qúa trình phát triển của kiến trúc Biển

Đông kế cận

Các kiến trúc Kainozoi của thềm lục địa được chia thành hai nhóm chính với đới khâu kế thừa Sông Hông làm ranh giới, Nhóm kiến trúc thứ nhất nằm kề phía đông bắc của đới khấu Sông Hồng Cấu trúc nội tại của nó bao gồm các bồn trũng Kainozoi có qui mô khác nhau là Tây Lôi Châu và Nam Hải Nam Các bồn trũng kể trên thành tạo trên móng uốn nếp tuổi Paleogen bị lún chìm của miền uốn nếp Katazia đã bị cải biến mạnh bởi các hoạt động hồi sinh macma - kiến tạo Mecozoi

Trên phạm vi thềm lục địa đới khâu Sông Hồng thể hiện là một oằn võng bù trừ sâu được giới hạn bởi các đới đứt gãy sâu có phương tây bắc -

đông nam và chuyển dần về phương kinh tuyến thềm lục địa miền Trung Cho

đến nay vấn đề cấu trúc nội tại của oằn võng sâu này vẫn chưa được sáng tỏ Căn cứ vào các tài liệu địa vật lý (địa chấn và trọng lực) có thể dự đoán bề dày các trầm tích Kainozoi ở đây đạt trên 12 km (có thể đến 14 km) Sự phân dị kiến trúc theo đường phương cũng thể hiện khá đậm nét Đây là một đối tượng

địa chất quan trọng của thềm lục địa Việt Nam nói chung

Phía tây nam của đới khâu Sông Hồng là một dải thềm lục địa hẹp thuộc phần rìa phía tây của vịnh Bắc Bộ Trên hầu hết diện tích dải này có biểu hiện các đơn nghiêng sụt lún với biên độ đạt đến 6-7km Nằm kề sát phía nam của dải này là bốn trũng Phú Khánh chủ yếu có phương kinh tuyến Cấu trúc nội tại của bồn này bao gồm các trũng hẹp có chiếu sâu đến 5-6km Có những trũng kéo dài sang phạm vi sườn lục địa và bị chắn phía đông bởi đới

đứt gãy kinh tuyến Hai Nam- eo biển Sunda ở phía nam, bồn trũng Phú Khánh tiếp giáp với đớt sụt tương đối Phan Rang đồng thời cũng là hội điểm

Trang 15

phía bắc của các bồn trũng lớn Cửu Long (Vũng Tàu) và Nam Côn Sơn Bồn trũng Cửu Long có phương đông bắc và cấu tạo phức tạp với nhiều hệ thống

đứt gãy khác phương Bề dày trầm tích ở đây đạt đến 8km Dải nâng Côn Sơn

đóng vai trò ranh giới của hai trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn Bồn trũng Nam Côn Sơn chiếm diện tích rộng lớn phía đông và nam dải nâng Côn Sơn Cấu trúc của nó bao gồm một số các trũng bậc cao được giới hạn chủ yếu bằng các đứt gãy phương kinh tuyến và đông gắc - tây nam Biên độ sụt lún ở

đây đạt cực đại hơn 10 km Về phía đông, một sống lồi rìa ngăn cách bồn trũng Nam Côn Sơn với kiến trúc lòng chảo nước sâu Biển Đông Về phía nam bồn trũng Nam Côn Sơn chia thành hai nhánh đới nâng Natuma Nhánh phía tây kéo dài và bồn trũng tây Natuna Còn nhánh phía đông tiếp tục kéo xuống phía nam và nhập vào bồn trũng Kainozoi khổng lồ Sarawan

Càng đi về phía nam thì thềm lục địa Việt Nam càng mở rộng và hoà vào các thềm lục địa Sunda Như đã biết, kiến trúc cơ bản của thềm lục địa này là những bồn trũng Kainozoi rộng được lấp đầy các trầm tích có bề dày lớn (từ 4-5 đến 9-10 km) với tiềm năng lớn về tích tụ dầu khí trong sự thành tạo đa số các bồn trũng dẫn đầu là các đứt gãy của móng Điều đó nói lên bản chất rift của chúng

Trong phạm vi vịnh Thái Lan phân chia được hai vòng nguồn rift : Pattani phương kinh tuyến và Malay phương tây bắc - đông nam Võng Malay phương tây băc - đông nam Võng Malay phân cách với rìa nam của thềm lục

địa tây Biển Đông bởi một yên ngựa Rìa nam này uốn thành vòng cung lồi về phía nam và có biên độ sụt lún đến 4-5 km Trong cấu trúc của hệ thống giáp nối này có các trũng Peniu và Tây Natuna Về phía bắc hệ thống này kề với vùng nước nông của thềm lục địa Việt Nam có chiều dày trầm tích Kainozoi

bé (tối đa đến 2 km) và có điểm lác đác các hòn đảo nhỏ thuộc phạm vi thềm lục địa Sunda (trong văn liệu hiện nay thường gọi là đới nâng Korat)

Về phía đông thềm lục địa Việt Nam tiếp giáp với biển với biển rìa

Đông Việt Nam qua một đới khâu kiến tạo khổng lồ, thể hiện là một đới phá huỷ kiến tạo bao gồm các hệ thống đứt gãy chủ yếu có phương kinh tuyến nhưng có đặc tính cấu trúc và hình động học khác nhau Đới khâu này trải dài theo dải kinh tuyến 109 - 1100, bắt đầu từ phía nam của địa khối Tiền Cambrri Nam Hải qua suốt sườn lục địa phía đông nước ta và kéo xuống phía nam dọc mạn sườn phía tây đảo Kalinantan đến eo biển Sunda ngân cách các đảo

Trang 16

Sumatra và Java của Indonesia Trên bình đồ đới khâu này phân cắt rõ rệt cả các kiến trúc kiểu lục địa lẫn các kiến trúc kiểu đại dương Điều đó nói lên bản chất nguồn sâu của nó

Mô hình phân vùng kiến tạo của vực đáy Biển Đông bao gồm các yếu tố kiến trúc chủ yếu sau :

1 Lòng chảo nước sâu với vỏ đại dương mà trên đó đã bắt đầu hình thành vỏ phủ trầm tích từ Kainozoi với bề dày tầng cao

2 Các khối bị lún chìm có vỏ lục địa tuổi Paleozoi Trường Sa (Spratly - Reed) và Hoàng Sa (Paracel-Macclefield) đang bị huỷ hoại và tách dãn cùng với việc thành tạo các hệ tầng Kainozoi có bề dày phân dị lớn

3 Hệ thống bờ của biển rìa bao gồm các võng rìa sâu và vàch kiến tạo trong phạm vi sườn lục địa

Các kiểu kiến trúc kể trên hợp thành một loại kiến trúc thống nhất kiểu huỷ hoại - gây dựng (destruction- construction) rất đặc trưng cho các miền

động kiểu địa máng rìa lục địa

Lòng chảo nước sâu Biển Đông trên bình đồ lòng chảo nước sâu trung tâm Biển Đông có dạng một địa hào, thu hẹp lại trên hướng tây nam giữa hai khối vỏ lục địa lún chìm Hoàng Sa và Trường Sa ở phía tây nam tiếp cận với sườn lục địa, kiến trúc này bị cắt ngang bởi đứt gãy kinh tuyến Hải Nam - eo biển Sunda Lòng chảo nước sâu Biển Đông ngăn cách với biển Sulu bởi tiểu lục địa Palawan-Mindoro, tiểu lục địa này tiếp tục kéo dài về phía tây nam bằng cung đảo Plawan-Sabah ở phía bắc lòng chảo này tiếp giáp với thềm lục

địa Nam Trung Quốc qua đới đứt gãy có phương á vĩ tuyến với các địa hào hẹp kèm theo Trong các địa hào này có mặt các thành tạo macma mafic và các hệ tầng trầm tích Kainozoi khá dày

Vỏ Trái đất của lòng chảo nước sâu Biển Đông thuộc kiểu đại dương với chiều dày 4 - 8km và bề mặt Moho nằm ở độ sâu 8 - 12km tương ứng Phần phía đông rộng nhất của lòng chảo này là nơi được nghiên cứu chi tiết nhất ở đây các dị thường từ mang tính chất tuyến đối xứng với phương á kinh tuyến Theo các dị thường từ này nhận biết được pha dãn đáy biển mạnh nhất diễn ra vào khoảng 32 đến 17 triệu năm về trước với tốc độ là 2,5cm một năm

Bề dày của vỏ phủ trầm tích ở đây tăng dần từ trục dãn đáy về phía các bờ đặc biệt là về phía bờ bắc và dao động trong khoảng 0,2 đến 2km

Trang 17

Các khối tảng có vỏ lục địa bị lún chìm phần lớn của diện tích Biển

Đông thuộc về các kiến trúc khá đặc thù, về phía đông bắc là kiến trúc Hoàng

Sa, bao gồm quần đảo Hoàng Sa và cồn nổi Macclefield và các phần kéo dài dưới nước của chúng về phía tây nam, còn về phía nam là kiến trúc Trường Sa bao gồm quần đảo Trường Sa và cổn nổi Reed

Khối Hoàng Sa theo một số tài liệu mới thì móng của các đảo Hoàng Sa

được cấu tạo từ đá biến chất Tiền Cambri và các hệ tầng phun trào - trầm tích

bị biến chất tuổi Paleozoi-Mesozoi Vào giai đoạn trước Neogen, móng này bị nâng lên cao trên mặt biển được chứng minh bằng việc phát hiện vỏ phong hoá (dày đến 20m) có chứa bào tử và phấn hoa gốc lục địa Sự lún chìm của khối này bắt đầu vào Oligoexen muộn - Mioxen và sau đó thành tạo các hệ tầng đá vôi ám tiêu Mioxen-Plioxen dày đến 1.000m Với những dao động nhất định, khuynh hướng sự lún của khối Hoàng Sa tiếp tục kéo sang Pleistoxen, điều được ghi nhận bởi các ám tiêu san hô dày đến 200-260m Quan sát được các biểu hiện phun trào bazan tập trung trong hai pha Pléitoxen sớm và muộn

Các tài liệu địa vật lý cho thấy phần lớn vùng quần đảo Hoàng Sa bị che phủ bởi các trầm tích Kainozoi có chiều dày đáng kể, đôi nơi đến trên 4 km (phía nam đảo Tri Tôn) Hình dáng các đường đồng bể dày phản ánh khá nổi bật cấu trúc khối tảng của móng quần đảo Cấu trúc khối tảng này bị phân cắt bởi các đới đứt gãy chủ yếu có phương đông bắc và tây bắc Theo các tuyến

đứt gãy phương đông bắc ghi nhận được các đới địa hào - rift hẹp có các biểu hiện macma mafic và có chiều dày trầm tích Kainozoi không lớn Chính bằng các kiến trúc này mà khối Hoàng Sa thoạt đầu tách khỏi rìa thềm lục địa Nam Hai Nam và sau đó thì cồn nổi Macclesficld tách khỏi chính khối tảng Hoàng

Sa

Khối Hoàng Sa ngăn cách với sườn lục địa bằng các kiến trúc oằn võng

địa hào có phương đông bắc Kiến trúc này trải dọc phía bắc Hoàng Sa và có dạng sút lún không đều với biên độ tăng dần về phía sườn lục địa và đặt xấp

xỉ 4.000m

ở cánh đông nam và nam, khối Hoàng Sa tiếp giáp với trũng nước sâu Biển Đông bằng một hệ thống các nếp oằn bị đứt gãy làm phức tạp thêm kiến trúc

Khối Trường Sa trong phạm vi kiến trúc có vỏ lục địa thoái hoá Trường

Trang 18

Sa, ở phần tây nam của cồn nổi Reed đã khoan thấy trầm tích lục địa tuổi Mesozoi (Creta) bị chìm dưới các trầm tích Kainozoi ở độ sâu hơn 5.000m Các hệ tầng Kainozoi bắt đầu bằng các trầm tích Paleoxen thượng tướng biển nông, sau đó tiếp tục một hệ tầng dày các trầm tích Eoxen biển sâu Sau một gián đoạn trầm tích ngắn, từ Eoxen đến giữa Oligoxen muộn tiếp tục trầm

đọng các hệ tầng tướng ven biển, cuối cùng phủ trên các hệ tầng vừa mô tả với gián đoạn là các hệ tầng đá vôi ám tiêu (dày đến 2.000m) tuổi Oligoxen muộn

- Đệ tứ

Các tài liệu địa vật lý hiện có thường cho một khái niệm về móng âm học (mà không phải lúc nào cũng rõ về bản chất địa chất) các trầm tích trước biến dạng và sau biến dạng Hiện đang tồn tại nhiều giả thiết khác nhau về tuổi của các trầm tích này Phần đông đều nghiêng về lập luận cho rằng các trầm tích (dù trước hay sau biến dạng) chủ yếu có tuổi Kainozoi Theo hình thái và đặc điểm kiến trúc của địa hình đáy, có thể xác định được nhiều yếu

tố kiến trúc phá huỷ đứt gãy có phương khác nhau Bề dày trầm tích Kainozoi trong phạm vi của khối này nhiều nơi đạt trị số lớn Có thể phân chia được một số trũng qui mô khác nhau và định hướng cũng khác nhau : trũng bãi Suối Ngà (bề dày trầm tích đến 6.000m), các bồn trũng Nam Yết, Bình Nguyên,

Kỷ Vân (đều có bề dày trầm tích trên 5.000m) Nhìn chung, bề dài trầm tích giảm theo chiều tăng dần của độ sâu đáy biển Theo kết quả khoan nêu ở trên thì rõ ràng là thời gian sụt hạ của vùng này đã xảy ra vào khoảng cuối Paleoxen Đặc điểm này chứng tỏ khối Trường Sa đang trải qua sự lún chìm phân dị Toàn bộ sườn phía nam và đông nam của khối này tiếp giáp với kiến trúc oằn võng sâu kiểu địa hào - hẻm vực biển Palawan và phần kéo dài của nó

về phía đông bắc Hẻm vực biển này đóng vai trò giới hạn giữa khối Trường

Sa và vách kiến tạo trong phạm vi sườn lục địa bắc Kalimantan

Nếu so với khối Hoàng Sa thì địa hình kiến tạo khối Trường Sa có mức

độ phân dị cao hơn nhiều Điều đó phản ánh sự dịch chuyển các khối móng theo các phương khác nhau Dường như trong lịch sử, khối Trường Sa đã từng

có liên hệ về phía đông bắc với khối tiểu lục địa Palawan-Mindoro trượt xuống một ít về phía nam

Các tài liệu trình bày ở trên chứng tỏ rằng hai kiến trúc Hoàng Sa và Trường Sa khá giống nhau và phân biệt rất rõ với kiểu kiến trúc đại dương ngăn cách chúng - lòng chảo nước sâu Biển Đông Bản chất lục địa của các

Trang 19

kiến trúc này ngày càng được chứng minh bằng các tài liệu mới Rất có thể những khối kiến trúc Hoàng Sa và Trường Sa đã từng là những hợp phần của lục địa châu á, nằm ở vùng kết thúc phía đông của hệ thống địa máng uốn nếp Việt- Lào Chúng đã bị đập vỡ mạnh và biến dạng kiến trúc phân dị, rồi sau đó

bị lôi cuốn vào sụt lún trong qúa trình hình thành trũng nước sâu Biển Đông

Vị trí kiến trúc hiện nay của chúng được xác định bởi pha tách dẫn cuối cùng của đáy biển này trong Kainozoi muộn

Lòng chảo nước sâu trung tâm Biển Đông và hai khối tảng có vỏ lục địa

bị lún chìm Hoàng Sa và Trường Sa được phân cách với các thềm lục địa kế

cận bởi một kiểu kiến trúc khá độc đáo được đặt tên là "Hệ thống bờ của miền nước sâu Biển Đông"

Hệ thống bờ của miền nước sâu Biển Đông có những yếu tố kiến trúc chủ yếu là :

Sườn lục địa, trong đa số trường hợp được thể hiện bằng vách kiến tạo

có kèm theo các kiểu phá huỷ khác nhau (đứt gãy hoặc nếp oằn có thể nằm sâu)

Các oằn võng sâu bù trừ dạng địa hào thuộc nhiều kiểu nguồn gốc Vách kiến tạo trong phạm vi sườn lục địa là một kiểu kiến trúc ranh giới mang đặc tính tổng hợp Móng của kiến trúc này vẫn là thực thể của các kiến trúc lục địa nằm kế cận, nhưng các hoạt động tích đọng ở đây khá mạnh

và nhiều nơi đạt chiều dày khá lớn Ranh giới trên của kiến trúc này được vạch trong khoảng độ sâu từ 200 - 500m, còn ranh giới dưới khá phức tạp thường nằm ở độ sâu từ 1.000 - 2.000m Nhiều đoạn của kiến trúc thể hiện là các đốt đứt gãy (như vùng rìa ngoài thềm lục địa Quảng Ngãi - Bình Thuận) kiểu các rìa động Nhiều nơi chúng là sự ùn đống những nón phóng tích khổng

lồ

Vách kiến tạo nhận biết được trong địa hình đáy biển thường là nhờ vào sự tăng dày các đường cùng độ sâu ở các rìa thềm lục địa Điều này trùng với đới tăng cao gradient chiều dày trầm tích Kainozoi và tương ứng như vậy với đới giảm ráo riết bề dày vỏ Trái đất chủ yếu do sự vát nhọn nhanh lớp granít - biến chất

Các oằn võng sâu bù trừ dạng địa hào ở phía bắc, nơi giáp với thềm lục

địa Nam Trung Quốc (kể cả Nam Hải Nam) vách kiến tạo này có kèm theo về

Trang 20

phía biển sâu một oằn võng khá rộng dạng địa hào phương đông bắc được lấp

đầy bởi các trầm tích Kainozoi dày đến 6 km và có biển hiện các macma mafic Trên địa hình đáy biên oằn võng này thể hiện như một "eo biển" với độ sâu đến 2.000m

Một kiến trúc khác cũng sâu như vậy và đi kèm vách kiến tạo về phía biển sâu được nhận định ở phía nam Biển Đông - ở đới khớp nối Trường Sa với thềm lục địa Kalimantan Kiến trúc này được nhắc nhiều trong văn liệu

với tên gọi là "hẻm vực biên Palawan" Hẻm vực biển này hình thành trên một

đới benhop đã thôi hoạt động vào Mioxen muộn Còn bản thân kiến trúc Palawan được lấp đầy bởi các trầm tích Kainozoi khá dày đến 6km Trên bình

đồ hẻm vực biển Palawan có dạng một oằn võng vát nhọn về phía đông bắc và chuyển dạng thành đới đứt gãy đổ nghiêng dưới đảo Palawan

Một yếu tố kiến trúc nữa của các hệ thống của Biển Đông là oằn võng dạng rift trước thềm lục địa Đông Việt Nam có phương á kinh tuyến trên bình

đồ kiến trúc có dạng vát nhọn ở phía bắc và mở rộng ở phía nam Có thể oằn võng nàylà phần kéo dài của đới rift lục địa Sông Hòng, hiện đã bị di chuyển dọc theo đứt gãy kinh tuyến Hải Nam - eo biển Sunda Những tài liệu hiện có chưa cho phép phân tích cặn kẽ cấu trúc nội tại của oằn võng này Tuy vậycó thể nêu ra một số nét cặn kẽ cấu trúc nội tại của oằn võng này Tuy vậy có thể nêu ra một số nét chính về kiến trúc của nó Trên địa hình đáy biển, kiến trúc này được thể hiện như một bậc thang chuyển tiếp nhô cao ở phía bắc và nghiêng nhẹ về phía nam, tức về phía lòng chảo nước sâu Bậc thang này cắt qua các kiến trúc trẻ khác, điều được phản ánh rõ trong sự phân bố bề dày các trầm tích Kainozoi, đạt cực đại đến 6km ở cận với vách kiến tạo ở phía nam, vào khoảng vĩ tuyến Vũng Tàu, kiến trúc oằn võng đang mô tả khớp nối với

đoạn cuối phía tây nam của lòng chảo của kiến trúc này có các dữ kiện như sau : thứ nhất là sự xuất hiện của núi lửa ngầm, trong số đó có biểu hiện cách

đây không lâu (Hòn Tro) trên lãnh thổ thềm lục địa Nam Trung Bộ, thứ hai là tính hoạt động đất nâng cao rõ rệt với các chấn tiêu động đất nằm ở độ sâu 10

- 20km

Đặc điểm biến dạng tân kiến tạo

Khái niệm biến dạng tân kiến tạo được đề cập ở đây bao hàm các nội dung về các quy luật đặc thù của các chuyển động tân kiến tạo và các thế hệ kiến trúc do những chuyển động này tạo ra, về các biểu hiện của chế độ địa

Trang 21

động lực của thạch quyển trong lịch sử hiện đại và ảnh hưởng của chúng đến các qúa trình địa chất bề mặt

Các đặc điểm chủ yếu của tân kiến tạo Biển Đông Việt Nam nằm trong mối quan hệ nguồn gốc khăng khít với các bối cảnh địa động lực đã từng tồn tại trong lịch sử Kainozoi của toàn miền Đông Nam á Bởi vậy, để xác lập

được các qui luật cơ bản về tân kiến tạo của lãnh thổ nước ta, trước tiên cần dừng lại xem xét và tổng kết những quy luật về phát triển kiến tạo của lãnh thổ Đông Nam á Bởi vậy, để xác lập được các qui luật cơ bản về tân kiến tạo của lãnh thổ nước ta, trước tiên cần dựng lại xem xét và tổng kết những quy luật về phát triển kiến tạo của lãnh thổ Đông Nam á nói chung trong giai

đoạn tân kiến tạo

Hiện nay những khuynh hướng cơ bản trong sự phát triển kiến tạo Kainozoi của khu vực Đông Nam á được biết khá rõ Mô hình biến dạng trẻ tổng quát của thạch quyển Đông Nam á đặc trưng bởi một loại các đặc điểm Một là, xác lập được một cách rõ rệt vai trò của tính kế thừa trong sự hình thành bình đồ kiến trúc mới được thể hiện ở chỗ những chuyển động kiến tạo trẻ nhìn chung kế thừa ở dạng khái quát những yếu tố lớn của kiến tạo và

được phản ánh một cách tương phản bởi sự sụt võng của bề mặt Moho Hai là,

đã và đang diễn ra qúa trình rift mạnh và rộng khắp trên phông chung của qúa trình sinh nút lặp lại ở dạng các đới năng vòm khối tảng với biên độ vừa phải bao quát hầu khắp các kiến trúc có vỏ lục địa cố kết sớm hơn Nhờ đó đã xuất hiện một tổ hợp các đới rift nội lục và các trường bazan cộng sinh với chúng, các lòng chảo nước sâu biển ven cũng như các tiểu lục địa ở rìa sau lưng các

hệ thống cung đảo và trên các rìa của các khối tảng lục địa do kết quả của hoạt động sâu trên phông chung của phát triển ngày càng mạnh qúa trình địa máng ở đới chuyển tiếp từ đại lục Âu-á đến các đại dương Ba là, diễn ra các dịch chuyển qui mô lớn có định hướng khác nhau theo các đới Benhop và các

đứt gãy bằng có thể nằm sâu Sự phối hợp hai dạng phá huỷ này đã xác định việc tách biệt các miền kiến trúc tân kiến tạo có cấu trúc phân khối tảng và chế độ kiến tạo riêng của mình

Mô hình biến dạng này đã nảy sinh trong qúa trình tương tác phức tạp của ba mảng thạch quyển lớn Âu-á, Thái Bình Dương và Indo-Australia, của hai lục địa là châu á, châu úc và ba đại dương - Tetis, ấn Độ Dương và Thái

Trang 22

Bình Dương Bối cảnh địa động lực này đã quy định tính chất phức tạp lịch sử hình thành và phát triển kiến trúc thạch quyển Đông Nam á hiện đại

Những tổng kết vừa nêu trên cho toàn vùng Đông Nam á đã cung cấp các nhận thức hết sức cơ bản và mang tính chất nguyên tắc về những quy luật phát triển kiến trúc thạch quyển Việt Nam vào giai đoạn tân kiến tạo

Kết quả những công trình nghiên cứu lập bản đồ kiến tạo Việt Nam đã chứng tỏ rằng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ đất nước ta đều có các biểu hiện của các chuyển động tân kiến tạo Các biểu hiện này đã được lưu lại trong các thế hệ kiến trúc đa dạng và được phản ảnh trong địa hình hiện đại của hệ mặt trái đất Căn cứ vào những đặc điểm về đường hướng phát triển cường độ biểu hiện và tính chất của các thực thể kiến trúc, có thể phân chia lãnh thổ thành hai địa kiến trúc tân kiến tạo cơ bản : địa kiến trúc có vỏ trái đất kiểu lục địa

và địa kiến trúc có vỏ trái đất kiểu chuyển tiếp Địa kiến trúc có vỏ trái đất kiểu lục địa chiếm toàn bộ diện tích đất liền và thềm lục địa bao qanh Còn địa kiến trúc có vỏ trái đất kiểu chuyển tiếp thì ứng với lưu vực Biển Đông ngoài thềm lục địa, trong đó kể cả các vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (hình 3)

Hai địa kiến trúc kể trên khác nhau trước tiên ở kiểu vỏ trái đất - lục địa

và chuyển tiếp, và các đặc điểm của chuyển động tân kiến tạo cũng như đường hướng chung của sự phát triển Biên độ biến dạng tổng quát theo chiều thẳng

đứng của lãnh thổ dạng xem xét đạt đến 13-17 km (kể cả nâng và sụt), với biên độ nâng cực đại gần 3 km ở các công trình núi trên lục địa và biên độ sụt lún cực đại hơn 14 km ở các bồn trũng thềm lục địa Còn biên độ dịch chuyển ngang thì dao động trong phạm vi rộng, từ vài km dọc theo các đứt gãy nghịch chờm đến hàng chục và hàng trăm kilômét trong các đới rift và các đứt gãy bằng lớn thậm chí đến hàng nghìn km trong phạm vi lòng chảo nước sâu Biển

Đông Dạng cơ bản của biến dạng tân kiến tạo khu vực này là sự dịch chuyển phân dị của khối tảng của móng đa sinh, được phản ánh tương phản trong mô hình sụt lún của mặt đáy vỏ trái đất (ranh giới Moho) Nhìn chung, những chuyển động tân kiến tạo có khuynh hướng kế thừa bình đồ kiến trúc cổ hơn,

đồng thời chúng phản ánh cấu trúc phân lớp khối của vỏ địa cầu Còn những hình thái kiến trúc lớn (bậc thấp) lại phản ánh đường hướng của các qúa trình diễn ra trong lòng trái đất, nơi đã sản sinh ra các cơ chế của các chuyển động kiến tạo

Trang 23

Địa kiến trúc có vỏ trái đất kiểu lục địa bao gồm nhiều kiến trúc bậc cao, phân biệt với nhau bởi những đặc điểm về đường hướng phát triển chủ

đạo, cường độ chuyển động tân kiến tạo, tính chất kiến trúc và sự phát triển các thực thể địa chất móng Những kiến trúc được phân chia cụ thể là : địa khối kiểu nền Kon Tum, các đới sinh núi trẻ lặp lại trong phạm vi các miền uốn nếp khác tuổi (Đông Bắc Việt Nam và Đà Lạt), đới khâu kế thừa Sông Hồng, võng chồng Cửa Long và miền lún chìm thềm lục địa Việt Nam Không dừng lại ở việc trình bày chi tiết các đặc điểm biến dạng tân kiến tạo của các kiểu kiến trúc kể trên, ở đây cần đặc biệt nhấn mạnh rằng : trong suốt giai

đoạn tân kiến tạo, phần lớn lãnh thổ phần lục địa của Việt Nam đã bị lôi cuốn vào qúa trình sinh núi lập lại mạnh mẽ trên phông chung của một thế hệ kiến trúc uốn nếp có phát triển vỏ trái đất kiểu lục địa trưởng thành Quá trình này liên quan mật thiết về nguồn gốc với qúa trình huỷ hoại vỏ lục địa và nảy sinh các kiến trúc kiểu đại dương mới thuộc lưu vực Biển Đông Các thế hệ kiến trúc tân kiến tạo đã xác định những đường nét cơ bản của cấu trúc địa hình hiện đại bề mặt trái ddất Những đường nét cơ bản này cần được hiểu là độ tương phản bề cao của địa hình và bình đồ kiến trúc hình thái

Các đặc trưng kiến trúc cơ bản của miền lún chìm thềm lục địa Việt Nam đã được trình bày trong phần trên, ở đây chỉ dừng lại ở một số luận điểm chủ yếu:

 Hầu hết các kiến trúc tân kiến tạo của thềm lục địa Việt Nam đều được tiền khởi bởi các hoạt động huỷ hoại kiểu nội lục trưóc khi bắt đầu kiến sinh tân kiến tạo Các hoạt động này nằm trong thời kỳ cuối cùng của thời

đại hoạt hoá macma - kiến tạo Mesozoi muộn hết sức mạnh mẽ và bao quát cả một lãnh thổ rộng lớn phía đông và đông nam đại lục châu á, dẫn đến

sự hình thành đai núi lửa - pluton rìa lục địa khổng lồ Đông á và cộng ứng với nó là các hệ thống rift nội lục quy mô khác nhau

 Thời điểm khởi đầu giai đoạn tân kiến tạo ở Việt Nam được xác định vào giữa Oligoxen Mốc lịch sử này đã được xác định bởi hàng loạt các di chỉ tàn dư của bề mặt san bằng trên lục địa và các phức hệ vật chất - kiến trúc cùng tuổi trong cấu trúc nội tại của các bồn trũng Kainozoi thềm lục địa

 Cơ chế động lực chỉ đạo trong hình thành các kiến trúc tân kiến tạo của thềm lục địa Việt Nam là trượt bằng - tách dãn tổ hợp với trường xoay theo

Trang 24

chiều kim đồng hồ dọc theo các đới phá huỷ sâu là đới khâu kiến tạo kế thừa Sông Hồng, đớt đứt gãy kinh tuyến Hải Nam - eo biển Sunda và các

đới đứt gãy Mê Kông - vịnh Thái Lan Cơ chế động lực này hoạt động cùng nhịp thời gian với các cơ chế động lực ở miền địa kiến tạo tân kiến tạo có

vỏ kiểu chuyển tiếp Biển Đông

Trên phạm vi địa kiến trúc có vỏ kiểu chuyển tiếp (vùng Biển Đông ngoài thềm lục địa) đã và đang xảy ra các hoạt động kiến tạo có bản chất khác với những hoạt động tân kiến tạo ở phạm vi địa kiến trúc có vỏ kiểu lục địa vừa nêu ở trên Các chuyển động tương ứng với giai đoạn tân kiến tạo ở đây đã góp phần đẩy nhanh những qúa trình động lực đã diễn ra trước đó và thể hiện

rõ trong việc tăng cao tính tương phản của địa hình đáy biển và phát triển ngày càng rõ nét bình đồ kiến trúc hình thái khu vực với sự tham gia cơ bản của các dịch chuyển ngang trong vỏ địa cầu Nói cách khác, chế độ kiến tạo ở

đây đặc trưng cho các miền động hiện đại , nơi đang diễn ra qúa trình hình thành các kiến trúc kiểu đại dương và huỷ hoại các kiến trúc kiểu lục địa

Để kết thúc, cần đặc biệt nhận xét rằng trên bình đồ kiến trúc hiện đại của Biển Đông Việt Nam và các miền kế cận, các hệ thống đứt gãy bằng lớn thường đóng vai trò độc lập Chúng là các đứt gãy có thể nằm sâu và thường

có tuổi khá cổ, đã trải qua nhiều lần hồi sinh, đặc biệt là trong giai đoạn tân kiến tạo Đi đôi với các hệ thống đứt gãy này là các kiến trúc kiểu rift đã được hình thành trong suốt Kainozoi và đang ở trong các giai đoạn khác nhau trong tiến hành phát triển của mình Trong số các kiến trúc rift phân chia được một

số kiểu chính Kiểu đầu tiên là các rift nội lục mà kiến trúc Sông Ba là một ví

dụ điển hình Kiểu thứ hai phát triển ở rìa lục địa và thể hiện là các kiến trúc

địa hào thềm lục địa được lấp đầy bởi các hệ tầng Kainozoi có bề dầy lớn 14km) Kiểu thứ ba là xuyên lục địa, có nhiều dải lớn và cấu trúc nội tại rất phức tạp - rift Sông Hồng Thuộc về kiểu thứ tư là các kiến trúc tách dẫn xuất hiện trong các thời kỳ đầu của qúa trình hình thành các kiến trúc đại dương trong phạm vi Biển Đông nằm ở phía ngoài thềm lục địa Tính chất chung nhất của các kiểu kiến trúc rift vừa nêu thể hiện chính ở sự thành tạo chúng trong các điều kiện tách dẫn ngang có nguồn gốc sâu Ngay trước khi nảy sinhchúng

(6-đã từng diễn ra biến hoạ Mesoqoi muộn mạnh mẽ, bao quát cả diện tích rộng lớn của Việt Nam và Đông Nam á và các qúa trình tăng trưởng vỏ lục địa trong phạm vi các cung đảo và các rìa động của đại lục á châu Mặt khác,

Trang 25

những kiến trúc tách dẫn này phản ánh xu thế tiến hoá của vỏ lục địa trong qúa trình huỷ hoại, đã bắt đầu ở đây vào cuối Mesozoi - đầu Kainozoi và còn tiếp tục đến ngày nay

Vài nét về lịch sử phát triển kiến tạo

Sự tồn tại các phức hệ vật chất kiến trúc được hình thành từ Tiền Cambri đến Đệ tứ trong bình độ kiến trúc hiện đại của thềm lục địa Việt Nam

và các vùng kế cận là minh chứng hùng hồn cho những chặng đường phát triển lâu dài và phức tạp của thạch quyển vùng nghiên cứu Để thuận lợi cho việc nhận thức các quy luật động lực tiến hoá theo thời gian trọng điểm là thềm lục địa, mục này sẽ trình bày lịch sử phát triển kiến tạo thành hai phần là trước Kainozoi và Kainozoi

Lịch sử phát triển kiến tạo trước Kainozoi được đặc trưng bởi chế độ kiến tạo động nối tiếp nhau xen kẽ các đợt bình ổn ngắn từ Arkei đến Creta Phân định được các giai đoạn phát triển chủ yếu là: Tiền Cambri, Caledoni, Hecxini và Kimmeri

Kiến sinh Tiền Cambri kéo dài từ nửa cuối Arkei đến khoảng ranh giới Rifei - Vend Vai trò chủ yếu của kiến sinh này là tạo lập ra các kiến trúc có

vỏ lục địa đầu tiên của lãnh thổ nghiên cứu và tiền định hình hài các kiến trúc

động Phanerozoi Sau thời kỳ bình ổn tương đối ngắn ngủi vào cuối Rifei và

đầu Vend, thạch quyển Việt Nam lại bị lôi cuốn vào qúa trình sôi động của các đai động Phanerozoi

Căn cứ vào các biểu hiện của phức hệ Ophiolit, có thể xác định khởi

đầu của giai đoạn Caledoni trùng vào cuối Vend hoặc sớm hơn một ít, còn thời điểm kết thúc của giai đoạn này được xác định vào ranh giới của Silua và Devon Kiến sinh Caledoni đã tạo ra những phức hệ vật chất - kiến trúc lớn của miền Việt - Trung, tăng trưởng các khối vỏ lục địa của miền Việt - Lào và thúc đẩy qúa trình huỷ hoại vỏ lục địa cổ ở rìa phía nam của địa khối Indosinia

Giai đoạn Hecxini về căn bản tiếp tục thừa kế chế độ hoạt động của giai

đoạn trước trên phạm vi các đới động, còn trên các khu vực đã cố kết thì tạo thành các phức hệ vật chất - kiến trúc sau địa máng Vai trò nổi bật của giai

đoạn này là tạo lập các kiến trúc uốn nếp cơ bản của hệ địa máng Việt-Lào (kể cả móng uốn nếp của các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa)

Trang 26

Giai đoạn Kimmeri được phân thành hai thời kỳ là sớm (Indosinia) và muộn Trong thời kỳ sớm đã diến ra các hoạt động căng thẳng ở các đới Sông

Đà và Đà Lạt - Campuchia và kết thúc bằng sinh núi sau địa máng vào cuối Trias Đồng thời cũng kết thúc luôn lịch sử hoạt động kiểu địa máng trên phạm vi lục địa của nước ta Cũng trong thời kỳ Kimmeri sớm trên phạm vi các miền cố kết sớm (Việt Trung - Việt Lào, Indosinia) đã nảy sinh các kiến trúc nội lục chủng loại khác nhau (Sông Hiếm, An Châu, Hòn Gai, Sầm Nưa - Hoành Sơn, Nong Sơn) Thời kỳ Kimmeri muôn (Jura-Creta) đặc trưng bằng

sự hoạt động tiếp tục của một số bồn trũng nội lục trên phông nâng lên phân

dị của các kiến trúc lục địa Vào cuối Mesozoi (Jura muộn -Creta) xuất hiện những hoạt động nội sinh mạnh mẽ với việc thành tạo các phức hệ xâm nhập - phun trào quy mô lớn mà điển hình nhất là đới núi lửa - pluton rìa Đà Lạt

Hình 8 Sơ đồ phân vùng kiến trúc hình thái thềm lục địa

Việt Nam và vùng biển kế cận

Sơ đồ phân vùng kiến trúc - hình thái thềm lục địa và

vùng biển kế cận (HìNH 8)

I Thềm lục địa

a1 Dải nâng đơn nghiêng ven bờ

a2 Dải nâng hạ khối dạng khối Hạ Long

a3 Dải nâng Korat

a4 Sườn kiến tạo sụt lở

a5 Dải nâng địa luỹ Côn Sơn

a6 Các núi lửa

b1 Trũng sụt rift với độ sâu móng > 10 km

b2 Bồn trũng tích tụ trên móng 4 - 10 km

b3 Bồn trũng tích tụ trên móng nóng < 4km

II Sườn lục địa

c1 Cao nguyên ngầm rìa sườn lục địa

Trang 27

c2 Đồng bằng nền cổ bị nhấn chìm

c3 Trũng tích tụ kéo dài trên sườn lục địa

III Trũng sâu biển rìa

D1 Các khối và nút ngấm trên trũng sâu

D2 Trũng sâu tích tụ của đới tách dãn

IV Đảo và quần đảo

E Cao nguyên san hô

Các ký hiệu khác

1 Đứt gãy kiến tạo

2 Ranh giới kiến trúc hình thái bậc I

3 Ranh giới kiến trúc hình thái bậc II

4 Ranh giới kiến trúc hình thái bậc II

Lịch sử phát triển kiến tạo Kainozoi

Lịch sử phát triển kiến tạo Kainozoi đặc trưng bởi các chế độ địa động lực khác nhau trên phạm vi các kiến trúc lục địa và Biển Đông mà khâu chuyển tiếp (trung gian) là thềm lục địa Việt Nam Căn cứ vào các sự kiện địa

động lực quant và các phức hệ vật chất kiến trúc được hình thành trong Kainozoi, có thể phân chia giai đoạn này thành ba thời kỳ : Eoxen-Oligoxen, Mioxen và Plioxen - Đệ tứ

Thời kỳ đầu (Eoxen-Oligioxen) đặc trưng bởi sự hình thành các kiến trúc tách dãn kiểu nội lục và rìa lục địa, khởi đầu cho việc thành tạo các bồn trũng Kainozoi thềm lục địa Việt Nam và các đồng bằng ven biển trên phông nâng lên chung của các kiến trúc lục địa đã bắt đầu từ cuối Mesozoi Sự biến

đổi cơ bản trong bình đồ kiến trúc vùng nghiên cứu xảy ra vào khoảng cuối Oligoxen - đầu Mioxen, tức là vào lúc kết thúc thời kỳ đầu

Thời kỳ Mioxen diễn ra trong bối cảnh chuyển động phân dị ngày càng mạnh mẽ của các khối tảng vỏ lục địa, tiếp tục qúa trình thành tạo các trũng cận đứt gãy, tăng cường sụtt hạ ở các bồn trũng Cửu Long, Nam Côn Sơn và vịnh Thái Lan, mở rộng rift Sông Hồng Vào đầu Mioxen muộn, toàn

bộ khu vực bắt đầu thời kỳ biển tiến Các pha biển tiến xen kẽ với các pha biển lùi ngắn kéo dài đến cuối Mioxen Kết thực thời kỳ Mioxen được đánh dấu bằng các chuyển động nâng khối tảng và sự san bằng chung, thể hiện

Trang 28

trong việc hình thành một bề mặt bào mòn đặc trưng trên đó các phức hệ Plioxen - Đệ tứ phủ bất chỉnh hợp góc rõ rệt Đồng thời trên lục địa kế cận ghi nhận được một pha phun trào bazan khá mạnh Thời kỳ Plioxen - Đệ tứ đặc trưng bởi sự phát triển kiểu thềm lục địa trên khu vực rộng lớn với sự hình thành các hệ tầng trầm tích biển tương đối đồng nhất và sự chuyển động phân

dị khối tảng với việc mở rộng hoặc mới tạo các trũng giữa núi hoặc trước núi xen kẽ với các pha phun trào bazan lục địa quy mô khác nhau Còn trên phạm

vi Biển Đông ghi nhận được khuynh hướng sụt võng chung trong suốt thời kỳ này và hiện nay đang tiếp diễn

2.2 Đặc điểm kiến trúc hình thái Biển Đông

Đáy Biển Đông có đặc trưng cấu trúc địa hình và địa mạo rất phức tạp, vừa mang các yếu tố của đại dưong, vừa mang các yếu tố của lục địa Trong phần này sẽ trình bày các đặc điểm địa mạo của đáy biển theo quan điểm kiến trúc hình thái

Các kiểu kiến trúc hình thái cơ bản (bậc I) của Biển Đông là : thềm lục

địa, sườn lục địa, trũng sâu biển rìa và các khối quần đảo (hình 8)

2.2.1 Thềm lục địa

Thềm lục địa được xem là phần kéo dài của lục địa bị ngập nước có hình thái địa hình tương đối bằng phẳng và có chứa nhiều các kiến trúc hình thái tàn dư nguồn gốc lục địa Về mặt cấu trúc thì phần lục địa giáp với biển là những đồng bằng tích tụ thoải, đôi khi là các khối hoặc dãy núi

Móng kết tinh của thềm lục địa Biển Đông thường bị hạ xuống theo kiểu bậc thang, phần ngoài gặp các khối nhô tạo thành các bẫy trầm tích rất lớn (kiều này được thể hiện rõ trên các mặt cắt địa chấn)

Bề mặt thềm lục địa Việt Nam phân bố bất đối xứng, rộng ra ở phía bắc

và phía nam, thu hẹp ở phần miền Trung Phần rộng lớn của thềm thường tương ứng với các phần bờ lõm như vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan, chính tại những khu vực này thường phát triển các bồn trũng Kainozoi quy mô khác nhau

Ranh giới cấu trúc phần phía trong của thềm lục địa thuộc phạm vi Bắc

Bộ và Nam Bộ hoàn toàn không trùng khớp với đường bờ hiện đại và thực tế

Trang 29

ăn sâu vào các đồng bằng lục địa kiểu trũng Cửu Long và trũng Sông Hồng,

đó là một trong những dấu hiệu cho thấy vùng rìa lục địa nằm trong đới động (đới không bình ổn về mặt kiến tạo) Các hoạt động kiến tạo trong Kainozoi ở một số nơi trên thềm mang tính chất nghịch đảo, tạo nên các khớp nối giữa các bồn trũng mà điển hình là khối nhô Bạch Long Vĩ nằm giữa trũng Nam Lôi Châu và trũng rift Sông Hồng: khối nhô đông bắc Đà Nẵng; Khối nhô Cù Lao Thu nơi giao hội của bồn trũng Bắc Cù Lao Thu, bồn trũng Cửu Long và bồn trũng Côn Sơn; khối nhô Côn Sơn nằm kẹp giữa hai bồn trũng lớn Cửu Long và Nam Côn Sơn

Trong số các kiến trúc dương trên thềm lục địa còn xuất hiện các núi lửa, các vòm dung nham chiếm một diện tích đáng kể, đó là các đảo Catwick, Hòn Tro, cù lao Ré Riêng kiểu kiến trúc hình thái núi lửa cù lao Ré chứng

tỏ hiện đại kiến tạo của vùng thềm trong Đệ tứ rất mạnh, qúa trình phun bazan tạo nên một vòm phủ khá rõ

Thềm lục địa miền Trung có bề ngang hẹp do hoạt động của hệ thống

đứt gãy phương kinh tuyến khống chế Quá trình chuyển động thẳng đứng tạo

đứt gãy đến trượt theo khối đã hình thành kiến trúc thềm lục địa ở đây có dạng bậc thang Phần tiếp giáp với bờ biển là một bề mặt tích tụ - mài mòn nghiêng thoải tiếp đến là một bề mặt sườn kiến tạo khá dốc cắm thẳng xuống độ sâu

100 - 120m Từ độ sâu 120-150m, bề mặt đáy biển tương đối thoải, kéo thành một dải hẹp và tiếp đó là một bề mặt dốc chuyển tiếp xuống sườn lục địa Theo tài liệu về cấu trúc địa chất thì dọc theo hệ thống đứt gãy kinh tuyến tồn tại một loại các bồn trũng nhỏ nối tiếp nhau và kéo dài tạo thành một kiểu địa hào (gọi là địa hào Quảng Đà - Quy Nhơn) Địa hào này đã từng tồn tại trong Kainozoi, nhưng chuyển sang giai đoạn Đệ tứ chúng hoàn toàn bị vùi lấp dưới trầm tích trẻ, do đó, trên địa hình không phản ánh tính chất kế thừa của kiểu kiến trúc này

Thuộc loại kiến trúc hình thái thềm lục địa bao gồm các kiến trúc bậc cao hơn là các đới nâng và đới sụt võng :

1 Đồng bằng mài mòn - tích tụ của dải nâng ven bờ

2 Đồng bằng gợn sóng tích tụ - mài mòn trên móng nâng của đới nâng Côn Sơn

3 Bề mặt sườn sụt lở kiến tạo

Trang 30

4 Khối và dãy núi khối tảng karst ngầm

5 Đồi và núi lửa ngầm

6 Đồi và dãy núi địa lũy

7 Đồng bằng lòng chảo tích tụ trên móng máng của sụt võng ven bờ

8 Đồng bằng lòng chảo tích tụ móng sâu (8-10 km) của các bồn trũng sụt lớn

9 Đồng bằng lòng chảo tích tụ trong đới rift có móng sâu (10-14km)

10 Đồng bằng gợn sóng tích tụ - mài mòn của thềm biển bị nhận chìm

2.2.2 Sườn lục địa

Sườn lục địa là một đơn vị kiến trúc hình thái chuyển tiếp giữa vùng thềm và máng trũng sâu của biển rìa, ranh giới trên được tính từ độ sâu 200-

300, đôi chỗ đến 500m hoặc hơn, ranh giới dưới tới độ sâu 3.000m nơi kết thúc của vỏ lục địa Địa hình của sườn lục địa thường bị phân dị khá mạnh, các kiến trúc dương thường trùng với các phần móng granit được nâng cao hoặc là các phun trào núi lửa ngầm Các cao nguyên trên sườn chủ yếu phân

bố trong phần nâng thuộc một phần tiếp nối của khối nâng Hoàng Sa Đa số diện tích của sườn lục địa là đồi và núi thấp tạo thành các mực địa hình kiểu một mặt san bằng bị biến dạng do tân kiến tạo và có xu thế chung là nghiêng dần về trung tâm của rốn biển rìa Thuộc phạm vi sườn lục địa phân định

được các kiến trúc hình thái bậc cao thuộc nhóm địa hình đới chuyển tiếp, cụ thể là :

1 Địa hình sườn mài mòn trên kiến trúc phức tạp rìa thềm

2 Các sơn nguyên trên các kiến trúc móng khác nhau

3 Các cao nguyên ngầm

4 Đồng bằng đồi trên các kiến trúc khác nhau

5 Đồng bằng tích tụ - mài mòn của thềm lục địa nhấn chìm

6 Bề mặt mài mòn trượt lở chuyển tiếp giữa sườn lục địa và trũng nước sâu biển rìa

2.23 Trũng nước sâu của biển rìa

Trũng nước sâu của biển rìa bao gồm toàn bộ đồng bằng tích tụ dạng

Trang 31

lòng máng nằm trong đới tách dãn Về diện tích kiểu kiến trúc hình thái này

được mở rộng dần theo thời gian

Theo một số nhà địa mạo biển, trong đó điển hình là Leonchev, cho rằng các vực thẳm này được hình thành ở những nơi vỏ đại dương bị phá huỷ

và qúa trình phát triển lớn dần của lục địa Theo cơ chế này thì khối Hoàng Sa

và Trường Sa đang chìm dần xuống Các đứt gãy ngang và các rift được sinh

ra cùng thời trong qúa trình tách dần, nhiều khi nó kéo dài lên cả lục địa Do

đó, rất có thể đứt gãy Sông Hồng chạy ra đới tách dãn và đới tách dãn cũ bị chết dần và xuất hiện đới tách dãn mới Theo cơ chế như vậy, vùng trũng nước sâu sẽ lớn dần về diện tích

Các kiến trúc hình thái chủ yếu của trũng nước sâu Biển Đông là các

đồng bằng tích tụ bằng phẳng chiếm các diện tích khá lớn của phần trung tâm

và các khối núi sót nhỏ cao ngầm dưới mặt biển Thông qua các vách kiến tạo, các kiến trúc - hình thái của trũng nước sâu tiếp giáp với các nhóm cao nguyên, các kiến trúc - hình thái của trũng nước sâu tiếp giáp với các nhóm cao nguyên san hô ngầm và các trũng tích tụ của các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa

2.2.4 Các khối quần đảo

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như là những kiến trúc hình thái lục

địa sót giữa Biển Đông Cấu trúc chủ yếu là san hô đã cố kết với chiều dày rất lớn Cao nguyên san hô này chuyển tiếp xuống các vùng kế cận bằng các vách khá dốc có khi tới 60-700 và điểm kết thúc của sườn cũng đạt đến độ sâu trên

500 m như ở Hoàng Sa, gần 4.000m đối với Trường Sa Móng của cao nguyên chủ yếu là các thành tạo trước Kainozoi và một số nơi là các thành tạo trầm tích - núi lửa Kainozoi Căn cứ vào các lớp san hô phủ trên bề mặt cho thấy cao nguyên đã từng bị chìm ngập dưới đáy biển khá lâu và chỉ mới thoát khỏi mực nước biển trong thời kỳ Đệ Tứ Đây là kiểu kiến trúc hình thái rất điểm hình của vùng nhiệt đới

2.2.5 Hoạt động động đất Biển Đông

Theo số liệu thống kê hiện có (Nguyễn Kim Lập, 1990), trong khoảng thời gian lịch sử từ 1877 đến 1988 trên phạm vi Biển Đông đã ghi nhận được

159 trận động đất với cường độ từ 2,4 đến 7,6 độ rích te, các chấn tâm động

đất phân bố tập trung thành các đới nhất định và thường có diện trũng với các

Trang 32

đới động kiểu phá huỷ đứt gãy của thạch quyển Dưới đây điểm qua các đới chấn tâm này

Dọc bờ biển của nước ta phân định bởi hai đới chấn tâm chủ yếu (hình 9) Đới thứ nhất trải theo phương kinh tuyến gần trùng với diện của đới đứt gãy kinh tuyến 1100E, kéo dài trong khoảng từ vĩ độ 100N đến 120N Các động

đất ghi nhận được có cường độ trong khoảng 4 đến 5,5 độ rích-te và có chấn tiêu nằm trong vỏ trái đất Ngoài các động đất mạnh còn ghi nhận được nhiều

động đất yếu với cường độ nhỏ hơn 4 độ rích-te và độ sâu chấn tiêu h  5km Theo các đánh giá hiện nay thì đây là một đới phát sinh động đất quan trọng của thềm lục địa Việt Nam

Xa hơn về phía tây nam phân định được đới chấn tâm động đất thứ hai

có phương đồng bắc -tây nam trải dọc ven bờ Vũng Tàu - Cà Mau Cường độ của các động đất  5 độ rích-te và đều là hoạt động đất nội vỏ

Nằm gần song song với đới vừa mô tả là đới chấn tâm động đất Côn Sơn cũng có phương đông bắc - tây nam ở đây đã ghi nhận được 5 trận động đất với M  6,1 trong thời gian từ đầu thế kỷ đến nay Các trận động đất đều có chấn tiêu nằm ở độ sâu  25km

Trên phạm vi vịnh Bắc Bộ đã ghi nhận được một số động đất yếu với

M  4 Hầu hết những động đất này phân bố trong phần kéo dài của các đới chấn tâm Sông Hồng, Sông Đà, Sông Mã và Sông Cả được phân định trong phạm vi lục địa Độ sâu chấn tiêu của chúng thường  20km Riêng ở vùng ven biển Quảng Ninh đã ghi nhận được một số trận động đất trong thời gian gần đây

Các tài liệu hiện có cho phép nhận định được một số đới chấn tâm

động đất thuộc phạm vi vùng biển ngoài thềm lục địa Để tiện theo dõi để

điểm qua từ bắc xuống nam

Phía đông nam đảo Hải Nam ghi nhận được nhiều trận động đất, trong

đó có 3 trận động đất mạnh với M = 6-7 Chấn tâm của chúng nằm trùng vào diện hoạt động của đứt gãy sâu phương đông bắc - tây nam Độ sâu chấn tiêu của đới này  30km

Trang 33

Xa hơn về phía nam là đới chấn tâm Hoàng Sa cũng có phương đông bắc - tây nam Các động đất ghi nhận được ở đây có M  5,6 và độ sâu chấn tiêu  30 km

Trên phạm vi trũng nước sâu Biển Đông đã ghi nhận 2 chấn tâm động

đất yếu

Một đới chấn tâm đáng chú ý phân bố ở rìa đông bắc quần đảo Trường

Sa (trong khoảng (toạ độ 120 N - 130N và 1140E - 1150E) Chấn tâm động đất ở

đây chủ yếu tập trung trong vỏ trái đất với M  6,1 Đây là vùng hoạt động

động đất tích cực ở Biển Đông (Wissmann, 1988, Nguyễn Kim Lam, 1990)

Phía nam quần đảo Trường Sa nổi lên đới chấn tâm Palawan ở đây đã ghi nhận được 4 chấn tâm động đất với M  6 và chiều sâu của chấn tiêu tăng cao (h = 30 - 40km)

Trong mối quan hệ hoạt động động đất thì biên giới phía đông của Biển

Đông trùng vào hai đới chấn tâm động đất trải theo phương kinh tuyến từ Đài Loan đến Luzon Đây là vùng hoạt động động đất mạnh và sâu thuộc đai động

đất Tây Thái Bình Dương

Trên cơ sơ phân tích tổng hợp các tài liệu về động đất, địa vật lý và địa chất Nguyễn Kim Lập (1990) đề nghị phân định một số đới phát sinh động

đất trong phạm vi Biển Đông như sau :

 Vùng phát sinh động đất dọc đới Benhicop Manila có phương á kinh tuyến

ở đây có thể xảy ra động đất với Mmax = 6-7 nằm trùng với diện hoạt động của các hệ đứt gãy sâu lớn như hệ dứt gãy kinh tuyến 1100, hệ dứt gãy rìa thềm lục địa Nam Trung Quốc, hệ đứt gãy rìa thềm lục địa bắc và tây bắc

đảo Kalimantan và Palawan, hệ đứt gãy giới hạn rìa phía bắc của khối quần

đảo Trường Sa, và một số đứt gãy ở phần trung tâm lòng chảo nước sâu Biển Đông

 Các vùng phát sinh động đất với Mmax=5-6 Các vùng này dự kiến phân

định trùng vào đới hoạt động của các đứt gãy lớn ở vùng thềm lục địa vịnh

Trang 34

Bắc Bộ có các phương tây bắc-đông nam và đông bắc-tây nam, vùng chảo nước sâu Biển Đông có thể là các đới phát sinh động đất với Mmax=5-6.Các tài liệu trình bày ở trên chứng tỏ rằng vùng Biển Đông đang có những hoạt động động đất tích cực, tập trung vào các kiến trúc địa chất kiểu các đứt gãy sâu thuộc nhiều chủng loại và định hướng khác nhau, trong đó đặc biệt đáng chú ý là các đới phương á kinh tuyến và đông bắc - tây nam Đại đa

số các trận động đất đã ghi nhận được đều thuộc loại động đất vỏ, nghĩa là có chấn tiêu nằm trong phạm vi vỏ trái đất Chỉ riêng đới chấn tâm phương kinh tuyến nằm dọc cung đảo Đài Loan Philippin là đới phát sinh động đất mạnh và cực mạnh, nảy sinh trong cả ba mực sâu khác nhau từ nội vỏ đến Manti (Seatar, 1982)

Hình 9 Sơ đồ phân bố chấn tâm động đất khu vực Biển Đông

(Theo Nguyễn Kim Lạp, 1990) Các chấn tâm động đất có cường độ (M)

1 M = 3.0 - 5.0; 2 M = 5.1 - 6.0; 3 M = 6.1 - 7.0;

4 M = 7.1 - 8.0; 5 M không xác định

Trang 35

2.3 Đặc điểm khí hậu Biển Đông

2.3.1 Khái niệm về khí hậu gió mùa nhiệt đới Việt Nam

Việt Nam, một lãnh thổ hẹp ngang chạy dài theo phương kinh tuyến thuộc khu vực nội chí tuyến bắc Bán cầu nằm ở tận phía đông nam châu á của một đại lục rộng nhất thế giới, tiếp giáp hai mặt với Thái Bình Dương và ấn

Độ Dương, những điều kiện đó tạo thành khí hậu Việt Nam với nhiều nét đặc biệt, không giống bất kỳ một nơi nào trên thế giới Đó là những yếu tố bức xạ mặt trời nơi chí tuyến, sự tác động mạnh mẽ của hoàn lưu gió mùa đổi hướng

và đối lập về tính chất giữa 2 mùa trong năm, mùa hạ và mùa đông cùng với các điều kiện địa hình các yếu tố trên đã dẫn đến hệ quả vô cùng đặc sắc của chế độ khí hậu, thời tiết nước ta

Nếu chế độ bức xạ mặt trời nội chí tuyến với hai lần thiên đỉnh trong năm, (bảng 2.1) kết hợp với hoàn lưu tín phong thường xuyên thổi ổn định một hướng từ chí tuyến về xích đạo là những điều kiện chi phối chủ yếu chế

độ thời tiết các vùng nhiệt đới nói chung, thì ở khu vực Việt Nam những điều kiện đó không còn là căn bản và thuần nhất nữa, thay vào đó là hoàn lưu gió mùa với những trung tâm tác động và cơ chế hoàn toàn khác do những đặc thù riêng về địa lý của khu vực chi phối Hoàn lưu gió mùa lấn át mạnh mẽ hoàn lưu tín phong mà tín phong chỉ còn khả năng tác động một phần vào hoàn lưu gió mùa Kết quả là hình thành một cơ chế hoàn lưu có tính địa phương và tính chất chung của hành tinh, xoá nhoà những ranh giới chỉ có ý nghĩa địa đới

Cần nói rõ thêm một số đặc điểm của gió mùa châu á Gió mùa như một hệ quả của sự tương phản về nhiệt chế giữa lục địa và biển cả, thể hiện mối quan hệ mặt trời - trái đất với một sự chậm pha nào đó, không hoàn toàn phù hợp với điều kiện châu á Mặc dù về hình thức cũng vẫn là sự thay đổi theo gió mùa của gió lục địa và gió đại dương, đối lập về hướng và về những thuộc tính nhiệt ẩm đặc trưng, song trên qui mô rộng lớn của khu vực châu á gió mùa trải rộng từ ấn Độ Dương đến Philippin, từ Xibiria - Nhật Bản đến xích đạo, đã hình thành cả một cơ chế phức tạp kết hợp nhiều trung tâm khí áp tác động khác nhau, chi phối nhiều hệ thống gió mùa khác nhau

Bảng 2.1 Ngày mặt trời thiên đỉnh qua các vĩ độ chí tuyến

Trang 36

Hệ thống đông bắc á bao trùm các vùng Viễn đông, Nga, Nhật Bản, Triều Tiên, có gió mùa mùa đông lạnh, khô, mang tính lục địa thuần tuý do khối không khí cực đới từ rìa phía đông cao áp Xiberi thổi theo hướng tây bắc

về phía biển Nhật Bản tạo ra mùa đông giá rét, không mưa Gió mùa mùa hạ

có hướng đối lập (đông nam), bản chất là không khí nhiệt đới từ rìa phía tây của cao áp Thái Bình Dương tương đối nóng và ẩm Gió mùa mùa hạ đem lại mưa không nhiều cho những vùng duyên hải Đây là hệ thống gió mùa khá ổn

định về nhiệt độ diễn biến và về tính chất

Hệ thống Nam - á, khống chế khu vực ấn Độ , Malaysia, Mianma, Thái Lan Gió mùa mùa đông chi phối bởi trung tâm cao áp Turkistan kết hợp với khí lưu tây ôn đới hạ thấp Không khí này mang tính chất lục địa ôn đới, nhiệt độ và độ ẩm khá thấp, nhưng không thấp bằng khối khí cực đới Xiberi Gió mùa mùa hạ là tín phong nam bán cầu vượt xích đạo lên khá nóng và ẩm Nét đối lập giữa 2 mùa là độ ẩm

Hệ thống Đông Nam á ảnh hưởng đến khu vực Philippin, Malaysia và vùng nội chí tuyến tây Thái Bình Dương Mùa đông gió có nguồn gốc từ cao

áp cận chí tuyến Thái Bình Dương, chính là tín phong bắc bán cầu từ rìa phía nam cao áp thổi về xích đạo, bản chất là khối không khí biển nhiệt đới không lạnh và khá ổn định Gió mùa mùa hạ lại ngược lại, có nguồn gốc từ nam Thái Bình Dương là khối khí ấm và mát của biển và chỉ đối lập với gió mùa mùa

đông về hướng Dưới ảnh hưởng của hội tụ nhiệt đới và bão gió mùa mùa hạ kém ổn định và mang lại nhiều mưa trong khu vực nó khống chế

Trang 37

Rõ ràng ba hệ thống gió mùa với ba cơ chế hoạt động riêng biệt đã kết hợp tạo thành hoàn lưu độc đáo của gió mùa châu á Trong khi đó lãnh thổ Việt Nam không hoàn toàn nằm trong phạm vi khống chế của một hệ thống nào trong ba hệ thống gió mùa nói trên Do vị trí có tính chuyển tiếp về mặt

địa lý đã khiến cho khí hậu nước ta khi thì chịu ảnh hưởng của hệ thống gió này, khi thì chịu ảnh hưởng của hệ thống gió kia và đã tạo nên chế độ gió mùa

ở đây rất phức tạp Gió mùa mùa đông có thể bị chi phối bởi trung tâm cao áp Xiberi, cũng có thể là hệ quả phát triển của khí lưu tây ôn đới hay tín phong Thái Bình Dương Cũng như vậy, gió mùa mùa hạ nước ta vừa chịu ảnh hưởng của khối khí bắc ấn Độ Dương, vừa là chịu ảnh hưởng của luồng không khí từ nam Thái Bình Dương lên va cũng có thể cả khối khí tín phong bắc bán cầu xâm nhập vào kết quả là khí hậu Việt Nam đã không còn tính thuần tuý nhiệt

đới theo qui luật địa đới vùng nội chí tuyến

Đối chiếu với những tiêu chuẩn khí hậu của vùng nội chí tuyến (khí hậu nhiệt đới) khí hậu Việt Nam có nền nhiệt độ thấp hơn và lượng mưa ẩm cao hơn, sự phân hoá giữa hai mùa trong năm về chế độ mưa - ẩm ở phía nam đất nước (Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc) Chúng ta cần phải nhận thức đúng bản chất phức tạp của những điều kiện hình thành khí hậu hướng này, vừa thể hiện tính địa đới theo vĩ tuyến do những nhân tố thiên văn chi phối vừa mang tính địa đới theo kinh tuyến liên quan với những yếu tố hành tinh, mới thấy rõ

ý nghĩa đặc sắc của khí hậu nhiệt đới gió mùa ở khu vực nước ta, một dạng khí hậu có thể xem như một biến tướng của khí hậu nhiệt đới, trong khi vẫn duy trì nền nhiệt độ cao nói chung của vùng vĩ độ thấp, lại chịu tác động phân hoá

rõ rệt theo mùa do ảnh hưởng gió mùa qui mô lớn : đặc điểm này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, vì khí hậu là điều kiện thường xuyên của sự tồn tại và phát triển các qúa trình tự nhiên trong sinh giới và cả trong thế giới vô cơ, chỉ trong những điều kiện tương đối đồng nhất về mặt khí hậu mới có thể thuận lợi vận dụng những kinh nghiệm sản xuất từ vùng này qua vùng khác, và chỉ trên cơ sở về bản chất khí hậu mới có thể thấy rõ những vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu giải quyết và dự đoán, dự báo những biến động của thời tiết, khí hậu

2.3.2 Miền khí hậu Biển Đông

Trang 38

Có thể khẳng định, trên lãnh thổ Việt Nam (kể cả trên đất liền và vùng thềm lục địa rộng lớn) quan hệ tương hỗ phức tạp giữa hoàn lưu gió mùa và

địa hình là nguyên nhân chủ yếu phân hoá chế độ khí hậu Căn cứ vào những biểu hiện tổng hợp của các yếu tố khí hậu có thể chia lãnh thổ Việt Nam thành những miền khí hậu chủ yếu

1 Miền khí hậu phía bắc từ đèo Ngang (180N) trở ra có mùa đông lạnh,

ít mưa và nửa cuối mùa đông rất ẩm, có mùa hạ nóng và mưa nhiều Chế độ khí hậu miền phía bắc có thể xem là loại hình khí hậu đặc biệt của khí hậu nhiệt đới gió mùa hay gọi cách khác là chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh

2 Miền khí hậu Đông Trường Sơn bao gồm phần lãnh thổ Trung Bộ phía đông dãy Trường Sơn, từ đèo Ngang ( 180N) đến núi Dinh ( 110N) có chế độ khí hậu như một trường hợp dị thường của khí hậu nhiệt đới gió mùa

mà đặc trưng là mùa mưa - ẩm lệch hẳn về mùa đông, tức là mùa mưa đến chậm pha so với các miền khí hậu khác

3 Miền khí hậu phía nam bao gồm các tỉnh đồng bằng Nam Bộ và Tây Nguyên có chế độ khí hậu gió mủa nhiệt đới cận xích đạo với hai mùa khô và mùa mưa tương phản sâu sắc, nhiệt độ quanh năm cao

4 Miền khí hậu Biển Đông có chế độ khí hậu mang tính chất gió mùa nhiệt đới, hải dương với nhiều điểm đặc sắc không giống với chế độ khí hậu trên đất liền Các đảo ở gần bờ có khí hậu ít khác biệt với vùng duyên hải lân cận trên đất liền Nhìn chung, chế độ nhiệt cũng như chế độ mưa-ẩm trên các

đảo này đều mang những đặc điểm cơ bản của khí hậu vùng đất liền lân cận

Dĩ nhiên ở đây cũng đồng thời biểu hiện những nét thuộc về khí hậu hải dương Từ Vịnh Hạ Long đến mũi Cà Mau hình thành một hệ thống đảo ven

bờ, trong đó tập trung nhiều nhất ở ven bờ Vịnh Bắc Bộ Ngoài khơi vùng biển tây nam, trong vịnh Thái Lan có đảo Phú Quốc lớn nhất nước ta Ngoài khơi Biển Đông có hai quần đảo san hô lớn là Trường Sa và Hoàng Sa với các trạm quan trắc khí tượng đặc trưng cho chế độ khí hậu miền Biển Đông

Có thể nêu tóm tắt những nét tiêu biểu của khí hậu hải dương sau đây:

1 Mùa hè mát hơn và mùa đông ấm hơn trong đất liền, dẫn đến những biên độ hàng năm của nhiệt độ nhỏ hơn trong đất liền

2 Dao động ngày đêm của nhiệt độ cũng rất nhỏ, do đó những nhiệt độ

Trang 39

tối cao thường thấp hơn và nhiệt độ tối thấp thường cao hơn trong đất liền

3 Độ ẩm cao hơn trong đất liền và ít có sự biến thiên trong biến trình năm

4 Gió mạnh hơn trong đất liền rõ rệt, tần suất lặng gió rất nhỏ

5 Một số hiện tượng thời tiết diễn ra theo những qúa trình khác với trong lục địa Chẳng hạn sương mùa biển chủ yếu không phải là sương mù bức xạ như trong đất liền mà là sương mù bình lưu hình thành trong hoàn cảnh không khí nóng di chuyển tới vùng biển lạnh hơn Cho nên sương mù biển thường hay xuất hiện nhất trong nửa cuối mùa đông sang đầu mùa hạ (là thời

kỳ nhiệt độ mặt biển thấp hơn nhiệt độ không khí) chứ không phải trong nửa

đầu mùa đông như trong đất liền Dông trên biển thường phát triển về đêm và sáng (là thời gian tầng kết của khí quyền trên biển bất ổn định nhất), trái ngược với trên đất liền thường xảy ra vào chiều và tối

Vì khí hậu các đảo gần bờ về cơ bản mang những đặc điểm chính của khí hậu vùng đất lân cận nên khi xác định các vùng khí hậu, có thể xếp các

đảo này vào các vùng khí hậu ở đất liền Chẳng hạn các đảo trong vịnh Bái Tử Long xếp vào vùng khí hậu Đông Bắc (khu vực ven biển Quảng Ninh); đảo trong vịnh Thái Lan xếp vào vùng khí hậu đồng bằng Nam Bộ, và trong khi mô tả khí hậu các vùng đó, đã có những nhận xét về những đặc điểm riêng của khí hậu các đảo

Duy khu vực ngoài khơi biển Đông cách xa đất liền, khí hậu có những khác biệt lớn khí hậu đất liền, nên, cần thiết phải xét khu vực này như một Miền khí hậu riêng, miền khí hậu Biển Đông, trong đó :

Có thể phân biệt giữa vùng phía Bắc và phía Nam với những đặc trưng khu vực

Khí hậu phía bắc Biển Đông

1 Mặc dù có vị trí ở những vĩ độ tương đối cao, song ở đây mùa đông lạnh dịu hơn đất liền Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất đạt tới 23-240C, cao hơn đất liền cùng vĩ độ tới 3-40C, nên chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hạ ở đây giảm xuống đáng kể so với đất liền

2 Biên độ dao động hằng ngày của nhiệt độ khá nhỏ, chỉ vào khoảng

3-40C Chẳng hạn biên độ ngày trung bình ở trạm Hoàng Sa là 3,60C, trong khi ở Cô Tô là 4,30C, ở Vân Lý là 4,60C

Ngày đăng: 09/08/2014, 17:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6   Sơ đồ mẫu trầm tích tầng mặt thềm lục địa Việt Nam   và vùng kế cận ( theo Nguyễn Hữu Sửu,1990) - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Hình 6 Sơ đồ mẫu trầm tích tầng mặt thềm lục địa Việt Nam và vùng kế cận ( theo Nguyễn Hữu Sửu,1990) (Trang 11)
Hình 7 Sơ đồ tân kiến tạo biển Việt Nam và các miền kế cận  (Theo Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng, 1990) - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Hình 7 Sơ đồ tân kiến tạo biển Việt Nam và các miền kế cận (Theo Lê Duy Bách, Ngô Gia Thắng, 1990) (Trang 12)
Bảng 2.1 : Các giá trị trung bình tháng và năm của nhiệt độ ( 0 C),  lượng mưa (mm), số ngày  mưa và độ ẩm tương đối (%) ở đảo Hoàng Sa - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Bảng 2.1 Các giá trị trung bình tháng và năm của nhiệt độ ( 0 C), lượng mưa (mm), số ngày mưa và độ ẩm tương đối (%) ở đảo Hoàng Sa (Trang 42)
Bảng 2.3 : Các giá trị trung bình của nhiệt độ, lượng mưa và số ngày mưa ở Puecto  Porinxetxa (10 0 N;  = 119 0 E; độ cao 14m) - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Bảng 2.3 Các giá trị trung bình của nhiệt độ, lượng mưa và số ngày mưa ở Puecto Porinxetxa (10 0 N;  = 119 0 E; độ cao 14m) (Trang 43)
Bảng 2.4 : Số cơn bão trong 10 năm đi qua vùng quần đảo Trường Sa - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Bảng 2.4 Số cơn bão trong 10 năm đi qua vùng quần đảo Trường Sa (Trang 44)
Hình 9a. Hoa gió tháng 1 trên Biển Đông. - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Hình 9a. Hoa gió tháng 1 trên Biển Đông (Trang 45)
Hình 9b Hoa gió tháng 7 trên Biển Đông. - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Hình 9b Hoa gió tháng 7 trên Biển Đông (Trang 46)
Bảng 2.5 . Số cơn bão và tần suất tại các vùng khác nhau trên thế giới - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Bảng 2.5 Số cơn bão và tần suất tại các vùng khác nhau trên thế giới (Trang 47)
Bảng 2.6. Bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Việt Nam  theo các năm từ 1954 đến 1989 - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Bảng 2.6. Bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Việt Nam theo các năm từ 1954 đến 1989 (Trang 48)
Bảng 2.8. Phân bố bão đổ bộ vào Việt Nam theo vĩ độ từng thời kỳ  (1954-1989) - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Bảng 2.8. Phân bố bão đổ bộ vào Việt Nam theo vĩ độ từng thời kỳ (1954-1989) (Trang 50)
Hình 10   Đặc điểm thuỷ triều Biển  Đông - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Hình 10 Đặc điểm thuỷ triều Biển Đông (Trang 52)
Hình 11 Đặc điểm dòng triều và biên độ triều điển hình ở Biển Đông. - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Hình 11 Đặc điểm dòng triều và biên độ triều điển hình ở Biển Đông (Trang 54)
Hình 12   Biến trình mực nước triều tại các cảng   chủ yếu  Biển  Đông - Hải dương học Biển Đông ( Lê Đức Tố ) - Chương 2 potx
Hình 12 Biến trình mực nước triều tại các cảng chủ yếu Biển Đông (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm