1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản của tổng công ty pptx

28 444 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 369,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, thị trường Việt Nam được chứng kiến nhiều thành công phát triểnrực rỡ của các sản phẩm trong nước và việc đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu nhiều loại hàng hóa như: dầu thô,

Trang 1

Phần I: MỞ ĐẦU

Quá trình quốc tế hóa đang phát triển manh mẽ ở các châu lục, các khu vực trên thế giới, với sự tham gia ngày càng rộng rãi của nhiều quốc gia Những lợi ích to lớn của hội nhập kinh tế mang lại cho mỗi quốc gia là rất rõ ràng và không thể phủ nhận Vấn đề đặt ra là hội nhập kinh tế quốc tế với những bước đi như thế nào để mang lại lợi ích tối đa với một mức giá tối thiểu

Sự hội nhập tất yếu của nước ta vào hợp tác khu vực (đặc biệt kể từ khi ra nhập tổ chức thương mại thế giới WTO) và quốc tế cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức to lớn cho nền kinh

tế Một trong những bước của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đó là xây dựng nền kinh tế hướng về xuất khẩu, tiến hành tự do hóa thương mại và tham gia vào các định chế liên kết khu vực và toàn cầu

Những năm gần đây, thị trường Việt Nam được chứng kiến nhiều thành công phát triểnrực rỡ của các sản phẩm trong nước và việc đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu nhiều loại hàng hóa như: dầu thô, dệt may, nông sản, thủy hải sản, giày da, thủ công mỹ nghệ… sang thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước Châu Âu,… đã đem lại những giá trị kinh tế to lớn Một trong những mặt hàng xuất khẩu mang lại những đóng góp rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu chính

là mặt hàng dệt may Ngành dệt may Việt Nam ra đời từ năm 1958, cùng với xu thế hội nhập của nền kinh tế quốc tế, ngành dệt may Việt Nam đã nhanh chóng tìm ra và khẳng định được những ưu thế của mình trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc cho thị trường thếgiới và đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường thế giới có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai Mặt khác, mặt hàng dệt may là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực đem lạinguồn ngoại tệ lớn cho đất nước và tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, giúp cân bằng cán cân thanh toán, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, góp phần thúc đẩy các ngành sản xuất khác trong nước phát triển…góp phần quan trọng trong việc tạo sự phát triển và ổn định kinh tế - chính trị - xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam cũng gặp nhiềukhó khăn do nhiều nguyên nhân như: bị cạnh tranh quyết liệt bởi hàng dệt may của các nướckhác mà đặc biệt là của Trung quốc, do chất lượng, mẫu mã…Là một trong những doanhnghiệp hàng đầu trong ngành may mặc Việt Nam cũng như trong khu vực trong lĩnh vực xuấtkhẩu sản phẩm may mặc, mở rộng thị trường là một tất yếu giúp giải quyết thị trường tiêu thụcho sản phẩm của “May 10”, giúp doanh nghiệp tìm được đoạn thị trường và đối tác phù hợp

Trang 2

với điều kiện của doanh nghiệp Mặt hàng của tổng công ty được xuất khẩu sang nhiều quốcgia như: xuất khẩu sang Mỹ với kim ngạch đạt 514 triệu USD (7/2010), tăng 9% so với tháng

6 và tăng 15,87% so với tháng 7/2007; sang EU với kim ngạch đạt 197 triệu USD(7/2010),tăng 11,4% so với tháng 6 và tăng 22,9% so với tháng 7/2007; xuất khẩu sang Nhật Bản vớikim ngạch đạt 78 triệu USD (7/2010), tăng 33,75% so với tháng 6 và tăng 20,88% so với cùng

kỳ năm 2009,… Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu chính, một thị trường tiêudùng lớn thứ hai thế giới, hứa hẹn nhiều cơ hội cho công ty cũng như cho các doanh nghiệpkhác của nước ta khi xuất khẩu vào thị trường này Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạtđộng xuất khẩu của “May 10”sang thị trường Nhật Bản hiện tại đang phải đối mặt với nhiềuthách thức, đặc biệt chịu tác động của thảm họa sóng thần, động đất và thảm họa hạt nhân xảy

ra liên tiếp trong tháng 3 vừa qua ở Nhật

Xuất phát từ thực trạng trên, nhận rõ được những khó khăn, cơ hội, thách thức cũngnhư những sức ép canh tranh đối với tổng công ty May 10, phòng kinh doanh chúng tôi tiến

hành xây dựng chiến lược kinh doanh: “Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Nhật Bản của tổng công ty May 10” nhằm giúp Tổng công ty mở rộng và đứng vững trên thị trường

Nhật Bản tiềm năng nhưng cũng nhiều khó khăn trong giai đoạn này

Phần II: NỘI DUNG

I Giới thiệu về Tổng công ty may 10 và sản phẩm xuất khẩu

1.1 Giới thiệu về công ty

 Thông tin chung

Tổng công ty May 10 - Công ty Cổ phần là thành viên

của Tổng công ty dệt may Việt Nam (Vinatex) thuộc Bộ

Công Nghiệp.Công ty là công ty cổ phần do nhà nước nắm

cổ phần chi phối Graco 10 có vốn điều lệ 54 tỷ đồng trong

đó Nhà nước nắm giữ 51% cổ phần, 49% cổ phần còn lại

được bán cho người lao động

 Tên gọi: Tổng công ty May 10 - Công ty Cổ phần

 Tên giao dịch quốc tế : GARMENT 10

CORPORATION - JOINT STOCK COMPANY

 Trụ sở chính : Phường Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội

 Văn phòng giao dịch: 103 Trần Huy Liệu, phường 12, quận Phú Nhuận TP Hồ ChíMinh

Trang 3

 Điện thoại: (84)(04)38276923 - (84)(04)38276396.

 Fax: (84)(04)38276925

 Email: ctmay10@garco10.com.vn

 Website: http:// www.garco10.com.vn

Một số giai đoạn phát triển của Công ty

Tiền thân của Tổng Công ty Cổ phần May 10 ngày nay là các xưởng may quân trang đượcthành lập ở các chiến khu trong toàn quốc, và được tổ chức từ năm 1946, phục vụ bộ độichống Pháp tại các chiến trường Việt Bắc, khu 4, khu 3 và Nam Bộ

Từ năm 1947 đến năn 1949, việc may quân trang không chỉ được tiến hành ở các chiếnkhu mà còn được tiến hành ở nhiều nơi khác như: Nho Quan- Ninh Bình, Hà Đông, Thái Bình,Thanh Hoá, Quảng Ngãi…Để đảm bảo bí mật, các cơ sở sản xuất đều được đạt tên theo bí sốcủa quân đội như: X1, X30,AK1, AM1, CK1, BK1…Các đơn vị này chính là tiền thân củaxưởng May 10 hợp nhất sau này

Năm 1952, xưởng may X1 ở Việt Bắc được đổi tên thành xưởng May 10 mang bí số X10.Năm 1956, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, xưởng may X40 (Thanh hoá) và nhữngđồng chí thợ may của ngành quân nhu ở Nam Bộ và Chiến khu 5 Việt Bắc được lệnh chuyển

ra Hà nội sát nhập với xưởng May 10 lấy tên là xưởng May 10 đặt tại Hội Xá thuộc Bắc Ninh

cũ nay là Phường Sài Đồng – Quận Long Biên – Hà Nội với diện tích 20ha Xưởng May 10được xây dựng với 546 cán bộ công nhân viên chuyên may quân phục quân đội

Tháng 2 năm 1961, Cục Quân Nhu - Tổng Cục Hậu cần tiến hành bàn giao xưởng May 10cho Bộ Công Nghiệp Nhẹ quản lý và đổi tên thành Xí nghiệp May 10

Năm 1975, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động sản xuất của công ty Công ty chuyểndần sang sản xuất các mặt hàng phục vụ dân dụng và xuất khẩu ra nước ngoài với thị trườngchủ yếu là Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu

Ngày 14 – 11 – 1992, Bộ Công nghiệp nhẹ đã ra quyết định số 1090/TCLD về chuyển đổi

mô hình tổ chức từ Xí nghiệp May 10 lên thành Công ty May 10 thuộc Tổng công ty Dệt mayViệt Nam

Và đến ngày 1/1/2005, Công ty May 10 được chuyển đổi thành Công ty Cổ phần May 10theo quyết định số 105/QĐ-BCN kí ngày 1/5/2004 của Bộ Công Nghiệp

Kể từ ngày 26/3/2010, Công ty cổ phần May 10 đổi tên thành Tổng công ty may 10 –

Công ty cổ phần

 Lĩnh vực kinh doanh

+ Sản xuất kinh doanh các loại quần áo thời trang và nguyên phụ liệu ngành may

Trang 4

+ Kinh doanh các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, công nghiệp thực phẩm và công nghiệptiêu dùng khác

+ Kinh doanh văn phòng, bất động sản, nhà ở cho công nhân

+ Đào tạo nghề

+ Xuât nhập khẩu trực tiếp

 Sứ mạng và giá trị cốt lõi

+ Thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng

+ Tăng cường tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo, phát huy tối đa tiềm năng

và lợi thế của Công ty

+ Đảm bảo môi trường ngày càng xanh, sạch, đẹp

+ Vì lợi ích của mỗi thành viên và cộng đồng

+ Xây dựng Công ty trở thành một điển hình văn hóa Doanh nghiệp

1.2 Giới thiệu về sản phẩm dệt may thâm nhập thị trường Nhật bản và đặc điểm của sản phẩm

Trên thị trường nội địa dòng sản phẩm chính của công ty là các mặt hàng áo sơ mi caocấp với thương hiệu Phanraon dành cho nam và Cleopatre dành cho nữ

Trên thị trường nước ngoài, công ty tập trung vào 5 mặt hàng mũi nhọn đó là áo sơ mi,quần âu, áo Jacket, bộ complete và áo vest Các mặt hàng này đều thuộc dòng sản phẩm trungcấp và đã được người tiêu dùng trong nước cũng như ở một số thị trường như: EU, Bỉ, HànQuốc… đánh giá khá tốt về mặt chất lượng

Mặt hàng áo sơ mi nam là mặt hàng mà công ty có nhiều kinh nghiêm sản xuất nhất vàđược nhiều thị trường xuất khẩu tin dùng Bên cạnh đó, công ty ngày càng mở rộng sản xuấtnhững sản phẩm có giá trị cao hơn và yêu cầu kỹ thuật phức tạp hơn như bộ complete và áovest

Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu của những đơn đặt hàng gia công của phía đối tác nước ngoàicông ty cũng sản xuất thêm một số mặt hàng khác như váy, áo phông, áo jilê…

 Áo sơ mi

Áo sơ mi là mặt hàng truyền thống và có nhiều lợi thế của công ty, gồm cả sơmi nam vàsơmi nữ

Sơmi nam:Tên Sản Phẩm: Phanraon classic-kd2, Mã Sản Phẩm:

Pharaon class-kd2, Giá Sản Phẩm: 160.000 đồng, chi tiết sản phẩm:

Vải kẻ dọc, cộc tay, cổ hơi ngang, bản cổ to

Trang 5

Sơmi nữ: Tên Sản Phẩm: cleopatre, Mã Sản Phẩm: cleopatre-237/09, Giá Sản Phẩm: 259.000 đồng , Chi Tiết Sản Phẩm: Sơ mi nữ dài tay, vải kẻ màu đen Hai túi ngực có nắp, nẹp

thân trái phối vải đen,chiết thân trước và thân sau cổ đức có chân Tổng Công ty đã có uy tíntrong sản xuất các loại áo sơmi nam các chất cotton Mặt hàng áo sơ mi vẫn luôn là một trongnhững mặt hàng xuất khẩu chủ lực của công ty trong những năm qua giá trị xuất khẩu trungbình hàng năm lên đến hơn 60.000 nghìn USD chiếm hơn 65% giá trị các mặt hàng xuất khẩucủa công ty Mỹ là thị trường nhập khẩu mặt hàng này lớn nhất với 50% giá trị xuất khẩu

 Quần âu

Mặt hàng quần âu hiện đang là một trong những mặt hàng có mức tiêu thụ khá tốt

xuất khẩu mặt hàng này Loại sản phẩm này bao gồm:

- Quần âu nam Tên Sản Phẩm: Q.âu nam-pharaon, Mã Sản Phẩm: PHARAON- ts2, Giá Sản Phẩm: 249.000 đồng Chi Tiết Sản Phẩm: quần âu cổ điển nam cao cấp: 1 ly, thân trước

có hai túi chéo, hai túi hậu bổ cơi kiểu dáng trẻ trung, sang trọng.chất liệu: 50% polyester;50% wool.lót cạp có sợi cao su giúp người mặc khi cho áo trong quần mà cử động mạnh vẫngiữ được nếp áo

- Quần âu nữ Tên Sản Phẩm: Q.âu nữ, Mã Sản Phẩm: 185/08, Giá Sản Phẩm: 230.000vnđ, Chi Tiết Sản Phẩm: Quần thời trang nữ, vai tuysi màu đen thân trước có hai túi

chéo, miệng túi xếp hai viền cơi

Công ty cũng đã tìm kiếm được khá nhiều khách hàng lớn như: Hà Lan, Đan mạch, Pháp,Thuỵ Điển

Khách hàng Châu Á có những đánh giá khá tích cực về mặt hàng này Tiềm năng tiêu thụmặt hàng này của công ty trên thị trường Nhật Bản là rất lớn khi mà kim ngạch xuất khẩu sangNhật Bản năm 2010 đạt 78 triệu USD (7/2010), tăng 33,75% so với tháng 6 và tăng 20,88% sovới cùng kỳ năm 2009 Công ty nên có những giải pháp để có thể khai thác nhiều hơn nữa tiềmnăng thị trường này

 Áo Jacket

Mặt hàng áo Jacket đang duy trì được mức tăng trưởng đáng ngạc nhiên

trên một số thị trường mà Tổng công ty đã xuất khẩu năm 2010 Thuộc chủng

loại này, Tổng công ty chỉ sản xuất áo dành cho nữ Tên Sản Phẩm: măng tô

nữ, Mã Sản Phẩm: LJK263/09, Giá Sản Phẩm: 1.000.000 đồng, chi tiết sản

phẩm: vải dạ kẻ karô, cổ cao, thân trước có hai hàng cúc,thân trước và sau

được bổ tạo eo,hai túi, áo có đai

 Bộ Complete và áo Vest.

Trang 6

- Dành cho nam: tên Sản Phẩm: veston-2, mã sản phẩm: ves-2, giá sản phẩm: 1.608.000, chi

tiết sản phẩm: được sử dụng chất liệu tuysi pha len,

- Dành cho nữ: tên sản phẩm: veston-5, mã sản phẩm: cleo-vkr, giá sản phẩm: 1.050.000 đồng, chi tiết sản phẩm: chất liệu tuysi pha len màu vàng nân, có chấm kẻ chìm, cổ hình chữ K,

hai khuy.Bộ gồm 01 áo, 01 váy, 01 quần

Đối với hai dòng sản phẩm này, mức tăng trưởng trên thị trường là khá khiêm tốn thể hiện ởmột số thông tin như: mặt hàng bộ complete trong giai đoạn 2005-2008 số đơn hàng xuất khẩutrực tiếp nào sang thị trường Nhật rất ít mà hầu hết là tiêu dùng trong nước Còn mặt hàng áo Vestgiá trị xuất khẩu trực tiếp vào thị trường này hàng năm cũng chỉ khoảng 20.000 - 30.000USD Điều này có thể lý giải điều này là do sản phẩm bộ Complete và áo khoác là các sản phẩm cóđòi hỏi yêu cầu kỹ thuật, tay nghề cao

Mặt hàng bộ complete có sự tăng trưởng mạnh mẽ do sự tăng trưởng trở lại của thịtrường Nhật Bản với giá trị xuất khẩu năm 2009 lên đến 10.668 nghìn USD, tăng gần 40% sovới năm 2005

Trong tương lai, công ty nên tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm này để tăng cường khảnăng tiêu thụ trên thị trường Nhật bản Vì đây là một mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao nên việctăng cường kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sẽ đem lại cho công ty một khoản lợi nhuận lớn và

ổn định

II Giới thiệu về thị trường hàng dệt may ở Nhật Bản và lý do chọn thị trường Nhật Bản 2.1 Thông tin về thị trường Nhật Bản

2.1.1 Môi trường tự nhiên

 Vị trí: Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do

bốn quần đảo độc lập hợp thành Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần đảo Izu-Ogasawara Những

quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển Nhật Bản không tiếpgiáp quốc gia hãy lãnh thổ nào trên đất liền Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo

Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km.

 Tổng diện tích: Trên đất liền: 377906,97 km², rông thứ 60 trên thế giới Lãnh hải:

3091 km²

 Tự nhiên: Theo lý thuyết đĩa lục địa (plate tectonics), Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là Á-Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và biển Philippines Các quần đảo

Trang 7

của Nhật Bản hình thành do vài đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm Xét về mặt địa chất học, như vây là rất trẻ.

 Chính vì vậy, Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nó nổi tiếng thế giới đó

là nhiều núi lửa, lắm động đất

 Địa hình: Địa hình núi chiếm 73% diện tích tự nhiên của Nhật Bản Số lượng sông suối nhiều, nhưng độ dài của sông không lớn Ven biển có những bình nguyên nhỏ hẹp là nơi tập trung dân cư và các cơ sở kinh tế nhất là phía bờ Thái Bình Dương Điểm cao nhất ở Nhật Bản là đỉnh núi Phú Sĩ, cao tuyệt đối 3776m Điểm thấp nhất ở Nhật Bản là một hầm khai thácthan đá ở Hachinohe, -135m

2.1.2 Môi trường kinh tế - chính trị

 Về kinh tế

Nhật Bản hiện là một trong các nước có chỉ số lạm phát thấp nhất thế giới

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) phát triển cao độ (1955-1973)khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản" Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế-công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu người là36.217 USD (1989) Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật

Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế,giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ,… Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1 năm 2001 Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và có bước tăng trưởng năm 2003 đạt trên 3%, quý I/2004 đạt 6% và đến năm 2010 Nhật Bản vẫn là một siêu cường quốc kinh tế

 Về chính trị

Nhật Bản là một trong các nước theo hệ thống quân chủ lập hiến, trong đó Thủ tướng

là người nắm quyền cao nhất về các phương diện quản lý quốc gia và chịu sự giám sát của hai

Trang 8

viện quốc hội cùng tòa Hiến pháp có thẩm quyền ngăn chặn các quyết định vi hiến của chính phủ Được xây dựng dựa trên hình mẫu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland và một

số nước phương Tây khác sau này Theo hệ thống pháp luật thế giới hiện hành, Nhật Bản đượcxếp vào các nước có nền dân chủ đầy đủ (ưu việt nhất)

Quốc hội Nhật Bản là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, gồm có Hạ viện với 512 ghế và Thượng viện với 252 ghế Hạ viện được bầu ra từ 130 đơn vị bầu cử với số nghị viên từ 2 tới 6

vị tùy theo dân số Nhiệm kỳ của Thượng viện là 6 năm, mỗi 3 năm được bầu lại một nửa

2.1.3 Môi trường văn hóa xã hội

Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa Người dân không có nguồn gốc Nhật chỉ chiếm hơn 1% tổng dân số vào năm 1993 Do sống biệt lập với các quốc gia khác tại châu Á trong nhiều thế kỷ cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868, Nhật Bản đã có các nét riêng về phong tục, tập quán, chính trị, kinh tế và văn hóa trong đó gia đình đã giữ một vai trò trọng yếu Trước Thế Chiến thứ Hai, phần lớn người Nhật sống trong loại gia đình gồm ba thế hệ Sự liên lạc gia đình đã theo một hệ thống đẳng cấp khắt khe theo đó người cha được kính trọng và có uy quyền Người phụ nữ khi về nhà chồng phải tuân phục chồng và cha

mẹ chồng nhưng sau khi Luật Dân Sự năm 1947 được ban hành, người phụ nữ đã có nhiều quyền hạn ngang hàng với nam giới về mọi mặt của đời sống và đặc tính phụ quyền của gia đình đã bị bãi bỏ Phụ nữ Nhật đã tham gia vào xã hội và chiếm 40,6% tổng số lực lượng lao động của năm 1990

Xã hội Nhật Bản có các nét đặc biệt về giao thiệp Người Nhật thường cúi chào bằng cách gập người xuống và độ hạ thấp tùy thuộc địa vị xã hội của cả hai người Đây là một dấu hiệu quan trọng để tỏ lộ sự kính trọng Một nét phong tục khác là việc trao đổi danh thiếp Mỗilần giới thiệu hay gặp mặt đều cần tới tấm danh thiếp và việc nhận tấm danh thiếp bằng hai tay

là một cử chỉ lễ độ Tấm danh thiếp được in rõ ràng và không được viết tay trên đó Trong việcgiao thiệp, người Nhật thường không thích sự trực tiếp và việc trung gian đóng một vai trò quan trọng trong cách giải quyết mọi hoàn cảnh khó khăn

 Văn hóa trời trang ở Nhật Bản

Tình hình xuất nhập khẩu hàng may mặc của các công ty sản xuất kinh doanh may mặc Nhật Bản đã phát triển theo hai xu hướng chính:

- Xu hướng thứ nhất: ngày nay người tiêu dùng các sản phẩm may mặc đang tìm kiếm các loại hàng không đắt tiền

- Xu hướng thứ 2: các sản phẩm có giá trị cao như sơ mi mặc được ngay không cần làsau khi giặt và phơi khô sản xuất và kinh doanh hàng may mặc tại thị trường Nhật Bản

Trang 9

một cách thành công trước sự cạnh tranh của hàng nhập ngoại.

Thị trường hàng tiêu dùng Nhật Bản phát triển theo hai xu hướng tạo nên sự phânchia thị trường người tiêu dùng Hàng được sản xuất với công nghệ cao, giá trị cao vẫn làlĩnh vực mà các nhà sản xuất Nhật Bản chiếm thế mạnh Hàng may mặc thông thườngthì phụ thuộc vào nhập khẩu (từ các nước Châu á của chính các công ty Nhật Bản hoặc cácnhà sản xuất nước ngoài)

Xét về mặt chất lượng hàng hoá, Nhật Bản nằm trong số những quốc gia có đòi hỏicao nhất trên thế giới Những khiếm khuyết mà ở các quốc gia khác không thành vấn đề nhưmột vết xước nhỏ, đường viền không cân trên một sản phẩm thì ở Nhật Bản đều bị coi làhàng hoá hỏng Người tiêu dùng Nhật Bản đề ra các tiêu chuẩn độ bền và chất lượng caocho những hàng hoá công nghiệp và tạo ra yêu cầu mà các sản phẩm khác nhau nhưng cùngchủng loại phải tuân theo

Người tiêu dùng đang cố gắng giảm bớt chi tiêu cho quần áo trong giai đoạn thảm họakép, họ lựa chọn các sản phẩm có giá cả hợp lý

Về màu sắc, các tiêu chuẩn khác nhau về màu sắc cũng tồn tại ở Nhật Bản, dựatrên sự kết hợp các tiêu chuẩn truyền thống với các ảnh hưởng của phương tây

Ngày nay người tiêu dùng hàng may mặc ở Nhật Bản khá khó tính, đặc biệt về mốtthời trang Công ty cần phải nắm bắt, dự đoán được xu hướng thời trang, phải cung ứngmột cách kịp thời những sản phẩm hợp mốt, đặc biệt là đối với những khách hàng trẻ tuổi -những người có sở thích may mặc thay đổi rất nhanh đặc biệt là giới trẻ chịu tác động rấtmạnh bởi xu hướng thời trang hiện đại Tuy nhiên người Nhật Bản có “ bảo thủ” hơn ởchỗ vẫn chấp nhận những mặt hàng có cách đIệu chuẩn cộng thêm các chi tiết hoặc cácchất liêụ mới Ví dụ, quần chum/váy và áo vét/jacket nilon vẫn có thể bán chạy trong năm

20111 này

Khi thực hiện hợp đồng với đối tác Nhật Bản,công ty phải tránh những sai phạm tối

kỵ như giao hàng không chuẩn màu sắc, sai kích cỡ, không đủ số lượng hoặc giao chậm.Các nhà nhập khẩu Nhật Bản sẽ không chấp nhận các lỗi này, nên nếu công ty mắc phải saiphạm này sẽ tổn hại đến hai bên

Tóm lại, người tiêu dùng Nhật Bản luôn tìm kiếm những hàng hoá chất lượng tốt vàvới gía cả hợp lý

2.2 Giới thiệu về thị trường hàng dệt may ở Nhật Bản

Những số liệu khả quan trên có được một phần là do Nhật Bản lo ngại rằng nước này quá phụ thuộc vào hàng nhập khẩu từ Trung Quốc Nhiều nhà nhập khẩu Nhật Bản đang nhập

Trang 10

hàng từ Trung Quốc có xu hướng chuyển sang nhập từ Việt Nam để tận dụng lợi thế thuế nhậpkhẩu thấp hơn theo Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản Đây là một tín hiệu tốt cho các nhà cung cấp hàng may mặc của Việt Nam

Thị trường Nhật Bản, một thị trường khó tính nhưng đầy hấp dẫn

Thị trường Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm 17,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam, chỉ đứng sau thị trường

Mỹ và thị trường EU Tuy nhiên nếu với thị trường EU và thị trường Mỹ hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam bị hạn chế bởi hạn ngạch thì khi chóng ta xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản lại không phải chịu hạn ngạch Như vậy, có thể khẳng định rằng Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại Vậy thị trường Nhật Bản có những đặc điểm gì ?

 Xu hướng tiêu dùng

Nhật Bản là một thị trường mở, có quy mô tương đối lớn đối với các nhà xuất khẩu hàngmay mặc nước ngoài Với số dân là 126,9 triệu người và mức thu nhập bình quân hàng nămvào khoảng 30.039 USD/người, Nhật Bản là nước nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai trênthế giới hiện nay Tuy nhiên việc mua sắm của người Nhật Bản đối với các sản phẩm nóichung và các sản phẩm may mặc nói riêng đều khác biệt với các thị trường khác Một trongnhững nguyên nhân là Nhật Bản đang đối mặt với sự thay đổi giữa các nhóm tuổi trong xã hộitheo hướng già hoá dân số tương đối nhanh chóng Xu hướng này sẽ làm thay đổi mạnh mẽcách thức tiêu dùng hàng hoá, sự lựa chọn, sở thích, thói quen, tâm lý tiêu dùng,… Những nămgần đây, với mức thu nhập và chi tiêu "thoáng" hơn, người Nhật Bản sẵn sàng trả giá cao đểmua những sản phẩm chất lượng tốt, tính thời trang thẩm mỹ cao Đây có thể sẽ là những gợi ý

để Tổng ty tham khảo khi muốn đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản vì hiện tạinhiều chuyên gia kinh tế Nhật Bản đều có chung một nhận xét về hàng may mặc xuất khẩu củaViệt Nam: mặc dù hàng may mặc Việt Nam đạt chất lượng tốt nhưng không đồng đều, không

ổn định, kiểu dáng mẫu mã rất nghèo nàn và chưa thể hiện được những yếu tố đặc trưng củasản phẩm may mặc Việt Nam

 Cơ cấu tiêu thụ các sản phẩm dệt may

Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn trên thế giới đồng thời cũng là thịtrường tiêu thụ rất nhiều hàng dệt may Nhìn chung hàng dệt may được tiêu thụ có thể phânthành hai nhóm chính nếu căn cứ theo phương thức dệt là hàng dệt kim và hàng dệt thoi

Trang 11

Trong đó hàng dệt kim thường chiếm tới 70% tổng khối lượng nhập khẩu hàng dệt may củaNhật Bản.

Trong nhóm hàng dệt kim, những mặt hàng được người Nhật quan tâm thường là cácloại áo len, áo khoác nam, áo khoác nữ, sơ mi, quần áo trẻ em, găng tay, bớt tất, áo gile,T.shirt, quần áo dệt kim, quần áo thể thao, áo jacket Trong đó hàng dệt kim với chất liệu là lenhoặc cotton được ưa chuộng hơn cả

Bên cạnh đó, hàng dệt thoi mà chủ yếu là loại tơ tằm, các loại áo sơ mi dệt thoi chất liệubông, áo blouse, đồ lót, váy làm tâ chất liệu tơ tằm cũng được người Nhật Bản yêu thích

 Mức tự cung đảm bảo

Là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ hai trên thế giới, khối lượng nhập khẩu hàngmay mặc của Nhật Bản tăng nhanh qua các năm Mức nhập khẩu dệt may năm 2011tăng41,3% so với năm Ngược với xu hướng nhập khẩu ngày càng nhiều, hiện nay mức sản xuấthàng dệt may trong nước của Nhật Bản ngày một suy giảm cả về mặt giá trị và số lượng.Trong 5- 10 năm qua việc chuyển hoạt động sản xuất hàng dệt may ra nước ngoài đã pháttriển rất nhanh mà điểm đến thường là những nước đang phát triển rất gần với Nhật Bản Đầutiên là sự chuyển dịch sang Hàn Quốc và Đài Loan Tiếp đó là thị trường Trung Quốc và thịtrường Inđônêxia, hai trong số nhiều nước thuộc khu vực Đông á và Đông Nam á với nguồnnguyên liệu dồi dào, nguồn lao động phong phú, giá tương đối rẻ Hiện nay Trung Quốc đượcxem là một "cơ sở" sản xuất lớn và là nguồn nhập khẩu quan trọng của Nhật Bản

Hiện tại mức sản xuất trong nước của Nhật Bản chỉ chiếm trờn dưới 30% tổng lượngtiêu thụ hàng dệt may của thị trường nội địa

 Nhu cầu nhập khẩu

Với mức tự cung đảm bảo chỉ đáp ứng được khoảng 30% tổng mức tiêu thụ hàng dệt maytrên thị trường nội địa nên kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản thường rất lớn cả về mặt giá trị

và khối lượng, chiếm xấp xỉ 70% tổng cầu của thị trường đối với cả hai loại là hàng dệt kim vàhàng dệt thoi

Với nhu cầu nhập khẩu ngày càng cao của Nhật, ngành dệt may nước ta đã có cơ hội nângkim ngạch 11 tháng đầu năm 2010 lên 33,8 triệu USD, chiếm 12% trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu mặt hàng, tăng 10,55% so với cùng kỳ năm 2009

Trang 12

2.3 Lý do chọn thị trường Nhật trong thời điểm đang “tái thiết” đất nước

Hiện nay Nhật Bản là thị trường hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, tổnggiá trị buôn bán hàng may mặc trong năm 2009 là 35,63 tỷ USD, trong đó hàng may mặc nữchiếm khoảng 55%, hàng may mặc cho nam giới chiếm khoảng 32% và cho trẻ em chiếmkhoảng 12%

Thị trường Nhật Bản mở cửa đối với hàng may mặc, kim nghạch nhập khẩu đã chiếm

tỷ trọng khoảng 38% tổng khối lượng thị trường hàng may mặc nước này tuy nhiên, các nhà nhập khẩu hàng may mặc

Do thiếu lao động và do chi phí nhân công cao, nhiều nhà sản xuất hàng may mặc Nhật Bản đã chuyển ra nước ngoài sản xuất Do vậy, sản xuất hàng may mặc nội địa ở Nhật Bản đã, đang và sẽ giảm

Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại Trước khi biến động thiên tai xảy ra, các nhà đầu tư Nhật có xu hướng chuyển đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam “Bởi phần lớn các doanh nghiệp này đều không muốn tập trung quá nhiều vào một thị trường sẽ có nhiều rủi ro”

Hiện hàng hóa Việt Nam xuất sang Nhật chỉ chiếm 1,19% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của nước này và khoảng 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam đang có rất nhiều lợi thế ở Nhật Bản như giảm, miễn thuế, ưu đãi thuếquan; những thay đổi trong chính sách kinh tế thương mại của Nhật Bản đang có lợi cho doanhnghiệp Việt Nam như tăng hoạt động xuất khẩu hàng hóa về hướng Đông (ký nhiều hiệp định thương mại song phương với ASEAN)

Trang 13

Tháng 3 vừa qua, thảm họa kép đã xảy ra ở Nhật Bản nhưng đến nay, vẫn chưa có một báo cáo chính thức nào về mức độ ảnh hưởng của thảm họa động đất và sóng thần ở Nhật đối với xuất khẩu của tổng công ty may 10 nói riêng và Việt Nam nói chung Trên thực tế, chúng

ta vẫn có thể tìm thấy cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang Nhật, ít nhất là trong ngắn hạn Viện Nghiên cứu thương mại cũng cho rằng, một số ngành xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật sẽ tăng trưởng trong ngắn hạn Bởi lẽ, hàng xuất khẩu của Việt Nam qua Nhật là những mặt hàngtiêu dùng cơ bản, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất nên dù khó khăn, thì người dân và doanh nghiệp Nhật vẫn có nhu cầu

III Môi trường cạnh tranh

3.1 Các đối thủ cạnh tranh chính

3.1.1 Đối thủ trong nước

Các DN đang có mặt trong ngành may sẵn là rất đông đảo với một qui mô lớn cụ thể như Tổng công ty may Việt Tiến, may Nhà Bè, Việt Thy, công ty thời trang Việt (Ninomaxx), công ty thời trang Nguyên Tâm (Foci), An Phước, Việt Thắng, May 10…Với số lượng đông đảo như vậy tuy nhiên không có DN nào có thể giữ vai trò chủ đạo, chi phối đến hoạt động củacác DN khác Chính vì vậy ngành may sẵn có cơ cấu ngành phân tán, cường độ cạnh tranh trênthị trường gay gắt, khốc liệt và chủ yếu là cạnh tranh về giá Ta thấy rằng nhóm các DN sản xuất hàng cấp trung và cấp cao trung chủ yếu sử dụng chiến lược khác biệt hoá Giá của những

DN may trong nhóm này thuộc tầm trung hoặc cao để khẳng định rõ về chất lượng, mẫu mã hình thức và thương hiệu của sản phẩm Có những DN mà sản phẩm của họ lên tới mức 500 –

700 nghìn đồng như Việt Tiến, An Phước… nhưng khách hàng vẫn chấp nhận mua vì nó đã tạo được một thương hiệu trong lòng khách hàng về chất lượng quần áo Những DN sản xuất hàng cấp trung như Ninomaxx, PT2000 hay Blue Exchange, Việt Thy…Các DN sản xuất hàngcấp trung này chiếm khoảng 60% thị phần, 40% còn lại chia đều cho hàng giá rẻ và hàng cấp trung cao của các nhà thiết kế trẻ Mặc dù được đánh giá chiếm đến 60% thị phần nhưng phân khúc thị trường thời trang cấp trung vẫn là khu vực tập trung nhiều sự cạnh tranh nhất

3.1.2 Đối thủ nước ngoài

 Trung Quốc

Trung Quốc được xem là nhà cung cấp hàng dệt may lớn nhất của Nhật Bản trên hai thịtrường: thị trường đại chúng và thị trường hàng hoá cấp trung Theo thống kê xuất nhập khẩu hàng dệt may, Bộ Tài chính Nhật Bản cho biết có tới 79,6% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt kim và 80,4% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt thoi năm 2001 của Nhật Bản là do Trung Quốc cung cấp Nếu xét về lượng nhập khẩu thì Trung Quốc cũng chiếm thị phần lớn hơn với hàng

Trang 14

dệt kim là 87,7% và hàng dệt thoi là 89,9% Như vậy Trung Quốc đó chiếm ưu thế tuyệt đối với cả hai nhóm hàng dệt thoi và dệt kim

Trung Quốc luôn chiếm ưu thế trên thị trường đại chúng với những mặt hàng bình dân

và thị trường sản phẩm cấp trung bởi nguồn nguyên phế liệu trong nước phong phú, lực lượng lao động dồi dào, mức lương không cao Chính vì vậy mức giá hàng hoá Trung Quốc đưa ra luôn có sức cạnh tranh lớn trên thị trường Nhật Bản Đó là những thuận lợi khiến Trung Quốc chiếm thế thượng phong với hầu hết các mặt hàng trên hai thị trường kể trên Trong những năm vừa qua, với việc gia tăng hoạt động gia công xuất khẩu, Trung Quốc càng tạo được cho mình một chỗ đứng vững chắc tại thị trường Nhật Bản

 Hàn Quốc

Do vị trí địa lý gần kề Nhật Bản nên Hàn Quốc có được những ưu thế về vận tải hơn các nước khác Điều đó đó tạo cho Hàn Quốc những lợi thế nhất định Tuy nhiên với sự tăng giá của đồngWon thời gian gần đây và giá nhân công cao đó làm khả năng cạnh tranh cuả hàng dệt may Hàn Quốc giảm đáng kể nhất là những mặt hàng dành cho thị trường đại chúng

Vì thế, hiện nay Hàn Quốc chủ yếu tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cấp trung hơn là những mặt hàng bình dân như trước kia

 EU

Tuy bất lợi cả về khoảng cách địa lý cũng như giá nhân công cao hơn hẳn các nước ASEAN nhưng hàng dệt may của EU vẫn có thể đứng vững trên thị trường Nhật Bản, bởi những mặt hàng xuất khẩu của EU sang thị trường này thường là những mặt hàng cao cấp, hợpthời trang và đắt tiền Đó là những sản phẩm gắn với những tên tuổi lớn trong ngành công nghiệp thời trang thế giới, nhưng số lượng cung cấp chỉ có hạn Ngoài ra EU cũng được coi là khéo léo sử dụng những ảnh hưởng của mình tại thị trường dệt may Nhật Bản

 Mỹ

Việc nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản từ Mỹ bắt đầu tăng đáng kể từ cuối nhữngnăm 80 Điều đó đó biến Mỹ trở thành một trong những nhà cung cấp hàng may mặc quan trọng đối với Nhật Bản Hầu hết các sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ là những loại quần áo thông thường, thứ đến là những mặt hàng thời trang Trên thực tế một trong những thế mạnh về hàngdệt may của Mỹ là mặt hàng chất liệu cotton

3.2 Sản phẩm thay thế

Một trong 5 áp lực cạnh tranh mà khi xây dựng một chiến lược kinh doanh thì người lập chiến lược không thể quên đó là sản phẩm thay thế Với chiến lược kinh doanh về sản phẩm may sẵn thì chúng ta xác định sản phẩm thay thế ở đây là sản phẩm may đo Trước tiên,

Ngày đăng: 09/08/2014, 17:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w