1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa vũng tàu

56 372 3
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Mô Hình Trung Tâm Học Tập Cộng Đồng Ở Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Tác giả Nguyễn Đức Thiện
Người hướng dẫn TS. Lê Xuân Hồng
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 26,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TTHTCĐ có thể đáp ứng các cơ hội học tập, sinh hoạt tinh thần cho tất cả mọi người trong cộng đồng; thu hút mọi cá nhân, mọi tổ chức tham gia vào hoạt động văn hóa, giáo dục nhằm thỏa mã

Trang 1

lập BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀOTẠO >

zis] TRUONG DAI HOC SU PHAM THANH PHO HO CHi MINH

NGUYEN DUC THIEN

XAY DUNG MO HINH TRUNG TAM HQC TAP CONG BONG O HUYEN TAN

THANH, TINH BA RIA-VUNG TAU

Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số : 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS : LÊ XUÂN HÒNG

Trang 2

LOI CAM ON Tôi xin chân thành bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến :

- Thầy, Cô trong khoa Tâm lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh

- Cán bộ, nhân viên Phòng Khoa học Công nghệ- Sau đại học trường Đại học Sư phạm thành phó Hồ Chí Minh

- Quý Thầy, Cô đã giảng dạy, tư vấn và cung cấp cho tôi nhiều ý tưởng nghiên cứu và kiến thức quý báu trong thời gian tôi học tập tại trường Đặc biệt là Tiến sĩ Lê Xuân Hồng, người Cô

đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Qua đây tôi cũng xin chân thành cảm ơn:

- Lãnh đạo Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và các cán bộ quản lý các phòng chức năng thuộc Sở

- Lãnh đạo UBND và các phòng chức năng huyện Tân Thành

- Lãnh đạo UBND và các ban, ngành đoàn thể , tổ chức xã hội thị trần Phú Mỹ

- Ban Chủ nhiệm các TTVH-HTCĐ xã Hắc Dịch, Phước Hoà, Mỹ Xuân và đặc biệt là Ban Chủ

nhiệm TTVH-HTCĐ thị trấn Phú Mỹ

- Gia đình thân yêu và các đồng nghiệp của tôi đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Bằng hết sự nỗ lực của mình để hoàn thành đề tài đã chọn, nhưng tôi chắc chắn luận văn

cũng không tránh khỏi những thiếu sót cần bố sung Hằng kính mong được tiếp nhận sự góp ý

xây dựng chí tình của quý Thầy, Cô, quý bậc đàn anh đi trước và quý đồng nghiệp hầu giúp tôi

bổ sung thêm kiến thức bổ ích và sâu sắc hơn nữa về đề tài này

Bà Rịa- Vũng Tàu, tháng 08 năm 2008

Nguyễn Đức Thiện

Trang 3

MO DAU

1 Ly do chon dé tai

Giáo dục nước ta trong những thập niên qua đã đạt được một số thành tựu nhất định nhờ

sự chỉ đạo, quan tâm và đầu tư của Đảng và Chính phủ Tính chất và nguyên lý giáo dục đã

được Luật Giáo dục 1998 và 2005 nêu rõ ở Chương I, Điều 3 “Nền giáo dục Việt Nam là nền

giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại lấy chủ nghĩa Mac-

Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo

nguyên lý học đi đôi với hành, giáo đục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.[32.tr 18] Tuy

nhiên nền giáo dục vốn được xem là phúc lợi xã hội với cơ chế quản lý tập trung, kế hoạch hóa

trước đây đã trở nên lạc hậu và kém hiệu quả Vấn đề ngân sách trở nên quá tải đối với Nhà

nước, không thể đáp ứng đủ nhu cầu phát triển giáo dục nước nhà Hơn thế nữa, cơ chế quan

liêu bao cấp cũng không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội trong thời kỳ đổi mới Trong bối cảnh đó, chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước càng trở nên

đúng đắn và hợp lý hơn bao giờ hết Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là một giải pháp thích hợp

với thời kỳ phát triển kinh tế thị trường - thời kỳ mà đất nước ta đang nỗ lực đây nhanh quá

trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa XHHGD phù hợp với xu thế học tập thường xuyên, cập

nhật và suốt đời đang phát triển và thịnh hành trên thế giới Điều 12 Luật Giáo dục 2005 nêu “ Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại

hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện đề tô chức, cá

nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục.”[32,r.22] Một trong những phương thức XHHGD có hiệu quả chính là mô hình Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) phường, xã TTHTCĐ có thể đáp ứng các cơ hội học tập, sinh hoạt tinh thần cho tất cả mọi người trong cộng đồng; thu hút mọi cá nhân, mọi tổ chức tham gia vào hoạt động văn hóa, giáo dục nhằm thỏa mãn những nhu cầu thay đổi trong đời sống cộng đồng, góp phần đưa cộng đồng trở nên chủ động, tự lực trong giáo dục, trở thành một xã hội học tập (XHHT), góp phần thực hiện chủ trương chiến lược “cả nước trở thành một xã hội học tập” của Đảng và Chính phủ Những văn bản về xã hội hóa và xây dựng XHHT gần đây đã khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng

Trang 4

và Nhà nước về đây mạnh xã hội hóa hoạt động giáo dục và chiến lược xây dựng xã hội học

tập giai đoạn 2005-2010

Tháng 10/1999 , ƯNESCO đã chính thức đặt văn phòng đại diện tại Hà Nội và kế từ đó

văn phòng UNESCO Hà Nội đã hỗ trợ phát triển giáo dục nói chung và TTHTCĐ nói riêng

Mô hình TTHTCĐ đã hình thành và phát triển từ năm 1999 đến nay và cũng đã có nhiều địa phương tiêu biểu trong phong trào xây dựng và phát triển TTHTCĐ Số lượng các TTHTCĐ trên toàn quốc đã tăng nhanh từ 15 vào năm 1999 đến hơn 5000 vào năm 2006 và dự kiến 7500 đến tháng 08 năm 2008 Những địa phương đi đầu trong quá trình xây dựng và phát triển mạnh mạng lưới TTHTCĐ là tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Kon Tum, với nhiều phương

thức hoạt động khá hiệu qủa Tuy vậy ở nhiều tỉnh thành, hoạt động của TTHTCĐ còn mang

tính hình thức Mô hình TTHTCĐ còn khá mới mẻ và chưa được sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo các cấp chính quyền, các cơ quan, ban ngành , các cấp quản lý giáo dục Thực tế, chưa

có một công trình nghiên cứu cấp nhà nước hoàn chỉnh nào đề làm cơ sở lý luận khoa học cho hoạt động của TTHTCĐ Nhìn từ góc độ quản lý vĩ mô, Nhà nước cũng chưa hề có sự đánh

giá, tổng kết kinh nghiệm những hoạt động giáo dục cộng đồng mà nhiều địa phương trên cả

nước đã thực hiện từ nhiều năm qua để làm cơ sở thực tiễn cho việc tiến hành xây dựng và phát

triển TTHTCĐ rộng khắp ở các tỉnh, thành trên toàn quốc

Huyện Tân Thành thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được thành lập từ năm 1994 trên cơ sở

tách từ huyện Châu Thành cũ Thời điểm đó, kinh tế địa phương chủ yếu là nông nghiệp, văn

hóa, giáo dục chưa phát triển chỉ dừng lại ở mức độ học chữ chứ chưa chú trọng học nghề vì người đân có quan điểm làm ruộng, rẫy chỉ cần có sức chứ không cần trí Từ năm 1995, khi Chính phủ có những dự án xây dựng các khu công nghiệp và các cụm cảng ở địa phương thì cơ cấu kinh tế cũng thay đổi và biến động mạnh mẽ Nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề trở nên bức bách cả trong lĩnh vực nông nghiệp lẫn công nghiệp Mãi đến lúc này nhận thưc về học tập và giáo dục, đào tạo nói chung mới được đánh thức trong nhân dân

Sau mười năm phát triển, mạng lưới trường lớp ở huyện được xây dựng đều khắp kể cả ở các

xã vùng sâu Công tác xóa mù chữ được thực hiện rất thành công Tuy nhiên hệ thống giáo dục chủ yếu là hệ thống chính quy bao gồm các trường phổ thông công lập từ bậc tiểu học đến

trung học phổ thông Trung tâm Giáo dục thường xuyên của huyện hầu như chỉ để đảm nhận

công tác xóa mù chữ, hỗ trợ phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở và tổ chức các lớp bổ

Trang 5

túc văn hóa dành cho các đối tượng tại chức cần bổ túc bằng tốt nghiệp trung học cơ sở hoặc

trung học phổ thông Các TTHTCĐ chỉ mới được xây dựng ở một số nơi và giao cho cán bộ

văn hóa xã quản lý, phụ trách Nhìn chung các TTHTCĐ này mới có hình thức chứ chưa có nội dung, chương trình hoạt động nên chưa đáp ứng được nhu cầu học tập, cập nhật kiến thức của

nhân dân địa phương Nhận thức của nhân dân, thậm chí của một bộ phận cán bộ lãnh đạo về

xã hội học tập còn rất hạn chế, hầu như chỉ khoán trắng cho các trường phô thông và Trung tâm Giáo dục thường xuyên (TTGDTX) Trong khi đó nhu cầu học tập , nhu cầu được đào tạo và

tìm việc làm của nhân dân ở từng địa bàn cơ sở là rất lớn và rất đa dạng Thực tế đó đòi hỏi các

cấp chính quyền địa phương cần quan tâm đến thực hiện các chủ trương nhằm đây mạnh xã hội

hóa giáo dục, xây dựng một XHHT ở huyện nhà Một trong những giải pháp hữu hiệu để xây dựng XHHT theo kinh nghiệm của một số địa phương là mô hình TTHTCĐ ở xã, phường, thị tran và thậm chí ở thôn ấp Đây chính là vấn đề bức bách đặt ra cho các nhà lãnh đạo, quản ly

các cấp chính quyền, các co quan giáo dục địa phương và cũng chính là đề tài mà người viết

quan tâm nghiên cứu

- Tìm hiểu „ phân tích , đánh giá thực trạng hoạt động của các TTVH-HTCĐ các xã và

thị trấn ở huyện Tân Thành trong thời gian 2005 đến nay

- Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả một số hoạt động của TTVH-HTCĐ gắn liền với cuộc sống cộng đồng ở các xã, thị trấn thuộc huyện Tân Thành

- Nghiên cứu thử nghiệm hiệu quả của hoạt động TTVH-HTCĐ ở một xã- thị trấn (thị

trần Phú Mỹ)

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp xây dựng mô hình TTVH-HTCĐ ở huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu

Trang 6

4.2 Khách thể nghiên cứu

Thực trạng XHHGD và xây dựng XHHT bằng mô hình TTVH-HTCPĐ ở tỉnh Bà Rịa-

Vũng Tàu và huyện Tân Thành

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.7 Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình TTHTCĐ làm định hướng cho việc nghiên cứu đề tài

3.2 Phân tích thực trạng các TTVH-HTCĐ xã, thị trấn ở huyện Tân Thành

5.3 Đề xuất một số giải pháp xây dựng và phát triển mô hình TTVH-HTCĐ góp phần

xây dựng XHHT ở huyện Tân Thành

6 Gia thuyết khoa học của đề tài

Việc các cấp chính quyền địa phương quan tâm, thực hiện tốt một số giải pháp phù hợp

với thực tiễn mà đề tài nghiên cứu, đề xuất sẽ góp phần thúc đây hoạt động TTVH-HTCĐ ở

huyện Tân Thành phát triển có chiều sâu, hiệu quả và thu hút người học hơn

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận :

- Phân tích , tổng hợp tài liệu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn :

8 Cấu trúc của luận văn

Luận vn gồm 3 phần : Mở ðầu - Nội dung - Kết luận và kiến nghị

Mé dau : Một số van 6é chung

Nội dung : Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương :

- Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình hoạt động của TTVH-HTCĐ.

Trang 7

- Chương 2: Thực trạng hoạt động TTVH-HTCPĐ trên địa bàn huyện Tân Thanh va thi

trấn Phú Mỹ

- Chương 3: Kết quả thử nghiệm ở TTVH-HTCPĐ thị trấn Phú Mỹ và một số giải pháp

tăng cường công tác quản lý và tổ chức hoạt động TTVH-HTCĐ xã

Kết luận và kiến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài

- XHHGD nói chung và giáo dục cộng đồng nói riêng đã được tiến hành một cách hiệu quả và tiến đến xây dựng một nền giáo dục tiên tiến ở nhiều quốc gia ở Châu Á như Malaixia, Thai lan, Indonexia, Myanma, Với sự hỗ trợ của tổ chức UNESCO họ tất chú trọng xây

dựng một xã hội học tập bằng mô hình TTHTCĐ xã, phường

- Ở Việt nam, chủ trương xây dựng cả nước thành một xã hội học tập đã được Đảng và

Nhà nước khẳng định trong Nghị quyết TW4 khóa VII “ cần thực hiện một nền giáo dục

thường xuyên cho mọi người, khuyến khích các loại hình giáo dục không chính quy” và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX cũng chỉ rõ “ Xây dựng một XHHT Giáo dục và đào tạo là nền tảng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt nam Mọi tổ chức chính trị, xã hội, mọi gia đình đều có trách nhiệm chăm

lo và quản lý các hoạt động giáo dục” và “ đây mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng

những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước thành một xã hội học tập”

Ngày 14/04/2007, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW về tăng cường sự lãnh

đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập Chỉ thị nêu rõ

: Ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, ngành, UBND các cấp trong phạm vi, quyền hạn, nhiệm

vụ của mình khẩn trương chỉ đạo việc xây dựng, ban hành các chủ trương, chính sách, kế hoạch

triển khai thực hiện đề án “xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” của Chính phủ, nhất

là các chủ trương, chính sách đảm bảo phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên, tổ chức dạy nghề ở các quận, huyện, tạo điều kiện cho các hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng ở

xã, phường, thị trấn Tiếp tục đây mạnh việc xây dựng các TTHTCĐ, phát triển nhiều loại hình học tập đa dạng, phù hợp với điều kiện và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân từng địa phương, đơn vị Vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp chuyên môn nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc và chất lượng cuộc sống Gắn việc phát triển phong trào học tập với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, với phong trào làm kinh

tế giỏi, xóa đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở

Trang 9

Các viện nghiên cứu khoa học và phát triển giáo đục và các nhà nghiên cứu giáo dục đã dành nhiều tâm sức nghiên cứu loại hình giáo dục không chính quy này Tiêu biểu có các tác giả và tác phẩm cũng như công trình nghiên cứu:

* “Xã hội hóa công tác giáo dục” (Giáo sư Viện sĩ Phạm Minh Hạc chủ biên) nêu lên cơ sở lý

luận , cơ sở thực tiễn và cách làm XHHGD thông qua Đại hội giáo dục các cấp đồng thời nhắn mạnh XHHGD là động lực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi đưỡng nhân tài với các tiêu

chí : giáo dục hóa xã hội, dân chủ hóa giáo dục, cộng đồng hóa trách nhiệm, đa dạng hóa loại

hình giáo duc, đa phương hóa nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục, thể chế hóa sự quản lý của nhà nước về giáo dục [21]

* “ Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” -cũng do GS.TS.Phạm Minh Hạc chủ biên -tổng hợp kinh nghiệm thế giới về XHHGD Theo đó XHHGD chính là việc giáo dục phải thích nghỉ với

xã hội, phải phục vụ nền kinh tế xã hội, phục vụ cuộc sống xã hội.[23]

* “ Xã hội hóa giáo dục” (PGS Võ Tấn Quang ) giới thiệu các quan điểm và cách làm XHHƠD ở các bậc học, cấp học , XHHGD ở địa bàn nông thôn va đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước trong việc thực hiện XHHGD.[3 1]

Ngoài ra còn nhiều bài báo, tạp chí viết về mô hình TTHTCĐ, tiêu biéu như :

* “ Thực trạng và những giải pháp xây dựng và phát triển các trung tâm học tập cộng đồng nhằm góp phần nâng cao dân trí ở thành phố Hải Phòng” của ThS Vũ Thị Thanh Hương.[26]

* “Trung tâm học tập cộng đồng- một mô hình cần tiếp tục hoàn thiện và phát triển ở Việt Nam” của Tạ Văn Sỹ.[33]

* “Trung tâm học tập cộng đồng ở phường xã- hướng đi phù hợp để xây dựng xã hội học tập” của Th§ Phạm Quang Huân.[25]

* “ Những điều kiện xây dựng xã hội học tập” của PGS.TS.Mạc Văn Trang.[35]

Gần đây nhất có loạt bài viết về tiến trình xây dựng XHHT ở tỉnh Thái Bình đăng trên tạp chí Thế giới trong ta

Trên cơ sở lý luận được khẳng định trong các nghị quyết của Đảng, nhiều địa phương đã bắt tay vào nghiên cứu thực hiện chiến lược xây dựng xã hội học tập Tiêu biểu của phong trào này là một số tỉnh ở phía bắc tổ quốc như Thái Bình, Hải Dương, Lào Cai, Hòa Bình, Bắc Giang, Vĩnh Phúc và các tỉnh Tiền Giang, Kon Tum Đặc biệt là tỉnh Thái Bình, một tỉnh có phong trào giáo dục cộng đồng bằng mô hình TTHTCĐ được xem là điển hình trên toàn quốc

Trang 10

Tỉnh Thái Bình đã thực hiện tiến trình xây dựng xã hội học tập một cách có tổ chức từ lãnh đạo các cấp chính quyền tỉnh, huyện đến xã / phừơng, thôn xóm và thực hiện thông qua các phong trào khuyến học “Gia đình hiếu học”, “ Dòng họ khuyến học”, “TTHTCĐ đạt chuẩn”

với sự tham mưu, góp sức của Hội Khuyến học tỉnh, huyện, xã Đến đầu năm 2003, Thái Bình

đã trở thành tỉnh đầu tiên trong toàn quốc hoàn thành về số lượng và quy mô xây dựng các

TTHTCĐ với 284 TTHTCD trên 284 xã, phường Những xã/phường tiêu biểu trong hoạt động

này là Việt Thuận, Nguyên Xá, Hồng Phong, Tân Hòa, Song Lãng, Bách Thuận ở huyện Vũ Thư, Thái Hồng ở huyện Thái Thụy, Phong trào giáo dục cộng đồng tỉnh Thái Bình đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao như lời phát biểu của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm : “Đây

là một sự kiện thành công, quan trọng của Đảng bộ và nhân dân Thái Bình trong việc xây dựng XHHT từ cơ sơ, đã đóng góp những kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển chung của cả nước” Tuy nhiên phong trào xây dựng và phát triển các THHTCĐ tỉnh Thái Bình cũng chưa được đúc kết và nhân rong

Riêng ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, từ năm học 2000-2001 Sở Giáo dục va Dao tạo đã cử

các chuyên viên tham dự các lớp tập huấn, hội thảo về xây dựng và phát triển các TTHTCĐ do

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Trong nội dung học nghiệp vụ hè 2001, 2002, 2003 sở Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn các cán bộ, giáo viên các TTGDTX về phương thức tổ chức hoạt động của TTHTCĐ xã, phường và các phương pháp dạy chuyên đề Năm 2002 Sở Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng đề án thành lập TTHTCĐ giai đoạn 2002-2005 trình UBND tỉnh phê duyệt và được phép triển khai đề án Tuy nhiên do Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa ban hành quy chế tổ chức và hoạt động TTHTCĐ nên địa phương vẫn còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện Thực tiễn cho thấy rằng hoạt động của các TTHTCĐ gắn liền với hoạt động của các trung tâm văn hóa xã, phường do đó UBND tỉnh giao cho Sở Giáo dục và Đảo tạo phối hợp với

Sở Văn hóa- Thông tin và Hội Khuyến học tỉnh xây dựng đề án mô hình Trung tâm Văn hóa- Học tập cộng đồng (TTVH-HTCĐ) Ngày 16/07/2004 UBND tỉnh đã phê duyệt và ban hành

“Quy chế tạm thời tổ chức hoạt động Trung tâm Văn hóa- Học tập cộng đồng xã, phường tỉnh

Bà Rịa- Vũng Tàu” [37] Quy chế gồm năm chương, mười một điều quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức bộ máy, điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động của TTVH-HTCĐ xã, phường Những văn bản này chính là hành lang pháp lý và là tiền đề để các cộng đồng xã, phường, thị trấn đây mạnh tiến trình xây dựng và phát triển TTVH-HTCĐ ở

Trang 11

địa phương Tuy vậy, vấn đề không dừng lại ở chỗ làm sao dé xây dựng một TTVH-HTCĐ

khang trang về hình thức mà cốt lõi là việc làm sao dé duy trì hoạt động TTVH-HTCĐ một cách hiệu quả vẫn là vấn đề còn bỏ ngõ đối với chính quyền và ban chủ nhiệm các TTVH- HTCĐ địa phương

1.2 Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

1.2.1 Vai trò, vị trí của giáo dục, đào tạo đỗi với phát triển kinh tế xã hội

Từ năm 1945, trong ngày khai trường đầu tiên của nước Việt nam dân chủ cộng hoà, trong thư gởi học sinh, Bác viết: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phân lớn ở công học tập của các cháu” Sáu mươi hai năm trôi qua, đến nay câu nói đó vẫn nhắc nhở chúng ta không thể coi thường việc học tập của thế hệ trẻ và giờ đây cả người lớn tuổi, cả xã hội đều phải biết

nâng cao trình độ của mình để ton tại và phát triển

Đồng chí Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư Trung ương Đảng lúc phát biểu tại cuộc gặp gỡ

các đại biểu quốc tế tham dự Hội thảo “ Việt Nam trong thế kỷ XX”, vào tháng 09 năm 2000 tại Hà Nội, có nói: “ Dân tộc chúng tôi hiểu đẩy đủ rằng dân tộc mình là một dân tộc nghèo, một đất nước tuy dang phát triển nhưng ở mức thấp Chúng tôi hiểu rõ khoảng cách của nên kinh tế của chúng tôi và nền kinh tế của những nước phát triển trên thế giới Chúng tôi hiểu rõ khoa học công nghệ trong thế kỷ XXI sẽ có những bước tiến khổng lễ Thực hiện tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Lấy sức ta mà giải phóng cho ta, chúng tôi phải tri thức hoá Đảng, tri thức hoá dân tộc, tiếp tục tri thức hoá công nông, cả nước là một xã hội học tập, phát huy truyền thống những ngày mới giành được độc lập năm 1945, cả nước học chữ, cả nước diệt giặc dốt, cả nước diệt giặc đói Phải nắm lấy ngọn cờ khoa học như đã nắm ngọn cờ dân tộc Một dân tộc dối, đói nghèo là một dân tộc yếu Nhân dân Việt Nam ngày nay có câu: đã biết cầm đũa thì biết vót chông, đã biết vót chông thì mười ngón tay ấy sẽ biết học tập, sử dụng may vi tinh, đi vào công nghệ thông tin, cánh cửa của kinh tế tri thức .” ( Thông tin công tác

tư tưởng của Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Đảng CSVN số 10/2000- trang 3) Hiện tại, chúng ta đang đi vào nền kinh tế tri thức vì ta thừa hiểu rằng thế kỷ XX khoa học kỹ thuật có những bước nhảy vọt và thế kỷ XXI sẽ nhảy vọt cao hơn, sẽ xuất hiện nền kinh tế tri thức và đó

là nền kinh tế mà tri thức chiếm ưu thế hơn ba yếu tố vốn, lao động và công nghệ tạo nên sự

Trang 12

tăng trưởng của nền kinh tế Khi đi vào nền kinh tế như vậy, yếu tố trí tuệ của con người trở nên cực kỳ quan trọng và giáo dục trở thành một lĩnh vực cơ yêu quyết định đến vấn đề dân trí,

dân sinh

Giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền

lợi của mọi người dân, mọi tổ chức kinh- tế xã hội Theo quan điểm giáo dục thuần túy, giáo

dục giúp người học mở mang trí óc, gia tăng kiến thức và khả năng suy nghĩ trừu tượng, hiểu biết sự thật, phát triển đạo đức cá nhân và năng khiếu thưởng thức mỹ thuật, nghệ thuật và biết sống hài hòa với mọi người chung quanh Thực tiễn hơn, giáo dục được xem là một phương tiện giúp người học tích lũy tri thức, tiếp cận khoa học kỹ thuật, cải thiện khả năng và chất lượng lao động cho tương lai Mục tiêu giáo dục Việt nam là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài hay nói cách khác giáo dục chính là quá trình tích lũy vốn con người

(human capital) cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Giáo dục tác động mạnh mẽ

đến cả quá trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia vì chính nền giáo dục quốc dân là chiếc máy cái khổng lồ chịu trách nhiệm đào tạo ra con người phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tầm quan trọng của giáo duc và đào tạo trong tiến trình xây

dựng đất nước đã được Đảng và Nhà nước ta đặt lên vị trí “quốc sách hàng đầu” với quan

điểm chủ đạo “ đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” ( văn kiện Đại hội VII (1991),

VIII (1996), và IX (2001)) Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đúc kết vấn đề này thành một chân

lý : “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Với triết lý đó, giáo dục và nền kinh tế-xã hội có mối

quan hệ tương tác hai chiều theo tỷ lệ thuận: giáo dục, đào tạo tốt sẽ làm tăng chất lượng vốn

con người dẫn đến kết quả tất yếu là tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng , đồng thời khi kinh tế tăng trưởng sẽ làm tăng thêm các nguồn lực đầu tư dành cho giáo dục, thúc đây giáo dục phát triển Có thể mượn ý câu nói của Bác dé khẳng định vai trò của giáo dục đối với nền kinh tế quốc dân : dân tộc Việt Nam có vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ tầm vóc của nền giáo dục nước nhà

1.2.2 Quan điễm phát triển giáo dục thế giới trong xu thế hội nhập thế ký XXI

Trong bối cảnh thế giới đang phát triển như vũ bão về khoa học, kỹ thuật , công nghệ đồng thời cũng đầy những biến động cực kỳ nhanh chóng về chính trị, văn hóa, tôn giáo và lãnh thổ đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng muốn tồn tại và phát triển tốt phải thay đổi tư duy và phải biết cách thích nghỉ Trong xu thé đó UNESCO chủ trương phát triển giáo dục theo

Trang 13

chiến lược bao gồm 21 điểm, trong đó người viết chỉ đề cập đến những điểm quan trọng liên

quan đến việc hình thành và xây dựng một xã hội học tập mà giáo dục Việt nam cần vận dụng :

(1) Giáo dục thường xuyên phải là nét chủ đạo của mọi chính sách giáo dục

(2) Giáo dục thường xuyên qua mọi lứa tuổi trong suốt cuộc đời và phải thực sự trở thành

phong trào quần chúng

(3) Giáo dục phải được tiến hành và tiếp thu bằng nhiều cách khác nhau và phải chú trọng đến

việc học cái gì và học được cái gì

(4) Giáo dục cơ bản phổ thông dưới nhiều hình thức khác nhau phải là mục tiêu hàng đầu của chính sách giáo dục

(5) Xóa bỏ sự phân biệt giữa giáo dục phổ thông và khoa học kỹ thuật và công nghệ Giáo dục phải kết hợp lý thuyết, công nghệ, thực hành và thủ công

(6) Phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyến đổi nghề nghiệp; thực hiện đào tạo bổ sung

bằng hình thức tu nghiệp và học tập định kỳ

(7) Giáo dục ngoài nhà trường, các xí nghiệp, các ngành kinh doanh cũng phải chịu trách nhiệm về đào tạo kỹ thuật

(8) Nhanh chóng phát triển giáo dục cho người lớn Đây là một mục tiêu ưu tiên trong chiến

lược phát triển giáo dục

(9) Mọi hoạt động giáo dục cộng đồng đều phải hướng vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã

hội

(10) Khi xây dựng các hệ thống giáo dục cần tính đến những khả năng do các kỹ

thuật mới đem lại Các chương trình đào tạo giáo viên cần triệt để sử dụng các thiết bị và

phương pháp giảng dạy mới nhất

(11) Cần tranh thủ sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức Tạo điều kiện cho người học biết cách

tự học và giúp đỡ người khác học tập

(12) Việc giảng dạy phải thích nghỉ với nhu cầu người học Người học và công

chúng tham gia nhiều hơn trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến giáo dục

Các quan điểm trên rất coi trọng giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời cho mọi

người, không phân biệt tuổi tác Chiến lược xây dựng cả nước thành một xã hội học tập, trong

đó xem trọng giáo dục không chính quy, giáo dục cộng đồng, của Đảng và Chính phủ rất phù

hợp với việc xây dựng nền giáo dục với các quan điểm

Trang 14

mới này

1.2.3 Quan điễm cúa Đảng và Nhà nước về chiến lược xây dựng cả nước thành một xã hội học tập

Thế kỷ XXI được đánh dấu cho một kỷ nguyên khoa học công nghệ phát triển cao, kỷ

nguyên của nền kinh tế tri thức và sự hội nhập toàn cầu, và tất yếu nền giáo dục nước ta sẽ

được chú trọng đổi mới một cách sâu sắc và toàn điện “ chuyên dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đảo tạo liên tục, liên thông giữa các cấp học, ngành học .” (Nghị quyết Đại hội Đảng X) Trên quan điểm

đó Đảng đã định hướng giáo dục nước ta trong thế kỷ XXI phải phát triển đạt đến mức quán

triệt nguyên tắc “ Giáo dục suốt đời” theo mô hình XHHT Đề án “Xây dựng xã hội học tập

giai đoạn 2005-2010” nêu rõ: “Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập với tiêu chí cơ

bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập

thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục, mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập” “Giáo dục thường xuyên thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt

nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi công dân” được xem là

một bộ phận có chức năng quan trọng làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập.[18,tr.146] Các

mục tiêu và nhiệm vụ của đề án đã phê duyệt thể hiện sự quyết tâm cao của toàn Đảng toàn dân

thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng cả nước thành một xã hội học tập Các mục tiêu với

những tiêu chí cụ thể nhằm đảm bảo tỷ lệ người biết chữ trong từng độ tuổi và giữa hai giới

nam, nữ; tỉ lệ cán bộ xã, phường, cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước được học tập, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tỷ lệ người lao động được thụ hưởng các chương trình bồi dưỡng để nâng cao năng lực, năng suất lao động và chất lượng cuộc sống Trong đó, có mục tiêu đạt tỷ lệ 100% quận, huyện có Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện; 100% các tỉnh, thành phố có Trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và trên §0% các xã, phường, thi tran trong cả nước xây dựng được Trung tâm học tập cộng đồng Chỉ thị số 02/2008/CT-TTg ngày 08 tháng 01 năm 2008 của Thủ Tướng Chính phủ về đây mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập một lần nữa nhấn mạnh: “ Xây dựng XHHT là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục

Trang 15

tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta Cần đây mạnh công tác khuyến học, khuyến tài gắn với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, với phong trào làm kinh tế giỏi, xoá đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, học đi đôi với

hành” Thủ Tướng cũng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các giải pháp đề phát triển

va nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục thường xuyên, các TTHTCĐ, cơ sở dạy nghề, trong đó tập trung đổi mới nội dung, chương trình, tài liệu, phương pháp học tập đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân Bên cạnh đó, Chỉ thị cũng nêu rõ trách nhiệm của các

bộ, các tổ chức liên quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính phải nghiên cứu, xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ hợp lý tạo điều kiện đây mạnh sự phát triển các cơ sở giáo dục thường xuyên, các TTHTCĐ.Như vậy, với quan điểm giáo dục cho mọi người và mọi người đều tham gia giáo dục, bên cạnh những nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm, đề án “xây dựng xã

hội học tập giai đoạn 2005-2010” đã chú ý việc “phát triển bền vững và nhân rộng mô hình

Trung tâm học tập cộng đồng trên các địa bàn xã, phường, thị trấn trong cả nước nhằm thực hiện các chương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu người học trong cộng đồng dân cư”.[18, tr.148]

1.2.4 Cơ sở |ý luận và cơ sở thực tiễn của mô hình TTHTCP xã, phường

- Nguyên lý giáo dục của Đảng ta là giáo dục nhà trường phải gắn liền với xã hội “Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của Nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình

và mỗi công dân Phát động phong trào rộng khắp toàn dân học tập, người người đi học, học ở trường lớp và tự học suốt đời, người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ” [ 16, tr.11] Nhu vay nén giáo dục của ta là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân nên nó phải được triển khai đến tận từng người dân ở từng địa bàn dân cư Do đó đơn vị xã, phường thậm chí thôn, ấp là đơn vị cơ sở gần gũi người dân nhất và là đơn vị tổ chức học tập theo nhu cầu cộng đồng hợp lý nhất

- Vai trò của nhóm và tập thể trong hoạt động và tô chức hoạt động đã được nghiên cứu, khẳng định và ứng dụng trong lĩnh vực tâm lý học quản lý Trong nhóm nhỏ tần số giao tiếp của các thành viên diễn ra nhiều lần hơn so với nhóm lớn nhờ vậy mới phát huy được tính tích cực hoạt động của mỗi chủ thể trong nhóm hoặc trong một tập thẻ Vì vậy “trong bắt kỳ tổ chức

vĩ mô nào hay trong lĩnh vực hoạt động phức hợp nào, để đảm bảo sự thành công của hoạt động

Trang 16

quản lý, nhà quản lý phải xác lập được nhóm cơ sở trong tô chức của mình và phải xác định

được thủ lĩnh của nhóm đó Trong lĩnh vực giáo dục xã hội, nhóm cơ sở chính là làng xã” [33]

- Kinh tế xã hội càng phát triển đòi hỏi giáo dục càng phải phát triển không những tương xứng với nền khoa học công nghệ hiện đại mà còn phải tạo ra những bước nhảy vọt cả về

quản lý giáo dục cấp cao quản lý chủ yếu hệ thống giáo dục chính quy và một số tổ chức, cơ

sở giáo dục không chính quy cấp quận, huyện trở lên mà còn bỏ ngõ việc quản lý giáo dục cộng đồng cấp phường, xã Tuy nhiên dé tạo ra hiệu lực thực sự thì các kênh giáo dục này phải được tô chức thành một mạng thống nhất trong đó phải có một tổ chức có chức năng tích hợp các loại hình giáo dục một cách đa dạng và cập nhật đồng thời có khả năng tác động trực tiếp đến người dân, làm cầu nối giữa người dân với các tô chức giáo dục khác cao hơn Xét về mặt

quản lý hành chánh nhà nước thì xã, phường chính là đơn vị cơ sở đủ điều kiện tích hợp các

kênh giáo dục nói trên và mô hình giáo dục tích hợp đó hiện nay có lẽ không có mô hình nào

hiệu quả bằng TTHTCĐ xã, phường

- Một trong những đặc trưng của nền văn hóa truyền thống nước ta là văn hóa làng, xã

Làng, xã là tổ chức hành chính cơ sở quan trọng , có nhiệm vụ truyền tải và thực thi các chủ

trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Đồng thời làng, xã cũng là tổ chức xã hội,

nơi đó điễn ra mọi hoạt động của cộng đồng trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục „ với đặc thù và tập quán địa phương nhằm duy trì và phát triển đời sống của cá nhân và của cộng đồng Thực tế ở Việt nam có rất nhiều làng nghề truyền thống với những nét văn hóa rất riêng, rất độc đáo Việc giáo dục người dân nhằm duy trì và phát huy truyền thống làng, xã, tiến tới hội nhập với cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chính quyền và của mọi người dân trong làng, xã

Chính trên những cơ sở đó, trong Quyết định số 112/2005/QĐ-TTG ngày 18-5-2005 về việc phê duyệt đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010”, Thủ tướng Chính phủ nêu rõ

“Phát triển bền vững và nhân rộng mô hình TTHTCĐ trên các địa bàn xã, phường, thi tran

Trang 17

trong cả nước nhằm thực hiện các chương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ

và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư” [15, tr.4]

1.3 Các khái niệm

1.3.1 Xã hội hóa giáo dục

Từ điển Giáo dục học định nghĩa xã hội hóa giáo dục (XHHGD) là chủ trương, biện

pháp biến sự nghiệp giáo dục trong nhà trường thành công việc chung của toàn xã hội dé thu

hút mọi thành phan, thành viên trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động giáo dục thế hệ trẻ

tùy theo chức năng, điều kiện của mình.[20] Tư tưởng XHHGD không phải xuất phát từ các khó khăn trước mắt của ngành giáo dục khi nền kinh tế chuyên sang cơ chế thị trường, mà là từ bản chất của giáo dục, từ quy luật hình thành nhân cách con người như là một sản phẩm , mot chủ thê của xã hội vi môi trường xã hội là một yếu tố khách quan có tác dụng quyết định không

nhỏ trong việc đào tạo nhân lực, nhân tài cho xã hội Xã hội hóa giáo dục bao gồm các hoạt

động hết sức đa dạng của các lực lượng xã hội: đó là việc tuyên truyền, vận động, huy động nhân lực, tài lực của xã hội cùng tham gia sự nghiệp giáo dục thông qua các hình thức như hội bảo trợ, hội khuyến học, quỹ học bỗng, quỹ sáng tạo, nhà tài trợ, cơ sở đỡ đầu, lớp học đầu bờ,

[20,tr 481]

Khái niệm xã hội hóa giáo dục còn được hiểu trên một số vấn đề cơ bản như :

- Làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của giáo dục, thực trạng của giáo dục địa

phương, nhận thức rõ trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục Giáo dục liên quan đến mọi người, là lợi ích của mọi người, mọi cộng đồng

- Làm cho giáo dục phù hợp với phát triển xã hội, phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế - xã hội

ở địa phương

- Tạo ra nhiều nguồn dé lam giáo dục, thực hiện việc giáo dục trong nhà trường va ngoài nhà trường, kết hợp các lực lượng giáo dục, tạo ra môi trường giáo dục tốt, thuận lợi hơn cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Muốn thưc hiện mục tiêu “giáo dục cho mọi người” thì mọi người phải làm giáo dục chứ không thể coi đây là việc riêng của ngành giáo dục [ 21, tr.17-18]

Do đó XHHGD không chỉ là đa dạng hóa hình thức và các nguồn đầu tư cho giáo dục đảo tạo

mà quan trọng nhất là đa dạng hóa nội dung hay đa dạng chương trình giáo dục thích ứng với

những đòi hỏi của xã hội, phải coi xã hội như một kho tư liệu sống luôn luôn phát triển và biến các vấn đề xã hội thành nội dung giảng dạy.

Trang 18

Như vậy XHHƯD là quá trình làm cho sự nghiệp giáo dục thâm nhập vào các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội, mọi gia đình và mỗi cá nhân đồng thời giáo dục phải trở thành hoạt động chung của toàn xã hội, tạo ra một xã hội học tập

Chính vì vậy XHHƠD trở thành tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng với mục tiêu

huy động toàn lực trong xã hội tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển giáo

dục nước nhà Mọi người phải hiểu rằng XHHGD là một giải pháp lâu dài có tính chiến lược và quyết định trong việc làm cho hoạt động giáo dục- với tính chất chuyên ngành- trở thành một

hoạt động xã hội gắn liền với nhu cầu thực tế, thâm nhập và tác động tích cực đến mọi lĩnh vực

hoạt động của cuộc sống , thúc đây sự phát triển và tiến bộ ngày một cao hơn của xã hội

1.3.2 Xã hội học tập

Trong XHHT mỗi con người đều phải được giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học

tập suốt đời Đã đến lúc phải thay đổi khẩu hiệu “Đào tạo một lần cho một đời người” thành “

Đào tạo liên tục trong suốt đời người” Trong XHHT, các tổ chức, tập thể hoặc cá nhân theo khả năng của mình đều có thể cung ứng cơ hội học tập cho cộng đồng , mọi người, tùy theo

nhu cầu, năng lực và điều kiện của cá nhân, đều có thể tận dụng cơ hội để học tập nâng cao

chất lượng cuộc sống của bản thân và tham gia phát triển giáo dục cộng đồng

XHHT là một hiện tượng có tính quy luật của sự phát triển, là vẫn đề chung của thời đại,

là mô hình nền giáo dục tương lai thuộc thời đại kinh tế tri thức trong đó nguyên tắc hàng đầu

là “giáo dục suốt đời cho mọi người” XHHT vận hành với phương châm “ Giáo dục cho mọi

người và mọi người cho giáo dục” chính là một hệ thống giáo dục gắn kết và liên thông các

hình thức giáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy Mục tiêu của người học không phải chỉ để đi làm mà nhằm hoàn thiện nhân cách và cải thiện chất lượng cuộc sống

Xã hội học tập là một xã hội ở đó ai cũng học tập , học ở mọi lứa tuỗi, ở mọi nơi, mọi lúc

Xã hội học tập chứa dựng ý tưởng về giáo dục suốt đời, học tập suốt doi

Tùy theo sự quan tâm của người học mà mọi hiện tượng, mọi sự kiện, mọi hoạt động đều có thể trở thành đối tượng hay nội dung học tập Phương pháp học đa dạng, linh động tùy theo điều kiện cụ thể của từng người : có thể học tập chính quy theo trường lớp hoặc theo

những phương thức đa dạng trong cuộc sống như trong lao động, trong giao tiếp, trong giải

trí, và bằng mọi phương tiện thông tin [ 20, tr.482]

Trang 19

Để xây dựng một XHHT, giáo dục Việt nam phải thực sự tiến hành nhiều bước thay đổi

lớn lao về nhận thức và hành động trong đó thay đổi quan trọng nhất là chú trọng việc học tập

của người lớn, chăm lo việc học tập cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi Mô hình XHHT của đất

nước ta phải vừa thể hiện được xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá trong lĩnh vực giáo đục thế kỷ XXI, vừa phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta như các đặc điểm truyền

thống lịch sử, văn hoá, về chính trị xã hội và kinh tế của ta [4.] Không phải chỉ có nhà nước

mới có trách nhiệm tạo điều kiện học tập cho người dân mà mọi người dân phải nhận thức

được trách nhiệm học tập, học để khỏi bị thất nghiệp , khỏi bị xã hội đào thải, không bị lạc hậu

trong thời đại khoa học công nghệ hiện đại và nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa Luật Giáo dục 2005 đã thể chế hoá “ Phát triển giáo dục, xây dựng XHHT là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân” [32, Điều 12] và “ Nhà nước có chính sách phát triển giáo đục thường xuyên,

thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng XHHT” [32, Điều 44] Một trong những phương

thức giáo dục đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của người dân trong XHHT là giáo dục phi

chính quy Đó chính là phương thức giáo dục mà cá nhân người học tự đề ra chương trình và tô chức học tập theo những mục tiêu cụ thể, độc lập với hệ thống giáo dục chính quy ( chương trình quy định bởi các thể chế giáo dục gồm hệ thống các loại hình trường lớp, cấp học, bậc học) và không chính quy ( chương trình, giáo trình học ngoài hệ thống giáo dục chính quy như các lớp tại chức, đào tạo từ xa, lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ) Với phương thức này, cá nhân hoặc một nhóm người học có nhu cầu, tự đề ra mục đích học tập, tự

tìm tài liệu học hỏi trao đổi để nâng cao sự hiểu biết và kỹ năng về lĩnh vực đang có nhu cầu

tìm hiểu [28, tr 130-132] Để biến mục tiêu “ cả nước trở thành một XHHT” trở thành hiện thực thì Nhà nước và cả xã hội phải huy động được sự tự giác tự nguyện tham gia học tập và học tập suốt đời của mọi người dân Chúng ta phải nhanh chóng kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn xây dựng mô hình XHHT Việt nam và tạo ra các tiền đề cho XHHT tương lai, thử nghiệm các mô hình cụ thể và tổng kết thực tiễn để đúc kết thành lý luận về mô

hình XHHT Việt nam

1.3.3 Trung tâm văn hóa-học tập cộng đồng

a) Khái niệm Trung tâm học tập cộng đồng :

Trang 20

(1) Theo t6 chức APPEAL (Asia-Paciñc Programme of Educaton for All) của UNESCO, trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) là một học viện / cơ sở giáo duc dia

phương nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy dành cho các xã, phường hoặc các vùng nông

thôn, thường được thành lập và quán lý bởi chính quyền hoặc người dân địa phương , đem đến

cơ hội học tập đa dạng cho mọi người dân trong cộng đồng nhằm cải tiến chất lượng cuộc sống

của họ đồng thời phục vụ cho sự phát triển cộng đồng và làm thay đổi bộ mặt xã hội

(2) Theo tài liệu của UNESCO Hanoi (Việt nam) thì TTHTCĐ là một học viện giáo dục

không chính quy cung cấp nền giáo dục cơ bản cho cộng đồng Được trực tiếp thành lập và

quản lý bởi chính quyền địa phương xã, phường hoặc thị trấn với mục đích cung cấp cơ hội học tập thường xuyên và suốt đời cho mọi người nhằm mở rộng kiến thức, kỹ năng và văn hóa để

nâng cao chất lượng cuộc sống

(3) Theo các tác giả quyền Từ điển giáo dục học, “ TTHTCĐ là cơ sở giáo dục bậc tiểu

học được cộng đồng làng xã, thôn bản tự đứng ra tô chức, quản lý, đài thọ nhằm mục đích giúp

người lớn, trẻ em tiếp thu kiến thức văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp phổ cập theo chương trình của bậc tiểu học và theo yêu cầu của thực tiễn địa phương” [ 24, tr.432]

Khái niệm TTHTCĐ là khá rõ ràng, tuy nhiên để kết hợp hoạt động văn hóa vốn

đã tồn tại trong cộng đồng với nhiệm vụ học tập, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã ban hành

Quy chế thành lập và hoạt động của TTVH-HTCĐ Để làm rõ khái niệm TTVH-HTCĐ ta cần hiểu khái niệm văn hoá Văn hoá được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, người viết xin nêu

tóm tắt những khái niệm sau

b) Khái niệm văn hóa :

(1) Tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong

quá trình đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh xã hội để tồn tại và phát triển; những di vật, những tỉnh hoa trong lịch sử dân tộc và nhân loại cần phải được giữ gìn và phát huy nhằm thúc đây xã hội tiếp tục phát triển lên những trình độ cao hơn

(2) Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội nói chung và trong từng mặt cụ thé nói riêng, biểu hiện qua các kỹ năng hoạt động, các hành vi ứng xử và lối sống Là một mặt quan trọng và tiêu biểu của nhân cách hình thành trong cả ba môi trường giáo dục : nhà trường, gia đình và xã

hội

Trang 21

(3) Lĩnh vực hoạt động tạo ra những giá trị tỉnh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống xã hội như văn học, nghệ thuật, âm nhạc, điện ảnh, .Về lĩnh vực này , giáo dục cần bồi

dưỡng cho người học thị hiếu văn hóa lành mạnh

(4) Văn hóa còn được hiểu là trình độ học vấn của một người Dù học vấn có

uyên thâm đến đâu cũng không thể hiểu biết hết mọi thứ trên đời, đó chính là lý do phải học tập suốt đời và không ngừng học tập

Như vậy, kết hợp các khái niệm về văn hóa và TTHTCĐ, ta có thể hiểu :

TTVH-HTCP là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, do chính quyền và người dân địa phương thành lập và quản lý tạo ra môi trường học tập, vui chơi lành mạnh; mang lại cơ hội, điều kiện thuận lợi cho việc học tập và các sinh hoạt văn hóa, tỉnh thần hữu ích khác; cung cấp kiến thức và

kỹ năng nhằm cái thiện chất lượng cuộc sống cho mọi người trong cộng đồng

Quy chế Tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường, thi tran ban hành kèm theo Quyết định số 09/2008/QD-BGDDT ngày 24 tháng 03 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đảo tạo quy định TTHTCĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng

1.4 Những vấn đề liên quan đến hoạt động của TTVH-HTCPĐ xã, phường tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu ( gọi chung là TTVH-HTCĐ )

1.4.1 Mục đích của TTVH-HTCĐ

“Cung cấp và đáp ứng các cơ hội học tập, sinh hoạt tinh thần cho tất cả mọi người trong

cộng đồng, thu hút mọi cá nhân, tổ chức tại địa phương tham gia vào

công tác XHHGD, đáp ứng những nhu cầu thay đổi trong đời sống của cộng đồng, góp phần giúp cộng đồng trở thành tự lực, chủ động trong giáo dục, trở thành một XHHT đích thực” [37,tr.13] Mục tiêu của TTVH-HTCĐ nhằm thỏa mãn các tiêu chí sau :

- Cải thiện việc tiếp cận trình độ giáo dục cơ bản cho mọi người trong cộng đồng

- Phát huy chất lượng quá trình học tập chính quy và không chính quy

- Cung cấp chương trình giáo dục thường xuyên, không chính quy và chương trình tập huấn các

kỹ năng tương thích với nhu cầu thiết thực của cộng đồng Cung cấp phương tiện tiếp cận thông tin về các lĩnh vực mà cộng đồng quan tâm

- Tăng cường khả năng tự thực hiện các chương trình giáo dục phi chính quy dẫn

Trang 22

đến việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân và góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng

- Bồi dưỡng thị hiếu thưởng thức văn hóa lành mạnh

Như vậy mục tiêu của TTVH-HTCĐ là cung cấp cơ hội học tập suốt đời, cơ hội hưởng

thụ văn hóa cho mọi người dân (đặc biệt là những người ít cơ hội học tập, trẻ em bỏ học, phụ

nữ và những người lớn tuổi) nhằm cải thiện năng lực của cá nhân và tăng cường sự phát triển của cộng đồng

1.4.2 Nhiệm vụ của TTVH-HTCĐ

- Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình công tác, nội dung hoạt động thường

kỳ và từng đợt phù hợp với tình hình, nhiệm vụ của địa phương, của ngành giáo dục - đào tạo

và ngành văn hóa- thông tin

- Phối hợp các trường tiểu học, trung học cơ sở thuộc địa bàn đề điều tra, tổ chức các lớp xóa

mù chữ, sau xóa mù, các lớp phổ cập cho nhân dân địa phương

- Phối hợp với các ngành liên quan tô chức điều tra nhu cầu học tập của nhân dân Lập kế

hoạch triển khai các lớp chuyên đề với nội dung và hình thức phù hợp với điều kiện học tập của

cán bộ và nhân dân

- Tổ chức các hoạt động văn hóa quần chúng như xây đựng phong trào văn nghệ

quần chúng, các loại hình sinh hoạt câu lạc bộ, các lớp năng khiếu, đọc sách báo và

các hình thức vui chơi, giải trí khác

- Tổ chức một số loại hình hoạt động thể dục thể thao như thể dục đưỡng sinh, bóng đá, bóng

chuyền, bóng ban, cầu lông, cờ tướng, võ thuật,

- Tổ chức các hoạt động giao lưu văn nghệ quần chúng, thể dục thể thao trong và ngoài địa phương nhằm nâng cao trình độ tổ chức hoạt động chuyên môn cũng như công tác quản lý

- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể ở địa phương như các hội, đoàn, nhà máy, xí nghiệp nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng của các loại hình sinh hoạt câu lạc bộ Cập nhật kiến thức, kỹ năng, tập huấn chuyên giao ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống như : mở lớp học nghề ngắn hạn, các câu lạc bộ khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư, khuyến lâm, các lớp tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, các buổi tham quan, trao

Trang 23

đổi kinh nghiệm thực tế, các “lớp học đầu bờ”, các buổi nói chuyện về sức khỏe, vệ sinh an

toàn thực phẩm, dân số, môi trường,

- Quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính phù hợp với các quy định của nhà nước và của cộng đồng

1.4.3 Chức năng, hoạt động của TTVH-HTCPĐ

“Giáo dục và đào tạo; cung cấp thông tin và tư vấn về nguồn lực; tổ chức các hoạt động công cộng nhằm phát triển cộng đồng; phân phối và liên kết các tổ chức vì sự nghiệp giáo đục chung; khuyến khích việc học tập suốt đời” [37,tr.13]

TTVH-HTCD được xem là nơi gặp gỡ của mọi người dân để trao đổi, học tập, sinh hoạt văn

hóa, thể dục thể thao Các hoạt động ở TTVH-HTCĐ phải được chính quyền hoặc người dân

tại cộng đồng tổ chức và quản lý một cách linh động và dễ tham gia đối với mọi người qua đó

tăng cường và củng cố sự hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng Bằng việc tạo ra một

không khí học tập thuận tiện và thoải mái với nhiều cơ hội học tập và sự giúp đỡ thiết thực,

TTVH-HTCĐ sẽ giúp người dân tiếp cận và đạt được mục tiêu của mình trong việc tìm ra các

giải pháp để cải

thiện kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng sống

TTVH-HTCĐ xã có chức năng tổ chức nhiều hoạt động về nhiều lĩnh vực:

- Phối hợp với các đơn vị giáo dục, các tổ chức xã hội trên địa bản thực hiện chương trình xóa

mù chữ, giáo dục tiếp tục sau biết chữ (chống tái mù), phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở, phô cập trung học

- Tổ chức các hoạt động học tập cộng đồng, bồi dưỡng và phổ biến kiến thức về mọi mặt sinh

hoạt đời sống kinh tế- xã hội, góp phần xây dựng phong trào học tập suốt đời cho mọi tầng lớp nhân dân địa phương

- Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và hưởng thụ văn hóa trong cộng đồng Tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của địa phương

- Liên kết với các đơn vị và các tổ chức kinh tế, xã hội thực hiện các chương trình

phổ biến kiến thức thuộc các lĩnh vực chuyên ngành nhằm mục tiêu nâng cao kỹ năng, chất lượng nghề nghiệp, thúc đầy sự phát triển kinh tế -xã hội của địa phương

1.4.4 Kế hoạch thành lập và tổ chức bộ máy TTVH-HTCĐ

Trang 24

- Tùy theo vùng, miền và nhu cầu thực tế của cộng đồng mà các cấp quản lý nhà

nước địa phương tiến hành các bước thiết lập một TTVH-HTCĐ :

(1) Tuyên truyền, vận động người dân nhận thức về học tập suốt đời nhằm nâng

cao chất lượng cuộc sống

(2) Điều tra, thu thập các thông tin cơ bản về cộng đồng như : vị trí địa lý; diện tích; dân số;

tình hình kinh tế, văn hóa, giáo duc và đời sống của người dân; phong tục tập quán và các vấn

đề xã hội trong cộng đồng; vấn đề sức khỏe, vệ sinh, môi trường; các nguồn lực sẵn có và tiềm năng của địa phương Đánh giá nhu cầu học tập của các thành viên trong cộng đồng, xem xét

các điều kiện cần thiết để hình thành TTVH-HTCĐ Thống nhất tư tưởng và quan điểm học

tập, xác lập nhu cầu

học tập của cộng đồng

(3) Xây dựng và trang bị cơ sé ha ting TTVH-HTCD

(4) Vận động thành lập ban quản lý, điều hành TTVH-HTCĐ

(5) Xây dựng mục tiêu, chương trình hành động của TTVH-HTCĐ

(6) Tổ chức đội ngũ giảng viên, hướng dẫn viên

(7) Huy động mọi nguồn lực, tiềm năng trong cộng đồng

(8) Thiết lập hệ thống các mối quan hệ liên kết và hỗ trợ của các tổ chức xã hội và cá nhân

(9) Tổ chức triển khai thực hiện các chương trình hành động

(10) Kiểm tra, đánh giá chương trình hành động

Đến nay cũng chưa có một khuôn mẫu thống nhất nào cho việc thiết lập một TTVH-

HTCĐ Các bước trên cũng chỉ là kết luận được đúc kết từ sự tham khảo tài liệu ( nguồn

UNESCO Bangkok’s web, Myanmar The Community Learning Centre Experience) và nghiên cứu thực tiễn tại một số TTVH-HTCĐ ở địa phương , do đó chắc chắn thứ tự các bước không mang tính cố định.

Trang 25

Sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa các bước trong kế hoạch xây dựng và tổ chức TTVH-HTCĐ

Cuan 1Y

Khi hội đủ các điều kiện phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục của địa

phương và đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng, UBND xã, thị trấn - có tham khảo ý kiến

của phòng Giáo dục-Đảo tạo và phòng Văn hóa-Thông tin- trình văn bản đề nghị UBND huyện

ra quyết định thành lập TTVH-HTCĐ xã, phường Việc bổ nhiệm các chức danh của TTVH- HTCĐ do UBND huyện, thị xã, thành phố ra quyết định trên cơ sở tuyển dụng và đề nghị thống nhất của UBND xã, phường, Phòng Giáo dục và Đào tạo và Phòng Văn hóa thông tin- Thể thao Các chức danh này có tên gọi khác nhau tùy địa phương; nơi thì gọi là Ban quản lý, nơi gọi là Ban điều hành; có nơi gọi là giám đốc TTHTCĐ; ở Bà Rịa-Vũng Tàu thống nhất tên gọi những cán bộ quản lý TTVH-HTCĐ là Ban chủ nhiệm Định biên chính thức của TTVH- HTCĐ xã ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gồm một chủ nhiệm, hai cán bộ chuyên trách và một hợp đồng, các định biên này được bố trí theo chế độ kiêm nhiệm Ngoài ra ban chủ nhiệm còn có thể bao gồm các thành viên kiêm nhiệm khác là những đại diện các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương

- Ban chủ nhiệm có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động cụ thể

theo tháng, quý, năm của TTVH-HTCĐ, xây dựng quy chế làm việc nhằm đảm bảo

cho hoạt động của TTVH-HTCĐ

Trang 26

- Mỗi trung tâm, tùy theo điều kiện, nhu cầu mà hình thành một số tiêu ban/ tổ chuyên môn như tiểu ban tuyên truyền vận động; tiểu ban thể dục thê thao; tiểu ban văn hóa quần chúng; tiểu ban giáo dục , học tập cộng đồng; tiểu ban khuyến học;

1.4.5 Mối quan hệ cúa TTVH-HTCP xã

+ Đối với cấp xã, phường :

- TTVH-HTCĐ xã chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng ủy, UBND xã, chịu sự quản lý, kiểm tra

trực tiếp về việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, nội dung, hình thức tổ chức các hoạt động của

TTVH-HTCD

- TTVH-HTCĐ có mối quan hệ phối hợp, vận động, hỗ trợ liên kết thực hiện nghiệp vụ với các ban, ngành, đòan thể và các tô chức xã hội khác tại địa phương theo chức năng, nhiệm vụ và kế

hoạch tổ chức các hoạt động tại TTVH-HTCĐ

+ Đối với cấp huyện, thị, thành phố :

TTVH-HTCĐ chịu sự quản lý nhà nước của Phòng Giáo dục-Đảo tạo và Phòng

Văn hóa-Thông tin về các mặt hoạt động giáo dục, văn hóa thông tin và chỉ tiêu hàng năm

Được sự hướng dẫn, hỗ trợ về chuyên môn nghiệp vụ của TTGDTX huyện, thị, thành phó

+ Đối với cấp tỉnh :

- TTVH-HTCD xã là đơn vị hoạt động sự nghiệp thuộc hệ thống chuyên ngành văn hóa thông

tin và giáo đục cộng đồng do Sở Văn hóa-Thông tin và Sở Giáo dục-Đảo tạo quản lý và chỉ đạo

theo chức năng của nhà nước quy định

-TTVH-HTCĐ xã nằm trong hệ thống thiết chế hoạt động của Nhà văn hóa từ tỉnh đến cơ sở,

được Trung tâm văn hóa huyện, thị, thành phố hướng dẫn về nghiệp vụ

chuyên môn và phương pháp tô chức các hoạt động văn hóa

- Các đơn vị như TTGDTX,, phòng Giáo dục-Đào tạo huyện, thị, thành phố, Hội Khuyến học tỉnh, Đòan ca múa nhạc, Thư viện, Bảo tàng, Công ty văn hóa tổng hợp, Công ty phát hành phim, chiếu bóng, có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ về

hoạt động chuyên môn đối với TTVH-HTCĐ xã, phường

Trang 27

Tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu nằm ở phía Đông khu vực Đông Nam bộ được thành lập vào

ngày 12-8-1991 bao gồm đặc khu Vũng Tàu - Côn đảo và 3 huyện Long Đất, Châu Thành và

Xuyên Mộc, tách ra từ tỉnh Đồng Nai theo Nghị quyết của Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa VIII, kỳ họp thứ 9 Lãnh thổ bao gồm hai phan: phần đất liền có bắc giáp

ba huyện Long Thành, Long Khánh, Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, phía đông giáp huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận, phía tây giáp huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, phía nam và đông nam giáp biển đông Phần hải đảo có huyện Côn Đảo cách thành phố Vũng Tàu 200 km về phía tây nam và cách mũi Cà Mau 200km Thềm lục địa tỉnh tiếp giáp với quần đảo Trường Sa, nơi đây chứa đựng hai loại tài nguyên quan trọng là dầu mỏ và hải sản Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là

1.975,14 km

Bà Rịa-Vũng Tàu nằm ở vị trí rất đặc biệt, đây chính là cửa ngõ của các tỉnh miền Đông Nam

bộ hướng ra biển Đông, có ý nghĩa chiến lược về đường hàng hải quốc tế, có hệ thống cảng biển là đầu mối tiếp cận với các nước Đông Nam Á Nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong

phú và đa dạng có rất nhiều triển vọng hội tụ nhiều tiềm năng đề phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh tế biển như dầu khí, cảng và vận tải biển, hải sản, du lịch Đây là nơi trung

chuyển đi các nơi trong nước và quốc tế vì hội đủ điều kiện phát triển đồng bộ giao thông đường bộ, đường biển, đường sắt, đường hàng không và khả năng phát triển thương mại và hợp tác đầu tư với nước ngoài là rất lớn

Theo số liệu thống kê năm 2004 thì dân số của tinh là 908.233 người Dân cư phân bố ở các địa bàn không đều Thành phố và các thị xã có mật độ dân cư khá đông đúc trong khi ở vùng nông thôn và hải đảo thì dân cư thưa thớt Mật độ dân cư ở thành phố Vũng Tàu là 1.793 người/kmỶ trong khi đó ở Côn Đảo lại là 36 người /km” Có năm dân tộc sinh sống trên địa ban tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 97,25%, dân tộc Hoa chiếm

khoảng 1,73%, dân tộc Khơme khoảng 0,15% , dân tộc Tay chiếm khoảng 0,07% và dân tộc

Trang 28

Châu Ro chiếm khoảng 0,08% dân số; một số ít không đáng kể những người thuộc các dân tộc khác

Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có 08 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, gồm 01 thành phố ( Vũng Tàu), 01 thị xã ( Bà Rịa) và 06 huyện (Long Điền, Đất Đỏ, Tân Thành, Xuyên Mộc,

Châu Đức và Côn Đảo) với 49 xã, 24 phường, 06 thị trấn

Thế mạnh của Bà Rịa-Vũng Tàu là nông - ngư nghiệp kết hợp dịch vụ du lịch và dầu khí

và hiện nay đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch

vụ một cách tích cực Năm 2005, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng: 82,57% - dịch vụ: 13,64% -

nông nghiệp: 3,8%

Công nghiệp tiếp tục phát huy được lợi thế, giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 2001 đến 2005 tăng 1,7 lần, tốc độ tăng 11,52%/năm

Các ngành dịch vụ phát triển đa dang, doanh thu tăng bình quân 17,1%/năm trong đó:

dịch vụ du lịch phát triển trên diện rộng, doanh thu tăng 13,29%/năm; xuất khẩu có nhiều tiến

bộ, mở rộng thị trường, kim ngạch xuất khẩu tăng 16,46%/năm, riêng xuất khẩu hải sản tăng 5

lần sau 5 năm

Các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp đều có bước tăng trưởng khá, trong nông nghiệp cơ

bản đã cơ giới hóa các khâu sản xuất, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 8%/năm trong đó trồng

trọt tăng 7,92%, chăn nuôi tăng 7,92% sau 5 năm; thủy sản tăng 10,8% /năm, sản lượng hải sản

nuôi tăng 3 lần so với năm 2000

Trình độ dân trí được nâng lên, chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện; khoa học

công nghệ được quan tâm ứng dụng

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; hoàn thành chỉ tiêu xóa đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo; quan tâm thực hiện các chính sách và phúc lợi xã hội

2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo

Trong những năm qua, tình hình giáo dục và đào tạo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

đã có nhiều chuyền biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Toàn

ngành tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm như : tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phô thông; đây mạnh phô cập giáo dục bậc trung học; thực hiện giáo dục cho mọi

người, xây dựng xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và thực hiện công bằng

Ngày đăng: 09/08/2014, 14:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1  :  Dự  kiến  cơ  cấu  kinh  tế  huyện  Tân  Thành  giai  đoạn  2006-2015 - Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa  vũng tàu
ng 2.1 : Dự kiến cơ cấu kinh tế huyện Tân Thành giai đoạn 2006-2015 (Trang 33)
Bảng  2.2  :  Tình  hình  phát  triển  văn  hóa-  xã  hội  nm  2005  và  kế  hoạch  2006-2010 - Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa  vũng tàu
ng 2.2 : Tình hình phát triển văn hóa- xã hội nm 2005 và kế hoạch 2006-2010 (Trang 34)
Bảng  2.4.  Nhận  thức  của  cán  bộ,  giáo  viên  về  XHHGD - Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa  vũng tàu
ng 2.4. Nhận thức của cán bộ, giáo viên về XHHGD (Trang 40)
Bảng  2.5.  Nhận  thức  của  cán  bộ,  giáo  viên  về  XHHT - Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa  vũng tàu
ng 2.5. Nhận thức của cán bộ, giáo viên về XHHT (Trang 40)
Bảng  2.6.  Mức  độ  quan  tâm  của  người  dân  đến  hoạt  động  của  TTVH-HTCĐ - Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa  vũng tàu
ng 2.6. Mức độ quan tâm của người dân đến hoạt động của TTVH-HTCĐ (Trang 41)
Bảng  3.1.  Nhu  cầu  học  tập  của  người  dân  (  số  liệu  /  281  phiếu) - Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa  vũng tàu
ng 3.1. Nhu cầu học tập của người dân ( số liệu / 281 phiếu) (Trang 52)
Bảng  3.2.  Thời  gian  và  hình  thức  tổ  chức  lớp  hoc  ( số  liệu/  281  phiếu) - Xây dựng mô hình trung tâm học tập cộng đồng ở huyện tân thành, tỉnh bà rịa  vũng tàu
ng 3.2. Thời gian và hình thức tổ chức lớp hoc ( số liệu/ 281 phiếu) (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w