Việc cải cách tiền lương diễn raliên tục bắt đầu từ khi ban hành nghị định 235/HDBT tháng 9 năm 1985 đến đầu năm 1993, Nhà nước đã phải điều chỉnh tiền lương 21 lần.Về cơ chế của chính s
Trang 1người lao động nhận được một khoản thu nhập gắn với kết quả lao động của họ Về nguyên tắc khoản thu nhập đó phải tương xứng với số lượng và chất lượng lao động
mà mỗi người đã cống hiến Số thu nhập theo lao động đó gọi là tiền lương Hay nói cách khác tiền lương chính là hình thức thu nhập theo lao động
Với tư cách là một phạm trù kinh tế, tiền lương là sự biểu hiện của bộ phận cơ bánp cần thiết được tạo ra trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế quốc doanh để
đi vào tiêu dùng cá nhân của người lao động, tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã hao phí trong quá trình sản xuất kinh doanh
Về cơ cấu tiền lương bao gồm hai phần: phần tiền lương cơ bản và phần tiền lương bổ sung (tiền thưởng) Trong đó phần tiền lương cơ bản phụ thuộc vào thang lương, bậc lương của mỗi người, phần tiền thưởng phụ thuộc vào kết quả hoạt động của đơn vị Việc xác định hợp lý và chính xác bậc lương, ngạch lương theo từng ngành và theo từng khu vực có tính đến trình độ chuyên môn và điều kiện lao động
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Điều đó thúc đẩy những người lao động quan tâm hơn nữa tới việc hoàn thành các công việc được giao Khi đó họ hoàn toàn phấn khởi vì
đã hiểu ra rằng trước hết, họ làm việc cho chính mình và tiếp đến là làm việc cho xã hội
Việc cải cách tiền lương diễn raliên tục bắt đầu từ khi ban hành nghị định 235/HDBT tháng 9 năm 1985 đến đầu năm 1993, Nhà nước đã phải điều chỉnh tiền lương 21 lần.Về cơ chế của chính sách tiền lương Nhà nước trực tiếp định mức lao động ,định mức tiền lương duyệt quỹ lương ,bảng lương bậc ,bậc lương cụ thể chocác đơn vị sản suất kinh doanh phải thực hiện Chuyển sangmột cơ chế mới ,trong đó
Trang 2tiền lương đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh chỉ còn là thông số để tính toán ,Nhà nước khống chế lương tối thiểu, khống chế thu nhập tối đa
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nứơc ,có lĩnh vực chuyển nhanh như xác định tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, có lĩnh vực chưa chuyển lập như cơ chế kiểm soát và điều tiết tiền lương ,thu nhập của nhà nước khi các đơn vị kinh tế chuyển sang kinh doanh ,vv…
Chính sách tiền lương theo Nghị định 235/HĐBT chỉ giữ được thời gian ngắn ,sau đó tiền lương thực tế bắt đầu giảm mạnh và giảm liên tục Trên thực tế diễn ra tình hình tốc độ tăng lương danh nghĩa chậm hơn tốc độ tăng giá
Trước tình hình biến động của giá làm cho tiền lương thực tế ,đời sống của dân cư nói chung ngày càng sa sút ,đã gây ra sự phản ứng của các đối tượng trong xã hội.Cụ thể
là :
* ở bộ máy nhà nước các cấp:mặc dù nhà nước trung ương đã có biện pháp che chắn kiểm soát liên tục ,nhưng một số địa phưong tựđịnh lại mức lương tối thiểu vidụ, Long an nâng lên hai lần ….không theo chính sách chung
* ở các đơn vị sản xúât –kinh doanh :dựa vào quyền tự chủ kinh doanh và những
sơ hở của cơ chế quản lý đang trong bứơc giao thời , đều tìn mọi cách tăng thu nhập cho mình Nhìn xí nghiệp làm ăn thua lỗ nhưng thu nhập của họ vẫn cao
* ở các đơn vị hành chính sự nghiệp :phải thực hiện theo nghị định 235/HĐBT.Nhưng lại được nhà nứơc cho phép mở ra các hoạt động dịch vụ đời sống đủ loại để tăng thu nhập Toàn bộ những thực tế này đã tạo nên sự chênh lệch
Trang 3về thu nhập rất lớn ,mà phần lớn không phải sự chênh lệch đó là do tài năng lao động của họtạo ra
* ở ngoài xã hội trong khi mức lương tối thiểu do nhà nước quy định là 22.500đ/tháng ,thì ngoài xã hội tiền công lao động trả cho người lao động binh thường là từ 3000-5000đ/công Trong khi nhà nước quy định lương tối đa bằng 3,5 lần lương tối thiểu ,thì ngoài xã hội đang thực hiện băng 7-8 lần Đặc biệt ở khu vực này tiền công đã được tiền tệ hoá hoàn toàn và đã tính đén quan hệ cung cầu về lao động Nhưng đến Tháng 4-1993 nước ta thực hiện cải cách chính sách tiền lương, ban hành nghị định 25/CP và 26/CP về chế độ tiền lương cho công nhân viên chức khu vực khu vực hành chính sự nghiệp và sản xuất kinh doanh Từ đó đến nay mặc
dù các thang bảng lương và cơ chế quản ly chưa thay đổi, nhưng mức lương tối thiểu cũng thường xuyên thay đổi từ 1/4/1993 là 120.000 đ; 1/10/1997 là 144.000 đ; 1/1/2000 là 180.000đ đến 1/1/2001 là 210.000 đ; đến 1/1/2003 là 290.000 đ Qua thời gian áp dụng chính sách lương mới vào cuộc sống thì việc phân phối đã công bằng hơn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác
Qua những số liệu ở trên cho ta thấy thực trạng về vấn đề tiền lương ở nước ta trong thời gian qua chưa phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang hoạt động trong một thị trường thống nhất Tiền lương đó chưa thực sự là thước đo giá trị –lao động ,chưa đảm bảo tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động không ngừng ,chưa trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của ngưòi lao động làm công ăn lương
Trang 4Tiền lương vừa mang tính chấ bình quân ,vừa mang tính chất bao cấp Mặc dù từ giữa cuối năm 1993 chúng ta đang triển khai thí điểm chinh sách tiền lương mới nhưng trong đó vẫn còn chứa đựng nhiều ván đề bất hợp lí
Thứ nhất, Tính đến tháng 12/1999, tổng các đối tượng là 6.2 triệu người chiếm 8% dân số, trong đó 66.9% thuộc 2 nhóm cuối- hưu trí và các chính sách xã hội Trên thế giới không một quốc gia nào có tỷ lệ như vậy Số cán bộ công chức đang làm việc thực tế chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ: khối quản lý hành chính Nhà nước chiếm 3.4% tổng
số, khối sự nghiệp chiếm 18.4% tổng số, cán bộ cấp phường xã chiếm 6.2% tổng số Hai là mức tiền lương tối thiểu là quá thấp cho đến trước 1/1/2003 Đối với đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước (mức lương được xây dựng trên mức lương tối thiểu) thì tiền lương chỉ chiếm từ 20-30% thu nhập dẫn đến hiện tượng tiền lương chỉ còn là danh nghĩa và chủ yếu dùng làm căn cứ đóng bảo hiểm Người lao động không quan tâm đến công việc chính của mình, dành nhiều thời gian, sức lực và trí tuệ làm các công việc khác để tăng thu nhập Trong khi đối với lao động tại các doanh nghiệp, khi thu nhập chủ yếu là từ tiền lương, thì mức lương tối thiểu đã là 210.000(VND) đến 360.000(VND) đối với doanh nghiệp Nhà nước, 410.000(VND) đến 620.000(VND) đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy là mức lương tối thiểu (thực chất là mức lương cơ bản) cho đội ngũ công chức là không còn phù hợp nữa
Ba là mặc dù lương tối thiểu và tối đa đã chênh lệch hơn 10 lần, tưởng chừng khắc phục được tình trạng bình quân trong phân phối, nhưng do sự chi tiết đến thái quá làm cho tiền lương rơi vào tình trạng bình quân chủ nghĩa Khoảng cách giữa các bậc lương quá ngắn, thấp nhất là 0.09 và cao nhất là 0.43 bên cạnh đó lại có quá nhiều ngạch lương gây nên sự phức tạp không cần thiết Đơn cử khu vực hành chính sự
Trang 5nghiệp hiện có 21 bảng lương và 196 thang lương tương ứng với 196 ngạch công chức Hiện tượng không bao giờ đạt đến hệ số lương cao nhất là phổ biến Cơ chế quản lý tiền lương hiện nay còn bộc lộ hàng loạt những yếu điểm quan trọng Trước hết tiền lương chưa gắn với trách nhiệm và kết quả lao động Chúng ta vẫn chủ yếu trả lương theo thâm niên, theo bậc chứ chưa trả lương theo chức vụ và gắn liền với nó
là trách nhiệm, kết quả lao động hầu như không có tác động gì đến mức lương của người lao động trong khu vực hành chính sự nghiệp
Mô hình quản lý hành chính yếu kém dẫn đến việc các khoản chi là rất lãng phí, các nguồn thu thì không được công khai Phần lớn các khoản thu chi bất hợp pháp này được hợp pháp hoá và chuyển thành các khoản thu nhập ngoài lương đây là một trong những khâu yếu nhất của chính sách tiền lương Việt Nam
Bốn là sự bất cập lương đối với nhu cầu của cuộc sống đang đẻ ra nhiều nghịch lý Mọi người đều biết rằng mức lương hiện nay là không đảm bảo được cuộc sống bình thường Chênh lệch về thu nhập giữa các ngành, các cơ quan, đơn vị là rất lớn Hiện nay có khoảng 40% số các đơn vị hành chính sự nghiệp cả nước là hoạt động sự nghiệp Đó là chưa kể sự chênh lệch đến quá lớn giữa lao động trong biên chế Nhà nước với các thành phần kinh tế khác những chênh lệch và những nghịch lý ấy đang
là lý do cả về vật chất lẫn ý thức làm cho người lao động coi tiền lương là một khoản thu nhập phụ, không ai sống bằng lương, Nhà nước không quản lý được thu nhập
và chúng đang gây ra những hậu quả tiêu cực như: hạch toán sai, báo cáo không đầy
đủ, giấu nguồn thu, trốn thuế thu nhập, sử dụng thu nhập mập mờ, tuỳ tiện, cản trở kiểm tra kiểm soát Điều tệ hại là không đo đếm và tạo ra tâm lý lạm dụng của công, nạn tham nhũng tập thể, dùng tiền công để “của người phúc ta”, kéo bè kéo cánh
Trang 6cùng cánh thì được “ăn chia”, nếu không cùng cánh thì lương "ba cọc một đồng” ,tìm cách hạ bệ nhau,bôi nhọ danh dự của nhau gây mất dân chủ và mất đoàn kết trong không ít các cơ quan tổ chức .Trong nhiều năm chính sách tiền lương và các chính sách kinh tế xã hội khác như nhà ở phân phối điện ,nước sinh hoạt …có liên quan mật thiết với nhau Song trong qúa trình giải quyết vấn đề tiền lương chưa tính toán cân đối với từng chính sách một cụ thể ,do đó nó phát sinh nhiều hiện tượng mâu thuẫn khó giải quyết gây ra sự bất bình đẳng lớn trong xã hội
Nhà nước chưa thực sự hoàn toàn làm chủ trong việc kiểm soát và quản lý tiền lương
và thu nhập nói chung của người lao động
2.1.2/ Thực trạng về vấn đề lợi nhuận
Từ năm 1989 đến nay thì nên kinh tế việt nam có bước chuyểnbiến quan trọng trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước Xét tình hình lợi nhuận ở nước ta,thì do chính sách cơ chế hình thành và phân phối thu nhập, lợi nhuận ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất hợp lý nên đang tạo nên sự phân hoá và bất bình đẳng lớn trong xã hội Đây là nguyên nhân quan trọng nhất tạo ra tình trạng
“lãi giả lỗ thật” Cũng từ đây nảy sinh ra một hiện tượng phổ biến khác là có nhiều doanh nghiệp thường tìm cách tăng chi phí để giảm lợi nhuận và giảm phần lợi nhuận trích nộp vào ngân sách Nhà nước Nhà nước chưa quản lý được thu nhập của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vì vậy mà chưa có một căn cứ chính xác để tính thuế Hơn nữa trong công tác quản lý còn tồn tại tình trạng trốn lậu thuế, buôn bán lậu qua biên giới và trong nước, làm hàng giả, núp bóng dưới doanh nghiệp quốc doanh để trốn thuế khá phổ biến đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tư nhân Điều này đã nảy sinh sự bất bình đẳng lớn trong xã hội Và nếu Nhà nước
Trang 7không có chính sách quản lý phù hợp thì khó có thể thực hiện tốt các mục tiêu xã hội
đã đặt ra Như vậy, ở nước ta đòn bẩy kinh tế của lợi nhuận chưa được phát huy đúng sức mạnh vốn có của nó Sở dĩ như vậy là vì cơ chế hình thành lợi nhuận không hợp
lý đồng thời cơ chế phân phối lợi nhuận chưa đủ tạo ra động lực kích thích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước nói chung
Về vấn đề lợi tức và lợi tức cổ phần thì chưa thu hút được phần lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, cho nên một khối lượng vốn lớn còn chưa đi vào chu chuyển tạo
ra sự l•ng phí Tuy số lượng các công ty cổ phần là khá lớn nhưng hoạt động thực sự hiệu quả thì chưa nhiều, hoạt động mua bán cổ phiếu công ty vẫn còn rất mới mẻ Một vấn đề nữa còn tồn tại hiện nay ở nước ta đó là thu nhập từ các quĩ phúc lợi xã hội còn thấp Các khoản tiền trợ cấp, tiền bảo hiểm xã hội và các khoản chi trả khác như học hành, chữa bệnh, thưởng thức văn hoá, nghệ thuật còn rất hạn chế Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do thu nhập chính của người dân về cơ bản còn thấp, đa
số chỉ đảm bảo được cuộc sống vừa đủ
Trước những hạn chế còn tồn tại trong vấn đề phân phối ở nước ta hiện nay, để đảm bảo cho phân phối được công bằng thì cần có những giải pháp để khắc phục những hạn chế đó
2.1.3/Những nhận xét khi rút ra khi nghiên cứu thực trạng của quan hệ phân phối ở nước ta hiện nay
2.1.3.1/ Ưu điểm:
ở nước ta trong những năm qua đã có nhiều cố gắng để giải quyết vấn đề phân phối thu nhập Đặc biệt rõ nét nhất là từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế
Trang 8thị trường đến nay ,hàng loạt các chính sách kinh tế được áp dụng để giải quyết vấn
đề tiền lương , lợi nhuận , lợi tức địa tô ,bảo hiểm ,trợ cấp xẫ hội ….nhằm tháo gỡ những khó khăn trong phân phối lưu thông để "cởi trói " cho lĩnh vực sản xuất Qua thời gian áp dụng chính sách lương mới vào cuộc sống thì việc phân phối đã công bằng hơn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác
2.1.3.2/Nhược điểm:
Tuy nhà nước ta đã cố gắng giải quyết những vấn đề phân phối thu nhập nhưng tuy nhiên vấn đề phân phối theo thu nhập vẫn còn nhiều khuyết tật đã kìm hãm sự phát triển của nước ta ví dụ như bộ máy quản lý cồng kềnh , chưa thực sự kiểm soát và làm chủ trong quản lý tiền lương,chế độ tiền lương , phụ cấp vẫn còn mang bất hợp lí mang nặng tính bao cấp, cơ chế hình thành và phân phối thu nhập, lợi nhuận ở nước
ta còn nhiều hạn chế, bất hợp lý nên đang tạo nên sự phân hoá và bất bình đẳng lớn trong xã hội
2.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối ở nước ta trong thời gian tới
Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta đang từ thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội,có sự đan xen của nhiều hình thức sỏ hữu kinh tế cũng như các hình thức phân phối khác nhau.Đảng và nhà nước ta đã nhấn mạnh vai trò của phân phối,nhấn mạnh vai trò của việc hoàn thiện các hình thức phân phối nhàm nâng cao đòi sóng của nhân dân về mọi mặt:vật chất,văn hoá…Phải thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội nói chung
và của đảng nhà nước ta nói riêng, phải thể hiện được vai trò dẫn đường của đảng .Để đạt được kết quả như vậy chúng ta phải thưc hiện một số giải pháp sau:
Trang 9Thứ nhất cần phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, thực hiện nguyên tắc phân phối theo cống hiến.Về thực chất chính là nguyên tắc phân phối vừa theo lao động vừa theo mức đóng góp vốn vì xét cho cùng thì cống hiến của các cá nhân cho xã hội chỉ
có hai loại là cống hiến bằng sức lao động và cống hiến bằng sự góp vốn Việc thực hiện phân phối theo lao động và theo mức đóng góp vốn phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất Để thực hiện được nguyên tắc phân phối này thì phải xác định đúng giá trị cống hiến bằng sức lao động của từng người và tỷ lệ giữa giá trị cống hiến bằng sức lao động và gía trị cống hiến bằng sự góp vốn Trong đó phải đảm bảo phân phối theo lao động là chủ yếu như vậy sự phân phối mới đảm bảo tính công bằng, Xã hội dân chủ văn minh
Thứ hai là thực hiện phân phối công bằng trong thu nhập,điều tiết thu nhập dân cư, hạn chế sư chênh lệch về mức thu nhập.Nhà nước phải hạn chế sự chênh lệch thu nhập quá đáng để không khiến xã hội bị phân hoá thành hai cực cấp mà trước hết đối với người làm công ăn lương thì tiền lương phải thực sự trở thành nguồn thu nhập chính để nuôi sống họ, từ đó họ có thể hoàn toàn yên tâm và say mê với nghề nghiệp
Để cho tiền lương thực sự trở thành một đòn bẩy thúc đẩy người lao động làm việc với sức sáng tạo, trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục hoàn thành chính sách tiền lương
Trong việc xác định tiền lương cần quán triệt những nguyên tắc sau: Trước tiên là cần cải cách chính sách tiền lương Cải cách tiền lương phải mang tính triệt để và căn bản, tạo ra một luồng sinh khí mới đối với các tầng lớp hưởng lương từ nguồn ngân sách Chính sách tiền lương mới phải phải thật sự là động lực để xây dựng một nền hành chính quốc gia trong sạch với một bộ máy công quyền mạnh mẽ, công minh
Trang 10Cải cách tiền lương phải được tiến hành đồng bộ với hàng loạt các biện pháp khác, đặc biệt là cải cách hành chính và cải tiến cơ chế quản lý kinh tế đòng bộ, có hiệu quả Cần xác định đúng đối tượng trả lương và cơ chế trả lương thích hợp Giảm một cách đáng kể đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước với những bước đi thích hợp Phải sử dụng mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn thuế thu nhập cá nhân như một phương tiện chủ yếu để điều tiết lợi ích giữa các tầng lớp trong xã hội
Tiến tới nâng tỷ trọng nâng thuế thu nhập cá nhân trong ngân sách Nhà nước.Tiền lương phải đủ để đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động, nó phải thực sự là bộ phận thu nhập chủ yếu của người lao động Tiền tệ hoá tiền lương một cách triệt để, xoá bỏ tận gốc các khoản bao cấp trong phân phối Mức lương phải gắn với trình độ phát triển kinh tế xã hội, hiệu quả sản xuất kinh doanh, quan hệ cung cầu lao động, mức cống hiến của từng cá nhân, sự biến động của giá cả và lạm phát.Xây dựng cơ chế quản lý tiền lương mới phải đảm bảo vừa tăng cường vai trò quản lý, điều tiết vĩ
mô của Nhà nước, vừa mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị cơ sở Phải tiến hội nhập hành công cuộc tổ chức và phân công lại lao động xã hội trên phạm vi toàn xã hội, tinh giảm biên chế trong khu vực Nhà nước Chỉ có như vậy thì bộ máy Nhà nước hoạt động mới có hiệu quả.Thay đổi cơ cấu thu chi ngân sách tạo nguồn cho cải cách tiền lương Cần giảm bớt chi đầu tư phát triển dưới dạng đầu tư vào cơ các công trình sản xuất kinh doanh, nguồn ngân sách sẽ có đủ nguồn đảm bảo cải cách căn bản tiền lương
Thứ ba là phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, đảm bảo sự hài hoà về lợi ích giữa các thành phần trong đó lấy thành phần kinh tế Nhà nước làm chủ đạo bên cạnh