xuất kinh doanh của công ty nên trở thành động lực cơ sở bên trong thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Hiện nay quá trình cổ phần hoá ở nước ta đang được triể
Trang 1xuất kinh doanh của công ty nên trở thành động lực cơ sở bên trong thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Hiện nay quá trình cổ phần hoá ở nước ta đang được triển khai khá mạnh mẽ Việc hình thành công ty cổ phần thông qua cổ phần hoá góp phần nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước bởi chỉ
có thế mới nâng cao được hiệu quả của các doanh nghiệp Nhà nước Hơn nữa Nhà nước với hình thức tham dự cổ phần của mình có thể nhanh chóng can thiệp nhằm điều chỉnh cơ cấu kinh tế thúc đẩy sự phát triển và điều tiết thị trường một cách có hiệu quả
Công ty cổ phần ra đời còn góp phần thúc đẩy sự ra đời và phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam Tháng 7 năm 1998
đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam Đồng thời với việc ban hành nghị định 48 /1998 /NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Chính phủ đã ký quyết định số 127 /1998 /QĐ-TTg về thành lập hai Trung tâm Giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh, phát đi hiệu lệnh khởi động thị ttrường chứng khoán Thông qua thị trường chứng khoán, các nhà kinh doanh có thể huy
động mọi nguồn tiết kiệm trong dân cư Nó là cơ sở quan trọng để Nhà nước thông qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu đã lựa chọn Thiếu thị trường chứng khoán sẽ không có nền kinh tế thị trường phát triển Song sự ra đời của nó không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người mà là kết qủa của sự phát triển chung về
Trang 2kinh tế xã hội, trong đó sự ra đời và phát triển, hoạt động một cách hoàn hảo của các công ty cổ phần giữ vai trò quyết định
III Thực trạng quá trình cổ phần hoá ở Việt nam
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước được bắt đầu thí
điểm từ cuối năm 1991 Quá trình cổ phần hoá ở nước ta về cơ bản
có thể chia làm hai giai đoạn:
1 Thời kỳ thí điểm cổ phần hoá (6/1992 đến hết năm 1996)
Thực hiện Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc tiếp tục thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, các Bộ, ngành đã hướng dẫn doanh nghiệp nhà nước đăng ký thực hiện thí điểm chuyển sang công ty cổ phần Trên cơ sở số lượng doanh nghiệp nhà nước đã đăng ký, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) đã chọn 7 doanh nghiệp nhà nước do Chính phủ chỉ đạo thí điểm chuyển thành công ty cổ phần,
đó là:
1 Nhà máy xà phòng Việt Nam (Bộ công nghiệp)
2 Nhà máy diêm Thống nhất (Bộ công nghiệp)
Trang 33 Xí nghiệp nguyên vật liệu chế biến thức ăn gia súc Hà Nội (Bộ Nông nghiệp)
4 Xí nghiệp Chế biến gỗ Lạng Long Bình (Bộ nông nghiệp),
5 Công ty Vật tư Tổng hợp Hải Hưng (Bộ Thương mại)
6 Xí nghiệp Sản xuất Bao bì (Thành phố Hà Nội)
7 Xí nghiệp Dệt da may Lagamex (Thành phố Hồ Chí Minh)
Sau một thời gian làm thử, 7 DNNN được Chính phủ chọn làm thí điểm đều xin rút lui, hoặc không đủ điều kiện để tiến hành cổ phần hoá như Lagamex, nhà máy Xà phòng Việt Nam Hơn 30 doanh nghiệp đã đăng ký với Bộ tài chính để thí điểm thực hiện cổ phần hoá và 3 doanh nghiệp nhà nước xin chuyển thành công ty TNHH theo chỉ thị 84/TTg Có 5 doanh nghiệp nhà nước được phép chuyển sang công ty cổ phần, đó là:
1 Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (thuộc Bộ giao thông)
2 Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (TP Hồ Chí Minh)
3 Công ty cổ phần giầy Hiệp An ( Bộ Công nghiệp)
Trang 44 Công ty cổ phần Chế biến hàng Xuất khẩu Long An (Tỉnh Long An)
5 Công ty cổ phần Chế biến Thức ăn Gia súc (Bộ công nghiệp)
Trong một thời gian thực hiện thí điểm cổ phần hoá, tuy số lượng các doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần còn
ít song giai đoạn thí điểm đã đem lại một số kết quả đáng chú ý:
Quá trình thí điểm cổ phần hoá đã huy động được một lượng vốn quan trọng trong nhân dân Qua bán cổ phiếu, nhà nước đã thu
được 14,165 tỷ đồng tiền mặt nộp vào Ngân sách Đây là số vốn quan trọng làm tăng tài sản thuộc sở hữu Nhà nước để đầu tư vào chiều sâu, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống DNNN
Tại các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, 100% cán bộ công nhân viên tham gia mua cổ phiếu Khi người lao động có vốn trong công ty, lợi ích của họ gắn với lợi ích công ty vì vậy họ làm việc với trách nhiệm cao vì quyền lợi của mình Mặt khác họ cũng yêu cầu Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành phải chỉ đạo và tổ chức để công ty hoạt động có hiệu quả
Hiệu quả của các công ty này tăng lên rõ rệt Các chỉ tiêu kinh tế như doanh thu tăng bình quân 56,9%/năm; lợi nhuận tăng
Trang 570,2%; nộp Ngân sách tăng 89%/năm; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là 14,10%
Vốn của các doanh nghiệp này tăng lên đáng kể Tính bình quân vốn của các doanh nghiệp mỗi năm tăng 45%
Người lao động trong các doanh nghiệp này tăng 46,8%, thu nhập của người lao động tăng 20%/năm
Nhà nước vẫn giữ được vai trò lãnh đạo doanh nghiệp nhờ duy trì tỷ lệ cổ phiếu chi phối, giám sát các hoạt động bằng luật pháp và nội dung các điều lệ hoạt động phù hợp với quy định của Nhà nước
Tính đến hết thời gian thí điểm cổ phần hoá (hết năm 1996) tổng số doanh nghiệp nhà nước được chuyển sang công ty cổ phần
là 12 doanh nghiệp Dưới đây là danh sách các doanh nghiệp và một
số chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp đó sau thời gian cổ phần hoá
Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển GEMADEPT
Trang 6Trước CPH Sau CPH Chỉ tiêu Đơn vị
1992 1993 1994 1995 1996
1 Doanh thu Tr đồng 11.120 16.530 24.134 47.538 65.046
2 Nộp NS Tr.đồng 3.336 3.750 8.700 16.530 25.117
3 Lãi Tr đồng 3.400 3.700 8.800 15.200 23.000
4 Thu nhập
bình quân
người/tháng
1000
đồng
850 900 1.200 1.400 2.000
(Nguồn: Ban cổ phần hoá Bộ Tài chính.)
Công ty đại lý Liên hiệp vận chuyển chuyển làm dịch vụ vận chuyển từ kho của người gửi đến kho cuả người nhận bằng các phương tiện đường bộ, đường thuỷ, đường biển tới các cảng quốc tế Công ty là một trong những doanh nghiệp đầu tiên ở nước ta được tiến hành thí điểm cổ phần hoá Doanh nghiệp này được chính thức chuyển sang công ty cổ phần vào ngày 01/07/1993 Tổng số vốn
điều lệ của công ty sau cổ phần hoá là 6.207.655.000 đồng được
Trang 7chia thành 31.038 cổ phiếu với mệnh giá 200.000; trong đó tỷ lệ cổ phần của nhà nước là 18%, của cán bộ công nhân viên chức trong công ty là 77%, của cổ đông ngoài là 5% Sau 3 năm hoạt động kể
từ ngày chuyển sang công ty cổ phần, số lao động của công ty tăng
từ 56 người (năm 1993) lên 320 người (năm 1996) Doanh thu năm
1996 tăng gấp gần 4 lần so với năm 1993, nộp ngân sách của công
ty cũng tăng từ 3.750 (1993) lên 25.117 (1996) tức khoảng 6,6 lần, thu nhập người lao động tăng từ 900.000 (năm 1993) lên 2 000.000 (năm 1996)
Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE) được thành lập năm 1987 trên cơ sở công ty liên hợp Thiết bị lạnh trực thuộc Sở công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Ngay từ khi mới thành lập, công ty đã tổ chức lại bộ máy gọn nhẹ, hoạt động theo nguyên tắc hạch toán duy nhất, năng động trong quản lý sản xuất kinh doanh Công ty đã mạnh dạn nhập các thiết bị lạnh với phương thức trả chậm, tiêu thụ nhanh hàng nhập, thanh toán kịp thời và đầy đủ phần nợ trả chậm cho bên nước ngoài Cũng chính từ thành công trong hoạt động ngoại thương, tích tụ và tập trung tư bản được hình thành, công ty
đã thành lập 2 công ty liên doanh: Công ty liên doanh CERVICO (liên doanh với công ty MEKONG - một công ty Việt kiều ở Đức) nhằm lắp ráp thiết bị lạnh trong nước, vốn đầu tư là 820.000 USD Công ty liên doanh REEYOUNG (liên doanh với công ty BOUYONG của Nam Triều Tiên) chuyên sản xuất túi sách xuất khẩu, vốn đầu tư 1.600.000 USD Trong những năm trước cổ phần hoá, công ty hoạt động thực sự có hiệu quả Công ty luôn dự đoán
Trang 8lượng hàng hoá, thiết bị vật tư dự trữ đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, tạo được niềm tin và giữ được uy tín với khách hàng Tháng 11/1993 theo quyết định số 1707/QĐ - UB của UBND TP Hồ Chí Minh, Công ty Cơ điện lạnh chính thức được chuyển sang công
ty cổ phần Tổng số vốn điều lệ mới thành lập của công ty là 16 tỷ
đồng được chia thành 160.000 cổ phần với mệnh giá một cổ phiếu
là 100.000 đồng, Nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần là 30% (gồm 4 đại diện cổ đông), cán bộ công nhân viên chức trong công ty là 50% (gồm 212 cổ đông), các cổ đông ngoài công ty là 20% (gồm 238 cổ
đông) Cổ đông là cán bộ công nhân công ty được mua không quá 5% tổng số cổ phiếu, cổ đông ngoài công ty không được mua quá 0,5% tổng số cổ phiếu Như vậy cổ đông là cán bộ công nhân viên công ty không được mua cổ phần quá 800 triệu đồng, cổ đông ngoài công ty không được mua cổ phần quá 800 triệu Ngoài ra, các cổ
đông là nhân viên công ty còn được vay tiền với lãi suất ưu đãi,
được chia quỹ khen thưởng và phúc lợi còn lại để có thể mua cổ phiếu Ba năm sau khi cổ phần hoá, tổng số vốn của công ty tăng từ
16 tỷ đồng (năm 1993) lên 30 tỷ đồng (năm 1996), doanh thu năm
1996 tăng gấp 5 lần so với năm 1993 Số lao động năm 1996 tăng hơn 3 lần so với những năm công ty chưa được cổ phần hoá Tổng thu nhập của người lao động đạt 1.800.000/cổ phần Công ty đang nghiên cứu sẽ bán tiếp cổ phần ưu đãi cho 2/3 số công nhân mới
được tuyển vào làm, nhằm thu hút thêm số người có tay nghề cao Năm 1996, công ty được nhà nước cho phép phát hành thử trái phiếu chuyển đổi bằng ngoại tệ và bán cho các nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị 5 triệu USD, lãi suất 4,5%/năm Các trái phiếu
Trang 9được chuyển đổi thành cổ phiếu trong quý 3/1996, trái chủ được chuyển thành cổ đông sẽ không được tham gia Hội đồng quản trị
Trước CPH Sau CPH Chỉ tiêu Đơn vị
tính
1992 1993 1994 1995 1996
1 Doanh thu Tr đồng 42.000 45.000 77.000 214.00
0
277.000
2 Nộp NS Tr đồng 2.570 54.370 13.126 48.000 61.000
3 Lãi Tr đồng 6.800 7.300 11.300 21.300 5.000
4 Thu nhập
bình quân
người/tháng
1000đồng 774 1.200 1.400 1.500 1.800
(Nguồn: Ban cổ phần hoá Bộ Tài chính)
Công ty cổ phần giầy Hiệp An là doanh nghiệp chuyên sản xuất