1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình hướng dẫn tìm hiểu thực trạng hiện nay của việc đầu tư trong xã hội chủ nghĩa phần 3 ppsx

9 257 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 246,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn lực cho công tác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm được tăng cường Mặc dù NSNN còn hạn hẹp, song Nhà nước đã đầu tư cho các chương trình quốc gia phục vụ xóa đói giảm nghèo thông

Trang 1

Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm

Tỷ Đồng %

Tỷ Đồng %

Tỷ Đồng %

Tỷ Đồng % Tỷ Đồng

Trung

du miền núi Bác

Bộ

2971,41 5,62 3802,21 5,32 4751,39 6,13 6368,91 7,88 17893,92

Tây Nguyên 158484 3,0 177558 2,48 190745 2,46 216522 2,68 7433,09

ĐB SCL 744799 14,09 963754 13,49 1082295 13,96 1196811 14,81 39876,59

<nguồn: Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư>

Hơn 10 năm 1991-2000, Nhà nước đã đầu tư vào các vùng này khoảng 22,1% vốn đầu tư cả nước trong đó, vốn NSNN chiếm khoản 28% Vốn đầu tư

từ nguồn NSNN tập trung cho các công trình cơ sở hạ tầng, trong đó hạ tầng kỹ thuật chiếm 63,5%, hạ tầng xã hội chiếm 34,7%, các ngành khác chiếm 1,8%

b) Hoạt động đầu tư được đa dạng và hiệu quả hơn góp phần phát triển các vùng và đẩy mạnh công cuộc xoá đói giảm nghèo

Tại từng khu vực riêng biệt, Nhà nước cũng đầu tư theo các chương trỡnh mục tiờu

Chương trỡnh dự ỏn định canh định cư tập trung chủ yếu vào hỗ trợ phát triển sản xuất, khai hoang Dự án này cũng tạo điều kiện xây dựng cơ sở hạ tầng để đồng bào dân tộc ít người rời bỏ phương thức du canh du cư Tính đến năm

2000, chương trỡnh đó định cư cho khoảng 118000 hộ; tổ chức đi xây dựng vùng kinh tế mới 38925 hộ

Chương trỡnh 327và 621 nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc và trồng 5 triệu ha rừng, bảo vệ đất đai, cải tạo môi trường sống và nâng cao chất lượng cuộc sống Chương trỡnh này cũng tạo điều kiện để các hô nông dân tận dụng lợi thế về đất đai và sức lao động nhằm thựchiện mô hỡnh nụng lõm kết hợp, trồng cõy ăn quả và cây công nghiệp lâu năm trên diện tích có độ màu mỡ cao, trồng cây hang năm dưới tán rừng chưa khép tán Đây cũng là biện pháp tạo điều kiện thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bô ngành nông nghiệp

Trang 2

Ngoài ra, Nhà nước cũn cú chương trỡnh 135 là chương trỡnh kinh tế xó hội mở rộng thực hiện trờn cỏc địa bàn đặc biệt khó khăn (cả nước có 1700 xó - năm 2000) Chương trỡnh này chỳng ta sẽ đề cập kỹ hơn ở phần đầu tư cho xoá đói giảm nghèo

2 Đầu tư cho xoá đói giảm nghèo

Xoá đói giảm nghèo là một vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu đang được nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế quan tâm Việt nam luôn coi trọng vấn đề xoá đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên xuốt đất nước, góp phần thực hiện CBXH

2.1 Nguồn lực cho công tác xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm được tăng cường

Mặc dù NSNN còn hạn hẹp, song Nhà nước đã đầu tư cho các chương trình quốc gia phục vụ xóa đói giảm nghèo thông qua chương trình đầu tư cơ

sở hạ tầng cho các xã nghèo (Chương trình 133, 135) Từ khi có Chương trình xóa đói giảm nghèo (1992) đến năm 2000, Nhà nước đã đầu tư thông qua các chương trình quốc gia có liên quan đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo khoảng 21.000 tỷ đồng Riêng trong 2 năm 1999 và 2000 gần 9.600 tỷ đồng (NSNN đầu tư trực tiếp cho chương trình 3.000 tỷ đồng; lồng ghép các chương trình,

dự án khác trên 800 tỷ đồng; huy động từ cộng đồng trên 300 tỷ đồng; nguồn vốn tín dụng cho vay ưu đãi hộ nghèo trên 5.500 tỷ đồng)

Trong 2 năm 2001, 2002, tổng nguồn vốn huy động đạt 13.400 tỷ đồng, tăng khoảng 39,6% so với tổng mức vốn Đầu tư 2 năm 1999- 2000 Trong đó:

+ NSNN Đầu tư trực tiếp 3300 tỷ đồng( Trung Ương 1800 tỷ đồng, địa phương 1500 tỷ đồng) tăng 10% so với 2 năm 1999-2000

+ Lồng ghép từ các chương trình, dự án khoảng 1300 tỷ đồng, tăng 62,5% so với 2 năm 1999-2000

+ Huy động từ cộng đồng khoảng 700 tỷ đồng, tăng 133% so với 2 năm 1999-2000 Huy động vốn tín dụng 8100 tỷ đồng, tăng 47,3% so với 2 năm 1999-2999

Hiện nay, Chính phủ tiếp tục huy động mọi nguồn lực có thể cho xoá đói giảm nghèo Tận dụng tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự ủng hộ

Trang 3

và giúp đỡ của quốc rế Trong nước, năm 2003, chúng ta đã thực hiện rất nhiều chương trình thiết thực vì người nghèo Phong trào “Ngày vì người nghèo” diễn ra khắp nơi Chúng ta cũng tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế Vừa qua, năm 2004, chúng ta đã nhận được cam kết tài trợ của UNDP cho xoá đói giảm nghèo Theo đó, UNDP sẽ tài trợ gần 300000 USD cho việc thí điểm lồng ghép Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo vào kế hoạch phát triển hàng năm và dài hạn của các tỉnh và tỉnh Trà Vinh sẽ là một trong những tỉnh nghèo đầu tiên được thực hiện

2.2 Nội dung và các hoạt động Đầu tư cho Xoá đói giảm nghèo

Nhà nước đã đầu tư cho xoá đói giảm nghèo thông qua các chương trình mục tiêu của quốc gia

Chương trình xoá đói giảm nghèo là một chương trình lớn của quốc gia, có tính chất chiến lược ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế

xã hội bền vững Mục tiêu của chương trình này là giảm dần và xoá bỏ hộ đói, giảm hộ nghèo, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng Mỗi năm phấn đấu giảm 3- 4% hộ đói nghèo UNDP, WB và ADB thường trợ vốn cho các chương trình này

Chương trình 135 là chuơng trình kinh tế xã hội tổng hợp, thực hiện trên địa bàn các xã được công nhận là xã đặc biệt khó khăn (cả nước có trên 1700 xã)

Mục tiêu tổng quát của chương trình là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc tạo điều kiện các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập với sự phát triển chung của cả nước

Thành tựu cơ bản của chương trình 135 đã thể hiện hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội vùng đồng bào dân tộc miền núi Hàng ngàn cụng trỡnh cơ sở

hạ tầng tại các xó đặc biệt khó khăn và các trung tâm cụm xó được xây dựng

Hệ thống cơ sở vật chất ở miền núi, vùng cao được hỡnh thành và cải thiện rừ rệt so với trước đây, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần từng bước phát triển; nhiều vùng đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa

Trang 4

2.3 Những hoạt động chính của chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo

Biện pháp đầu tiên của chương trình là đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo Ngay từ năm 1999, chưong trình đã đầu tư hơn 500 tỷ đồng xây dựng 1753 công trình cho các xã nghèo như đường giao thông, thuỷ lợi nhỏ, trường học hệ thống cấp nước và điện sinh hoạt, trạm y tế, chợ nông thôn,… Ngoài vốn NSNN, các địa phương huy động thêm nguồn vốn trên địa bàn, lồng ghép vốn xây dựng cơ bản từ các chương trình và dự án khác để đầu

tư thêm cho 176 xã nghèo khác với tổng kinh phí 100 triệu đồng

Với công tác định canh định cư, di dân kinh tế mới chương trình đã đầu

tư 252 tỷ đồng cho việc định canh định cư tập trung cho 47 nghìn hộ, hỗ trợ cho họ khoanh nuôi bảo vệ trồng mới xây dựng cơ sở hạ tầng và ổn định đời sống di dân kinh tế mới cho 15,3 nghìn hộ tính tại thời điểm năm 1999

Cuối cùng, hoạt động đầu tư cho xoá đói giảm nghèo cũng được thực hiện qua việc chuyển giao công nghệ hướng dẫn cho họ cách làm ăn Năm

1999, chương trình đã đầu tư 8 tỷ đồng để xây dựng 150 mô hình trình diễn

kỹ thuật, tổ chức 180 lớp khuyến nông cho khoảng trên 854 nghìn lượt người nghèo Đây là cách thức có hiệu quả lâu dài, một biện pháp tránh tái nghèo tốt nhất

2.4 Những bất cập tồn tại trong hoạt động đầu tư cho Xoá đói giảm nghèo

a) Nguồn lực đầu tư cho xoá đói giảm nghèo còn hạn chế, chưa cân đối với mục tiêu chung nhất là nguồn vốn đầu tư từ NSNN, hàng năm mới chỉ có thể

đáp ứng được khoảng 15- 20% yêu cầu

Nguồn lực trong nước còn quá hạn hẹp, vừa phải đầu tư lớn cho sự phát

triển chung của đất nước vừa phải đầu tư cho xóa đói giảm nghèo, trong khi

đó việc khai thác các nguồn lực chưa được nhiều và chưa có hiệu quả Một số định hướng đầu tư đang trong quá trình điều chỉnh, khả năng tái đầu tư không đáng kể, hệ thống tài chính ngân hàng hoạt động kém hiệu quả Hơn nữa thị trường tài chính đang hình thành nên huy động đầu tư còn yếu

Các nguồn lực cho chương trình xóa đói giảm nghèo tuy có tăng lên qua các năm, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của các địa phương Địa bàn trọng

Trang 5

điểm cần xóa đói giảm nghèo hiện nay là những vùng cao, vùng sâu có nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng thiếu và lạc hậu, suất đầu tư cao, chi phí lớn, khó thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư Đây thực sự là một thách thức lớn cho công tác xóa đói giảm nghèo trong thời gian tới

b) Hiệu quả đầu tư cho xoá đói giảm nghèo còn chưa cao

Do các dự án đầu tư này tại các vùng khó khăn thường xa TW nên ít chịu sự giám sát chặt chẽ của các cấp TW Trong khi năng lực cán bộ địa phương cho công tác xoá đói giảm nghèo lại rất thấp, không đủ khả năng kiểm tra các công trình đầu tư vốn lớn từ TW Do vậy tình trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư theo các chơng trình về Xoá đói giảm nghèo vẫn rất phổ biến

Trong chương trình 135, hàng năm chúng ta đều có tổ chức kiểm tra, có thống kê của các tỉnh, của các đoàn trung ương Năm 2001, qua kiểm tra 17

dự án với số vốn khoảng 9,5 tỷ đồng, thỡ những sai sút được phát hiện là 687 triệu đồng Tình trạng thất thoát cũng do nhiều nguyên nhân khách quan như

bị đội giá thành xây dựng hoặc điều kiện thi công rất khó khăn

Chất lượng các công trình xây dựng cũng rất thấp do bên thi công khó thanh toán công trình nên thiếu tính trách nhiệm Nhiều công trình không làm đúng quy tắc đấu thầu mà lạm dụng chỉ định thầu

Năng lực cán bộ xã rất hạn chế, nhiều cán bộ đọc không thông thạo nên không thể quản lý và giám sát đầu tư Năng lực hấp thụ tại địa phương rất thấp, có nơi chỉ có 400 triệu đồng nhưng địa phương vẫn không biết nên đầu

tư vào công trình nào cho hiệu quả Do đó tại nhiều xã, nhân dân và địa phương không được tham gia vào chương trình Vì vậy, tính giải quyết việc làm không cao

c) Hệ thống chính sách, cơ chế đầu tư cho xoá đói giảm nghèo còn thiếu đồng

bộ Cơ chế vận hành và trách nhiệm của từng ngành chưa rõ, chưa dân chủ công khai, kiểm tra giám sát tuy có thực hiện nhưng còn mang tính hình thức

Còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị quản lý dự án xoá đói giảm nghèo Hiện nay, hệ thống các chương trình dự án XĐGN ở nước ta còn nhiều cơ quan, đơn vị tham gia quản lý

Trang 6

Còn thiếu sự tham gia đầy đủ tích cực của cộng đồng trong việc thực hiện dự án XĐGN Tại nhiều địa phương, người dân vẫn không được tham gia đầy đủ trong việc trực tiếp quyết định, xây dựng kế hoạch và quản lý, vận hành các chương trình dự án XĐGN Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý các chương trình dự án XĐGN còn chồng chéo và chưa tập trung, thống nhất Cán

bộ quản lý các chương trình dự án đầu tư cho XĐGN thường phải kiêm nhiệm rất nhiều công việc khác nhau gây nên sự quá tải đối với các công tác hành chính

d) Tính bền vững của thành quả XĐGN chưa cao Một bộ phận dân cư có nguy cơ phát sinh nghèo và tái đói nghèo do sinh sống ở vùng thường xuyên

bị thiên tai, mất mùa, do thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định, có thu nhập thấp và không có tích luỹ

II Đầu Tư cho các vấn đề phúc lợi xã hội

1 Tình hình Đầu tư cho Giáo dục và tính CBXH trong giáo dục

1.1 Tình hình đầu tư cho Giáo dục và đào tạo

Phát triển GD ĐT nhằm tạo ra các cơ hội về việc làm mới và nâng cao thu nhập qua đó thúc đẩy xoá đói giảm nghèo và thực hiện CBXH

Nhà nước ta từ trước tới nay đều rất chú trọng đầu tư cho giáo duc Ngân sách giáo dục từ năm 1995 trở đi mỗi năm tăng 1% và năm 2000 ngân sách giáo dục đạt 15% tổng ngân sách tiêu dùng Giai đoạn 1996- 2000, vốn đầu tư cho giáo dục là 15400 tỷ đồng chiếm 2,7 % vốn đầu tư toàn xã hội Tỷ lệ đầu

tư cho giáo dục từ vốn NSNN giai đoạn 1996-2000 là 6,6% Trong giai đoạn 2001- 2003, đầu tư cho lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, tăng 15,2%/năm, nên tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực này đó đạt tương ứng là 12,7% và 8,1% vốn đầu tư toàn xã hội Cũng trong giai đoạn 2001- 2003, tỷ lệ đầu tư cho khoa học và cụng nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao từ nguồn NSNN chiếm 21,1% Năm2003, tỷ lệ đầu

tư cho giáo dục và đào tạo là chiếm 3,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội

Đầu tư cho giáo dục đã bước đầu tập trung xây dựng các cơ sở giáo dục trọng điểm, đã hình thành cơ sở vật chất ban đầu cho các cơ sở giáo dục lớn

Vốn viện trợ và vay nước ngoài (ODA) đã được ưu tiên đầu tư cho giáo dục

Trang 7

chưa kể các dự án viện trợ không hoàn lại Nhà nước đã thực hiện một số dự

án thành công như như dự án phát triển giáo dục tiểu hoc (gần 80 triệu USD vay vốn WB), dự án phát triển giáo dục dạy nghề (trên 100 USD, vay vốn ADB), chương trình kiên cố hoá trường học…

Tình trạng thất thoát trong đầu tư xây dựng trường học là rất lớn

Cũng như trong đầu tư xây dựng cơ bản khác, trong khâu lập và thẩm định dự

án, hiện tượng lập dự toán vượt khối lượng so với thiết kế rất phổ biến Ngoài

ra, quy trình lập, phê duyệt đầu tư không chặt chẽ, sử dụng vốn không đúng mục đích đã gây lãng phí rất lớn

1.2 Tình hình CBXH trong Đầu tư cho giáo dục

Đầu tư cho Giáo dục cho đã tăng nhưng tính bất bình đẳng trong giáo dục cũng tăng nhanh Trong thành thị xu hướng đầu tư vào giáo dục ngày càng tăng trong lúc ở nông thôn đặc biệt là vùng sâu, vùng xa giáo dục bị xuống cấp nghiêm trọng Người dân ở những khu vực này ít có xu hướng đầu

tư cho giáo dục Chính vì vậy, trong khi cơ hội giáo dục ở khu vực thành thị

có rất nhiều thì ở khu vực nông thôn lại rất ít Và khu vực thành thị có 47%

dân số tốt nghiệp PTTH trở lên thì ở nông thôn chưa quá 30% số dân tốt nghiệp PTCS (số liệu năm 2000)

Cũng theo số liệu thống kê năm 2000, chúng ta thấy khoảng 90%

người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Kết quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; trung học cơ sở chiếm 37% Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèo tiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoát nghèo

Tỷ lệ nghèo giảm xuống chỉ khi trình độ giáo dục tăng lên 80% số

người nghèo làm các công việc trong nông nghiệp có mức thu nhập rất thấp

Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vực khác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập cao hơn

và ổn định hơn

2 Đầu tư cho y tế và tăng cường các dịch vụ y tế cho ngưòi nghèo

Trang 8

Năm 2003, đầu tư cho y tế và cứu trợ xã hội cũng tăng, chiếm khoảng 1,3% so với vốn đầu tư toàn xã hội Trong giai đoạn 2001- 2003, đầu tư cho lĩnh vực khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, tăng 15,2%/năm, nên tỷ trọng vốn đầu tư cho các lĩnh vực này đó đạt tương ứng là 12,7% và 8,1% vốn đầu tư toàn xã hội Theo Bộ Kế Hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2003- 2005, ngành y tế cần đầu tư khoảng 1,5 nghìn tỷ đồng

Tuy nhiên, con số trên vẫn còn quá nhỏ bé so với nhu cầu về y tế của người dân Hầu hết các xã có cơ sở y tế nhưng thuốc men, trang thiết bị nghèo nàn, đội ngũ thầy thuốc còn nhiều hạn chế Chi phí sử dụng dịch vụ y tế và tiền thuốc chữa bệnh trung bình của một người là 35000 đồng cho 1 lần khám

và điều trị tại các trạm y tế xã; 77000 đồng cho một lần đi khám và chữa bệnh ngoại trú tại bệnh viện và con số này là 210000 đồng cho một lần chữa bệnh nội trú tại bệnh viện Số liệu trên cho thấy các gia đình đã phảI trả khá nhiều tiền cho việc sử dụng các y tế Do đó, cơ hội chữa bệnh cho người có thu nhập thấp lại càng khó hơn khi 1 tháng thu nhập của họ chỉ khoảng hơn

100000 đồng Do vậy tính bình đẳng trong y tế cũng khó thực hiện

Trang 9

CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

I Một số mục tiêu trong việc giải quyết vấn đề Công Bằng Xã Hội của Đảng và Nhà nước ta

1 Mục tiêu về giảm tỷ lệ nghèo đói

Đến năm 2010 giảm 2/5 tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế và giảm 3/4 tỷ lệ nghèo về lương thực thực phẩm so với năm 2000 Đến năm 2005 giảm 2/5 tỷ lệ hộ nghèo và đến 2010 giảm 3/5 tỷ lệ hộ nghèo so với năm 2000 theo chuẩn của Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm

2 Đảm bảo công trình hạ tầng thiết yếu cho người nghèo, cộng đồng nghèo

và xã nghèo

Tiếp tục cải tạo, nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các công trình hạ tầng thiết yếu (thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế xã, đường giao thông, điện chiếu sáng, nước sinh hoạt, chợ, các điểm bưu điện văn hóa xã, nhà hội họp ) bảo đảm đến năm 2005 cung cấp cho 80% xã nghèo và đến 2010 cho 100% xã nghèo có các cơ sở hạ tầng thiết yếu Đến năm 2005 mở rộng điện lưới quốc gia đến trung tâm 900 xã nghèo, bảo đảm 90% số xã có điện Bảo đảm có đường ô tô về tới trung tâm xã Phấn đấu 80% đường xã có kết cấu mặt đường phù hợp, trong đó 30% mặt đường được rải nhựa hoặc xi măng

Đến năm 2005, phấn đấu 80% dân số thành thị, đặc biệt là ở những khu vực

xa đường giao thông chính, và 60% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch với số lượng 50 lít/người/ngày

3 Tiép tục giải quyết việc làm đặc biệt cho người nghèo

Ngày đăng: 09/08/2014, 00:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm