Giai đoạn từ 1995 - đến nay Để triển khai thực hiện chế độ, chính sách BHXH trong thời kỳ đổi mới, ngày 16/2/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập tổ chức BHXH
Trang 14.2.2 Giai đoạn từ 1995 - đến nay
Để triển khai thực hiện chế độ, chính sách BHXH trong thời
kỳ đổi mới, ngày 16/2/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập tổ chức BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất và tổ chức BHXH ở Trung ương và địa phương thuộc hệ thống Lao động - Thương binh & X ã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý, để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chính sách, chế độ BHXH theo pháp luật của Nhà nước Và bắt đầu từ 1/10/1995, hệ thống
tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam từ Trung ương đến địa phương đã chính thức đi vào hoạt động
BHXH Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ , chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội , các cơ quan Nhà nước về lĩnh vực có liên quan và
sự giám sát của Tổ chức Công đoàn
Hệ thống BHXH Việt Nam hiện nay gồm :
- Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam, là cơ quan quản lý cao nhất của BHXH Việt Nam Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau: Chỉ đạo và giám sát, kiểm tra việc thu, chi, quản lý quỹ BHXH; quyết định các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ BHXH; thẩm tra quyết toán và thông qua dự toán hàng năm; kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan bổ sung sửa đổi các chính sách, chế độ BHXH; giải quyết các khiếu nại của người tham gia BHXH; đề xuất việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng Giám đốc, các Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Các thành viên Hội đồng quản lý là đại diện có thẩm quyền của Bộ Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội, Bộ Tài chính, và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Uỷ viên Hội đồng quản lý là Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Các thành viên này do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và
Trang 232
miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ Trưởng, Trưởng ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ
- BHXH Việt Nam, là cơ quan điều hành trực tiếp cao nhất của hệ thống BHXH Việt Nam, do Tổng giám đốc trực tiếp điều hành và các Phó Tổng Giám đốc giúp việc
- Cơ chế quản lý quỹ BHXH Việt Nam được tổ chức thành hệ thống ngành dọc từ trung ương đến địa phương theo 3 cấp:
+ Ở Trung ương là cơ quan BHXH Việt Nam
+ Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là BHXH tỉnh)
+ Ở các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là các BHXH quận, huyện, thị x ã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là BHXH huyện)
Tuy nhiên, để BHXH Việt Nam hoạt động có hiệu quả thì ngành BHXH còn phải kết hợp với Bộ Tài chính, Chính quyền, UBND các cấp và mạng lưới các ban chi trả BHXH ở các địa phương
Sơ đồ hệ thống tổ chức bộ máy của BHXH Việt Nam
(Xem phụ lục) Quỹ BHXH Việt Nam được hình thành từ các nguồn sau:
- Nguồn sử dụng lao động đóng bằng 15% tổng quỹ lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị
- Người lao động đóng bằng 5% tiền lương hàng tháng của mình
- Ngân sách Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để bảo đảm thực hiện các chế độ BHXH đối với người lao động
- Các nguồn thu khác
Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và được Nhà nước bảo hộ quỹ BHXH được sử dụng để chi cho 5 chế độ
mà điều lệ BHXH đã qui định Đồng thời được sử dụng để chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các ngành Phần nhàn rỗi
Trang 3được phép đầu tư để bảo tồn giá trị và tăng trưởng quĩ theo qui định của Chính phủ
Trang 434
PHẦN THỨ HAI
THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH THU NỘP BHXH
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
I GIAI ĐOẠN TR ƯỚ C 1 /10/1 995
1.Tình hình thu nộp và quản lý quỹ BHXH do Liên đoàn
Lao động Việt Nam quản lý
Trong suốt gần 34 năm quản lý BHXH, Liên đoàn Lao động
Việt Nam thu không đủ bù chi, Nhà nước thường xuyên phải hộ
trợ và đây chính là gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước trong một
thời gian dài Đặc điểm nổi bật của hoạt động BHXH trong giai
đoạn này là tổng thu BHXH đạt được rất thấp Những năm trước
1987 tỷ lệ đóng BHXH là 4,7% quỹ lương, trong đó tỷ lệ trích nộp
chi trả lương hưu chỉ là 1%, chính vì vậy tỷ trọng Ngân sách Nhà
nước hỗ trợ cho chế độ này là rất lớn Trong thời kỳ này, phần thu
dùng để chi trả cho lương hưu luôn thấp hơn phần chi trả các chế
độ BHXH tức thời (ốm đau, thai sản ) Sau này việc nâng tỷ lệ
nộp BHXH lên 15% tổng quỹ lương thì phần dành cho chi trả
lương hưu cũng đã tăng lên Tuy vậy, do số người được hưởng
lương hưu tăng nhanh, cộng thêm vào đó là khó khăn của nền kinh
tể trong những năm bao cấp, tình trạng thiếu việc làm diễn ra ở
nhiều nơi nên kết quả thu nộp BHXH đạt được thấp, Ngân sách
Nhà nước phải hỗ trợ ở mức cao, đặc biệt là từ năm 1990 với việc
thực hiên Nghị định số 176/CP và 11/CP về giảm biên chế
Để phân tích cụ thể hơn tình hình thực tế công tác thu và
quản lý quỹ BHXH trong suốt thời kỳ trước năm 1995 khi Tổng
Công đoàn Việt Nam quản lý chia thành 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn từ 1962 đến 1963
- Giai đoan từ 1964 đến 1986
- Giai đoan từ 1987 đến tháng 9 năm 1995
1.1 Giai đoạn 1962 - 1963
Ngày 27/12/1961 Chính phủ ban hành Nghị định số 218/CP
quyết định giao cho Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam (sau
này là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) quản lý các chế độ
Trang 5thu chi BHXH; theo đó quy định mức thu BHXH là 4,7% tổng quỹ lương cán bộ công nhân viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước, riêng đối với công nhân viên chức và quân nhân phục vụ trong lực lượng vũ trang thì không thu BHXH nhưng vẫn thuộc diên hưởng các chế độ, chính sách BHXH vì bộ phận này được Ngân sách Nhà nước đài thọ hoàn toàn Nguồn thu này dùng để chi trả trợ cấp cho 6 chế độ BHXH: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, mất sức lao động, khoản thiếu hụt sẽ được Ngân sách Nhà nước bù thiếu
Trên cơ sở Nghị định 218/CP, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã ra quyết định số 364/CP ngày 2/4/1962 xây dựng các nguyên tắc quản lý phân cấp thu chi các chế độ BHXH Theo quyết định thì việc quản lý quỹ BHXH được thực hiện ở 3 cấp quản lý:
- Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam là cấp tổng dự toán thu
và chi BHXH
- Liên hiệp Công đoàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
và một số Công đoàn ngành là bộ phận dự toán cấp 1
- Công đoàn cơ sở là đơn vị dự toán cấp 2
Công tác quản lý thu chi được quy định cụ thể cho từng cấp theo nguyên tắc cấp trên duyệt dự toán quý và năm cho cấp dưới Việc thu nộp BHXH từ các cấp công đoàn cơ sở lên các đơn vị dự toán cấp 1 được tính theo phương thức chênh lệch giữa số phải thu nộp với số tạm ứng chi cho các chế độ BHXH tại các đ ơn vị
dự toán cấp 2 theo quy định Cơ chế hạch toán trên đáp ứng được yêu cầu quản lý kinh tế, phù hợp với tình hình tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ ở các thời điểm này và vì vậy công tác thu BHXH
đã đạt được tỷ lệ khá so với kế hoạch đề ra, ta có thể thấy điều đ ó qua bảng 1 sau:
Trang 636
Bảng 1: TÌNH HÌNH THU BHXH CỦA TỔNG LIÊN ĐO ÀN LAO
ĐỘNG VIỆT NAM GIAI ĐO ẠN 196 2 – 1963
Số thu Bảo hiểm xã hộ i
(1 000 đ ồng )
Năm
Kế hoạch thu
Bảo hiểm xã
hộ i
(1000 đồng)
Tổng số Thực thu
(Thu 4, 7%)
NSNN hỗ trợ
Thực hiện
so kế hoạch
(%)
(1) (2) (3 ) (4) (5) (6)=(4): (2 )
1 962
1 963
1 9.975
2 2.021
1 3.055
2 0.597
13 055
20 597
-
-
6 5,36
9 3,53
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Trong giai đoạn này, Ngân sách Nhà nước không phải hỗ trợ cho việc chi trả các chế độ BHXH Điều này là do việc thực hiên BHXH đang ở trong giai đoạn đầu, nên việc chi trả thấp, chủ yếu
là chi trả cho những chế độ ngắn hạn Tỷ lệ thu nộp BHXH đạt mức 65,36% và 93,53% tương ứng với các năm 1962 và 1963
1.2 Giai đoạn 1964 - 1986
Để phù hợp với yêu cầu quản lý mới theo Quyết định số 62/CP ngày 10/4/1064 của Hội đồng Chính phủ (nay là Thủ tướng Chính phủ) giao bớt nhiệm vụ quản lý một phần của quỹ BHXH cho Bộ Nội vụ (sau này là Ngành lao động - Thương binh & X ã hội) với số thu 1% trong số 4,7% quỹ lương Trong đó, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam quản lý ba chế độ BHXH ngắn hạn là: chế độ trợ cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Bộ Nội vụ quản lý ba chế
độ BHXH dài hạn là: chế độ hưu trí, chế độ tử tuất, chế độ mất sức lao động Thực hiện Quyết định này, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đ ã cùng Bộ Nội vụ ra Thông tư số 13-NV ngày 23/4/1964 hướng dẫn công tác bàn giao nhiệm vụ thu từ quý III năm 1964 cho Bộ Nội vụ Các khoản thu BHXH trong quý I và quý II năm 1964 thuộc phần quản lý của Bộ Nội vụ sẽ được Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam bàn giao phần chênh lệch còn lại
Trang 7sau khi đã trừ đi các khoản trợ cấp thuộc trách nhiệm thanh toán của Bộ Nội vụ
Bảng 2: TÌNH H ÌNH THU N ỘP BH XH DO TỔNG CÔNG ĐOÀN LAO
ĐỘNG VIỆT NAM TỪ NĂM 19 64 – 1986
Số thu Bảo hiểm xã hộ i
(1 000 đ ồng )
Năm
Kế hoạch thu
Bảo hiểm xã
hộ i
(1000 đồng)
Tổng số Thực thu
(Thu 3 ,7%)
NSNN
hỗ trợ
Thực hiện
so kế hoạch
(%)
(1) (2) (3) (4) (5) (6)=(4): (2 )
1 964
1 965
1 966
1 967
1 968
1 969
1 970
1 971
1 972
1 973
1 974
1 975
1 976
1 977
1 978
1 979
1 980
1 981
1 982
1 983
1 984
1 985
1 986
2 0.806
2 2.692
2 6.000
2 8.030
2 9.721
3 3.086
3 4.151
3 5.779
3 4.398
3 6.216
4 3.290
4 2.376
5 3.650
6 3.684
7 3.402
7 6.082
7 9.160 121.47 4 239.49 9 294.69 3 410.26 1 203.31 5 812.90 0
19.915 18.590 21.149 26.294 27.364 37.044 49.310 57.639 48.659 51.946 54.180 65.884 69.199 85.764 59.019 92.112 96.547
1 63.417
2 40.878
3 80.303
4 97.857
2 27.547 1.0 50.8 42
19.915 18.590 21.149 23.294 21.364 25.044 29.310 30.639 31.159 34.946 39.180 42.884 47.199 64.764 73.019 79.112 81.547
127 417
219 878
310 303
445 857
208 147
940 842
-
-
-
3 000
6 000 12.000 20.000 27.000 17.500 17.000 15.000 23.000 22.000 21.000 22.000 13.000 15.000 36.000 21.000 70.000 52.000 19.400
110 000
9 5,72
8 1,92
8 1,34
8 3,10
7 1,88
7 5,69
8 5,82
8 5,63
9 0,58
9 6,49
9 0,51
1 01,20
8 7,98
1 01,70
9 9,48
1 03,98
1 03,02
1 04,89
9 1,81
1 05,30
1 08,68
1 02,38
1 15,74
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Trang 838
Trong quá trình bàn giao nhiệm vụ, Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã làm tốt nhiệm vụ hạch toán chi tiết từng khoản thu - chi BHXH, tách từng phần thu 1% và 3,7% theo yêu cầu của Nghị định 218/CP nên việc bàn giao nhìn chung không gặp khó khăn Trong năm 1964 Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã bàn giao cho Bộ Nội vụ 1 triệu đồng, với công tác chi cho ba chế
độ từ khoản thu 1% tổng quỹ lương công nhân viên chức Nhà nước Việc thực hiện công tác thu của Tổng Công đoàn Lao động Việt Nam đã gắn trách nhiệm chi cụ thể cho các cơ sở được sử dụng quỹ BHXH để chi cho công tác quản lý Vì vậy, kết quả thu 3,7% đạt khá cao, năm thấp nhất về thu BHXH cũng đạt 71,88% (1968) kế hoạch đặt ra, năm cao nhất đạt 115,74% (1986) kế hoạch, bình quân cả giai đoạn (1964 - 1986) đạt 94,12% kế hoạch thu hàng năm
Qua bảng 2 ta có thể thấy, tình hình thu nộp BHXH so với kế hoạch đặt ra được thực hiện khá tốt, hầu hết các năm đều đạt đ ược
ở mức trên 90%, đặc biệt là những năm cuối thập niên 70 và đầu
80 có nhiều năm vượt năm mức chỉ tiêu đặt ra (trên 100%) Tuy
có những năm vượt mức kế hoạch nhưng có thể thấy rõ là việc quy định tỷ lệ đóng BHXH cho các chế độ ngắn hạn chưa hợp lý bởi những năm mà vượt chỉ tiêu thu nộp BHXH cũng chính là những năm mà Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ rất lớn Đơn cử năm 1986 vượt mức kế hoạch 15,74% (là năm vượt mức kế hoạch cao nhất) nhưng cũng chính là năm Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ tới 110 triệu đồng Thực tế này đã đặt ra vấn đề phải thay đổi trong tỷ lệ đóng góp để giảm nhẹ gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời cần có sự tổ chức hợp lý hơn để nâng cao hiệu quả công tác thu BHXH
1.3 Giai đoạn từ 1986 đến tháng 9/1995
Theo Quyết định số 181/HĐBT ngày 30/10/1986 của Hội đồng Bộ trưởng, mức đóng góp vào quỹ BHXH nâng từ 3,7% lên 5% tổng quỹ lương Mục đích của việc tăng tỷ lệ thu BHXH nhằm giảm bớt phần trợ cấp của Ngân sách Nhà nước cho Tổng Công
Trang 9đoàn Lao động Việt Nam trong việc thực hiện các chế độ BHXH cho người lao động
Ngoài ra, để nâng cao trách nhiệm đóng góp BHXH của các đơn vị tham gia BHXH, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có công văn ra ngày 26/4/1989 về việc phân cấp quản lý quỹ BHXH Trên cơ sở công văn này, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã giao quyền chủ động cho công đo àn cơ sở trong việc quyết định chi các chế độ BHXH Thông qua phân cấp quản lý tỷ lệ chi các chế độ BHXH nên đã quy định cụ thể việc quản lý quỹ BHXH, xây dựng các định mức trích nộp kinh phí BHXH lên công đoàn cấp trên Hơn thế nữa, để khuyến khích các công đoàn cơ sở trong việc thực hiện thu nộp BHXH nhanh chóng kịp thời, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã đề ra chế độ trích thưởng 1% số thu được để làm quỹ khen thưởng cho đơn vị cơ sở đã thực hiện tốt công tác thu nộp BHXH Tình hình thu BHXH trong giai đoạn này được thể hiên qua bảng 3:
Bảng 3: TÌNH HÌNH THU BHXH HÀNG NĂM C ỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TỪ NĂM 1987 ĐẾN THÁNG 9/19 95
Số thu Bảo hiểm xã hộ i
(1000 đồng)
Năm
Kế hoạch thu
Bảo hiểm xã
hộ i
(1000 đồng)
Tổ ng số Thực thu
(Thu 5%)
NSNN hỗ trợ
Thực hiện so
kế hoạch
(%)
1 987
1 988
1 989
1 990
1 991
1 992
1 993
1 994
9-199 5
4.354.431
2 2.476.380
6 6.328.865
6 8.328.865
6 6.545.000
21.011 900 0
212.07 3.00 0
280.79 7.00 0
180.00 7.00 0
4 847 600 16.572 170 56.738 666 58.638 660 60.130 000
159 736 000
201 395 000
250 395 000
152 530 000
4.742.600
16 427.170
56 738.666
58 638.660
60 130.000 159.736.000 196.019.000 250.395.000 152.530.000
105 000
100 000
-
-
-
-
5 376 000
-
-
108,91 73,08 85,54 85,82 90,36 76,02 92,43 89,17 84,74
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Trang 1040
Qua bảng trên ta thấy, việc nâng mức thu từ 3,7% lên 5% tổng quỹ lương trong giai đoạn này do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý đã có những kết quả bước đầu Nếu như trong giai đoạn 1964 - 1986 Ngân sách Nhà nước thường xuyên phải cấp
bù với số tiền không nhỏ thì đến giai đoạn 1987 - 1995 sự hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước đã giảm, mặc dù phần trăm hoàn thành chỉ tiêu thu nộp còn ở mức khiêm tốn Thực tế này cho thấy, trong các giai đoạn công tác kế hoạch thu dường như chưa sát với thực tế (năm có tỷ lệ thu cao thì Ngân sách Nhà nước phải hỗ trợ nhiều và ngược lại) Cụ thể, năm 1987 thu BHXH đạt 108,91% kế hoạch, Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 105 triệu đồng trong khi đó năm 1989 thu đạt 85,54% kế hoạch nhưng Ngân sách Nhà nước không ph ải hỗ trợ
Bảng 4: TỔNG HỢP TÌNH HÌNH THU BHXH DO TỔNG LIÊN ĐOÀN
LAO ĐỘNG VIỆT NAM Q UẢN LÝ TỪ 1962 – 1995
Năm Thực thu
(1 000 đồng )
T ỷ lệ thu so với chi
(%)
Cân đ ối thu - chi
(1 000 đồng )
1962
1965
1970
1975
1980
1985
1990
1991
1992
1993
1994
9-1995
13 055
18 590
29 310
42 884
81 847 208.147 58.638 660 60.130 000
159 736.000
196 019.000
250 395.000
152 530.000
87,62 97,36 58,51 68,06 84,28 115,08 158,63 68,67 113,36 92,47 84,34 90,11
-1.8 45 -5 04 -20.785 -20.121 -15.267 27.283 21.673.232 -27.435.033 18.827.672 -15.970.616 -46.945.810 -16.740.891
(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Qua bảng 4 trên ta có thể dễ dàng nhận thấy tình hình thu BHXH trong thời kỳ 1962 – 1995 thường không đủ bù chi; đặc biệt là những năm 1991 và 1994 số thu chỉ đạt tương ứng là