1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình động cơ đốt trong ( Trường đại học Nông lâm - Huế ) part 4 pot

16 362 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ và phân loại Hệ thống bôi trơn cửa động cơ đốt trong có nhiệm vụ không ngừng cung cấp dầu bôi trơn sạch với một số lượng cần thiết ở một nhiệt độ và áp suất nhất định cho các bể

Trang 1

3.2.3.4 Bộ phận truyền động:

Bộ phận truyền động có nhiệm vụ truyền chuyển động quay từ trục khuỷu động

cơ đến trục cam và một số bộ phận khác, theo một tỷ số truyền nhất dịnh Bộ phận truyền động có thể bằng xích, các bánh răng hoặc đai răng 6 bộ phận truyền động bằng bánh răng, để giảm tiếng kêu trong quá trình ăn khớp, người ta chế tạo các bánh răng xiên hoặc bằng các vật liệu khác nhau (như thép, gang, tếchtôlít )

3.2.4 Biểu đồ phân phối khí

Đối với động cơ 4 kỳ, để tăng khả năng nạp đầy mỗi mới nạp vào trong xy lanh và xả sạch khí đã làm việc ra ngoài, nhằm nâng cao công suất động cơ, người

ta tăng thời gian mở xu páp Thời gian mở xu páp tính theo góc quay của trục khuỷu

được gọi là /hỏi kỳ phân phối khí Các thời kỳ phân phối khí có thể biểu diễn bằng

biểu dé phân phối khí (hình 3.18)

Lợi dụng sự chênh lệch áp suất và quán tính của dòng khí mà thời kỳ nạp bắt đầu sớm trước khi pít tông đến thế chết trên một góc y và đóng muộn sau khi pít tông qua thế chết dưới một góc 8 Con xu pap xả bắt đầu mở sớm trước khi pít tông đến thế chết dưới một góc và đóng muộn sau khi pít tông qua thế chết trên một góc tự Giá trị các góc mở sớm, đóng muộn ÿ, 8, ọ, / của các xu páp phụ thuộc vào nhiều yếu tố của động cơ (loại nhiên liệu, tốc độ quay của trục khuyu, kích thước và

vị trí đặt của các xu páp, hình dáng và chiều dài của ống nạp và ống xả ) Thông thường giá trị các góc mở sớm, đóng muộn nằm trong khoảng: y= 5- 20°, 8 = 30 -

70°, =40- 609, wy =5- 20°

TCT

TCD

Biểu đồ phân phối khí động cơ 4 kỳ Biểu dé phân phối khí động cơ 2 kỳ 50

Trang 2

Như vậy thời kỳ nạp khoảng 215 - 270°, thời kỷ xả khoảng 225 - 265°

Nhìn vào biểu để phân phối khí, ta thấy có một thời kỳ cả hai xu páp đều mổ đồng thời, gọi là thởi kỳ mở trùng của các xu pap Do quán tinh cla méi mới nạp và của khí đã làm việc lớn, thời gian mở trủng lại rất ngắn cho nên các luồng khí không

bị trộn lẫn vào nhau và mỗi mới nạp cũng không bị mất di theo khí đã làm việc

Ở các động cơ 2 kỷ buồng thổi tay quay, các thởi kỳ phân phối khí khác ở động cơ 4 kỷ rất nhiều: thời kỳ nạp và xả trong khoảng 90 - 140° xung quanh thế chết dưới (hình 3.19) Sổ đĩ như vậy là vì các quá trình nạp và xả ở những động cơ 2

kỳ chỉ được thực hiện trong một khoảng chạy tương đối nhỏ của pít tông

3.2.5 Chăm sóc hệ thống phân phối khí

Chăm sóc hệ thống phân phối khí bao gồm định kỷ quan sát, kiểm tra, xiết chặt và điều chỉnh khe hở nhiệt của xu páp

Trong quá trình động cơ làm việc đo các chỉ tiết như: cam, con đội, cần đẩy, đón gánh, xu pap bi mon đi, vít điều chỉnh cũng có thể bị nói lỏng, cùng với các nguyên nhân khác làm cho khe hổ nhiệt của xu páp bị sai lệch Khe hỏ bị giảm sẽ làm cho xu páp không đặt khít vào ổ đặt, làm giảm áp suất trong xy lanh động cơ Khe hở tăng lên thì xu pap bị va đập trong quá trình làm việc (có tiếng gõ) do đó làm cho xu páp và ổ đặt xu páp chóng mòn Ngoài ra khe hở tăng lên làm rút ngắn thởi kỳ mở xu páp, gây nên hiện tượng nạp không đẩy, xả không sạch, làm giảm công suất của động cơ

Người ta thưởng dùng thước lá để kiểm tra khe hở nhiệt cha xu pap (chú ý kiểm tra khi con đội nằm trên phân hình trụ của cam tức là khi xu páp đóng hoàn toàn) Nếu kiểm tra thấy khe hớ thực tế lớn hơn hay nhỏ hơn khe hổ quy định thi phải tiến hành điều chỉnh bằng cách nói đai ốc hãm của vít điều chính ra, rồi dùng tuốc nơ vít vặn vào hay nới ra cho tới khi có được khe hở cần thiết, sau đó xiết đai

ốc hãm lại Thông thường người ta kiểm tra điều chỉnh lần lượt từng xu páp một

3.3 HỆ THỐNG BÔI TRƠN

3.3.1 Nhiệm vụ và phân loại

Hệ thống bôi trơn cửa động cơ đốt trong có nhiệm vụ không ngừng cung cấp dầu bôi trơn sạch với một số lượng cần thiết ở một nhiệt độ và áp suất nhất định cho các bể mặt ma sát của các chỉ tiết máy khi động cơ làm việc, nhằm làm giảm hao

$1

Trang 3

tổn công ma sát và giảm độ hao mỏn các chỉ tiết máy; làm nguội các bề mặt bị nóng

lên do ma sát; làm sạch muội than và mạt kim loại do các chỉ tiết máy bị mài mòn

sinh ra ở trên các bể mặt làm việc; đồng thởi bảo vệ cho các chí tiết máy không bị ôxy hóa và làm tăng độ kín sát giữa các cặp lắp ghép

Động cơ đốt trong sử dụng nhiều loại hệ thống bôi trơn khác nhau, đó là bôi trơn theo phương pháp vung dầu, bôi trơn bằng cách pha dau nhén trong xang va bôi trơn theo phương pháp cưỡng bức Tủy thuộc vảo loại động cơ, diều kiện làm việc mà trang bị cho động cơ hệ thống bôi trơn thích hợp

Bồi tran theo phương pháp vụng đầu:

Khi động cơ làm việc, dầu nhởn ở đáy các te bị các chỉ tiết máy chuyển động (như biên, trục khuỷu ) vung lên bám vào các bể mặt làm việc của các chỉ tiết máy cần được bôi trơn như xy lanh, pít tông, vòng găng Ngoài ra một phần dầu vung lên ở dạng sương mù sẽ rơi hay đọng lại ổ kết cấu hứng dâu của một số chỉ tiết máy cần bôi trơn như đầu trên biên Phương pháp bôi trơn theo kiểu vung dầu rat don giản, nhưng nó có nhược diểm là lượng dầu bôi trơn phụ thuộc rất nhiều vào mức đầu nhỏn chứa trong các te, vị trí của động cơ khi chuyển động lên xuống dốc

và số vòng quay của trục khuyu, cho nên khó đắm bảo bôi trớn an toàn cho động cơ

Boi tron bang cach pha đầu nhờn trong xăng:

Phương pháp này được sử dụng ở động cơ xăng hai kỳ buồng thối tay quay Việc bôi trơn cho các chỉ tiết ma sát được thực hiện bằng cách pha dầu nhởn vào trong xăng với một tỉ lệ thích hợp, thưởng là 2 - 5 % Hỗn hợp của dầu nhỏn và xăng được nạp vào xy lanh, các hạt dầu lẫn trong hỗn hợp ngưng đọng bám lên bể mặt ma

sát của các chỉ tiết máy Cách bôi trơn này đơn giản và thực tế không cẩn đến "hệ

thống bôi trơn" Nhưng nó có nhược điểm là chế độ bôi trơn không hoàn háo và dễ tạo thành muội than Nếu pha dau nhén quá nhiễu thì chế độ bôi trơn tốt, nhưng trong buồng đốt hình thành nhiều muội than, dễ làm cho pít tông quá nóng, sinh ra hiện tượng cháy sớm và bugi bị bám nhiều muội gây nên doắn mạch Nếu pha dầu nhờn quá ít thì chế độ bôi trơn kém, pít tông dễ bị bó kẹt và các chỉ tiết ma sát chóng mỏn Đa số các động cơ xăng 2 kỷ hiện nay, người ta chứa đầu nhởn vào một

bộ phận riêng và có bộ phận tự động pha dầu nhởn vào trong xăng theo một tỈ lệ chuẩn xác phủ hợp với các chế độ lam việc của động cơ Đặc biệt có một số động cơ dùng bơm phun dầu nhỏn trực tiếp vào họng khuyếch tán hay vị trí cánh bướm hỗn hợp Bơm được điều chính theo sé vong quay của động cơ và vị trí cánh bướm hỗn 52

Trang 4

hợp nên định lượng dầu nhởn hòa trộn rất chính xác và có thể tối ứu hóa đối với các chế độ tốc độ và tải trọng khác nhau của động cơ

Bồi tron theo phương pháp cưỡng bức:

Phương pháp này được sử dụng ở hầu hết các động cơ đốt trong hiện nay và côn có tên gọi là bôi trơn bằng áp suất, Dầu nhờn được dẫn tới các bể mặt làm việc bằng các ống đẫn dưới một áp suất nhất định do bơm dầu nhỏn tạo ra Vì vậy đảm bảo đủ lưu lượng dâu để bôi trơn cho các chỉ tiết máy cần bôi trơn, đồng thởi góp phan lam mát và rửa sạch các mạt kim loại trên bề mát ma sát khi động cơ làm việc Tùy theo ví trí chứa dẫu, hệ thống bôi trơn cưỡng bức được phân thành hai loại: hệ

thống bôi trơn các te ướt và hệ thống bôi trơn các te khô

Phương pháp bởi trơn cưỡng bức rất thuận lợi cho việc bôi tron các gối đỡ và

một số chỉ tiết của hệ thống phân phối khí Nhưng phương pháp này lại kém hiệu

quả khi bôi trơn mặt gương xy lanh và nhóm pít tông Vì vậy, đa số các động cơ đốt

trong 4 kỷ hiện nay dùng hệ thống bôi trơn kiểu phối hợp, nghĩa là đối với các chỉ tiết máy làm việc trong điều kiện tải trọng nặng nể thì được bôi trơn bằng cưỡng bức, cỏn các chỉ tiết máy làm việc trong điễu kiện tải trọng thấp hơn vả các chỉ tiết máy khó thực hiện việc bôi trơn bằng cưỡng bức thì được bôi tron bằng phương pháp vung dâu

3.3.2 Sơ đồ hệ thống bôi trơn cưỡng bức

3.3.2.1 Sơ đồ hệ thống bôi trơn cưỡng bic các te Hồt:

Sơ đổ hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te ướt được trình bày trên hình 3.20 Bơm dẫu nhồn được dẫn động tử trục khuýu hoặc trục cam Khi động cơ làm việc, dẫu nhỏn trong đáy các te được hút vào bơm qua phao hút dẫu Phao hút dâu có lưới chắn để loại bỏ các tạp chất có kích thước lón Sau khi dầu nhởn bơm lên được chia làm hai nhánh Một nhánh dầu nhỏn qua két dầu để làm mát, rồi trở về các te Một nhánh dầu nhờn qua bình lọc sơ Ở bình lọc sơ, dâu nhờn được làm sạch các tạp chất tương đối lón, sau đó được dẫn đến mạch dầu chính trong thân động cơ đi bôi tron cho trục khuỷu, trục cam, các bánh răng truyền động Tử trục cam thông thưởng dầu được dẫn lên bôi trơn tiếp cho trục đòn gánh, bạc hướng dn xu pap Còn các chỉ tiết khác như bạc đầu trên biên, trục pít tông, xy lanh thì thưởng được bôi trơn bằng phương pháp vung đầu Nhưng ở một số động cơ, trong thân biên có khoan một rãnh

doc để dẫn dầu tử cổ biên của trục khuyu lên bôi trơn cho các chỉ tiết này.

Trang 5

Một phần dầu nhờn (khoảng 15 - 20%) tử mạch dầu chính được dẫn đến bình lọc tỉnh, tại đây dầu được lọc sạch các tạp chất cơ học, dù là rất nhỏ rồi chảy trở về các te động cơ

Trong hệ thống bôi trơn loại này có ba cái van: van xả, van an toàn và van nhiệt Van xả của bơm dầu nhòn có tác dụng xả bót dầu nhờn về các te khi áp suất vượt quá quy định, giữ cho áp suất dầu không đổi khi động cơ làm việc với các tốc

độ vòng quay khác nhau Van an toàn cho phép dầu nhờn đi thẳng vào mạch dầu chính khi bình lọc sơ bị tắc, đảm bảo cung cấp liên tục dầu nhờn cho các bề mặt làm việc cửa động cơ Van nhiệt khống chế lưu lượng dầu nhờn qua két dầu làm mát Khi nhiệt độ dầu lên quá cao (khoảng 80°C), độ nhớt sẽ giảm, van sẽ đóng hoàn toàn để dầu nhờn qua két dầu làm mát rồi trổ vẻ các te

Hình 3.20

Sơ đồ hệ thống bôi trơn các te ướt

1- Các te dầu nhờn; _2- Phao hút dâu; 3- Bơm dầu nhờn; 4- Van xả; 5-Bình lọc sơ; 6- Van an toàn; \7- Déng hé bao áp suất dầu; 8- Mach dau chinh; 9- Binh loc tinh;

10- Két dầu; 11- Van nhiệt; 12- Đồng hồ báo nhiệt độ dâu; 13- Thước thăm dau

54

Trang 6

Do toàn bộ dầu nhờn chứa trong các te động cơ nên các te phải sâu để có dung tích chứa lớn, do đó làm tăng chiều cao của động cơ Ngoài ra, dầu trong các

te luôn luôn tiếp xúc với khí cháy có nhiệt độ cao tử buồng đốt lọt xuống mang theo hơi nhiên liệu và các hơi a xít, làm giảm tuổi thọ của dầu nhờn

3.3.2.2 Sơ đồ hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te khô:

Sơ đồ hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te khô được trình bày trên hình 3.21

Hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te khô khác cơ bản với hệ thống bôi trơn cưỡng bức các te ướt ở chỗ là có thêm một đến hai bơm dâu, làm nhiệm vụ chuyển dầu nhờn sau khi bôi trơn chảy xuống các te, tử các te qua két dầu làm mát về thùng chứa dầu đặt bên ngoài động cơ Từ đây, dầu nhờn được bơm di bôi trơn giống như

hệ thống bôi trơn các te ưót đã trình bày ở trên Do phần lón dầu nhờn được chứa vào một thùng riêng đặt ngoài động cơ nên hệ thống bôi trơn các te khô khắc phục được những nhược điểm của hệ thống bôi trơn các te ướt Nhờ vậy chiều cao động

cơ giảm xuống, tuổi thọ của dầu nhờn dược tăng lên Ngoải ra động cơ có thể làm

việc lâu dài ở địa hình đốc mà không sợ thiếu dầu do phao không hút được dầu Tuy nhiên, hệ thống này phức tạp hơn vì có thêm bơm chuyển dâu Người ta thưởng sử dụng hệ thống này cho động cơ điêden lắp trên máy ủi, xe tăng, tàu thủy

Hình 3.21 Sơ đô hệ thống bôi trơn các te khô

1- Thùng dâu; 2- Bơm dâu nhòn; 3- Bom chuyển; 4- Các te động cơ;

5- Bình lọc sơ; 6- Đồng hồ báo áp suất dầu; 7- Mạch dầu chính;

8- Binh loc tinh; 9- Đồng hồ báo nhiệt độ dầu; 10- Két dầu

55

Trang 7

3.3.3 Các bộ phận chính cửa hệ thống bôi trơn cưỡng bức

Hệ thống bôi trơn cưỡng bức thường có các bộ phận chính: bơm dầu nhờn, các bình lọc, két dầu, các ống và rãnh dẫn dầu, các đồng hồ báo áp suất dầu và nhiệt độ dầu

3.3.3.1 Bơm dầu nhờn:

Bơm dầu nhờn dùng để cung cấp dầu nhòn đến các bề mặt làm việc của các chỉ tiết máy khi động cơ làm việc với một số lượng và áp suất cần thiết Bơm dầu

nhờn có nhiều loại: bơm bánh răng, bơm cánh gạt, bơm rô to, bơm pit tong Nhưng hiện nay hau hết các loại động cơ đốt trong dùng bơm bánh răng và bơm cánh gạt vì cấu tạo đơn giản, làm việc chắc chắn và cung cấp dầu được liên tục

Bơm bánh răng: Sở đỗ cấu tạo

của bơm dầu nhỏn kiểu bánh răng

được trình bày trên hình 3.22, gồm có

hai bánh răng lắp trên hai trục chủ

động và phụ dộng, đặt trong một vỏ

bơm bằng gang Hai đầu của trục chủ

động và phụ động được đặt trong các

ống bạc bằng đồng để giảm ma sát

Bom dau nhén phần lón được

đặt trong các te động cơ, được dẫn

động tử trục khuỷu hoặc trục cam Khi

động cơ làm việc, qua bộ phận dẫn

động làm cho trục chủ động của bơm

quay, hai bánh răng chủ động và phụ

động quay ngược chiều nhau, dầu

nhờn qua phao hút dầu đến ống hút và

được hút theo các khe hở giữa răng

của bánh răng với vỏ bơm, sau đó

được đưa lên ống đẩy tới bình lọc sơ

và két dầu làm mát

SS

Qh A >

SATIN JN Y/} KK

wwwwt

Hình 3.22 Sơ đồ bơm bánh răng

I- Ông hút

2- Ong day

3-Trục chủ động

4- Bánh răng chủ động

5- Trục phụ động

6- Bánh răng phụ động

7- Thân bơm

§- Van xả

Để khống chế áp suất dầu bơm lên, ở phía ống đẩy có đặt một cái van xả, gồm lỏ xo và viên bi cầu Khi áp suất dầu tăng quá mức quy dinh sẽ thắng sức căng

lò xo của van, van mở ra để xả bót một phần dầu về các te

Hiện nay, trên một số động cơ lắp trên xe ô tô du lịch, do yêu cầu kết cấu gọn nhẹ người ta dùng bơm bánh răng ăn khóp trong

56

Trang 8

Bơm cánh gạt: Sơ đồ cấu tạo của bơm cánh gạt được trình bày trên hình 3.23, gồm có thân bơm, rô to và các cánh gạt Rô to lắp lệch tâm với thân bơm và có các rãnh để lắp các cánh gạt Khi rô to quay, do lực ly tâm và lực ép của lỏ xo các cánh luôn luôn tì sát bề mặt thân bơm, tạo thành các không gian kín và nhờ đó bơm được dầu tử ống hút có áp suất thấp sang ống đẩy có áp suất cao Bơm cánh gạt tuy cấu tạo đơn giản, nhỏ gọn, nhưng có nhược điểm cơ bản là bể mặt tiếp xúc giữa cánh gat

và thân bơm mòn rất nhanh Hình 3.23 Sơ đồ bơm cánh gạt §

1- Ống hút

2- Than bom

3- Trục bơm

4 Ống đẩy

5- Lo xo

6- Canh gat

Trong một số động cơ tĩnh tại và một số động cơ lắp trên tàu thủy, còn lắp thêm bơm tay hoặc bơm điện để cung cấp dầu nhờn đến các bề mặt ma sát và diễn đây các đường ống dẫn dầu trước khi khdi động động cơ

3.3.3.2 Binh lọc dâu nhờn:

Bình lọc dầu nhờn dùng để lọc sạch các tạp chất trong dầu nhờn trước khi dưa dầu nhờn đi bôi trơn, bởi vì nếu trong dầu nhờn có lẫn các tạp chất như mạt kim loại, bụi bẩn, muội than thì sẽ làm cho các bề mặt làm việc bị cháy, bị cào xước hoặc tắc ống dẫn dau gay ra những hư hỏng đáng tiếc

Bình lọc dầu nhòn có hai loại: bình lọc sơ và bình lọc tỉnh

Trong hệ thống bôi trơn thông thưởng, dầu nhờn trước khi dẫn di bôi trơn được lọc qua bình lọc sơ Cấu tạo của bình lọc sơ phổ biến là các cuộn lọc bằng lưới kim loại, các băng lọc, đĩa lọc xếp chồng lên nhau có những lỗ tương đối lón, chỉ lọc được các tạp chất lớn hơn 0,05 đến 0,10 mm Còn bình lọc tỉnh có khả năng lọc các tạp chất có kích thước nhỏ hơn, có thể nhỏ đến 0,Iiìm Do sức cẩn rất lón, năng suất thấp, bình lọc tỉnh ở một số động cơ chỉ có tác dụng lọc một phần dầu bơm lên rồi lại trả về đáy các te, phần nào hỗ trợ cho bình lọc sơ, làm cho dầu nhờn ở đáy các te hoặc ở thùng chứa sạch hơn Bình lọc tỉnh có thể là bình lọc thấm qua các cuộn lọc bằng giấy, các tông, len dạ , có thể là bình lọc ly tâm phản lực Hình 3.24

57

Trang 9

trình bày sơ đổ cấu tạo một loại bình lọc thấm dùng cuộn loc bằng dạ Dâu nhờn sau khi thấm qua lối lọc bằng dạ sẽ chui vào các lỗ trên trục bình lọc rồi trở về các

te Bình lọc thấm loại này có khả năng lọc dầu rất sạch nhưng chóng bị bẩn, sau một thời gian sử dụng phải thay thế, không dùng lại được

Hình 3.24

So dé bình lọc thấm

1- Thân bình lọc

2- Đường dầu vào

3- Cuộn lọc bằng dạ

4- Nắp bình lọc

5- Truc binh loc

6- Đường dâu ra

Bình lọc ly tâm phản lực (hình 3.25) gồm có một rôto bằng hợp kim nhôm được lắp trên vòng bi dé va quay quanh một trục rỗng gắn vào thân bình loc Phan dưới của rôto có lắp hai vòi phun ngược chiều nhau Dưới tác dụng phản lực của các tỉa dầu phun từ hai voi phun, rô to quay và được nâng lên tì vào vít diều chỉnh phía trên Các tạp chất cơ học (cặn bẩn) có tỉ trọng lón hơn tỉ trọng của dầu nhỏn, nhận được lực ly tâm văng ra bám vào xung quanh thành phía trong của rôto Khi động

cơ làm việc với số vòng quay bình thưởng, nhiệt độ dầu trong các te khoảng 80 -

§5°C thì rôto quay với tốc độ khoảng 5000 - 6000 vỏng/phút

Hình 3.25

Sơ đồ bình lọc ly tâm phản lực

1- Thân bình lọc

2- Đường dau về các te

3- Đường dầu dẫn đến bình lọc

4- Van an toàn

5- Đường dầu dẫn đi bôi tron

6- Vòng bi đỡ

7- Rô to

8- Vòi phun

9- Vít điều chỉnh

58

Trang 10

Bình lọc ly tâm phần lực có hai loại: Bán phân và toàn phản Đối với loại bình lọc ly tâm phản lực bán phần thì không có đường dâu dẫn đi bôi trơn Chỉ có khoảng 15% dầu nhờn do bơm cung cấp đi qua bình lọc ly tâm phản lực bán phần, được lọc sạch qua hai vỏi phun rồi trổ về các te Bình lọc ly tâm phản lực bán phần đóng vai trò như bình lọc tỉnh trong hệ thống bôi trơn Đối với bình lọc ly tâm phan lực toàn phần thì toàn bộ lượng dầu do bơm cung cấp đều di qua bình lọc ly tâm phản lực Một phần dầu phun qua hai voi phun (khoảng 15 - 20%) thì được xả trực tiếp trổ về các te, phần cỏn lại không có tạp chất theo ống dẫn trong thân bình lọc di bôi trơn cho bể mặt làm việc các chỉ tiết máy của động cơ Sơ dé bình lọc ly tâm phản lực trên hình 3.25 chính là loại bình lọc này Sử dụng loại bình lọc này có ưu diểm: khả năng lọc tốt hơn nhiều so với phương pháp lọc thấm và không phải thay các phân tử lọc Nhưng trong quá trình động cơ làm việc, theo thời gian, cặn bẩn lưu giữ phía trong bình lọc ngày càng nhiều lên, làm giảm khả năng lọc của bình lọc

Do đó định kỳ phải tháo bình lọc, làm sạch cặn bẩn bám phía trong thành rô to

Sơ đồ hệ thống bôi trơn dùng bình lọc phản lực ly tâm toàn phần được trình bày trên hình 3.26

Ngoài các loại bình lọc nêu trên, để thu gom mạt sắt lẫn trong dầu nhỏn, thông thưởng nút tháo dầu ở đáy các te của một số động cơ cỏn gắn một thanh nam châm vĩnh cửu gọi là bộ lọc từ tính

Đã lọc

Hình 3.26

So dé hệ thống bôi trơn dùng bình lọc phản lực ly tâm toàn phần

I- Các te dau nhỏn; 2- Bom dau nhén; 3- Van xa; 4- Binh loc ly tam;

5- Két dau; 6- Mach dau chính

59

Ngày đăng: 08/08/2014, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  3.21.  Sơ  đô  hệ  thống  bôi  trơn  các  te  khô - Giáo trình động cơ đốt trong ( Trường đại học Nông lâm - Huế ) part 4 pot
nh 3.21. Sơ đô hệ thống bôi trơn các te khô (Trang 6)
Hình  3.22.  Sơ  đồ  bơm  bánh  răng - Giáo trình động cơ đốt trong ( Trường đại học Nông lâm - Huế ) part 4 pot
nh 3.22. Sơ đồ bơm bánh răng (Trang 7)
Hình  3.28  tre) - Giáo trình động cơ đốt trong ( Trường đại học Nông lâm - Huế ) part 4 pot
nh 3.28 tre) (Trang 12)
Hình  3.31.  Sơ  đồ  hệ  thống  làm  mát  đối  lưu  tự  nhiên  I-  Xy  lanh  động  cơ;  2-  Áo  nước;  3-  Quạt  gió;  4-  Két  nước - Giáo trình động cơ đốt trong ( Trường đại học Nông lâm - Huế ) part 4 pot
nh 3.31. Sơ đồ hệ thống làm mát đối lưu tự nhiên I- Xy lanh động cơ; 2- Áo nước; 3- Quạt gió; 4- Két nước (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w