Với đặc tính ưu việt của mình, các máy điện ngày càng được sử dụng nhiều, số người tiếp xúc với điện cũng tăng lên.. Khác với các máy móc thiết bị khác, nguy hiểm về điện nhiều khi khó p
Trang 1Trước khi đánh búa phải quan sát người xung quanh Đối với các khu vực hẹp có nhiều người sử dụng búa thì không được đứng đối diện nhau Khi đánh búa cấm mang găng tay Thường xuyên nhúng đầu búa vào nước để búa không bị bong cán Đang
đánh búa nếu thấy hiện tượng không bình thường phải dừng lại kiểm tra rồi mới tiếp tục làm nếu cán búa có mồ hôi phải thường xuyên lau khô Không đánh búa lên mặt búa, đánh lên các bề mặt tôi cứng Lúc quai phải hết sức tập trung không nói chuyện
4.10.2 Đục
Đục phải dài đủ tay cầm, không để tòe đầu Tôi đục chỉ tôi đầu lưỡi Khi dùng búa quai đục nhất thiết phải có kẹp bằng tre, cao su, cấm trực tiếp cầm bằng tay
4.10.3 Cờ lê
Không được sử dụng những cờ lê bị nhờn, có vếtt rạn nứt Lúc vặn các đai ốc phải
đứng vững, cầm chặt Làm trên cao, chỗ treo leo phải đề phòng ngã hoặc cờ lê rơi xuống người phía dưới Vặn các đai ốc lớn nếu cần thiết nối thêm tuýp Cấm nối ống tuýp với những cờ lê sử dụng hai đầu hoặc khi vặn các đai ốc ở trên cao
Dùng clê tháo đai ốc bị gỉ lâu ngày phải thận trọng tránh làm vẹt đầu đai ốc, trượt
cờ lê gây tai nạn
4.10.4 Giũa và dao gọt
Giũa và dao gọt phải có cán Không sử dụng giũa, dao gọt, không có cán hoặc cán
bị nứt Không dùng tay, mồm thổi mạt sắt đồng khi giũa gọt Phải dùng bàn chải, chổi hoặc giẻ phủi chúng Cấm dùng chuổi giũa làm mũi đột, tua vít Giũa gọt xong phải để giũa và dao nằm gọn không để đứng
4.10.5 Êtô
Êtô phải lắp chắc chắn, khoảng cách hai êtô trên một bàn không nhỏ hơn 1 mét và phải có tấm chắn giữa Cấm không dùng búa đánh vào tay đòn hoặc đu người trên tay
đòn để xiết êtô Miệng các êtô phải có đệm lót bằng kim loại có mặt ma sát Không sử dụng êtô mà các miếng kim loại lót bị hỏng hay không còn khả năng bám chặt chi tiết
4.10.6 Pa lăng, ròng rọc
Trước khi sử dụng phải kiểm tra thiết bị an toàn của pa lăng sau đó cho pa lăng, ròng rọc chạy thử nếu thấy an toàn mới sử dụng Các móc treo ròng rọc chạy thử nếu thấy an toàn mới sử dụng Các móc treo ròng rọc, pa lăng và mối buộc tải trọng phải chắc chắn không xê dịch khi chịu tải Khi nâng tải trọng nên khoảng 100mm cần ngưng lại để kiểm tra an toàn rồi mới nâng tiếp Chỉ được phép sử dụng đúng tải trọng cho phép của pa lăng, ròng rọc Khi tải trọng ở vị trí treo, ngừng làm việc phải hạ cùng
1 tải trọng Nếu cùng một lúc sử dụng 2 ròng rọc, để nâng hạ cùng một tải trọng thì tốc
độ nâng hạ các ròng tọc đều nhau và phải do sỹ quan chỉ huy Cấm mọi người làm việc dưới tải trọng Nếu pa lăng điện kiểm tra hộp nút điều khiển có mát điện không rồi mới
điều khiển
4.10.7 Máy khoan
Trước lúc khoan phải kiểm tra an toàn của máy, cho máy chạy thử không tải Đầu cặp áo khoan phải kẹp chặt mũi khoan, không được sử dụng áo khoan, đầu cặp có hiện tượng hư hỏng Các chi tiết khoan phải kẹp chặt có hiện tượng hư hỏng Các chi tiết khoan phải kẹp chặt trực tiếp hoặc qua bộ gá xuồng máy Cấm dùng tay để giữ chi tiết
Trang 2khoan Khi khoan phải cho mũi khoan ăn từ từ Muốn thay đổi tốc độ phải dừng hẳn máy Khi máy đang chạy không dùng tay gỡ phoi Máy còn chạy theo đà quán tính không dùng tay hãm trục chính Cấm sử dụng các mũi khoan cùn, có hiện tượng rạn nứt Khi thay mũi khoan phải chờ máy cho máy dừng hẳn Khoan các chi tiết kim loại dẻo bằng lưỡi khoan ruột gà phải mài thêm rãnh bẻ góc Cấm dùng găng tay khi làm việc
4.10.8 Máy mài
Trước khi cho máy phải kiểm tra đá mài, bu lông bắt đa, bệ tỳ, bao che và chiều quay của đá xem có đảm bảo an toàn không Cấm sử dụng máy mài không có hộp bao che chắn đá và không có bệ tỳ Hộp bao che chắn phải chắc Góc mở của hộp bao phải
đúng yêu cấu kỹ thuật Máy mài không có kính chắn bụi cho phép làm việc nhưng nhất thiết phải đeo kính phòng hộ Cấm sử dụng máy khi đá bị mẻ, rạn nứt, bị mòn phần đá nhỏ hơn 3mm tính từ mép mặt bích Máy mài hai đá mài, cấm mài khi trên máy chỉ còn một đá mài Cấm mài các kim loại mền như đồng, nhôm và gỗ cao su trên máy mài hai đá
Khi mài chi tiết cấm đứng đối diện với phần hở của hộp bao che Quá trình làm việc
đá bị mong phải điều chỉnh hệ - tỳ sao cho khe hở của bệ tỳ và đá không lớn quá 3mm
Mà chi tiết không được tỳ quá mạnh, không mài một điểm Cấm mài hai người trên cùng 1 đá Khi mài các chi tiết có nhiều bụi phải có thiết bị hút, thổi bụi
4.11 Kỹ thuật an toàn khi hàn, cắt kim loại
Khi hàn cắt kim loại trên các tàu cần thực hiện các yêu cầu kỹ thuật an toàn lao
động sau:
Hàn cắt trong hầm kín, thùng kín, bể chứa phải được thông gió tốt Trường hợp đặc biệt không thông gió được phải có biện pháp an toàn trước khu xuống hàn, cắt Hàn cắt trong hầm kín phải bố trí hai người, một người ở ngoài quan sát theo dõi cấp cứu khi cần thiết
Hàn cắt sửa chữa các hầm, bể chứa nhiên liệu dễ cháy nổ hoặc chất độc hại phải tẩy rửa kiểm tra nồng độ khí cháy, chất độc dưới mức qui định mới được tiến hành làm việc
Khi hàn trên giàn giáo hoặc giá treo, trường hợp không làm được giàn giáo phải mang dây an toàn Hàn cắt trên cao mà phía dưới có người qua lại phải có tấm chắn Phòng ngừa vật liệu gây tan nạn Tuyệt đối cấm tiến hành hàn cắt các ống, thùng, bình chứa đang chịu áp lực Trước khi hàn phải mở nắp xả khí Cấm tiến hành hàn cắt
điện, hơi đồng thời cùng một lúc trong các thùng , các bể chứa kín
Trang 3Chương 5
Kỹ thuật an toμn điện tμu thủy mục tiêu:
Trang bị cho học sinh ngành máy tàu biển hiểu được những vấn đề chung về việc phân công, tổ chức lao động cũng như việc trang bị bảo hộ lao động trên tàu thủy
Hình thành những tác phong công nghiệp, an toàn trong lao động và sản xuất Tạo những đức tính cẩn thận, từng bước cải thiện điều kiện lao động đảm bảo sức khỏe lâu dài cho người sản xuất
Nội dung chính:
Giới thiệu những kỹ thuật cần thiết trong quá trình khai thác, vận hành thiết bị điện tàu thủy để ngăn ngừa sự nguy hiểm xảy ra cho người sử dụng
Hình thức học tập:
Học lý thuyết trên lớp
Phương pháp đánh giá:
- Phương pháp đánh giá: Kiểm tra tự luận, kiểm tra miệng, đàm thoại trong bài giảng
- Câu hỏi ôn tập:
Trình bày những ảnh hưởng của điện đến con người?
Trình bày kỹ thuật an toàn khi khai thác điện trên tàu thủy?
5.1 Khái niệm chung
Điện là một năng lượng có tác dụng rất lớn trong đời sống xã hội Nó được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, trong sinh hoạt và các ngành kinh tế khác Với đặc tính ưu việt của mình, các máy điện ngày càng được sử dụng nhiều, số người tiếp xúc với điện cũng tăng lên
Trên tàu thủy đại đa số các máy móc thiết bị, máy móc phụ đều sử dụng thiết bị
điện Mặt khác để giảm trọng lượng kích thước thiết bị điện trên tàu vấn đề ứng dụng
điện áp cao cũng ngày càng được phát triển rộng rãi
Thiết hiểu biết về an toàn điện, không tuân thủ các nguyên tắc về kỹ thuật an toàn
điện có thể gây tai nạn Khác với các máy móc thiết bị khác, nguy hiểm về điện nhiều khi khó phát hiện bằng giác quan như nhìn nghe mà chỉ có thể biết được khi tiếp xúc với các phần tử mang điện, song lúc đó có thể bị chấn thương trầm trọng, thậm chí chết người
Những loại điện có điện áp từ 100 - 200V trở lên gây tác hại rất lớn cho người, chưa
kể đến loại có điện áp lớn trên 1000V Các đại lượng đặc trưng cho tác dụng của dòng
điện, điện áp, thời gian tác dụng, đường đi qua cơ thể, tần số dòng điện, các đại lượng này đều có những trị số nguy hiểm cho con người
Thực chất tác dụng chủ yếu của tai nạn về điện là do dòng điện gây ra chứ không phải do điện áp Tuy nhiên khi quy định về an toàn điện thường có tính theo điện áp và dùng khái niệm điện áp cho phép vì nó xác định cụ thể hơn
Các tai nạn về điện chủ yếu là do các nguyên nhân như vi phạm các qui trình, nguyên tắc sử dụng trang thiết bị điện, coi thường sự nguy hiểm hoặc chưa hiểu biết
Trang 4hết những nguy hiểm do dòng điện gây ra với con người Trang bị bảo hộ lao động không đảm bảo phẩm chất, mất khả năng cách điện Ngoài ra cũng có một số tai nạn
điện xảy ra do sự rủi ro ngoài dự kiến
Để tiện xem xét nghiên cứu và đưa ra các quyết định kỹ thuật an toàn điện tàu thủy chúng ta có thể chia trang thiết bị điện trên tàu thành 3 nhóm: các máy móc thiết bị sử dụng điện, các dụng cụ điện xách tay, trạm phát và bảng phân phối điện trên tàu
5.2 ảnh hưởng của điện đối với con người
5.2.1 Điện trở của người
Cơ thể người do rất nhiều thành phần cấu tạo lên (khoảng 58 chất hữu cơ khác nhau) nhìn chung nước chiếm 68% -70% cơ thể người có thể coi như một điện trở Lớp sừng trên da (dày khoảng 0,05 -0,2mm) có điện trở lớn nhất, xương và da điện trở tương đối lớn còn thịt và máu thì điện trở bé Khi người tiếp xúc với một mạng điện, nếu da khô ráo không có thương tích gì thì điện trở của người có thể đến 10.000 hay 100.000 Ω và nếu mất hết lớp sừng trên da điện trở cong 80- 1000 Ω và nếu mất hết lớp da thì điện trở người chỉ 600-800Ω Điện trở của người không phải là trị số cố định
mà thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố,chủ yếu là tình trạng của da, chiều dày lớp sừng, diện tích và trị số điện áp, thời gian tác dụng
Nếu da người bị ướt hay có mồ hôi thì điện trở giảm xuống Diện tích tiếp xúc càng lớn thì điện trở càng nhỏ Khi dòng điện tăng lên da sẽ bị nóng lên người có mồ hôi do
đó điện trở giảm xuống, Thời gian tác dụng của dòng điện càng lâu thì điện trở người
sé giảm xuống vì da sẽ bị nóng lên, mồ hôi ra càng nhiều và vì những biến đổi điện phân trong cơ thể con người Điện áp đặt vào người cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến
điện trở của người Khi điện áp tăng lên thì điện trở của người giảm xuống
Khi người tiếp xúc với mạng điện sẽ có dòng điện chạy qua người và con người chịu sự tác động của dòng điện
5.2.2 Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể con người
Có thể chia tác động của dòng điện với cơ thể con người làm hai loại: Tác dụng kích thích và tác dụng gây chấn thương
Phần lớn các trường hợp chết người vì điện giật là do tác dụng kích thích gây nên
Đặc điểm của nó là dòng điện qua người bé, điện áp đặt vào người không lớn nắm thời gian dòng điện, vì điện trở của người còn lớn, dòng điện qua người còn bé, tác dụng của nó chỉ làm cho bắp thịt tay,các ngón tay co quắp lại Nếu nạn nhân không rời khỏi vật mang điện, vì điện trở của người còn lớn,dòng điện qua người còn bé, tác dụng của nó chỉ làm cho bắp thịt tay,các ngón tay co quắp lại Nếu nạn nhân không rời khỏi vật mang điện càng lâu càng nguy hiểm vì người không có khả năng tách rời khỏi vật mang điện càng lâu càng nguy hiểm vì người không còn khả năng tách rời khỏi vật mang điện, đưa đến sự tê liệt tuần hoàn và hô hấp Một đặc điểm nữa của tác dụng kích thích là không thấy rõ chỗ dòng điện vào người và người bị nạn không có thương tích
Tác dụng gây chấn thương thường xay ra do người tiếp xúc với điện áp cao Khi người đến gần vật mang điện (6KV hay cao hơn) tuy chưa chạm phải nhưng vì điện áp cao sinh ra hồ quang điện, dòng điện hồ quang qua người tương đối lớn Do phải xạ tự
Trang 5nhiên của người rất nhanh ngay lúc ấy có huynh hướng tránh vật mang điện kết quả là
hồ quang sẽ chuyển qua vật có nối đất gần đấy vì vậy dòng điện qua người trong thời gian rất ngắn tác dụng kích thích ít không đưa đến tê liệt tuần hoàn, hô hấp những người bị nạn có thể bị chấn thương hay chết do hồ quang đốt cháy da thịt
5.2.3 ảnh hưởng của các yếu tố điện tới con người, trị số của dòng điện qua người
Qua kết quả phân tích các tai nạn về điện xảy ra trên thực tế chúng ta rút ra được tác dụng của dòng điện đối với cơ thể con người phụ thuộc vào cường độ dòng điện và loại dòng như sau (Bảng 5-1)
Từ bảng 5.1 ta thấy rằng với tần số 50-60Hz, dòng điện xoay chiều an toàn đối với người phải bé hơn 10mA, với dòng điện một chiều phải bé hơn 50mA
Điện áp đặt vào người
Kỹ thuật an toàn điện thường được sử dụng trị số điện áp bởi vì trị số dòng điện rất khó xác định cụ thể ở các nước thường có trị số điện áp cho phép an toàn điện
ở nước ta quy định trị số điện an toàn đối với điện một chiều là 24 vôn, đối với điện xoay chiều là 12vôn Tuy nhiên nhiều nước quy định trị số điện áp cho phép của dòng xoay chiều là 24 vôn và dòng điện một chiều là 54 vôn Những điện áp cao hơn điện
áp cho phép an toàn đều là nguy hiểm đối với cơ thể con người Điện áp lớn hơn 400 vôn là tối nguy hiểm, có thể gây chết người rất nhanh sau khi chạm vào điện
Thời gian điện giật
Thời gian điện giật tăng lên, do ảnh hưởng của phát nóng, lớp sừng trên da có thể bị chọc thủng làm cho điện trở của người giảm xuống do đó dòng điện sẽ tăng lên và càng nguy hiểm cho người hơn
Đường đi của dòng điện qua người
Người ta thường đo phân lượng dòng điện qua tim để đánh giá mức độ nguy hiểm của con đường dòng điện qua người
Dòng điện (mA) Tác dụng của dòng điện đối với cơ thể con người
Dòng xoay chiều 50-60Hz Dòng một chiều 0,6-1,5 Bắt đầu thấy tê ngón tay Không có cảm giác
5-7 Bắp thịt tay co lại và run Đau như kim đâm và thấy
nóng
8-10
Khó rời vật mang điện nhưng có thể rời được ngón tay, bàn, khớp cảm thấy đau
nóng tăng lên rất mạnh
20-25 Tay không thể rời vật mang điện
được, đau tăng lên khó thở
Nóng tăng lên bắt đầu có hiện tượng co quắp
50-80 hô hấp bị tê liệt, tim đập mạnh Rất nóng các bắp thịt co
quắp, khó thở
90-100 Hô hấp tê liệt, kéo dài 3 giây thì
tim bị tê liệt và ngừng đập
Hô hấp bị tê liệt