2.2 Phương pháp nghiên cứu tai nạn lao động 2.2.1 Mục đích nghiên cứu tai nạn lao động Nghiên cứu tai nạn lao động nhằm tìm hiểu các tai nạn đã xảy ra, đưa ra những nhận xét, kết luận
Trang 1xuất thì có thể chia chúng thành 3 loại: những nguyên nhân kỹ thuật, những nguyên nhân tổ chức và những nguyên nhân vệ sinh
Những nguyên nhân kỹ thuật: Phụ thuộc vào tình trạng máy móc thiết bị, đường
ống và chỗ làm việc Những nguyên nhân kỹ thuật có thể là:
- Sự hư hỏng các thiết bị máy móc chính
- Sự hư hỏng của các dụng cụ, phụ tùng
- Sự hư hỏng các đường ống
- Các kết cấu, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng không hoàn chỉnh, phù hợp
- Khoảng cách cần thiết giữa các thiết bị bố trí chưa đủ
- Thiếu rào chắn, bao che ngăn cách
Những nguyên nhân vệ sinh: Là những nguyên nhân gây ra tai nạn do điều kiện môi
trường làm việc không đảm bảo tiêu chuẩn và mặt vệ sinh Những nguyên nhân này là:
- Môi trường không khí bị ô nhiễm
- Điều kiện vi khí hậu không thích nghi
- Chiếu sáng và thông gió không đầy đủ
- Tiếng ồn, chấn động mạnh
- Có tia phóng xạ
- Tình trạng vệ sinh ở các phòng phục vụ sinh hoạt kém
- Vi phạm điều lệ vệ sinh cá nhân
- Thiếu hoặc kiểm tra vệ sinh của y tế không đầy đủ
2.1.3 Phân loại tai nạn lao động
Có nhiều cách phân loại tai nạn lao động Nó có thể được phân ra theo cách thức, tính chất tác dụng vào cơ thể, theo hậu quả của tai nạn hoặc phân loại theo số lượng người bị tai nạn
Theo cách thức tác dụng vào cơ thể, tai nạn lao động được chia thành chấn thương, nhiễm độc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp
Theo tính chất tác dụng vào con người, tai nạn lao động được chia thành: tai nạn do cơ giới, do điện, nhiệt hoặc do tác dụng hóa học
Theo nguyên nhân gây ra tai nạn có tai nạn do nguyên nhân kỹ thuật, do nguyên nhân tổ chức và do nguyên nhân vệ sinh
Theo hậu quả của tai nạn người ta phân chia thành tai nạn nhỏ, tai nạn bị thương tật tạm thời, tai nạn gây thương tật tàn phế hoàn toàn hay tai nạn chết nguời
Theo số lượng người bị tai nạn có tai nạn 1 người, 2 người hay nhiều người
2.2 Phương pháp nghiên cứu tai nạn lao động
2.2.1 Mục đích nghiên cứu tai nạn lao động
Nghiên cứu tai nạn lao động nhằm tìm hiểu các tai nạn đã xảy ra, đưa ra những nhận xét, kết luận chính xác về tai nạn và nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động, từ đó tìm ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa tai nạn xảy ra tiếp theo; bổ sung kỹ thuật an toàn cho các trường hợp lao động là mặt quan trọng của kỹ thuật an toàn đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện công tác bảo hộ lao động
Dưới đây là một số phương pháp nghiên cứu tai nạn lao động thường sử dụng hiện nay
Trang 22.2.2 Phương pháp thống kê tai nạn
Phương pháp này dựa vào sự nghiên cứu những số liệu thống kê và các biên bản tai nạn lao động Cơ sở của phương pháp này là sự phân nhóm tai nạn, theo quy ước nhất
định như: theo nghề nghiệp, theo lọai công việc tiến hành trong thời gian xay ra tai nạn, theo tuổi nghề, theo đặc tính chấn thương, theo nguyên nhân xảy ra tai nạn
Phân tích những số liệu nghiên cứu thống kê như vậy, cho phép xác định được những nguyên nhân và hình thức tai nạn thường xảy ra nhất Từ đó nghiên cứu cụ thể
để cải thiện tình trạng kỹ thuật an toàn và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tai nạn
2.2.3 Phương pháp địa hình, địa lý
Phương pháp này nghiên cứu trên bản đồ xưởng các khu vực lao động, đưa ra những dấu hiệu thể hiện trực quan về nguồn gốc tai nạn có tính chất địa hình ở trên khu vực riêng biệt Điều kiện bắt buộc của phương pháp này là phải ghi, đánh dấu ngay, kịp thời và có hệ thống tất cả các trường hợp xảy ra tai nạn
Phương pháp này chủ yếu thấy được sự tác động của điều kiện môi trường vi khí hậu nơi làm việc tới người lao động
2.2.4 Phương pháp cá biệt
Đây là phương pháp nghiên cứu đặc điểm của từng tai nạn về trực tiếp cũng như gián tiếp, phân tích kỹ nguyên nhân gây ra tai nạn
Phương pháp này chỉ kết luận được nguyên nhân của một tai nạn mà chưa có thể hoặc không cho phép rút ra kết luận chung
2.2.5 Phương pháp chuyên khảo (phuơng pháp tổng hợp)
Đây là phương pháp nghiên cứu tổng hợp tất cả các nguyên nhân và điều kiện sản xuất từ đó gây ra tai nạn bao gồm điều tra tỉ mỉ toàn bộ tình hình sản xuất và nghiên cứu các nguyên nhân của các trường hợp tai nạn xảy ra trong toàn bộ khu vực sản xuất
Đây là phương pháp nghiên cứu tổng hợp tất cả các nguyên nhân và điều kiện sản xuất đã gây ra tai nạn, bao gồm điều tra tỷ mỉ toàn bộ tình hình sản xuất và nghiên cứu trong toàn bộ khu vực sản xuất
Phương pháp này cho khả năng nghiên cứu một cách đầy đủ nhất các biện pháp phòng ngừa tai nạn có thể xảy ra
Khi tiến hành xem xét, điều tra các mặt trong quá trình sản xuất sẽ vạch ra được tất cả những điều nguy hiểm, trong đó có những điều có thể gây ra tai nạn
2.2.6 Chú ý
Trong quá trình nghiên cứu phân tích tai nạn lao động, để đáng giá đúng đắn về tình trạng tai nạn, chấn thương và bệnh nghề nghiệp người ta thường sử dụng các hệ số, tần
số kinh tế và hệ số nặng nhẹ Kn
Hệ số tần số chấn thương (tai nạn) tỷ số giữa số lượng tai nạn xảy ra trong một thời
gian nhất định với số người làm việc bình quân trung bình trong thời gian đó
N
S
K t=
S: số lượng trường hợp tai nạn xảy ra phải nghỉ việc trên 3 ngày theo thống kê trong một thời gian nhất định
N: số người làm việc trung bình trong khoảng thời gian đó
Trang 3Hệ số tần số cho biết tai nạn ở đơn vị được theo dõi nhiều hay ít
Hệ số nặng nhẹ là số ngày phải nghỉ việc trung bình tính cho mỗi trường hợp tai
nạn xảy ra
S
D
D: tổng số ngày phải nghỉ việc do các trường hợp tai nạn xảy ra trong khoảng thời gian nhất định đang xét
Trong tính toán S chỉ kể các trường hợp làm mất khả năng lao động tạm thời
Những trường hợp chết người hoặc làm mất khả năng lao động vĩnh viễn không kể
đến trong hệ số nặng nhẹ, phải xét riêng
Hệ số nặng nhẹ dùng để đánh giá tình trạng tai nạn Trên cơ sở nghiên cứu phân tích tai nạn lao động có thể đề ra và kiến nghị việc hoàn chỉnh các kết cấu của thiệt bị máy móc và phụ tùng, thay đổi các quá trình của công nghệ, loại bỏ thao tác nguy hiểm và tổ chức lao động hợp lý
2.3 Khai báo điều tra thống kê tai nạn lao động
2.3.1 Mục đích, ý nghĩa của công tác khai báo, điều tra thống kê tai nạn
Công tác khai báo, điều tra và thống kê tai nạn là công việc hết sức quan trọng, nó
ảnh hưởng trực tiếp tới việc nghiên cứu các tai nạn và đảm bảo an toàn sản xuất Nếu việc khai báo, điều tra thống kê này thiếu rõ ràng hay thiếu chính xác sẽ dẫn tới sự nghiên cứu, xem xét các tai nạn, rút ra các kết luận thiếu đúng đắn kéo theo việc tìm biện pháp phòng ngừa, hạn chế, loại trừ tai nạn, xử lý tai nạn sai, có khi không những không hạn chế được tai nạn mà còn tạo điều kiện xảy ra hàng loạt tai nạn khác
Do vậy không chỉ ban bảo hộ lao động cần quan tâm chú ý tới công tác này mà khi tai nạn xảy ra, mọi người lao động xung quanh nơi xảy ra tai nạn cần thiết phải khai báo tỉ mỉ, chính xác giúp cho việc điều tra thống kê được chính xác và kịp thời
2.3.2 Yêu cầu của công tác khai báo, điều tra, thống kê tai nạn lao động
Theo quy định của Nhà nước, tất cả các tai nạn của công nhân viên chức xảy ra trong giờ làm việc ở nơi làm việc lâu dài hay tạm thời đều phải được khai báo, điều tra
và thống kê
Ban bảo hộ lao động, trực tiếp là trưởng ban phải chịu trách nhiệm về việc khai báo,
điều tra, thống kế chính xác kịp thời các tai nạn lao động và thực hiện đầy đủ các biện pháp ngăn ngừa các tai nạn lao động và thực hiện đầy đủ các biện pháp ngăn ngừa các tai nạn tái diễn
Tất cả những trường hợp tai nạn lao động xảy ra làm cho công nhân phải nghỉ việc
1 ngày trở lên, phải ghi sổ theo dõi để làm tài liệu báo cáo thống kê gửi lên cơ quan quản lý cấp thiết
Đối với các tai nạn lao động nhẹ làm cho công nhân phải nghỉ từ 3 ngày trở lên, quản đốc có trách nhiệm ngoài việc ghi sổ theo dõi và báo cáo cho ban bảo hộ lao
động còn phải báo ngay cho giám đốc xí nghiệp biết Trong vòng 24 giờ kể từ khi tai nạn gửi lên giám đốc xí nghiệp duyệt
Đối với tai nạn lao động nặng, công nhân nghỉ việc trên 14 ngày, quản đốc và giám
đốc báo ngay cho cơ quan lao động cấp trên cũng như công đoàn cấp trên biết
Trang 4Trong vòng 24 giờ ban bảo hộ lao động tổ chức điều tra nguyên nhân gây ra tai nạn lao động, xác định rõ trách nhiệm để xảy ra tai nạn lao động, xác định rõ trách nhiệm
để xảy ra tai nạn
Điều tra tai nạn phải tiến hành khách quan, thận trọng và toàn diện Nếu cần thiết sẽ tiến hành những nghiên cứu thí nghiệm, thực nghiệm chụp hình, trình bày bản vẽ chỗ xảy ra tai nạn để minh họa
Trong biên bản điều tra tai nạn phải nêu rõ hoàn cảnh và trường hợp xảy ra tai nạn, kết luận về trách nhiệm xảy ra tai nạn, để nghị xử lý (nếu cần), đồng thời ra các biện pháp ngăn ngừa tai nạn tương tự, biên bản có ý kiến của người bị nạn càng tốt
Giám đốc xí nghiệp phải gửi biên bản điều tra tai nạn kèm theo các tài kiệu cần thiết như tờ khai của người làm chứng, ảnh hoặc bản vẽ nơi xảy ra tai nạn, tài liệu xét nghiệm y tế…cho cơ quan quản lý cấp trên biết
Ngoài ra còn phải gửi một số văn bản kèm theo như báo cáo về tổng thiệt hại do tai nạn gây ra, báo cáo về trang thiết bị, máy móc bổ sung (do thiệt hại hoặc bảo hộ thêm) Quy định các văn bản đánh máy với khổ giấy 27x19cm và được gửi tới: công
đoàn cấp trên, thủ trưởng cấp trên, đơn vị quản lý về bảo hộ lao động, lưu một bản, thuyền trưởng một bản (đối với trên tàu) Bản viết tay giữ lại để đưa ra trong quá trình xét xử
2.4 Bảo hiểm tai nạn lao động
Để giúp đỡ những người gặp rủi ro tai nạn trong khi lao động sản xuất, Bảo hiểm hiện nay có loại hình bảo hiểm gọi là Bảo hiểm tai nạn lao động
Bảo hiểm tai nạn lao động được trả cho tất cả những người bị tai nạn lao động trong giờ làm việc đã mua phí bảo hiểm hoặc người tham gia bảo hiểm xã hội theo luật định
bị tai nạn
Bảo hiểm tai nạn lao động là một phần của bảo hiểm thân thể con người khi lao
động sản xuất
Khi tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, người lao động hoặc thân nhân của họ
được nhận bồi thường của Bảo hiểm với mọi tai nạn bất ngờ xảy ra trong lao động làm
họ bị chết hoặc bị thương Cần chú ý là người tham gia bảo hiểm không được bồi thường trong trường hợp tai nạn lao động xảy ra do người lao động bị ảnh hưởng của bia, rượu, ma túy hoặc các chất kích thích khác
Người tham gia bảo hiểm phải hoàn thành các giấy tờ, văn bản đòi hỏi bảo hiểm theo quy định và gửi cho Công ty bảo hiểm
Tùy theo mức phí mua bảo hiểm, người gặp tai nạn lao động sẽ được bồi thường theo quy định của Công ty bảo hiểm
Hiện nay do những hạn chế của Công ty bảo hiểm nên việc tham gia bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tai nạn lao động nói riêng còn rất ít Mặt khác một số người tham gia Bảo hiểm còn chưa hiểu rõ về bảo hiểm nên khi bị tai nạn, họ không biết cách đòi bồi thường Bằng các kinh nghiệm, học hỏi từ công ty bảo hiểm thế giới cũng như sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí và nền kinh tế xã hội, Bảo hiểm lao động đang được các cơ sở sản xuất và người lao động quan tâm
Trang 5Chương 3
ảnh hưởng có hại của nghề nghiệp mục tiêu:
Trang bị cho học sinh ngành máy tàu biển hiểu được những vấn đề chung về việc phân công, tổ chức lao động cũng như việc trang bị bảo hộ lao động trên tàu thủy
Hình thành những tác phong công nghiệp, an toàn trong lao động và sản xuất Tạo những đức tính cẩn thận, từng bước cải thiện điều kiện lao động đảm bảo sức khỏe lâu dài cho người sản xuất
Nội dung chính:
Chương này nhằm giới thiệu tác hại nghề nghiệp của thuyền viên làm việc trên tàu,
đặc biệt là đối với ngành máy tàu biển
Hình thức học tập:
Học lý thuyết trên lớp
Phương pháp đánh giá:
- Phương pháp đánh giá: Kiểm tra tự luận, kiểm tra miệng, đàm thoại trong bài giảng
- Câu hỏi ôn tập:
Trình bày các ảnh hưởng có hại trong quá trình lao động?
3.1 Khái quát chung
Ngành tàu bè nói chung, đặc biệt là thợ máy tàu thủy làm việc trong điều kiện vô cùng phù hợp, thích nghi, gây nên những tác hại lớn đối với con người Các yếu tố này bao gồm điều kiện vi khí hậu; sự bứ xạ nhiệt; các chất độc hại bay hơi, khuếch tan; bui; tiếng ồn, chấn động; ánh sáng; thậm chí cả chất phóng xạ Chúng đồng thời tác động lên người thủy thủ tạo ra tác động lên cơ thể người, ở một mức độ nào đó sẽ gián tiếp gây ra tai nạn lao động
Tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố này nhằm tìm ra phương pháp về tổ chức, kỹ thuật cũng như vệ sinh nhằm hạn chế đến mức cao nhất ảnh hưởng của chúng tới người lao động
Nghiên cứu và nắm chắc ảnh hưởng của nghề nghiệp chính là thực hiện được một mặt quan trọng của công tác bảo hộ lao động: nội dung vệ sinh công nghiệp
Sau đây ta sẽ lần lượt xem xét từng yếu tố
3.2 ảnh hưởng của điều kiện vi khí hậu
3.2.1 Vi khí hậu
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp gồm các yếu tô nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ chuyể động của không khí
Điều kiện vi khí hậu trong sản xuất thuộc vào tính chất của quá trình sản xuát và khí hậu nơu sản xuất
Về mặt vệ sinh, vi khí hậu có thể ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh tật của người lao
động Làm việc lâu trong điều kiện vi khí hậu lạnh và ẩm có thể mắc bệnh thấp khớp, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi và làm nặng bệnh lao Vi khí hậu lạnh khô làm rối loạn vân mạch thêm trầm trọng, làm giảm tiết niêm dịch đường hô hấp, gây khô niêm