Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu pháp lệnh bảo hộ lao động, kỹ thuật bảo hộ lao động dưới tàu và ngành máy tàu thủy nói riêng, phần kiến thức này kế hợp với kỹ thuật an toàn sẽ giúp cho
Trang 1Phần I Cơ sở kỹ thuật bảo hộ lao động
Bảo đảm an toàn lao động và bảo đảm sức khỏe của người lao động là yêu cầu quan trọng không những cần thiết đối với người lao đông
Thực hiện pháp lệnh bảo hộ lao động của hội đồng Nhà nước ban hành, bộ môn Kỹ thuật an toàn lao động đã đước triển khai trong tất cả các trường kỹ thuật Tuy nhiên kỹ thuật an toàn chỉ một phần để đảm bảo an toàn lao động Muốn an toàn lao động trong sản xuất, người lao động cũng như người sử dụng lao động cần nắm được những kiến thức chung về bảo hộ lao động
Trong phần này chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn đọc những kiến thức chung nhất của
kỹ thuật bảo hộ lao động cần thiết cho người lao động (thuyền viên ngành máy) mà kỹ
thuật an toàn chưa giới thiệu hết Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu pháp lệnh bảo hộ
lao động, kỹ thuật bảo hộ lao động dưới tàu và ngành máy tàu thủy nói riêng, phần kiến thức này kế hợp với kỹ thuật an toàn sẽ giúp cho bạn đọc thực hiện tốt pháp lệnh bảo hộ lao động, tự bảo vệ được chính mình, tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra trong qúa trình lao động sản xuất
Chương 1 Những vấn đề chung về bảo hộ lao động
vμ bảo hộ lao động trên tμu thủy mục tiêu:
Trang bị cho học sinh ngành máy tàu biển hiểu được những vấn đề chung về việc phân công, tổ chức lao động cũng như việc trang bị bảo hộ lao động trên tàu thủy
Hình thành những tác phong công nghiệp, an toàn trong lao động và sản xuất Tạo những đức tính cẩn thận, từng bước cải thiện điều kiện lao động đảm bảo sức khỏe lâu dài cho người sản xuất
Nội dung chính:
Giới thiệu về những pháp lệnh bảo hộ lao động, nội dung của pháp lệnh bảo hộ lao động, tổ chức cũng như phân công lao động, phân công chức năng quyền hạn của thuyền viên trên tàu
Hình thức học tập:
Học lý thuyết trên lớp
Phương pháp đánh giá:
- Phương pháp đánh giá: Kiểm tra tự luận, kiểm tra miệng, đàm thoại trong bài giảng
- Câu hỏi ôn tập:
Trình bày các nội dung cơ bản của công tác bảo hộ lao động?
Phân công lao động và trách nhiện bảo hộ lao động ngành máy tàu?
Trang 21.1 Những vấn đề chung về bảo hộ lao động
1.1.1 Sơ lược vấn pháp lệnh bảo hộ lao động
Xuất pháp từ quan điểm “Người là vốn quý của xã hội”, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến an toàn lao động Nhiều văn bản chỉ thị, chính sách quy định rõ trách nhiệm và hướng dẫn các cấp, các ngành đẩy mạnh công tác bảo hộ lao động đã
được ban hành và không ngừng được bổ sung để thích hợp với từng thời kỳ Ngày 10/9/1991 Chủ tịch hội đồng Nhà nước đã chính thức công bố “Pháp lệnh bảo hộ lao
động” nhằm bảo vệ an toàn và chăm lo hơn nữa đến sức khỏe của người lao động
Pháp lệnh bảo hộ lao động bao gồm 46 điều thuộc 10 chương Pháp lệnh quy
định rõ về yêu cầu an toàn lao động và vệ sinh lao động, qui định về tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động Pháp lệnh đã chỉ rõ: “mọi tổ chức, cá nhân sử dụng lao động, gọi chung là người sử dụng lao động và mọi người lao động, kể cả tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng lao động hoặc lao động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải thực hiện việc bảo hộ lao động theo quy định của pháp lệnh này” (Điều 1)
Điều 43 và 44 của pháp lệnh cũng chỉ ra: Mọi người không thực hiện pháp lệnh,
vi phạm về bảo hộ lao động để xảy ra tai nạn lao động, gây ô nhiễm môi trường thì tùy theo mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật, nếu gây thiệt hại phải bồi thường
Pháp lệnh bảo hộ lao động được ban hành để đảm bảo cho người lao động có quyền làm việc trong điều kiệm an toàn vệ sinh, nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động, tăng cường hiệu lực nhà nước về bảo hộ lao động nhằm phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và từng bước cải thiện điều kiện lao động Như vậy bảo hộ lao động là yêu cầu bắt buộc đã được pháp lệnh quy định
1.1.2 Bảo hộ lao động và các nội dung cơ bản của công tác bảo hộ lao động
Bảo hộ là một môn kinh doanh học nghiên cứu những vấn đề lý thuyết và thực nghiệm nhằm cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo an toàn lao động
Trong bất cứ một xã hội nào, lao động của con người cũng là yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất Việc giải phóng và bảo vệ sức lao động làm cho năng suất lao động tăng lên đáng kể
Khoa học kỹ thuật càng phát triển, cơ giới hóa và tự động hóa quá trình sản xuất ngày càng mở rộng, đòi hỏi người lao động càng phải có trình độ cao hơn Nắm vững các kiến thức về bảo hộ lao động giúp cho người lao động cũng như người sử dụng lao
động tránh đước những tai nạn lao động đáng tiếc xảy ra trong sản xuất, tự bảo vệ được mình, giảm được những tổn thất của cải vật chất do tai nạn lao động gây ra
Công tác bảo hộ bao gồm 5 nội dung sau:
- Kỹ thuật an toàn
- Vệ sinh lao động
- Trang thiết bị phòng bộ
- Bồi dưỡng ca ba, độc hại
- Tuyên truyền huấn luyện
Trang 3Kỹ thuật an toàn: là một môn khoa học nghiên cứu những nguyên nhân gây ra
tai nạn lao động trong sản xuất, nghiên cứu những biện pháp tổ chức, kỹ thuật hạn chế
và loại trừ tai nạn lao động
Vệ sinh công nghiệp: là một môn khoa học nghiên cứu các ảnh hưởng của quá
trình lao động, môi trường lao động đến sức khỏe con người, nghiên cứu các biện pháp
về tổ chức, kỹ thuật và vệ sinh cho phép đối với các môi trường lao động, nhằm tạo
điều kiện tốt nhất đảm bảo sức khỏe lâu dài cho người lao động
Trang bị phòng hộ: là những phương tiện cần thiết làm tăng thêm điều kiện an
toàn, bảo vệ sức khỏe người lao động trong những trường hợp mà điều kiện sản xuất yêu cầu
Trong hoàn cảnh kinh tế của ta hiện nay việc trang bị phòng hộ lao động còn rất cần thiết, tuy nhiên còn phải căn cứ vào khả năng tài chính của Nhà nước mà giải quyết dần dần từ thấp đến cao theo đà phát triển kinh tế
Bồi dưỡng ca ba, độc hại: Thời gian làm việc hàng ngày của công nhân viên
chức qui định chung là 8 giờ (quy định ở Việt Nam) ở các bộ phận sản xuất quá nặng nhọc, độc hại, giờ làm việc hàng ngày có thể rút bớt Ngược lại những công việc sản xuất có những lúc không làm việc thực sự và liên tục thì có thể tăng thêm Trường hợp cần thiết làm ngoài giờ công nhân phải được hưởng phụ cấp thêm
Để kịp thời phục hồi sức khỏe cho công nhân viên chức trong các ngành nghề
đặc biệt, có hại, ở những nơi có hơi độc vượt quá tiêu chuẩn nhà nước quy định hoặc trong những điều kiện vật lí không bình thường như: quá nóng, quá lạnh, chịu sức ép
áp suất, nơi dễ bị nhiễm trùng…cần có chế độ bồi dưỡng cụ thể Mức độ bồi dưỡng phụ thuộc vào điều kiện độc hại khác nhau trong các ngành nghề và căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế của từng thời kỳ
Chế độ bồi dưỡng này gọi là bồi dưỡng ca ba, độc hại
Tuyên truyền huấn luyện: là một mặt không thể thiếu được của công tác bảo hộ
lao động Tổ chức định kỳ huấn luyện cho công nhân về kỹ thuật an toàn, vệ sinh công nghiệp để công nhân nắm bắt được đầy đủ kiến thức về bảo hộ lao động và vai trò quan trọng của nó trong việc tổ chức thực hiện bảo hộ lao động cũng như pháp lệnh bảo hộ lao động Tuyên truyền huấn luyện tốt sẽ giảm được các tai nạn, bệnh tật đáng tiếc xảy
ra, việc thực hiện an toàn lao động sẽ đạt hiệu quả cao
Thực hiện đầy đủ 5 nội dung trên sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất và pháp triển kinh tế, đồng thời bảo vệ được sức khỏe lâu dài cho người lao động, loại trừ bớt tai nạn nghề nghiệp
1.2 Tổ chức lao động và bảo hộ lao động trên tàu thủy
1.2.1 Đặc điểm lao động trên tàu thủy
Lao động tàu thủy là một lao động đặc biệt
Quá trình lao động trên tàu tách rời với hoạt động trên bởi toàn bộ tàu hoạt động
độc lập Mọi vấn để về an toàn lao động, xử lý kịp thời an toàn lao động, tai nạn tàu phụ thuộc vào sự nhanh nhạy của thuyền viên trên tàu cũng như ban chỉ huy tàu
Điều kiện làm việc trên tàu mang tính đặc trưng riêng Khi hoạt động, tàu có thể chạy từ vùng nhiệt đới, ôn đới sang hàn đới hoặc ngược lại Thời tiết cũng như khí hậu
Trang 4luôn thay đổi, nhiệt độ không ổn định, có thể chênh lệch nhiệt độ ngày và đêm đến 30o
C Tàu luôn chịu ảnh hưởng của sóng gió lúc to lúc nhỏ, lúc ngược lúc xuôi, có lúc chịu nghiêng đến 15o, chịu chúi đến 5o, do đó công nhân, thủy thủ trên tàu luôn luôn làm việc ở trạng thái không cân bằng Thủy thủ làm việc trong môi trường vi khí hậu, thường xuyên tiếp xúc với hơi và khí độc như hơi dầu, khí CO, khí H2S, khí NH3 Đối với thợ máy còn thường xuyên tiếp xúc với nhiệt độ từ 38oC đến 42oC, có khi lên tới
50oC, điều kiện vô cùng nóng, độ ẩm cao, nhiều hơi dầu, hơi độc, tiếng ồn, chấn động lớn Mặt khác trong quá trình làm việc thủy thủ, thợ máy phải điều khiển một hệ thống
động lực khá phức tạp với nhiều loại máy móc của nhiều nước, nhiều hãng chế tạo và
đỏi hỏi sự chính xác cao
Để đảm bảo hiệu quả trong công việc, việc tổ chức chế độ làm việc trên tàu cũng có tính chất riêng biệt Chế độ làm việc phân công trách nhiệm rõ ràng và tuân thủ một quy định chung rất chặt chẽ, có các trưởng ca và người giúp việc
Đối với ngành máy tàu thủy, việc phân ca được quy định như sau:
Ca 0-4 và 12-16 do Máy II làm trưởng ca
Ca 4-8 và 16-20 do Máy I làm trưởng ca
Ca 8-12 và 20-24 do Máy III làm trưởng ca
Trong ca của máy nhất là thời điểm tranh tối, tranh sáng, ca này dễ xảy ra sự cố
và máy nhất phân công lao động, kiểm tra lao động, chịu trách nhiệm trước máy trưởng
Ca của Máy II là ca mệt mỏi nhất do bắt đầu ca vào lúc nửa đêm
1.2.2 Tổ chức bảo hộ lao động trên tàu
Bất kỳ lao động ở ngành nào, ở đâu đều phải đảm bảo an toàn lao động Để
đảm bảo an toàn lao động tốt, ở đâu cũng phải tổ chức lao động một cách chặt chẽ Thông thường mỗi đơn vị sản xuất đều có một ban lãnh đạo bảo hộ lao động
Ban lãnh đạo bảo hộ lao động bao gồm:
- Trưởng hoặc phó đơn vị làm trưởng ban
- Một đại diện công nhân (chủ tịch công đoàn hoặc công nhân có kinh nghiệm)
- Một kỹ thuật viên được huấn luyện nghiệp vụ bảo hộ lao động, kỹ thuật viên này phải hiểu biết các kiến thức tối thiểu về luật bảo lao động, phương pháp điều tra, thống kê, báo cáo các tai nạn lao động
Ngoài ra còn đòi hỏi mỗi công nhân, bên cạnh nghiệp vụ chuyên môm phải nắm
được kỹ thuật an toàn, sử dụng được các thiết bị an toàn, nắm bắt được phương pháp sơ
và cấp cứu khi xảy ra tai nạn
Đối với ngành tàu bè, do đặc điểm của ngành, việc nắm bắt kiến thức chuyên môn về kỹ thuật an toàn hết sức quan trọng, có khi còn liên quan trực tiếp đến tính mạng của cả con tàu Đồng thời do đặc điểm của ngành máy tàu biển mà mỗi tàu cũng
có một ban lãnh đạo bảo hộ lao động
Ban lãnh đạo bảo hộ lao động trên tàu gồm:
- Thuyền trưởng là trưởng ban
- Công đoàn tàu (đại diện công nhân) làm phó ban
- Kỹ thuật viên an toàn, thường là Máy trưởng hoặc đại phó
Trang 51.2.3 Phân công lao động và trách nhiện bảo hộ lao động ngành máy tàu
ở trên tàu, thuyền viên được phân ra làm 4 ngành:
Ngành boong, ngành máy, ngành vô tuyến điện và ngành phục vụ Mỗi ngành chịu trách nhiệm về một mặt hoạt động, phân công trách nhiệm an toàn tới từng ca trực, từng cá nhân để đảm bảo an toàn cho toàn bộ con tàu và thuyền viên trên tàu
Việc phân công lao động và trách nhiệm an toàn, bảo hộ lao động của ngành máy như sau:
Máy trưởng: Là nguời chịu trách nhiệm toàn bộ các thiệt bị của hệ thống động
lực, theo dõi việc chấp hành quy tắc vận hành của sĩ quan và huấn luyện những kiến thức chuyên môn về an toàn lao động, tổ chức sửa chữa, làm việc, nghỉ ngơi cho thuyền viên, huấn luyện sĩ quan và học sinh thực tập
Máy nhất: Chịu trách nhiệm hệ trục chân vịt, quản lý và đảm bảo an toàn máy
chính, các thiết bị hệ trục chân vịt, quản lý và đảm bảo an toàn kho xưởng, theo dõi kỹ thuật khai thác, điều hành nhân lực, phân phối thời gian làm việc, vui chơi giải trí, nghỉ
bù, nghỉ phép cho sĩ quan và thợ máy
Máy hai: Phụ trách nồi hơi chính (nếu động cơ chính là máy hơi nước), phụ
trách động cơ lai máy phát điện, chịu trách nhiệm về an toàn kỹ thuật và an toàn lao
động với hệ thống dầu đốt, kể cả khi tiếp nhận và bảo quản sử dụng
Nếu trên tàu không có thợ điện thì máy hai phụ trách cả mạng điện và trạm phát của tàu
Máy ba: chịu trách nhiệm khai thác và an toàn lao động cho nồi hơi phụ, nồi hơi
xả khí, các hệ thống bơm, ống, hệ thống ballast, hệ thống la canh, các thiết bị tời, neo
và cẩu hàng
Điện trưởng: Chịu trách nhiệm khai thác và an toàn lao động toàn bộ mạng điện
trên tàu
Lạnh trưởng: có trách nhiệm phụ trách các thợ lạnh, đảm bảo kỹ thuật và an
toàn lao động toàn bộ hệ thống lạnh của tàu (đối với tàu chuyên chở hàng lạnh)
Bơm trưởng: (đối với tàu vận tải hàng lỏng thì phải có tổ bơm gồm 2-3 người)
Bơm trưởng phụ trách khai thác và an toàn lao động cho toàn bộ hệ thống làm hàng
Thợ cả: là người giúp việc cho máy nhất quản lý kho xưởng, là người phụ trách
thợ bảo quản và tiến hành công việc hàng ngày theo sự phân công của máy nhất
Trực ca: mỗi ca trực thường có sĩ quan phụ trách và một vài người giúp việc Sĩ
quan trực ca chịu trách nhiệm toàn bộ hệ thống động lực trước máy trưởng khi tàu neo
đậu cũng như tàu hành trình Trưởng ca (sĩ quan trực ca) cùng những người giúp việc của mình, ngoài việc chăm sóc đảm bảo cho máy móc hoạt động bình thường còn phải theo dõi để chấp hành mệnh lệnh từ máy trưởng và buồng lái Khi có lệnh phải thực hiện ngay và báo cáo kết quả thực hiện ghi nhật ký máy
Trực ca có quyền từ chối những người không có nhiệm vụ trong buồng máy ngăn cản những người làm thất thoát vật tư tài sản và dụng cụ đã được ghi nhận là tài sản của buồng máy