1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ DỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – HÀ LANBÀI GIẢNG pdf

39 559 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 791,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động phát triển nông thôn Khuyến nông là công cụ phát triển nông thôn, thực thi các chính sách về phát triển nông nghiệp và nông thôn của nhà nước.. Trung tâm CETA Centre d’E

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ

DỰ ÁN HỢP TÁC VIỆT NAM – HÀ LAN

BÀI GIẢNG KHUYẾN NÔNG CƠ BẢN

Người biên soạn: Hoàng Gia Hùng

Huế, 08/2009

Trang 2

1

Chương 1

NHẬP MÔN KHUYẾN NÔNG

1.1 Vị trí và tầm quan trọng của khuyến nông

1.1.1 Trong lĩnh vực phát triển sản xuất nông nghiệp

Thúc đẫy phát triển nông nghiệp thông qua chuyển giao kỹ thuật từ các cơ quan nghiên cứu đến người sản xuất, thông tin và kết nối sản xuất với thị trường, tạo lập mối quan hệ giữa người sản xuất với nhà doanh nghiệp, nhà chính sách, nhà khoa học

1.1.2 Trong hoạt động phát triển nông thôn

Khuyến nông là công cụ phát triển nông thôn, thực thi các chính sách về phát triển nông nghiệp và nông thôn của nhà nước

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển khuyến nông

Công cụ/phương tiện can thiệp

Trang 3

2

Pháp, vì một số công trình đã được bắt đầu ở thời kỳ này như tác phẩm Ngôi nhà

nông thôn của Enstienne và Liebault nghiên cứu về kinh tế nông thôn và khoa học

nông nghiệp Tác phẩm Diễn trường nông nghiệp của Oliver de Serres đề cập đến

nhiều vấn đề trong nông nghiệp như cải tiến giống cây trồng vật nuôi

Thế kỷ 18, cụm từ phổ cập nông nghiệp (Vulgazigation Argicole), hoặc chuyển giao kỹ thuật đến người nông dân (Transfert des Technologies Agricoles au Payan) được sử dụng phổ biến

Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến nay (1914- 1918) Trung tâm CETA (Centre d’Etuder Techniques Agricoles) nghiên cứu kỹ thuật nông nghiệp đầu tiên được tổ chức do sáng kiến của nông dân vùng Pari hoạt động với nguyên tắc:

- Người nông dân có trách nhiệm và chủ động trong công việc

- Sáng kiến từ cơ sở

- Hoạt động nhóm rất quan trọng

Đây là một phương pháp hết sức độc đáo thời bấy giờ, người nông dân được quyền tham gia tích cực vào công việc của nông trại, họ chủ động tìm ra các giải pháp thích hợp với sự hỗ trợ của các kỹ sư nông nghiệp

* Mỹ

Năm 1845 tại Ohio, N.S Townshned Chủ nhiệm khoa Nông học đề xuất việc

tổ chức những câu lạc bộ nông dân tại các quận huyện Những câu lạc bộ này sinh hoạt định kỳ hàng tháng, nghe giảng về những chủ đề khoa học kỹ thuật nông nghiệp, nghe báo cáo đi tham quan thực tế tại những trang trại Đây là tiền thân của giáo dục sơ đẳng về khuyến nông tại Mỹ

Năm 1891 Bang New York dành 10.000 đôla cho khuyến nông đại học Năm 1892 Trường Đại học Chicago, Trường Wicosin bắt đầu tổ chức ch-ương trình khuyến nông học đại học

Năm 1907, 42 Trường đại học trong 39 bang đã thực hiện công tác khuyến nông Năm 1910, 35 trường Đại học đã có Bộ môn khuyến nông

Năm 1914 Tổ chức khuyến nông được hình thành chính thức ở Mỹ, có 1861 hội nông dân với 3050150 hội viên

Thuật ngữ Extension Education đã được sử dụng để chứng tỏ rằng đối tượng

giáo dục của trường đại học không nên chỉ hạn chế ở những sinh viên do nhà trường quản lý, mà nên mở rộng tới những người đang sống ở khắp nơi trên đất nước

* Anh

Thuật ngữ University Extension hay Extension of University lần đầu tiên

được sử dụng ở Anh vào những năm 1840

Những năm 1866- 1868 Thuật ngữ “Extension” và “Agricultural Extension” được sử dụng ở Anh Jemes Stuart thành viên của Trường Đại học Cambridge

giảng bài cho Hiệp hội phụ nữ và Câu lạc bộ của những người làm việc ở miền Bắc

nước Anh Và Jemes Stuart thường được coi là “người cha đẻ của phổ cập đại học“

Năm 1876 Trường Đại học Luân Đôn và năm 1878 Trường Đại học Oxford cũng dạy theo chương trình đào tạo này, và từ năm 1880 hoạt động này trở thành một

Trang 4

3

phong trào

Người Hà lan dùng từ Voorliching mang nghĩa việc thắp sáng con đường

phía trước để giúp mọi người nhìn thấy đường đi Theo người Hà Lan, người

Indonesia nói đến việc thắp sáng bằng ngọn đuốc (penyuluhan)

Hoạt động khuyến nông ở châu Âu, Oxtraylia, New Zealand, Canada có nhiều điểm tương tự nh Pháp, Anh , Mỹ tuy có khác nhau chút ít Hoạt động dịch vụ khuyến nông thường bắt đầu từ các hội nông nghiệp, nó được giao trách nhiệm cho một cơ quan thuộc Bộ Nông nghiệp

1.2.2 Ở Việt Nam

Nhìn lại lịch sử ta thấy, khuyến nông Việt Nam đ ã có từ thời Vua Hùng với nông nghiệp nước Văn Lang và nền văn minh lúa nước Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy dân làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở cuộc thi

để các Hoàng tử, công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn độc đáo bằng nông sản tại chỗ Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa

Để tỏ rõ sự quan tâm tới nông nghiệp Vua Lê Đại Hành (979 – 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh điền ở Đọi Sơn, Bàn hải thuộc vùng Duy Tiên, Nam Hà ngày nay

Các vua nhà Lý (1009 – 1056) rất coi trọng nghề nông và đã ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp, nhiều lần vua cày ruộng tịch điền và thăm nông dân gặt hái Sách Đại việt sử ký toàn thư ghi lại sự kiện năm Mậu dần (1038) Vua Lý Thái Tông ngự ở Bố khẩu lập đàn, tế thần nông, và cày ruộng tịch điền Khi

có người trong các quan lại can Vua không nên làm việc của nông phu, Lý Thái Tông trả lời "Trẫm không tự mình cày ruộng thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì để xướng xuất thiên hạ", nói xong Vua đẩy 3 đường cày

Triều vua Lê Thái Tông(1492) Triều đình đặt chức Hà Đê sứ và Khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi xã có 1 xã trởng phụ trách nông

nghiệp và đê điều ( Triều vua Lê Thái Tông thời kỳ cực thịnh của chế độ Phong kiến

nớc ta, nông nghiệp có 1 bước tiến bộ lớn, nhiều năm đất nớc đợc mùa, nạn mất mùa ít xảy ra) Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, và lần đầu

tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ luật Hồng Đức

Thời Vua Quang Trung (1788 - 1792): Từ năm 1789 sau khi thắng giặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay "chiếu khuyến nông" nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang sau 3 năm, những đất đai hoang hoá đã được phục hồi, sản suất phát triển

Triều nhà Nguyễn (1807- 1884), đã định ra chức đinh điền sứ Nguyễn Công Trứ đợc giao chức vụ này ông đã có công khai khẩn đất hoang để lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình)

Về kỹ thuật nông nghiệp và hoạt động khuyến nông ông cha ta đã có nhiều chủ trương biện pháp đúng đắn như đắp đê trị thủy, xây dựng hệ thống thủy nông, chọn lọc ra nhiều giống cây trồng vật nuôi, công cụ thích hợp cho từng vùng sinh thái Những kinh nghiệm làm nông nghiệp cũng đã được đúc kết thành những câu

ca dao, bài hát dễ nhớ, dễ truyền khẩu mang đặc tính khuyến nông Việt nam, một số

Trang 5

4

ví dụ:

Nói về khai hoang: Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu

Nói về làm ruộng:

Tốt giống tốt má, tốt mạ tốt mạ tốt lúa Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống Không lân không vôi thì thôi trồng lạc Được mùa lúa, úa mùa cau, được mùa cau đau mùa lúa

Mạ mùa sướng cao, mạ chiêm ao lấp

Chiêm hơn sướng, mùa hơn đêm

Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa Người đẹp về lụa , lúa tốt về phân Một hòn đất nỏ bằng giỏ phân

Xem thời tiết:

Nắng tốt da, ma tốt lúa Chớp đông nhay nháy gà gáy thì ma Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì ma Tháng bảy heo may chuồn chuồn bay thì bão

Chọn trâu

Mõm gầu giai, nhai hai gánh cỏ

Đầy kẽ răng, bền tuổi trẻ dai

Sừng cánh ná, dạ bình vôi, hay ăn cày khỏe

Khô chân gân mặt, đắt tiền cũng mua

Đầu thanh cao, tiền thấp hậu cao, chẳng tậu thì sao

Chọn gà

Nuôi gà phải chọn giống gà

Gà ri bé giống nhưng mà đẻ mau

Lông dày thịt béo về sau đẻ nhiều

Gà nâu chân thấp mình to

Đẻ nhiều, trứng lớn con vừa khéo nuôi

Chả nên nuôi giống pha mùi

Đẻ không được mấy, nuôi con vụng về

Thời kỳ P háp thuộc (1884- 1945): Thực dân Pháp thực hiện chính sách lập các đồn điền thuộc quyền chiếm hữu của bọn thực dân, các quan lại, địa chủ, cường hào Hàng vạn ngời Việt nam bị ép làm phu, lính trong các đồn điền đó, đời sống của họ vô cùng cực khổ như nô lệ thủa xa, bọn chủ đồn điền như ông vua bà chúa, chúng có quyền bắt ngời dân nhịn đói, bỏ tù và giết chết Những người không chịu được bỏ trốn thì bị bọn chủ bắn chết

Thời kỳ này Việt Nam cũng đ ã nhập một số cây trồng mới như: Cà phê (1857), Cao Su (1897), Khoai tây, rau ôn đới: Súplơ, su hào lợn Yoorsai, gà Rôtri,

gà Plymut

Trong giai đoạn này Việt nam đã xuất khẩu được một số nông sản như gạo

Trang 6

5

967.000 tấn (năm 1919), xuất cảng 70417 tấn nhựa cao su (1920-1929) Điều đó cũng nói lên rằng phát triển nông nghiệp và khuyến nông thời kỳ này chủ yếu phục

vụ cho chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân P háp Ngời Pháp tổ chức các

Sở canh nông ở Bắc Kỳ, các Ty khuyến nông ở các tỉnh Hàng năm tổ chức thi đấu xảo các sản phẩm nông nghiệp quý vài năm một lần như thi các giống bò sữa, giống ngựa tốt

Năm 1938 Thành lập trường đào tạo kỹ sư canh nông để đào tạo các kỹ sư ngành nông nghiệp

Từ sau cách mạng tháng 8 /1945 - 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi quốc dân "tăng gia sản xuất! tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này" Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, toàn dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất Vụ rau mầu Đông xuân 45- 46 đã thắng lợi rực rỡ: sản lượng ngô tăng gấp

4 lần, khoai lang tăng gấp 5 lần, tổng sản lượng hoa mầu quy thóc bình quân hàng năm 133.100 tấn đến mùa xuân 1946 đã đạt 505.000 tấn, tăng gấp 4 lần

Từ 1958-1975: Nông nghiệp miền Bắc Việt nam phát triển trong sự tác động trực tiếp của mô hình Hợp tác xã nông nghiệp Từ tổ đổi công (1956), đến hợp tác xã bậc thấp năm 1960, đến hợp tác xã cấp cao (1968), đến hợp tác xã toàn xã năm 1974

Phương pháp hoạt động khuyến nông chủ yếu là: cán bộ truyền đạt chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước hay tiến bộ kỹ thuật thông qua Ban quản trị Hợp tác xã rồi từ đó đến người nông dân Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện về chỉ đạo sản suất ở cơ sở

Về thành tích đã đạt được: Lúa chiêm đã được thay thế bằng lúa xuân, năng suất cao ngắn ngày Thái Bình là tỉnh đầu tiên đạt 5 tấn thóc/ha năm 1966 Đến năm

1974 toàn miền Bắc đã đạt 5 tấn thóc/ha trên đất cấy 2 vụ lúa Năm 1988 huyện Hồng Hà, tỉnh Thái Bình là huyện đầu tiên đạt 10 tấn thóc/ha Về chăn nuôi có phong trào nuôi lợn hai máu; Móng cái x Yoocsai, Lợn ỉ x Becsai, Bò lai Sind, nuôi

gà công nghiệp

Thời kỳ 1976- 1988: Nông nghiệp Việt Nam được thống nhất thành một mối, tiềm năng và thế mạnh của hai miền Nam Bắc được bổ xung cho nhau và cùng nhau phát triển theo một đường lối chung là hợp tác hóa nông nghiệp Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý, kế hoạch hóa tập trung Nhiều thiếu sót đã nẩy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại, đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vớng mắc, nông dân không yên tâm sản suất và sinh sống

Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm 80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/1/ 1981 chỉ thị 100 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 100) Với mục đích phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế trên cơ

sở lôi cuốn mọi người hăng hái lao động Khoán 100 mặc dù chưa phải là mô hình

Trang 7

6

mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp mà mới chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ

khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ Đây cũng được coi là

sự đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, sản xuất tập thể Vì vậy

coi là “chìa khóa vàng”để mở ra thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam

Tiến bộ lớn nhất sau khoán 100 là sản suất lương thực Lần đầu tiên kể từ khi nông nghiệp tập thể hóa (1958), Việt Nam đ ã đạt tốc độ tăng trưởng sản lượng lựơng thực cao hơn tốc độ tăng dân số (lựơng thực tăng 5%, dân số tăng 2,3%, lương thực bình quân trên đầu ngời tăng 273 kg/ người/ năm 1981 tăng lên 304 kg/ người/ 1985 Chăn nuôi phát triển ổn định nhất là chăn nuôi gia đình Song những kết quả đạt được của khoán 100 không vững Từ năm 1986 sản suất nông nghiệp bắt đầu chững lại và giảm sút, sản lượng lương thực năm 1986 đạt 18,37 triệu tấn, năm

1987 giảm còn 17,5 triệu tấn, trong khi đó dân số tăng gần 1,5 triệu người

Tháng 12 năm 1986, Đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế

Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa

VI (5/4/1988) về ”Đổi mới quản lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản suất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10)

Từ 1988 đến nay: Khoán 10 đã đem lại hiệu quả nhanh chóng tạo ra bước ngoặt mới trên mặt trận nông nghiệp Hộ nông dân đã trở thành đơn vị sản xuất tự chủ, hộ nông dân có quyền sử dụng ruộng đất lâu dài 15-20 năm, có quyền thuê thêm lao động, có quyền phát huy vốn và vật tư kỹ thuật, chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có tư cách pháp nhân trong quan

hệ hợp đồng sản xuất kinh doanh

Ngày 2/3/1993 Chính phủ ra Nghị định 13/ CP về công tác khuyến nông Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương Kết quả đạt được của nông nghiệp từ sau khi có đường lối đổi mới là rất rõ nét, nói riêng về sản xuất lương thực diện tích, năng suất, sản lượng tăng đều qua các năm Nếu như trư-

ớc năm 1988 trở về trước,Việt Nam là một nước thiếu lương thực trầm trọng hàng năm phải nhận viện trợ hoặc nhập khẩu gạo, thì đến năm 1989 đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990: 1,6 triệu tấn, 1992: 1,9 triệu tấn, năm 1994: 2 triệu tấn và

từ những năm 1996- 2003 là trên 3 triệu tấn mỗi năm

Khi đánh giá về những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới kinh tế Việt Nam, các nhà kinh tế thế giới đều thống nhất nhận định: Thành công lớn nhất

là nông nghiệp, điều đó hoàn toàn đúng Nông nghiệp Việt nam bắt đầu đổi mới cơ chế quản lý từ sau Nghị quyết 10 (4/1988) Nếu tr ước đổi mới nông nghiệp Việt Nam mang nặng tính tự cung, tự cấp, làm không đủ ăn, lương thực thiếu triền miên

từ năm này sang năm khác, thì từ sau đổi mới tình hình đã khác hẳn,Việt Nam không chỉ đủ lương thực, thực phẩm nuôi sống hơn 80 triệu dân trong nước mà còn

dư thừa để xuất khẩu hàng năm 2- 3 triệu tấn gạo, hàng trăm nghìn tấn thịt, rau quả, thu về cho đất nước hàng tỷ USD Tình trạng thiếu lương thực ở nông thôn đ ã bị đẩy lùi và không còn có khả năng tái diễn trên diện rộng Một nền nông nghiệp

Trang 8

7

hàng hóa đã hình thành với những sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng thế giới như gạo,

cà phê, cao su, hạt điều, chè

Ngày 2/3/1993, Chính phủ ban hành nghị định 13/CP về công tác khuyến nông Hệ thống tổ chức khuyến nông đã được thiết lập từ Trung ương đến địa phương Ngày 26/4/2005 Chính phủ ban hành nghị định 56/2005/NĐ-CP về khuyến nông –khuyến ngư

1.3 Khoa học khuyến nông

Khoa học khuyến nông coi con người và mối quan hệ khăng khít giữa người với người (nhà làm chính sách, nghiên cứu, cán bộ khuyến nông, nông dân và các đối tác liên quan) trong quá trình phát triển nông nghiệp và nông thôn là đối tượng nghiên cứu chính Nghiên cứu khuyến nông nhằm giải đáp câu hỏi làm thế nào để

có thể giúp nông dân chuyển đổi quan điểm, thái độ, tăng cường khả năng nhận thức vấn đề và tự đưa ra các quyết định tốt nhất để giải quyết các khó khăn của họ

1.4 Giáo dục khuyến nông

Giáo dục khuyến nông là nghiên cứu xem quyết định nào phải được người làm khuyến nông hay các nhà quản lý đưa ra, thông tin gì cần cho sự quyết định này, và có bao nhiêu thông tin như thế đang có sẵn Sau đó nghiên cứu viên đó sẽ cố gắng cung cấp những thông tin còn thiếu Đây là môn khoa học định hướng quyết định (khác với khoa học định hướng kết luận) Nó có thể giúp cho cán bộ khuyến nông và nông dân nhận thức rõ hơn về vấn đề họ đang gặp phải Giáo dục khuyến nông xây dựng dựa trên một vai môn khoa học định hướng kết luận giúp cán bộ khuyến nông đưa ra các quyết định của họ, đặc biệt là môn tâm lý học, xã hội học

và nhân chủng học

Giáo dục khuyến nông bao gồm việc sử dụng có suy nghĩ các thông tin để giúp người ta hình thành ý kiến và đưa ra những quyết định đúng Giáo dục khuyến nông với mục tiêu là để học cách hình thành ý kiến và học cách đưa ra những quyết định

Trang 9

Đây là một khái niệm động bởi các quan niệm về nó luôn biến đổi Chúng không thể gắn một ý nghĩa quá cứng nhắc cho một thuật ngữ mà nó lại mô tả một quá trình liên tục chuyển động và tiến hoá ở nông thôn

Để mở đầu ta có thể nhắc lại một số định nghĩa như sau:

2.1.1 Một số định nghĩa về khuyến nông

Theo nghĩa Hán- Văn, “khuyến“ có nghĩa là khuyên người ta có gắng sức

trong công việc, còn “Khuyến nông” nghĩa là khuyên mở mang phát triển trong nông nghiệp

Thuật ngữ “Extension” có nguồn gốc ở Anh từ những năm 1866 với một hệ thống trường đại học “Extension” - Khuyến nông được tiếp nhận trước tiên ở các trường Đại học Cambridge và Oxford, sau đó được mở rộng tới các Hội giáo dục khác ở Anh và các nước khác “Extension” với nghĩa ban đầu là “triển khai” hay

“mở rộng” Nếu khi ghép với từ “Agriculture” thành “Agricultural Extension” thì dịch là “khuyến nông” và hiện nay đôi khi chỉ nói Extension người ta cũng hiểu nó

(A.W.Van den Ban và H.S Hawkins, khuyến nông, 1988)

“Khuyến nông khuyến lâm được xem như một tiến trình của việc hoà nhập các kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại Các quan điểm, kỹ năng để quyết định cái

gì cần làm, cách thức làm trên cơ sở cộng đồng địa phương sử dụng các nguồn tài nguyên tại chỗ với sự trợ giúp từ bên ngoài để có khả năng vượt qua các trở ngại

gặp phải.” (D.Sim và H.A.Hilmi, FAO Forestry paper 80, 1987, FAO Rome)

“Khuyến nông khuyến lâm là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó

khăn, các nhu cầu và giúp họ tự quyết định giải quyết vấn đề chính của họ” (Malla,

A Manual for training Fiel Workers, 1989)

“Khuyến nông khuyến lâm là một quá trình giáo dục Các hệ thống khuyến nông khuyến lâm thông báo, thuyết phục và kết nối con người, thúc đẩy các dòng thông tin giữa nông dân và các đối tượng sử dụng tài nguyên khác, các nhà nghiên

cứu, các nhà quản lý và các nhà lãnh đạo.” (Falconer, J., Forestry, A Review of Key

Issues, Social Forestry Network Paper 4e, 1987, O D I., London)

Trang 10

9

“Khuyến nông là một từ tổng quát để chỉ tất cả các công việc có liên quan đến sự nghiệp phát triển nông thôn, đó là một hệ thống giáo dục ngoài nhà trường,

trong đó có người già và người trẻ học bằng cách thực hành” (Thomas G Floes)

Khuyến nông, hiểu theo nghĩa rộng là khái niệm chung để chỉ tất cả những

hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn

Khuyến nông hiểu theo nghĩa hẹp, là một tiến trình giáo dục không chính

thức mà đối tượng của nó là nông dân Tiến trình này đem đến cho nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lợng cuộc sống của nông dân và gia đình họ

Theo CIDSE 1 :

Khuyến nông là một từ tổng quát dùng để chỉ tất cả các công việc liên quan đến sự phát triển nông thôn Đó là một hệ thông giáo dục ngoài nhà trường trong đó các người già và trẻ được học bằng thực hành

Định nghĩa của nước Indonesia:

Khuyến nông là một hệ thống giáo dục không theo một quy định thống nhất nào mà cũng không theo một hệ thống chung nào Để huấn luyện nông dân nhằm mục đích giúp họ có những kỹ năng và trình độ kỹ thuật tốt hơn, phát triển hơn, quan điểm xác thực về sự đổi mới, dành được thế chủ động trong sản xuất kinh doanh và cuộc sống của họ

Theo FAO 2 :

Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho người nông dân đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiêm về quản lý kinh tế và những thông tin về thị trường

Để họ có khả năng tự giải quyết các vấn đề của gia đình và công đồng, nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới

Những định nghĩa trên đây cho chúng ta một quan điểm về các cách diễn giải thuật ngữ khuyến nông Tuy vậy chúng có một số điểm giống nhau Tất cả đều nhấn mạnh khuyến nông là một tiến trình giáo dục được kéo dài trong một giai đoạn mà ở đó:

- Đối tượng học là đông đảo người nông dân, ở mọi thành phần và lứa tuổi,

đa dạng về trình độ văn hoá, phong tục tập quán, có thể là thanh thiếu niên 18 đôi mươi cho đến những lão nông tri điền, có thể là cán bộ phát triển nông thôn, những người đang có nhu cầu mới về học, học để biết làm nông nghiệp trong những điều kiện mới

1 Tổ chức đoàn kết quốc tế về hợp tác và phát triển

2 Tổ chức lương thực và nông nghiệp quốc tế

Trang 11

- Hình thức học chủ yếu là giáo dục ngoài học đường, chương trình học rất linh hoạt, cốt đáp ứng nhu cầu thực tế của người học, có thể tiến hành trên đồng ruộng, nơi chuồng trại hoặc trong nhà

- Phương pháp học thích hợp là phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra, dựa trên những tình huống cụ thể và có thật, thông qua những hành động thực tế

2.1.2 Mục đích khuyến nông:

- Mục đích chính của công tác khuyến nông là bắc nhịp cầu nối liền khoảng

cách giữa sản xuất và nghiên cứu, giữa người nông dân với nhà khoa học; nhà nghiên cứu; nhà làm chính sách; nhà doanh nghiệp, Đem những thông tin cập nhật

và đáng tin cậy về phương pháp canh tác, về kinh tế gia đình, phát triển cộng đồng

và các chủ đề liên quan cho những người nông dân cần đến nó bằng cách dễ hiểu và

có ích cho họ Đồng thời phản ánh những vấn đề, những khó khăn, những nhu cầu

mà người nông dân đang phải đối mặt cho các nhà nghiên cứu, các nhà làm chính

sách để họ có những cải tiến và thay đổi phù hợp

- Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật và kiến thức, kỹ

năng về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất Để từ đó họ có những quyết định đúng đắn trong sản xuất, đáp ứng yêu cầu của thị trường và theo

kịp sự phát triển chung của toàn xã hội

- Mở rộng sản xuất, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất góp phần

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc làm tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông

nghiệp nông thôn

- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia

phát triển nông nghiệp nông thôn

2.2 Nội dung, nguyên tắc hoạt động khuyến nông

2.2.1 Nội dung hoạt động khuyến nông (Căn cứ theo nghị định 56/CP)

Để đạt được những mục đích trên thì nội dung hoạt động của khuyến nông bao gồm những khía cạnh sau:

- Thông tin tuyên truyền

+ Tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, thông tin thị trường và giá cả, phổ biến điển hình tiến tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triển nông nghiệp

Trang 12

11

+ Xuất bản, hướng dẫn và cung cấp thông tin đến người sản xuất bằng các phương tiện thông tin đại chúng, hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm và các hình thức tuyên truyền khác

- Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo

+ Bồi dưỡng và tập huấn nghề nghiệp cho người sản xuất để nâng cao kiến thức,

kỹ năng quản lý kinh tế trong nông nghiệp

+ Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho người hoạt động khuyến nông

+ Tổ chức tham quan, khảo sát, học tập trong và ngoài nước

- Xây dựng mô hình và chuyển giao khoa học kỹ thuật

+ Xây dựng mô hình trình diễn về các tiến bộ khoa học kỹ thuật phù hợp với từng địa phương

+ Xây dựng các mô hình công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp

+ Phổ biến kết quả khoa học kỹ thuật từ các mô hình trình diễn ra diện rộng

- Hợp tác quốc tế về khuyến nông

+ Tham gia các hoạt động khuyến nông trong các chương trình hợp tác với nước ngoài

+ Trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

2.2.2 Các nguyên tắc trong hoạt động khuyến nông

Chúng ta thấy rằng cán bộ khuyến nông có quyền tự do phục vụ nông dân theo cách thức mà họ cho là có hiệu quả nhất Mặt khác người nông dân có quyền theo hay không theo lời khuyên của cán bộ khuyến nông Nhưng để có một chương trình khuyến nông có hiệu quả thực sự đối với người dân thì khi tiến hành các hoạt động khuyến nông, người cán bộ khuyến nông cần phải tôn trọng một số nguyên tắc sau:

Trang 13

12

có một chương trình khuyến nông có hiệu quả cần phải thích ứng với từng vùng, tức

là chương trình khuyến nông phải được xây dựng dựa trên điều kiện từng vùng và hoàn cảnh của từng người nông dân

- Tính toàn diện hay liên ngành

Do sản xuất nông nghiệp trong nông hộ mang tính đa ngành và liên ngành, hoạt động sống của cộng đồng cũng mang tính đa ngành và liên ngành Nên nguyên tắc này cần phải đặt ra trong các chương trình khuyến nông

- Tính bình đẳng và phân chia nhóm đối tượng

Lý do phải thực hiện nguyên tắc này là do trong thực tế ở nông thôn mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, sở hữu những tài nguyên và nguồn lực khác nhau cũng như đang phải đối mặt với những vấn đề không giống nhau Thông thường những người có kiến thức chịu khó làm ăn, sở hữu nhiều tài nguyên thì luôn may mắn và dành được ưu thế trong sản xuất kinh doanh và trở thành những người

có quyền lực, có uy tín ở địa phương Ngược lại những người bị gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh hoặc không có nhiều tài nguyên nên họ trở thành những người nghèo, không có thế lực, uy tín

Trên quy mô rộng hơn chúng ta còn thấy ở nông thôn có những người chuyên trồng trọt, những người chuyên chăn nuôi, những người chuyên đánh bắt thuỷ sản Vì thế những con người này, những nhóm người này đang có những nhu cầu không giống nhau đồng thời họ đang gặp phải những vấn đề khó khăn khác nhau Để thuận lợi trong hoạt động khuyến nông cũng như đảm bảo thành công của hoạt động cần phải tạo ra được bầu không khí bình đẳng trong lúc làm việc và có nội dung làm làm việc phù hợp với từng nhóm đối tượng

- Phối hợp nhịp nhàng với cộng đồng nông dân chứ không phải thay thế họ

Chỉ những người nông dân mới có thể chọn lựa cho họ phương thức sản xuất

và cách sống thích hợp với họ Người cán bộ khuyến nông làm việc bên cạnh họ nhưng không thể thay thế họ Những người nông dân có thể có được những quyết định sáng suốt để giải quyết các vấn đề của họ nếu như có đầy đủ thông tin về các hướng giải quýêt có thể có Khi thực hiện một quyết định của mình nông dân sẽ tự tin hơn Khuyến nông có nghĩa là phối hợp các công việc, là giúp đỡ các cộng đồng nông dân giải quyết các vấn đề vướng mắc và động viên họ cầm lấy những quyết định của chính mình

- Gắn chặt trách nhiệm của khuyến nông với đối với nông dân

Những dịch vụ khuyến nông và những cán bộ khuyến nông đều phải thực hiện hai nhiệm vụ Một mặt họ chịu sự kiểm soát của các cấp lãnh đạo về các mục tiêu chính trị của các chương trình dự án phát triển nông thôn, và họ cần phải chấp hành đường lối chính sách mà cấp trên giao Mặt khác họ phục vụ cho quyền lợi của những người nông dân và trong khả năng của mình họ phải cố gắng thoả mãn nhu cầu của những người này

- Nguyên tắc trao đổi hai chiều

Bởi vì chúng ta biết rằng sự giúp đỡ của cán bộ khuyến nông là dựa trên những kết quả nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu nông nghiệp, nhưng những

Trang 14

13

thông tin mà cán bộ khuyến nông thu nhận được từ những người sản xuất cũng rất quan trọng cho công việc của anh ta Những người này có những ý tưởng và những nhận xét hay phù hợp với thực tế Do đó nguyên tắc này cũng cần phải tôn trọng khi làm việc với những người nông dân

- Tạo lập mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp với người sản xuất và giữa những người sản xuất với nhau

2.2.3 Chức năng khuyến nông

* Chức năng giáo dục, đào tạo: Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động như:

+ Tập huấn kỹ thuật

+ Tham quan, trao đổi kinh nghiệm

* Chuyển giao kỹ thuật và truyền thông: Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động như:

+ Xây dựng mô hình trình diễn

+ Hội thảo đầu bờ

+ Thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng

* Chức năng thúc đẩy: Chức năng này được thực hiện thông qua một số các hoạt động sau:

+ Kích thích nông dân hành động theo quyết định của chính họ

+ Tạo lập động cơ cho người dân

* Chức năng thu nhận (và giải thích các bức thông điệp) thông tin và phản hồi

Nghĩa là khuyến nông bao gồm việc tiếp nhận và giải thích các bức thông điệp đã được truyền đi các kênh thông tin khác nhau

* Chức năng phát triển các chủ đề khuyến nông và đánh giá các ho ạt động khuyến nông: Chức năng này được thực hiện qua một số hoạt động:

+ Nghiên cứu thực trạng cộng đồng địa phương để đề xướng những chủ đề khuyến nông phù hợp và xây dựng những phương pháp khuyến nông cụ thể

+ Kiểm tra theo dõi các ho ạt động khuyến nông và tiến hành đánh giá các hoạt động khuyến nông theo từng chủ đề và thời gian nhất định

* Chức năng thành lập các tổ chức nông dân

Các nhóm tổ chức như: nhóm sở thích, câu lạc bộ khuyến nông,

2.2.4 Nhiệm vụ khuyến nông

Chúng ta thấy rõ rằng cán bộ khuyến nông không thể giải quyết được tất cả các vấn đề của người nông dân được Kiến thức và hiểu biết của người làm khuyến nông chỉ có thể giải quyết một số vấn đề nào đó và khi thực hiện cần phải có sự hợp tác của người dân Sau đây là một vài nhiệm vụ chính mà cán bộ khuyến nông có thể và nên làm với người nông dân

- Giúp nông dân phân tích tình hình hiện tại và tương lai của họ

Chúng ta dễ dàng nhận ra rằng một số nông dân không đ ủ hiểu biết để nhận thức ra vấn đề họ đang gặp phải và nghĩ ra các giải pháp thực thi hoặc lựa chọn giải pháp thích hợp nhất để đạt được mục đích của họ Kiến thức mà họ có cũng có thể chỉ dựa vào những thông tin thiếu chính xác do kinh nghiệm bị hạn chế, ít được đào

Trang 15

- Giúp nông nhận thức được vấn đề trong quá trình phân tích

Nếu chỉ dừng lại ở việc giúp người dân phân tích vấn đề thì cán bộ khuyến nông chưa hoàn thành chức năng giáo dục Bởi vì điều quan trọng là sau khi phân tích một tình huống nào đó, người phân tích phải thấy được điểm mấu chốt ở tình huống đó là gì, cần phải giải quyết nó như thế nào là tốt nhất Hơn nữa việc giúp họ phân tích vấn đề chỉ thực hiện ở giai đoạn đầu và chỉ đối với một số nông dân, còn

về lâu dài thì người nông phải tự phân tích lấy tình huống của họ Người nông dân

đó sẽ truyền lại kiến thức cho các người nông dân khác đó mới là điều quan trọng

Ví dụ: Để giúp nông dân đối phó với các loại dịch hại, cán bộ khuyến nông không chỉ dạy cho nông dân cách sử dụng bình bơm mà còn phải dạy cho nông dân hiểu được vòng đời của dịch hại, chu kỳ sinh trưởng phát triển của cây trồng để nông dân biết được khi nào thì sử dụng thuốc hoá học là đúng lúc và hướng dẫn cho người khác sử dụng

- Tăng thêm kiến thức và phát triển thêm hiểu biết về các vấn đề, và giúp sắp xếp lại những kiến thức hiện có của người nông dân

Nếu không có cán bộ khuyến nông thì người nông dân vẫn có thể tiến hành quá trình sản xuất bình thường Họ không hề được đào tạo chính quy về bất cứ một ngành nghề nào và họ cũng không biết khuyến nông là cần thiết Có thể mọi quá trình sản xuất đều có thể diễn ra dưới sự điều hành của họ Bản năng sinh tồn và khát vọng về cuộc sống ấm no hạnh phúc đã cho phép họ làm như thế Tuy nhiên trong thời buổi kinh tế thị trường như hiện nay thì những kiến thức do đúc rút từ kinh nghiệm và những khát vọng là chưa đủ Nếu đã chấp nhận nền kinh tế thị trường thì sản xuất phải mang tính hàng hoá Do đó những kiến thức mới về quản lý kinh tế nông nghiệp, những kiến thức mới về sản xuất hàng hoá cần phải có đối với bất kỳ người chủ sản xuất nào

- Giúp cho nông có những kiến thức cụ thể về những giải pháp cho một vấn đề nào

đó, vì thế họ có thể lựa chọn những hành động thích hợp

Chúng ta thấy rằng không chỉ có một câu trả lời cho câu hỏi làm thế nào để giúp nông dân đang gặp khó khăn ở những vùng nông thôn Bởi vì điều này còn phụ thuộc vào khả năng và tiềm lực mà người nông đang có Họ biết cái gì là tốt nhất đối với họ

Ví dụ: Việc thiếu lương thực có thể giải quyết bằng việc mỡ rộng diện tích hoặc cũng có thể giải quyết bằng việc tăng mức độ thâm canh Cả hai cách này đều

Trang 16

15

có thể làm tăng sản lượng lương thực, tuy nhiên chỉ người nông dân mới biết cách nào là thích hợp với họ nhất

- Động viên nông dân thực hiện những lựa chọn của họ

Một số nông dân thiếu động cơ để hành động theo một cách nào đó Hoặc họ thiếu tự tin do cuộc sống nông thôn đã trói chân họ với những quan niệm cổ xưa Cán bộ khuyến nông phải giúp họ vượt qua những định kiến của xã hội, tạo ra bầu không khí thuận lợi cho họ hành động

- Giúp nông dân đánh giá và cải tiến kỹ thuật để tự hình thành ý kiến và tự ra quyết định

Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với cán bộ khuyến nông Chúng ta thấy rằng người nông dân đưa ra quyết định một phần là dựa vào sự trong đợi thu được kết quả đó, và một phần là dựa vào cách làm cho kết quả đó có giá trị Những cái mà nông dân cho là có giá trị có thể khác với nhà làm khuyến nông Nhưng chúng ta cũng không có lý do gì để kết luận rằng, những cái có giá trị theo quan điểm của các nhà làm khuyến nông và cấp trên của họ lại tốt hơn những cái của nông dân và gia đình họ

Ví dụ: Việc dùng phân bón ở những vùng chờ nước trời sẽ làm tăng thu nhập bình quân của gia đình nông dân, nhưng cũng đồng thời làm tăng thêm khả năng rủi

ro Như thế chỉ nông dân mới có quyền quyết định thu nhập hay rủi ro là quan trọng đối với họ

2.3 Nguyên lý tiến trình khuyến nông

Khuyến nông được thực hiện theo nguyên lý như sau:

- Giúp nông dân hiểu biết được thông tin Điều này liên quan đến truyền tải kiến thức và kỹ năng, cung cấp và làm sáng tổ thông tin Hoạt động này có thể được thực hiện thông qua thông tin tuyên truyền, tập huấn, xây dựng mô hình,…Ví dụ: tập huấn kỹ thuật trồng lúa lai Sản phẩm của giai đoạn này là kiến thức và kỹ năng mới (quy trình trồng lúa lai)

- Giúp nông dân nhận thức được những thông tin đó Tức là giúp họ chuyển đổi quan điểm, thái độ, nếp nghĩ,…sau khi nhận được thông tin và kiến thức mới Hoạt động này có thể được thực hiện thông qua các hoạt đông đào tạo và tham quan học tập chia sẽ kiến thức và kinh nghiệm Ví dụ hiểu được trồng lúa lai là có ích cho gia đình và thích trồng lúa lai thay vì lúa địa phương Sản phẩm của giai đoạn này là thái độ và nếp nghĩ thay đổi theo hướng tích cực (thích trồng lúa lai)

- Giúp nông dân hành động hay thay đổi thực hành sản xuất Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong khuyến nông Có thể sau khi hiểu biết và nhận thức đầy đủ nhưng người nông dân vẫn không thể hành động được bời vì họ thiếu các ngườn lực cần thiết hoặc họ không thể tiếp cận được nguồn lực đó để sản xuất Khuyến nông nên giúp họ tiếp cận được các nguồn lực và dịch vụ này, có thể liên quan đến thể chế và chính sách Ví dụ họ muốn sản xuất lúa lai những không thể trồng được lúa này vì họ không có đất đai để trồng sản phẩm của giai đoạn này là thực hành sản xuất thay đổi (họ trồng lúa lai thay thế lúa địa phương)

Những hoạt động thực hiện, thay đổi nhu cầu của đối tượng

Trang 17

16

Kiến thức và kỹ năng

Khuyến nông cung cấp kiến thức kĩ thuật và huấn luyện những kĩ năng khác nhau cho nông dân Muốn phát triển sản xuất có hiệu quả, nông dân cần kiến thức mới và những kĩ năng mới Ví dụ, cách tổ chức và quản lí trang trại kể cả việc theo dõi ghi chép đầy đủ những khoản thu chi, cách sử dụng những loại công cụ mới, hoặc khả năng phân tích khía cạnh kinh tế của thông tin và những lời khuyên

Những khuyến cáo kỹ thuật

Khuyến nông cung cấp thông tin và những khuyến cáo kĩ thuật giúp nông dân tự mình đưa ra quyết định và hành động Thông tin bao gồm giá cả và thị trờng của những mặt hàng họ có thể sản xuất hoặc quan tâm, hoặc có những lo ài cây/con giống họ đang cần Khuyến cáo kĩ thuật, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu, thường tập trung vào những hoạt động canh tác và những tác động cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất Tất nhiên, nhiều nông dân cũng có những kiến thức và kinh nghiệm sản xuất rất có ích mà khuyến nông có thể tiếp thu và phổ biến lại cho những nông dân khác

Tổ chức nông dân

Nông dân cần có một tổ chức để đại diện cho quyền lợi của mình và thực hiện những công việc mang tính cộng đồng Vì vậy cán bộ khuyến nông cần giúp họ

tổ chức thành những tổ, nhóm khác nhau trên cơ sở mục đích hoặc lợi ích chung của

họ Những tổ nhóm như vậy thường đóng vai trò kênh đa thông tin đến nông dân và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác khuyến nông

Động cơ và lòng tin

Một trong những khó khăn của tiến trình phát triển nông thôn hiện nay là nhiều hộ nông dân phải "đơn phương độc mã" đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn và cảm thấy khó có thể làm được gì để thay đổi cuộc sống của mình Họ thiếu

sự hỗ trợ và động viên từ bên ngoài Có người đã phải vật lộn cả đời mà cũng không làm cho cuộc sống khá lên được bao nhiêu Vì vậy, cán bộ khuyến nông cần đến với

họ, giúp đỡ họ và khuyến khích họ tham gia các chơng trình khuyến nông Nhng điều quan trọng hơn cả cần phải thuyết phục và động viên để họ tin tởng rằng họ hoàn toàn có thể tự quyết định và hành động để cải thiện cuộc sống của chính mình

Động cơ của hành vi có thể là một cái gì đó mà con người muốn có, muốn cảm nhận thấy hoặc biến thành sự thật

Trong đời sống xã hội thì mỗi con nưgời, mỗi vị trí, mỗi địa vị, mỗi điều kiện lại có các nhu cầu khác nhau Theo tác giả Abraham H Maslow trong cuốn sách “ Động cơ và nhân cách” New York, 1970 đã đa ra 5 nhóm nhu cầu cơ bản của con người và chúng có một trật tự logic, hệ thống, nghĩa là các nhu cầu ở 5 mức độ khác nhau, mỗi mức trở thành một đòi hỏi chỉ khi các mong muốn ở các mức thấp hơn đã được thoả mãn

Nhu cầu sinh tồn:

Ở mức cơ bản thấp nhất là những nhu cầu được gọi là “nhu cầu sinh lý”, chủ yếu là những điều thiết yếu để cơ thể con người tồn tại như một cơ thể sống Nhóm này gồm: Lương thực, thực phẩm, nơi ở…Chừng nào các nhu cầu này chưa thỏa

Trang 18

17

mãn thì con người sẽ không cảm thấy băn khoăn về các nhu cầu khác cao hơn Khi các nhu cầu sinh tồn tương đối đáp ứng, thì nhu cầu tiếp theo đòi hỏi

Nhu cầu an toàn

Khi đã có đủ lương thực, thực phẩm, và các nhu thiết yếu cho cuộc sống thì con người nghĩ đến việc làm thế nào cuộc sống được đảm bảo hơn, an toàn hơn Con người tìm các biện pháp bảo đảm cho tương lai khỏi bị thiếu các nhu cầu cơ bản: như làm nhà cửa chắc chắn hơn, tích lũy lương thực, tích lũy tiền bạc

Nhu cầu nhập hội

Khi các nhu cầu cho sinh tồn và an toàn đợc đáp ứng đầy đủ thì vấn đề vật chất không còn làm ta bân tâm nhiều nữa, và lúc này con người muốn làm được một cái gì đó, hoặc tham gia vào một nhóm hay tổ chức nào đó để đợc mọi người chấp nhận, và tham gia vào công tác xã hội

Nhu cầu thừa nhận/ kính trọng

Lòng kính trọng tùy thuộc rất nhiều vào người khác đánh giá ta Thường con người không thỏa mãn với việc người khác chấp nhận bình thờng

Nếu được hoan nghênh, khâm phục con người cảm thấy tự tin và hãnh diện

Nhu cầu khẳng định

Sau khi đạt được 4 nhu cầu trên, thì con người cũng muốn làm được một cái

gì đó để có thể khẳng định được tài năng của mình

Trong công tác khuyến nông việc tìm hiểu động cơ người dân có thể giúp ta trong hai tình huống: khi muốn giúp họ và khi muốn họ thay đổi hành vi Để giúp con người khắc phục vấn đề nào đó của họ, trước tiên ta phải tìm hiểu tại sao họ lại

có hành vi như họ đang thực hiện? Hành động của họ có thể bộc lộ hoàn toàn vô lý đối với chúng ta, song họ có thể hóa ra khôn ngoan và sáng suốt khi họ được hiểu ra

dới lý thuyết động cơ và nhu cầu Một sự phân tích hệ thống các tình huống có thể

cho phép chúng ta giúp họ những vấn đề mà họ cảm thấy cần có sự giúp đỡ thực sự

Khi một khuyến nông viên muốn thuyết phục người này thay đổi hành vi, thực hiện một vấn đề mới, bản thân phải tin rằng phương pháp mới phải tốt hơn, hiệu quả hơn hay sinh lợi hơn Nhưng như thế chưa đủ, còn phải xem xét tác động của vấn đề mới ra sao Liệu vấn đề mới đó có đáp ứng được một trong các nhu cầu của họ hay không?

Còn đối với động cơ của khuyến nông viên thì sao? Chúng có thể thay đổi như với bất cứ ai Họ có thể cần sự an toàn của việc làm thường xuyên, hoặc sự nhập hội trong quá trình gặp gỡ nhiều người, hoặc sự công nhận hay tín nhiệm của những người họ đã giúp bằng lời khuyên đúng đắn Họ cũng có thể cần sự tự khẳng định, và thỏa mãn nhu cầu đó khi họ biết đã thành công trong một công tác quan trọng

Khuyến nông được coi như là một công tác tổ chức, thiết kế để cải thiện điều kiện sinh sống của các nông dân và nông thôn, bằng cách hướng dẫn họ thực hiện tốt hơn các kỹ thuật canh tác, cải thiện phơng pháp làm việc Khuyến nông được bắt đầu từ bất cứ đâu mà con người hiện diện và với nguồn lực sẵn có của chính họ

Trang 19

Thực tiễn hoạt động và hiệu quả của khuyến nông Việt Nam trong những năm qua cho thấy khuyến nông theo nghĩa rộng là phù hợp với xu thế của thời đại trong sự nghiệp phát triển nông thôn của thế kỷ 21

2.4 Đánh giá hiệu quả khuyến nông

2.4.1 Khái niệm về đánh giá

Đánh giá có thể được hiểu như sự ước tính hay nhận định giá trị của một vật thể hay hoạt động nào đó Người ta đánh giá bằng cách so sánh kết quả với mục tiêu đặt ra ban đầu Khác với đánh giá kỹ thuật, đánh giá hiệu quả khuyến nông người ta chú trọng vào xem xét hiệu quả trên một hộ nông dân thay vì trên một đơn vị sản xuất hoặc trên một lao động

2.4.2 Các chỉ tiêu/chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khuyến nông

- Số lượng mô hình thay đổi theo thời gian;

Ví dụ: số mô hình khuyến nông tăng lên (lúa, bông, mía, cao su, cà phê, rau, hoa,…trên một cộng đồng trong một khoảng thời gian

- Quy mô áp dụng kỹ thuật thay đổi theo thời gian trên một không gian xác định;

Ví dụ: diện tích lúa lai tăng lên trong tổng diện tích trồng lúa của nông hộ;

- Thu nhập/hộ nông dân

Ví dụ: thu nhập của hộ nghèo tăng lên từ việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật của chương trình khuyến nông

2.5 Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam

Ngày đăng: 08/08/2014, 17:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Sổ tay khuyến nông, C. Floress, Philipine, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay khuyến nông
Tác giả: C. Floress
Năm: 1999
5. Agricultural extension, V. Hawpkin, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural extension
Tác giả: V. Hawpkin
Năm: 1998
7. Kỹ năng huấn luyện có sự tham gia - Cục Khuyến Nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng huấn luyện có sự tham gia
Tác giả: Cục Khuyến Nông
11. Phương pháp khoa học học và làm của kỹ sư Nông Lâm nghiệp , NXBHN 1995 12. Tập huấn để biến đổi (3 tập) - Phòng nghiên cứu công công tác xã hội biên dich - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp khoa học học và làm của kỹ sư Nông Lâm nghiệp
Nhà XB: NXBHN
Năm: 1995
15. Thông tin và những kỹ năng làm việc theo nhóm Dự án P TLNXH Sông Đà . 16. Alternative Strategies for education - G. Bishop Sách, tạp chí
Tiêu đề: Alternative Strategies for education
Tác giả: G. Bishop
1. Phương pháp khuyến nông, Nguyễn Thị Lan, 2004 Khác
3. Nguyên lý khuyến nông (sách dịch), Đại học kinh tế quốc dân, 2000 Khác
6. Báo cáo Hội thảo Quốc Gia về phương pháp KN có sự tham gia của người dân do bộ NN và P TNT tổ chức 2002 Khác
8. Kỹ năng giao tiếp và phương pháp chuyển giao TBKH trong công tác khuyến nông - Cục Khuyến Nông Khác
9. Phương pháp đào tạo cho người lớ n tuổi - Bộ KHĐTư Khác
10. Phương pháp khuyến nông có sự tham gia c ủa người dân và việc áp dụng thử nghiệm t ại vùng Tây Bắc Việt Nam - Tạp chí KN VN , số 6 năm 2004 Khác
13. Tài liệu đào tạo kỹ năng thuyết trình và điều hành hội thảo - Trung tâm hỗ trợ DN vừa và nhỏ (SMEDEC) Khác
14. Tài liệu tập huấn Lớp học hiện trường của nông dân (FFS)-Nguyễ n Thị Hồ ng Lý Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w