206 Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông á
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đã có sự đổi mới sâu sắc và toàn diện về cơ chế quản lý kinh tếcũng như mọi đường lối chính sách xã hội Hiện nay nền kinh tế thị trường đã có sựđiều tiết của Nhà nước, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những bước đổi mới, tiến
bộ và nhảy vọt về chất lượng để phù hợp với sự đổi mới của nền kinh tế cũng như
sự phát triển chung của đất nước Với hơn nửa thế kỷ và củng cố để lớn mạnh, kếtoán đã khẳng định được vai trò của mình trong công tác quản lý tài chính của cácđơn vị cũng như quản lý vĩ mô của nền kinh tế
Đất nước ta hiện nay đang thực hiện bước chuyển đổi kinh tế, việc hiện đạihoá cơ sở hạ tầng đang diễn ra nhanh chóng ở khắp mọi nơi làm thay đổi bộ mặt đấtnước từng ngày Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là làm thế nào để quản lý cóhiệu quả, khắc phục tình trạng lẵng, thất thoát vốn Trong điều kiện sản xuất kinhdoanh xây lắp phải trải qua nhiều khâu, thiết kế, lập dự toán, thi công, nghiệm thu…
Sự tồn tại của doanh nghiệp hiện nay phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưngđiều tiên quyết là doanh nghiệp phải biết ứng xử giá cả một cách linh hoạt, biết tínhtoán chi phí bỏ ra, biết khai thác khả năng của mình giảm chi phí đến mức thấp nhất
để sau một chu kỳ kinh doanh sẽ thu được lợi nhuận tối đa Muốn vậy, doanhnghiệp phải chú trọng vào công tác tổ chức hạch toán vật liệu, công cụ - dụng cụthật tinh tế, thật đầy đủ chính xác thì mới phục vụ cho việc phân tích đánh giá kếtquả hoàn thiện bộ máy tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất để doanh nghiệp tồn tại vàphát triển
Nhận thức được sự tồn tại của vấn đề trên, trong thời gian thực tập tại Công
Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A, Em đã mạnh dạn chọn chuyên đề
"Hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại và
Kỹ Thuật Đông A" Cho chuyên đề thực tập của mình
Trang 2Nội dung của chuyên đề này ngoài lời mở đầu và kết luận được chia thành 3phần:
Phần 1: Tổng quan về Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A Phần 2: Thực trạng công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công Ty Cổ PhầnThương Mại và Kỹ Thuật Đông A
Phần 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệutại Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A
Trang 3PHẦN I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ KỸ THUẬT
ĐÔNG A 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công Ty Cổ Phần Thương Mại và
Kỹ Thuật Đông A
Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A chính thức thành lập vàđược Sở Kế Hoạch & Đầu Tư Thành Phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh số 0103003340 ngày 09 tháng 12 năm 2003
Trụ sở của Công ty được đặt tại Số 144 Phố Chùa Láng – Láng Thượng Đống Đa – Hà Nội Là nơi có vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty
Ngày nay đất nước ta đang trên đà phát triển cùng với đường lối kinh tế mởcửa đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ra đời và phát triển, bên cạnh
đó các nhà đầu tư nước ngoài cũng vào tham gia đầu tư, các khu công nghiệp, các xínghiệp được mọc lên, hệ thống các toà nhà cao ốc được hình thành Nhu cầu về nhà
ở và các tiện nghi sinh hoạt ngày càng lớn Và để gánh vác một phần trách nhiệmchung của toàn xã hội Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A đã rađời
Hoà với xu thế phát triển mới của đất nước, công ty đã phát triển, tìm kiếmthêm được nhiều bạn hàng, từng bước khẳng định vị thế của mình trong ngành xâydựng Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty năm 2006 là: 3.263.000.000 Trong đóvốn cố định là 3.040.000.000, Vốn lưu động là: 223.000.000đ
Trong hơn 4 năm trở lại đây, Công ty tỏ ra là một doanh nghiệp làm ăn cóhiệu quả, tạo được uy tín và niềm tin với bạn hàng trong nhiều lĩnh vực như: xâydựng cơ bản, thuỷ lợi, lắp ráp cơ khí …
Phương hướng hoạt động của công ty trong thời gian tới là thay đổi và hoàn thiện
cơ cấu quản lý, phương thức sản xuất, tìm kiếm bạn hàng, khai thác tối đa khả năng hiện có của doanh nghiệp nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận
Trang 41.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A.
Ngành sản xuất kinh doanh chính.
- Xây lắp các công trình điện thuộc lưới điện 35 KV trở xuống
- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, cầu, cảng
- Cung cấp, lắp đặt máy móc trang thiết bị điện tử điện lạnh
- Cung cấp, lắp đặt thang máy cho các công trình xây dựng
- Cung cấp và lắp đặt máy móc, trang thiết bị phục vụ các ngành cơ khí xây dựng, dệt may, bao bì
- Tư vấn, khảo sát thiết kế các dự án nguồn điện và lưới điện (có cấp điện áp đến 35KV)
- Thiết kế, sửa chữa các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ, san đường, làm nền
Báo cáo nghiên cứu khả thi
Khảo sát thiết kế kỹ thuật
Đề án bảo
vệ thiết kế thi công Giám sát
thi công
Trang 5Giai đoạn1: Giai đoạn ký hợp đồng.
Đây là giai đoạn mà bên chủ đầu tư (Bên A) và Công ty Đông A (Bên B) sẽ
thảo luận và ký kết các điều khoản cơ bản về khối lượng công trình, quy cách phẩm chất kỹ thuật, chủng loại vật tư thiết bị lắp đặt, thời gian bàn giao, hình thức và thời hạn thanh toán… trong hợp đồng
Giai đoạn 2: Giai đoạn triển khai công việc.
Sau khi ký hợp đồng Bên B sẽ nhận hồ sơ thiết kế và dự toán của công trình, nhận mặt bằng thi công Sau đó Bên B sẽ tiến hành các công việc như phân bổ các hạnh mục cho các đội xây lắp, thuê thêm nhân công tại các địa bàn lân cận… Trongquá trình thi công Bên A sẽ cử cán bộ xuống nghiệm thu từng phần công trình cùng với giám sát của bên thiết kế
Khi công trình hoàn thành Bên A xuống nghiệm thu toàn bộ công trình và lập biên bản nghiệm thu khối lượng, sau đó lập hồ sơ quyết toán khối lượng và thanh toán cho Bên B theo đúng điều khoản đã ghi trong hợp đồng
Các bộ phận sản xuất kinh doanh của Công ty.
Các đơn vị sản xuất chính trong Công ty là các phòng thiết kế, thiết kế thuỷ điện, các đội xây lắp, xưởng cơ khí, hoạt động căn cứ vào tình hình thực tế của Công ty và khả năng của mỗi đơn vị
Các đơn vị đều có mô hình tổ chức sau
Đội trưởng
( Trưởng phòng )
Các tổ thi công
Trang 6- Đội trưởng: Là người đựơc Giám Đốc uỷ quyền giao cho trách nhiệm điều hành, phân tích, hạch toán và chủ động tiến độ thi công sản xuất Đội trưởng phải chịu trách nhiệm trước Giám Đốc Công ty về hoạt động của đội.
- Các giám sát kỹ thuật: Là những kỹ thuật chuyên ngành có trình độ chuyên môn cao, có trách nhiệm theo dõi, giám sát và xử lý kỹ thuật
- Kế toán: Là người ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất, thi công Lập bảng chấm công và bảng lương cho các tổ trưởng
- Các tổ thi công: Làm nhiệm vụ được giao như thi công công trình
1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2005, 2006,2007 của Công ty.
* Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu:
VT: 1.000.000 ĐVT: 1.000.000đ đ
Trang 7hơn tỷ lệ tăng chi phí, điều này làm cho lợi nhuận sau thuế so với doanh thu đạt tỷ
1.5 Đặc điểm bộ máy quản lý và phân cấp quản lý tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A.
* Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Trang 8Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý
- Giám đốc Công ty: Là người có thẩm quyền cao nhất trong Công ty, ngườiđứng ra điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, chịu tráchnhiệm chung trước Công ty và pháp luật về kết quả hoạt động của Công ty, phụtrách công tác đầu tư, quản lý cán bộ và tài chính kế toán
- Phó giám đốc 1, 2 : Là người giúp Giám đốc điều hành một hoặc một sốlĩnh vực hoạt động của Công ty theo sự phân công hoặc uỷ quyền của Giám đốc vàchịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ đã được Giám đốcCông ty phân công hoặc uỷ quyền
- Phòng Tổ chức hành chính: Có trách nhiệm quyền hạn trong việc quản lý
và thiết lập bộ máy nhân sự của Công ty Đồng thời thực hiện việc tuyển chọn, sắpxếp kết hợp với đào tạo và huấn luyện nhân viên cho đội ngũ kỹ thuật, tham mưucho Giám Đốc trong các công tác tổ chức sản xuất … Tuyển dụng bố trí bổ nhiệm
Đội xây lắp 3,4
Xưởng
cơ khí
Phòng thiết kế thuỷ điện
Đội xây lắp 1,2
Phòng
thiết
kế 1
Trang 9cán bộ theo dõi, thi đua khen thưởng, kỷ luật, theo dõi và giải quyết các chế độchính sách cho người lao động.
- Phòng kế hoạch kỹ thuật: Có nhiệm vụ lập kế hoạch: Tháng, quý, năm Lậpcác hợp đồng giao nhiệm vụ, giám sát tiến độ thực hiện các hợp đồng quản lý côngtác kỹ thuật chung của các công trình
- Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ ghi chép, phản ánh các nghiệp vụkinh tế tài chính phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân phối giám sátcác nguồn vốn bằng tiền đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp lệnh kế toánthống kê hiệu quả sử dụng vốn
Các bộ phận sản xuất kinh doanh của Công ty:
- Phòng thiết kế: Làm nhiệm vụ khảo sát thiết kế các công trình lưới điện,trạm biến áp
- Phòng thiết kế thuỷ điện: Làm nhiệm vụ khảo sát thiết kế các công trìnhnguồn điện
- Các đội xây lắp điện: Là đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty, hoạt động theochế độ hạch toán nội bộ, thực hiện chế độ khoán, hàng quý báo cáo quyết toán vớiCông ty
- Xưởng cơ khí: Là đơn vị sản xuất trực thuộc Công ty, hoạt động theo chế
độ hạch toán phân xưởng có trách nhiệm gia công chế tạo các sản phẩm cơ khí nhưcác cột thép, xà đỡ tiếp địa…
1.6 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán của Công ty.
Tổ chức bộ máy kế toán của Công ty gồm có 7 người, đó là một kế toántrưởng; 1phó phòng kế toán; 1kế toán tổng hợp; 1kế toán tập hợp chi phí và tính giáthành; 1kế toán thuế; 1 kế toán vốn bằng tiền; 1thủ quỹ
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức kế toán tập trung Còndưới các đội sản xuất thi công thì có các kế toán thực hiện ghi chép ban đầu, đếncuối tháng tập hợp toàn bộ chứng từ về Công ty thanh toán
Trang 10Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
- Kế toán trưởng: Là người phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Bangiám đốc và cấp trên về mọi hoạt động tài chính kế toán của Công ty, kiểm tra côngtác kế toán của Công ty và các đội thi công, duỵêt báo cáo tài chính, thực hiện việcthanh toán và thu hồi các khoản nợ đối với khách hàng, tham mưu cho Ban giám đốc
về việc điều hành sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả cao
- Phó phòng kế toán: Có nhiệm vụ giúp kế toán trưởng đôn đốc nhân viên kế toánkhác và xử lý các công việc khác của kế toán trưởng, Ngoàn ra phó phòng kế toán cònkiêm theo dõi kế toán tài sản cố định, tiền lương Khi có biến động về tài sản cố định, kếtoán căn cứ vào các chứng từ hợp lệ để phản ánh kịp thời, chính xác đầy đủ cho kế toántrưởng biết…
- Thủ quỹ, kế toán ngân hàng: Là người chịu trách nhiệm quản lý toàn bộtiền mặt của Công ty, thực hiện nghĩa vụ cấp phát tiền hàng ngày phục vụ cho mọi
Kế toán
tổng hợp
Kế toán vốn bằng tiền
Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành
Kế toán thuế
Thủ quỹ
Nhân viên kế toán các đơn vị sản xuất, công trình
Kế toán trưởng
Phó phòng kế toán (Phó phòng tài chính - Kế toán)
Trang 11hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện giao dịch với ngân hàng để đảm bảo tốtcho hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện cấp phát tiền đúng quy định
- Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành công trình: Thực hiện công việctập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm như: xử lý các số liệu tập hợp chi phí,đánh giá sản phẩm dở dang, tính giá thành sản phẩm, lập báo cáo kế toán
- Kế toán thuế: Phụ trách về công tác thuế từ các chứng từ ghi sổ đến thựchiện nộp nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước
- Kế toán tổng hợp: Lập báo cáo kế toán, sổ cái tổng hợp và kiểm tra sổ sáchcủa các kế toán chi tiết
- Kế toán vốn bằng tiền: Có nhiệm vụ theo dõi phản ánh chính xác tình hìnhbiến động các khoản vốn bằng tiền tại Công ty đảm nhận việc thanh toán nội bộCông ty
- Kế toán các đội: Thực hiện toàn bộ các công việc của kế toán đội, tập hợptoàn bộ các chứng từ sổ sách để đưa về Công ty quyết toán
Trang 12PHẦN II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VÀ KỸ THUẬT ĐÔNG A
2.1 Cơ sở lý luận về công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp.
2.1.1 Khái niệm và vai trò.
- Khái niệm vật liệu.
Vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm được sản xuất
Vật liệu là những đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hoá Vật liệu chỉtham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và toàn bộ giá trị vật liệuđược chuyển hết một lần vào chi phí kinh doanh trong kỳ
- Vai trò của nguyên vật liệu.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì nhất thiết phải có 3 yếu tố cơbản, đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì NVL là đối tượng lao động, là cơ sở vậtchất chính cấu thành nên thực thể sản phẩm Xét về giá trị, NVL còn là một bộ phậntài sản lưu động của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí về NVL thường chiếm tỷ trọng lớn từ65% - 70% trong tổng giá trị công trình Do vậy, việc cung cấp NVL kịp thời haykhông có ảnh hưởng to lớn đến tiến độ thi công xây dựng của doanh nghiệp Ngoài
ra, việc cung cấp NVL còn quan tâm đến chất lượng, chất lượng các công trình phụthuộc trực tiếp vào chất lượng của NVL, mà chất lượng công trình là điều kiệnquyết định để doanh nghiệp có uy tín và tồn tại trên thị trường
Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc cung cấp NVL còn cần đảm bảo giá
cả hợp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
Trang 132.1.2 Đặc điểm của nguyên vật liệu và yêu cầu quản lý
Trong quá trình thi công xây lắp công trình, chi phí sản xuất cho ngành xâylắp gắn liền với việc sử dụng NVL, máy móc thiết bị thi công và trong quá trình đóNVL là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấuthành nên sản phẩm công trình Khi tham gia vào quá trình sản xuất, NVL khônggiữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu và giá trị của nó được chuyển dịch toàn
bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra hoặc vào chi phí sản xuất kinh doanhtrong kỳ
Ngoài ra, do đặc điểm riêng của ngành xây lắp đó là một ngành sản xuấtmang tính chất công nghiệp, sản phẩm là những công trình, hạng mục công trình cóquy mô lớn, kết cấu phức tạp và thường cố định ở nơi sản xuất (thi công), còn cácđiều kiện khác đều phải di chuyển theo địa điểm xây lắp, làm cho công tác quản lý
sử dụng NVL phức tạp vì chịu ảnh hưởng lớn bởi môi trường bên ngoài, nên cầnxây dựng định mức cho phù hợp với điều kiện thi công thực tế Quản lý NVL là yếu
tố khách quan trong mọi nền sản xuất xã hội Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khácnhau nên phạm vi, mức độ và phương pháp quản lý cũng khác nhau
Hiện nay, nền sản xuất xã hội ngày càng mở rộng và phát triển trên cơ sởthoả mãn không ngừng nhu cầu vật chất và văn hoá của mọi tầng lớp trong xã hội.Việc sử dụng NVL một cách hợp lý, có kế hoạch Ngày càng được coi trọng Côngtác quản lý NVL là nhiệm vụ của tất cả mọi người nhằm tăng hiệu quả kinh tế cao
mà chi phí lại thấp nhất Công việc hạch toán NVL ảnh hưởng và quyết định đếnviệc hạch toán giá thành, cho nên để đảm bảo chính xác của công việc hạch toánGTSP thì trước hết cũng phải hạch toán NVL một cách chính xác và để làm tốtcông tác hạch toán NVL đòi hỏi chúng ta quản lý chặt chẽ ở mọi khâu từ thu mua,bảo quản tới khâu dự trữ và sử dụng Cụ thể là:
Ở khâu mua: Nguyên vật liệu được nhập về doanh nghiệp từ nhiều nguồnkhác nhau như nhập khẩu, liên doanh liên kết, đối lưu vật tư…nên ở khâu thu muacần quản lý về mặt số lượng, khối lượng, chất lượng, đơn giá, chủng loại để làm sao
Trang 14đạt được chi phí vật liệu ở mức thấp nhất với sản lượng, chất lượng sản phẩm caonhất.
Ở khâu bảo quản, dự trữ: Cần tổ chức tốt hệ thống kho tàng, bến bãi, thựchiện đúng chế độ bảo quản và xác định mức dự trữ tối thiểu, tối đa cho từng NVL
để giảm bớt hư hỏng, hao hụt, mất mát sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu sản xuất,vừa giảm tối thiểu vốn NVL tồn kho dự trữ
Trong quá trình sử dụng, cần lập định mức tiêu hao NVL và có quy chế tráchnhiệm cụ thể đối với việc sử dụng NVL, xác định đúng giá trị NVL đã sử dụng đểtính vào chi phí
2.1.3 Phân loại nguyên vật liệu.
Trong các doanh nghiệp sản xuất thì nguyên vật liệu bao gồm rất nhiều loạikhác nhau, đặc biệt là trong ngành xây lắp với các nội dung kinh tế và tính lý hoáhọc khác nhau Để có thể quản lý chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết tới từng loạiNVL phục vụ cho kế hoạch quản lý… cần thiết phải tiến hành phân loại NVL thànhcác loại, các nhóm, các thứ theo những tiêu thức phân loại như sau:
2.1.3.1 Căn cứ vào nội dung kinh tế và vai trò của từng loại nguyênvật liệu trong quá trình thi công xây dựng, NVL được chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệpxây lắp, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm
Trong ngành xây lắp còn phải phân biệt vật liệu xây dựng, vật kết cấu vàthiết bị xây dựng Các vật liệu này đều là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành nên sảnphẩm của đơn vị xây lắp, các hạng mục công trình xây lắp nhưng chúng có sự khácnhau Vật liệu xây lắp là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến được sử dụngtrong đơn vị xây lắp để tạo nên sản phẩm như hạng mục công trình, công trình xâydựng như gạch, ngói, xi măng, sắt, thép… Vật kết cấu là những bộ phận của côngtrình mà đơn vị xây lắp sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản phẩm xâydựng của đơn vị mình như: thiết bị vệ sinh, thông gió, truyền hơi ấm, hệ thống cộtthu lôi…
Trang 15- Nguyên vật liệu phụ: Là những loại vật liệu tham gia vào quá trình sảnxuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm Vật liệu phụ chỉ có tác dụngphụ trong quá trình sản xuất, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính đểhoàn thiện và nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc sử dụng để đảmbảo cho công cụ lao động hoạt động bình thường hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu
kỹ thuật, nhu cầu quản lý như: Sơn, dầu nhớt, hồ keo Thuốc nhuộm…
- Nhiên liệu: Là loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quátrình thi công, kinh doanh Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể rắn, lỏng, khí như: xăngdầu, than củi, hơi đốt dùng phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, các phươngtiện máy móc thiết bị hoạt động
- Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay thế,sửa chữa những máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải như: Bu lông, vòng bi…
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Gồm những vật liệu, thiết bị công cụ,khí cụ, vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản
- Vật liệu khác: Là những loại vật liệu chưa được xếp vào các loại trên nhưphế liệu loại ra trong quá trình thi công xây dựng: gỗ sắt, thép vụn hoặc phế liệu thuhồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định
2.1.3.2 Căn cứ vào nguồn hình thành NVL được chia thành:
- Nguyên vật liệu nhập từ bên ngoài
- Nguyên vật liệu tự chế
2.1.3.3 Căn cứ vào mục đích, công dụng của nguyên vật liệu có thểchia nguyên vật liệu thành
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
+ Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm + Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các phân xưởng, cho bộ phậnbán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác
+ Nhượng bán
Trang 16+ Đem quyên tặng
Có rất nhiều cách phân loại nguyên vật liệu khác nhau, các doanh nghiệp tuỳthuộc vào điều kiện cụ thể của mình và yêu cầu quản lý để lựa chọn tiêu thức phânloại một cách hợp lý
2.1.4 Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu ở các doanh nghiệp xây dựng.
Kế toán là công cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý kinh tế, tài chínhtrong doanh nghiệp, vì thế để đáp ứng một cách khoa học, hợp lý xuất phát từ đặcđiểm của nguyên vật liệu, từ yêu cầu quản lý nguyên vật liệu và từ chức năng của
kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất cần thực hiện các nhiệm vụsau:
- Phân loại nguyên vật liệu theo tình hình tổ chức thực tế của doanh nghiệp
và lập danh điểm nguyên vật liệu, đảm bảo tính thống nhất giữa các bộ phận trongdoanh nghiệp
- Tổ chức hạch toán ban đầu, tổ chức lập và luân chuyển chứng từ hạch toánnguyên vật liệu trong doanh nghiệp
- Thực hiện việc ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời số hiện có và tình hìnhluân chuyển của NVL theo cả chỉ tiêu hiện vật và giá trị Tính toán đúng đắn giá trịthực tế của NVL nhập kho, xuất kho
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mua NVL, kế hoạch
sử dụng NVL cho sản xuất
- Tổ chức hệ thống sổ kế toán tổng hợp và chi tiết về NVL và lựa chọnphương pháp kế toán NVL phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp từ đó xác địnhphương pháp hạch toán và ghi sổ kế toán
- Xác định các báo cáo quản trị NVL theo yêu cầu thông tin của quản lý tổchức lập và phân tích các báo cáo này, đồng thời cung cấp thông tin cho việc lậpbáo cáo tài chính và phân tích kết quả kinh doanh
Trang 172.1.5 Tính giá nguyên vật liệu.
Tính giá nguyên vật liệu là việc xác định giá trị nguyên vật liệu theo nhữngnguyên tắc nhất định và ở những thời điểm nhất định
Khi tính giá nguyên vật liệu cần phải tôn trọng các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc giá gốc: Nguyên tắc này đòi hỏi NVL phải được ghi chép, phảnánh theo giá gốc hay còn gọi là trị giá vốn thực tế, là toàn bộ các chi phí mà doanhnghiệp đã bỏ ra để có được lượng vật liệu đó ở địa điểm và trạng thái hiện tại
- Nguyên tắc nhất quán: Đòi hỏi việc sử dụng phương pháp tính giá NVLphải dùng thống nhất trong suốt niên độ kế toán Nếu có sự thay đổi thì phải giảitrình được sự thay đổi đó với các cơ quan chức năng và phải đảm bảo rằng phươngpháp thay thế cho phép trình bày thông tin kế toán một cách trung thực và hợp lýhơn
- Nguyên tắc thận trọng: Biểu hiện ở chỗ doanh nghiệp có đánh giá mức độgiảm giá của nguyên vật liệu khi thấy có sự chênh lệch giữa giá hạch toán trên sổ kếtoán với giá thị trường thông qua việc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
2.1.5.1 Tính giá nguyên vật liệu đối với NVL nhập kho
Trị giá vốn thực tế của vật tư nhập kho được xác định theo từng nguồn nhập
- Với nguyên vật liệu mua ngoài
=++-Ở đây, giá mua là giá chưa có thuế GTGT, nếu NVL mua về dùng để sảnxuất ra các mặt hàng chịu thuế GTGT và doanh nghiệp nộp thuế GTGT theophương pháp khấu trừ Giá mua là giá đã có thuế GTGT nếu NVL mua về sử dụng
để sản xuất các mặt hàng không chịu thuế GTGT hoặc chịu thuế GTGT theophương pháp trực tiếp
- Với nguyên vật liệu do doanh nghiệp tự sản xuất
=
- Với NVL nhập kho được biếu tặng: Giá thực tế của NVL nhập kho đượctính theo giá trên thị trường cộng với các chi phí khác phát sinh
Trang 18- Với NVL được Nhà nước cấp: Giá thực tế nhập kho là giá ghi trên biên bảngiao nhận cộng với các chi phí phát sinh khi nhận
2.1.5.2 Đối với nguyên vật liệu xuất kho
Tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động, yêu cầu, trình độ quản lý và điều kiệntrang bị phương tiện kế toán với từng doanh nghiệp mà lựa chọn một trong cácphương pháp sau để tính đơn giá NVL xuất kho, từ đó tính trị giá vốn thực tế NVLxuất kho, theo công thức:
= x
Đơn giá NVL xuất kho được tính theo một trong các phương pháp sau đây:
- Tính giá theo phương pháp nhập trước – xuất trước
Phương pháp này dựa trên giả định rằng: Vật liệu nào nhập trước sẽ đượcxuất trước, lấy đơn giá xuất bằng đơn giá nhập, đơn giá thực tế xuất kho là đơn giácủa những lần nhập sớm nhất hiện có trong kho
- Tính giá theo phương pháp nhập sau – xuất trước
Phương pháp này dựa trên giả định rằng: Vật liệu nào nhập sau thì sẽ đượcxuất trước, đơn giá thực tế xuất kho là đơn giá của những lần nhập sau cùng hiện cótrong kho
- Tính giá theo phương pháp bình quân cả kỳ
=
- Tính giá theo phương pháp thực tế đích danh
Đối với phương pháp này thường được áp dụng với các loại NVL có giá trịcao, các loại vật tư đặc chủng Đơn giá thực tế xuất kho của NVL chính là đơn giáthực tế nhập kho của chính lượng NVL đó
Trang 192.1.6 Phương pháp kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp.
2.1.6.1 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu
Tổ chức tốt kế toán chi tiết vật liệu có ý nghĩa quan trọng đối với công tácbảo quản vật liệu và công tác kiểm tra tình hình cung cấp, sử dụng vật liệu Kế toánchi tiết vật liệu vừa được thực hiện ở kho, vừa được thực hiện ở phòng kế toán
Vịêc kết hợp giữa kế toán nguyên vật liệu và thủ kho trong hạch toán chi tiếtNVL có thể khác nhau ở từng doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào số lượng nghiệp vụnhập, xuất NVL nhiều hay ít và tuỳ thuộc vào việc doanh nghiệp có trang bị phầnmềm kế toán hay không Kế toán chi tiết nguyên vật liệu được thực hiện theo mộttrong 3 phương pháp sau:
a Phương pháp ghi thẻ song song
- Ở kho Thủ kho sử dụng thẻ kho để ghi chép Hàng ngày căn cứ vào chứng từ nhập,xuất để ghi số lượng vật liệu vào thẻ kho và cuối ngày tính ra số tồn kho của từngloại vật liệu trên thẻ kho
- Ở phòng kế toán
Kế toán sử dụng sổ chi tiết vật liệu để ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn củatừng loại nguyên vật liệu theo cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị Hàng ngày hoặcđịnh kỳ khi nhận được các chứng từ nhập – xuất vật liệu của thủ kho gửi lên, kếtoán tiến hành kiểm tra, ghi giá và phản ánh vào các sổ chi tiết Cuối tháng căn cứvào các sổ chi tiết để lập bảng tổng hợp chi tiết nhập, xuất, tồn vật liệu Số tồn trêncác sổ chi tiết phải khớp đúng với số tồn trên thẻ kho
Sơ đồ hạch toán vật liệu theo phương pháp thẻ song song(Sơ đồ 1.1)
(3)
(2) (1) Chứng từ nhập
Trang 20- Ở phòng kế toán
Để theo dõi từng loại vật liệu nhập, xuất về số lượng và giá trị, kế toán sửdụng sổ đối chiếu luân chuyển Đặc điểm ghi chép là chỉ thực hiện ghi chép một lầnvào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập, xuất trong tháng và mỗi danhđiểm vật liệu được ghi một dòng trên sổ đối chiếu luân chuyển
Hàng ngày khi nhận được phiếu nhập – xuất kho, kế toán tiến hành kiểm tra
và hoàn chỉnh chứng từ, sau đó tiến hành phân loại chứng từ theo từng thứ vật tư,chứng từ nhập riêng, chứng từ xuất riêng Hoặc kế toán có thể lập “Bảng kê nhập”,
“Bảng kê xuất”
Cuối tháng, kế toán tổng hợp số liệu từ các chứng từ hoặc bảng kê để ghi vào
“sổ đối chiếu luân chuyển” ở cột luân chuyển và tính ra số tồn cuối tháng
Việc đối chiếu số liệu được tiến hành giống như phương pháp ghi thẻ songsong (nhưng chỉ tiến hành vào cuối tháng)
Trình tự ghi sổ được tiến hành theo sơ đồ sau: (Sơ đồ 1.2)
Trang 21Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu, kiểm tra
c Phương pháp sổ số dư
- Ở khoThủ kho vẫn sử dụng thẻ kho để ghi chép số lượng vật liệu nhập, xuất, tồntrên cơ sở các chứng từ nhập, xuất Ngoài ra, vào cuối tháng thủ kho còn phải căn
cứ vào số tồn của vật liệu trên thẻ kho để ghi vào sổ số dư Sổ số dư do phòng kếtoán lập và gửi xuống cho thủ kho vào ngày cuối tháng để ghi sổ
Các chứng từ nhập, xuất sau khi đã ghi vào thẻ kho phải được thủ kho phânloại theo chứng từ nhập, chứng từ xuất của từng loại vật liệu để lập phiếu giao nhậnchứng từ và chuyển giao cho phòng kế toán kèm theo các chứng từ nhập, xuất…
- Ở phòng kế toánTại phòng kế toán, kế toán kiểm tra lại chứng từ, hoàn chỉnh lại chứng từ vàtổng hợp giá trị theo từng nhóm, loại vật tư để ghi chép vào cột số tiền trên “phiếugiao nhận chứng từ”, số liệu này được ghi vào “bảng luỹ kế nhập” và “Bảng luỹ kếxuất” vật tư
Trang 22Cuối tháng, căn cứ vào “bảng lũy kế nhập”, “bảng luỹ kế xuất” để cộng tổng
số tiền theo từng nhóm, loại vật tư để ghi chép vào “Bảng kê nhập – xuất – tồn”.Đồng thời, sau khi nhận được “sổ số dư” do thủ kho chuyển lên, kế toán căn cứ vàocột số dư về số lượng và đơn giá hạch toán của từng nhóm vật tư tương ứng để tính
ra số tiền ghi vào cột số dư bằng tiền
Kế toán đối chiếu số liệu trên cột số dư bằng tiền của “sổ số dư” với cột trên
“Bảng kê nhập – xuất – tồn” Đối chiếu số liệu trên “Bảng kê nhập – xuất – tồn” với
số liệu trên sổ kế toán tổng hợp
Trình tự ghi sổ được khái quát theo sơ đồ sau: (sơ đồ 1.3)
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu, kiểm tra
2.1.6.2 Phương pháp kế toán tổng hợp nguyên vật liệu.
Có 2 phương pháp kế toán hàng tồn kho trong kế toán tổng hợp NVL làphương pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kỳ
Các doanh nghiệp tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của mình mà lựa chọnphương pháp kế toán hàng tồn kho cho phù hợp
a Hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên
Phiếu luỹ kế nhập
Phiếu giao nhận chứng từ
Phiếu luỹ kế xuất
Trang 23* Chứng từ sử dụng Theo phương pháp này, các nghiệp vụ tăng, giảm hàng tồn kho nói chung,NVL nói riêng được phản ánh thường xuyên, liên tục trên các tài khoản phản ánhhàng tồn kho, dựa vào các chứng từ sau:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
Việc xác định trị giá vốn thực tế của NVL xuất kho được tính căn cứ trựctiếp vào các chứng từ xuất kho theo các phương đã trình bày ở trên, đó là:
+ Phương pháp nghi thẻ song song
+ Phương pháp ghi sổ số dư
+ Phương pháp ghi sổ đối chiếu luân chuyển
Trị giá vốn thực tế của NVL tồn kho trên tài khoản, sổ kế toán được xác định
ở bất cứ thời điểm nào trong kỳ kế toán
* Tài khoản sử dụngTài khoản sử dụng chủ yếu để kế toán tổng hợp nguyên vật liệu trongphương pháp kế toán này là: Tk 152, Tk 133, TK 331, TK 111, Tk 112, TK 141,
TK 154, TK 642…
Trang 24* Trình tự hạch toán kế toán NVL được phản ánh theo sơ đồ sau: (Sơ đồ 1.4)
TK 111, 112, 141, 331
Nhập kho do mua ngoài
TK 152
Xuất dùng
TK 642
TK 133Thuế được khấu trừ
TK 128, 222
TK 128, 222
Nhận lại vốn góp, vốn liên doanh Chênh lệch giảm khi đánh giá lại tài sản
TK 412
TK 411
Nhận vốn góp liên doanh, được cấp, biếu tặng
Giảm giá được hưởng
TK 111, 112, 331
Trang 25b Hạch toán theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp kế toán không tổ chức ghichép một cách thường xuyên, liên tục các nghiệp vụ nhập – xuất kho và tồn kho Trịgiá NVL mua vào trong kỳ được phản ánh trên tài khoản mua hàng (TK 611),Không sử dụng tài khoản hàng tồn kho mà các tài khoản này chỉ phản ánh trị giávốn thực tế của NVL tồn kho, không căn cứ vào các chứng từ xuất kho mà căn cứvào kết quả kiểm kê cuối kỳ để tính theo công thức:
= + -
* Các tài khoản sử dụng Tài khoản sử dụng để kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương phápnày là: TK 611, TK 152 và các tài khoản khác có liên quan: Tk 111, TK 112, TK
154, Tk 642…
Trang 26* Trình tự hạch toán kế toán tổng hợp NVL theo phương pháp kiểm kê địnhkỳ: (Sơ đồ 1.5)
Thuế nhập khẩu Kiểm kê phát hiện thiếu
cho vay mượn tạm thời
TK 411
Nhận lại vốn góp liên doanh được cấp trên cấp, biếu tặng
Kết chuyển trị giá NVL tồn kho cuối kỳ
TK 151, 152
Kết chuyển trị giá NVL tồn
kho đầu kỳ
TK 152
Trang 272.1.7 Các hình thức kế toán áp dụng trong doanh nghiệp
Theo quyết định số 15/2006-QĐ/BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ tàichính các doanh nghiệp được áp dụng một trong năm hình thức kế toán sau:
- Hình thức kế toán Nhật ký chung
- Hình thức kế toán Nhật ký – sổ cái
- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
- Hình thức kế toán Nhật ký – chứng từ
- Hình thức kế toán trên máy vi tính
Mỗi hình thức sổ kế toán có những quy định cụ thể về số lượng, kết cấu, mẫu
sổ, trình tự, phương pháp ghi chép và mối quan hệ giữa các sổ kế toán
Các doanh nghiệp căn cứ vào mô hình, đặc điểm hoạt động sản xuất kinhdoanh, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang bị kỹthuật tính toán để lựa chọn một hình thức kế toán phù hợp và phải tuân thủ theođúng quy định của hình thức sổ kế toán đó, đó là: các loại sổ và kết cấu các loại sổ,quan hệ đối chiếu kiểm tra, trình tự, phương pháp ghi chép các loại sổ kế toán…
sổ cái theo từng tài khoản liên quan
Các loại sổ chủ yếu áp dụng cho hình thức Nhật ký chung là: Sổ nhật kýchung, sổ nhật ký đặc biệt, sổ cái, các sổ, thẻ kế toán chi tiết
Trang 28b Trình tự ghi sổTrình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký chung được phản ánh theo sơ đồ sau:(Sơ đồ 1.6)
Các sổ kế toán áp dụng cho hình thức này bao gồm: Nhật ký sổ cái và các sổ,thẻ kế toán chi tiết
Chứng từ kế toán
Sổ nhật ký chung
Bảng cân đối
số phát sinh
Báo cáo tài chính
Trang 29b Trình tự ghi sổTrình tự ghi sổ được phản ánh theo sơ đồ sau: (Sơ đồ 1.7)
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu, kiểm tra
2.1.7.3 Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
a Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán chứng từ ghi sổ
- Căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ” Việc ghi
sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
+ Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
+ Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái
- Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế
- Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong sổ đăng ký chứng từ ghi sổ) và có chứng từ kế toán đính kèm, phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán
Chứng từ kế toán
Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại
chi tiết
Nhật ký sổ cái Bảng tổng hợp chi tiết
Báo cáo tài chính
Trang 30- Hình thức kế toán này gồm các sổ sau: Chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng
từ ghi sổ, sổ cái, các sổ, thẻ kế toán chi tiết
b Trình tự ghi sổ Trình tự ghi sổ theo hình thức chứng từ ghi sổ được phản ánh theo sơ đồ sau:(sơ đồ 1.8)
Ghi chú:
Ghi hàng ngàyGhi cuối thángĐối chiếu, kiểm tra
2.1.7.4 Hình thức sổ kế toán nhật ký – chứng từ
a Đặc trưng cơ bản
Chứng từ kế toán
Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại
chi tiết
Báo cáo tài chính
Chứng từ ghi sổ
Sổ đăng ký
chứng từ ghi sổ
Bảng cân đối
sổ phát sinh
Trang 31- Tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên có củacác tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các tài khoảnđối ứng Nợ
- Kết hợp chặt chẽ với việc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theotrình tự thời gian với việc hệ thống hoá các nghiệp vụ theo nội dung kinh tế (theo tàikhoản)
- Kết hợp rộng rãi việc hạch toán tổng hợp với hạch toán chi tiết trên cùngmột sổ kế toán và trong cùng một quá trình ghi chép
- Sử dụng các mẫu số in sẵn các quan hệ đối ứng tài khoản, chỉ tiêu quản lýkinh tế, tài chính và lập báo cáo tài chính
- Các loại sổ kế toán sử dụng: Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ cái, sổ hoặc thẻ
kế toán chi tiết
Chứng từ kế toán và các bảng phân bổ
Nhật ký chứng
từ
Sổ, thẻ kế toán chi tiết
Bảng tổng hợp chi tiết
Sổ cái
Báo cáo tài chính Bảng kê
Trang 322.2 Thực tế công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A.
2.2.1 Đặc điểm nguyên vật liệu tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A.
a Khái niệm vật liệu.
Vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, tham gia thường xuyên và trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm được sản xuất
Vật liệu là đối tượng lao động nên có đặc điểm: tham gia vào một chu kỳ sảnxuất, thay đổi hình dáng ban đầu sau quá trình sử dụng và chuyển toàn bộ giá trịvào giá trị của sản phẩm được sản xuất ra
b Phân loại nguyên vật liệu.
Trong các doanh nghiệp sản xuất thì nguyên vật liệu bao gồm rất nhiều loạikhác nhau, được sử dụng ở nhiều bộ phận khác nhau, có thể được bảo quản, dự trữtrên nhiều địa bàn khác nhau Do vậy để thống nhất công tác quản lý vật liệu giữacác bộ phận có liên quan, phục vụ cho yêu cầu phân tích, đánh giá tình hình cungcấp, sử dụng vật liệu cần phải có các cách phân loại thích hợp
* Căn cứ vào nội dung kinh tế và vai trò của từng loại nguyên vật liệutrong quá trình thi công xây dựng, NVL được chia thành các loại sau:
Nguyên vật liệu chính: Là đối tượng lao động chủ yếu trong doanh nghiệpxây dựng, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm
Trong ngành xây lắp còn phải phân biệt vật liệu xây dựng, vật kết cấu vàthiết bị xây dựng Các vật liệu này đều là cơ sở vật chất chủ yếu hình thành nên sảnphẩm của đơn vị xây dựng, các hạng mục công trình xây dựng nhưng chúng có sựkhác nhau Vật liệu xây lắp là sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến được sửdụng trong đơn vị xây lắp để tạo nên sản phẩm như hạng mục công trình, công trìnhxây dựng như gạch, ngói, xi măng, sắt, thép… Vật kết cấu là những bộ phận củacông trình mà đơn vị xây lắp sản xuất hoặc mua của đơn vị khác để lắp vào sản
Trang 33phẩm xây dựng của đơn vị mình như: thiết bị vệ sinh, thông gió, truyền hơi ấm, hệthống cột thu lôi…
- Nguyên vật liệu phụ: Là những loại vật liệu tham gia vào quá trình sảnxuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm Vật liệu phụ chỉ có tác dụngphụ trong quá trình sản xuất, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính đểnâng cao chất lượng cũng như tính năng, tác dụng của sản phẩm như: Sơn, dầunhớt, hồ keo Thuốc nhuộm…
- Nhiên liệu: Là loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quátrình thi công, kinh doanh Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể rắn, lỏng, khí như: xăngdầu, than củi, sấy ủi, hơi đốt dùng phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cácphương tiện máy móc thiết bị hoạt động
- Phụ tùng thay thế: Là các loại phụ tùng, chi tiết được sử dụng để thay thế,sửa chữa những máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải như: Bu lông, vòng bi…
- Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: gồm những vật liệu, thiết bị công cụ,khí cụ, vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản
- Vật liệu khác: là những loại vật liệu chưa được xếp vào các loại trên nhưphế liệu loại ra trong quá trình thi công xây dựng: gỗ sắt, thép vụn hoặc phế liệu thuhồi trong quá trình thanh lý tài sản cố định
* Căn cứ vào nguồn cung cấp vật liệu được chia thành
- Nguyên vật liệu mua ngoài
- Nguyên vật liệu tự sản xuất
- Nguyên vật liệu từ các nguồn khác (được cấp, nhận vốn góp)
* Căn cứ vào mục đích, công dụng của nguyên vật liệu có thể chianguyên vật liệu thành
- Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
+ Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm + Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các phân xưởng, cho bộ phậnbán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp
Trang 34+ Nhượng bán + Đem góp vốn liên doanh+ Đem quyên tặng
Có rất nhiều cách phân loại nguyên vật liệu khác nhau, các doanh nghiệp tuỳthuộc vào điều kiện cụ thể của mình và yêu cầu quản lý để lựa chọn tiêu thức phânloại một cách hợp lý
c Vai trò của nguyên vật liệu.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì nhất thiết phải có ba yếu tố
cơ bản, đó là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong hoạt độngsản xuất kinh doanh của Công ty thì nguyên vật liệu là đối tượng lao động, là cơ sởvật chất chính cấu thành nên thực thể sản phẩm Xét về giá trị, nguyên vật liệu còn
là một bộ phận tài sản lưu động của doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí về nguyên vật liệu thường chiếm tỷtrọng lớn từ 65% - 70% trong tổng giá trị công trình Do vậy, việc cung cấp nguyênvật liệu kịp thời hay không có ảnh hưởng to lớn đến tiến độ thi công xây dựng củadoanh nghiệp Ngoài ra, việc cung cấp nguyên vật liệu còn quan tâm đến chấtlượng, chất lượng các công trình phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của nguyên vậtliệu, mà chất lượng công trình là điều kiện quyết định để doanh nghiệp có uy tín vàtồn tại trên thị trường
Trong cơ chế thị trường hiện nay, việc cung cấp nguyên vật liệu còn cần đảmbảo giá cả hợp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
2.2.2 Tính giá nguyên vật liệu.
Tính giá vật liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc hạch toán đúng đắn tìnhhình tài sản cũng như chi phí sản xuất kinh doanh
2.2.2.1 Tính giá nguyên vật liệu nhập khoTuỳ theo từng nguồn nhập, kế toán tính toán xác định tổng chi phí mà công
ty bỏ ra để có được lượng nguyên vật liệu đó:
Trang 35Nguyên vật liệu của Công ty chủ yếu là do mua ngoài ở thị trường trongnước Giá trị nhập kho trong trường hợp này là toàn bộ những chi phí thực tế Công
ty đã bỏ ra, bao gồm: giá mua trên hoá đơn và chi phí thu mua Chi phí thu muathường là chi phí vận chuyển, bốc dỡ… Giá trị nguyên vật liệu nhập kho trongtrường hợp này được xác định theo công thức:
= + -
Ví dụ 2.1 Ngày 05/10/2008, công ty có đợt mua trụ sắt phi 8 về nhập kho,tổng số tiền thanh toán là 10.920.000 đồng, trong đó thuế GTGT là 520.000đồng.Chi phí vận chuyển bốc xếp là 200.000đồng (trong đó thuế GTGT là 20.000 đồng).Trị giá vốn thực tế của số NVL này nhập kho được xác định như sau:
Do công ty là đơn vị tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ nên trị giávốn thực tế nhập kho sẽ là:
Giá thực tế NVL nhập kho = (10.920.000+180.000) – (520.000+20.000)
= 10.560.000 đồngCác khoản giảm trừ ở đây có thể là những thiếu hụt, mất mát NVL so với sốlượng trên hoá đơn mà người bán phải bồi thường cho công ty hoặc là những khoảntriết khấu mà công ty được hưởng (thường là trừ thẳng vào tổng tiền thanh toán)
Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A là đơn vị nộp thuếGTGT theo phương pháp khấu trừ, sản phẩm sản xuất ra đều là đối tượng chịu thuếGTGT, vì thế giá mua trên hoá đơn là giá chưa có thuế GTGT
Ví dụ 2.2 Ngày 03/10/2008, kế toán nhận được hoá đơn GTGT số 0004651
do kho vật tư chuyển lên về việc mua xi măng Bỉm Sơn Cùng ngày kế toán nhậnđược phiếu nhập kho của loại hàng trên
Trang 36GTKT-Liên 2: Giao khách hàngNgày 03 tháng 10 năm 2008
3LLBD/2005B0004651Đơn vị bán hàng: Công ty TNHH Thiên Long
Địa chỉ: Số 25 Chùa Bộc - Đống Đa – Hà Nội
Tài khoản số:………
Điện thoại……… MST: 0101866620
Họ tên người mua hàng: Nguyễn Trung Kiên
Tên đơn vị: Công Ty CP Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A
Địa chỉ: Số 144 Phố Chùa Láng – Láng Thượng - Đống Đa- Hà Nội
Thuế suất thuế GTGT 5% Tiền thuế GTGT 2.728.000
Tổng cộng tiền thanh toán 57.288.000
Số tiền bằng chữ: Năm mươi bảy triệu hai trăm tám tám nghìn đồng chẵn
2.2.2.2 Tính giá nguyên vật liệu xuất kho
Trang 37Khi có nguyên vật liệu xuất kho, thủ kho sẽ ghi vào phiếu xuất kho rồi ghivào thẻ kho, sau đó chuyển lên cho phòng kế toán sẽ căn cứ vào đó để ghi vào các
sổ kế toán có liên quan
Việc tính toán nguyên vật liệu sẽ được thực hiện theo phương pháp nhậntrước – xuất trước Với giả thiết số nguyên vật liệu nào nhập trước sẽ được xuấttrước, đơn giá thực tế xuất kho là đơn giá của những lần nhập sớm nhất hiện cótrong kho
Ví dụ 2.3: Số liệu tồn kho đầu tháng của xi măng Bỉm Sơn là: 12.905.000đồng, số lượng 145 bao, với đơn giá 89.000đồng/bao
Trong tháng 10 có 4 đợt nhập kho sau:
- Ngày 03/10: Nhập kho 620 bao, đơn giá 88.000đồng/bao Thành tiền là54.560.000đồng
- Ngày 09/10: Nhập kho 280 bao, đơn giá 89.000đồng/bao Thành tiền là24.920.000đồng
- Ngày 18/10: Nhập kho 1250 bao, đơn giá 88.000đồng/bao Thành tiền là110.000.000đồng
- Ngày 28/10: Nhập kho 200 bao, đơn giá 88.000đồng/bao Thành tiền là17.600.000đồng
Cùng tháng có 5 đợt xuất kho sau:
- Ngày 04 tháng 10: Xuất kho 130 bao cho sản xuất của đội 3
- Ngày 08 tháng 10: Xuất kho 250 bao cho sản xuất của đội 4
- Ngày 15 tháng 10: Xuất kho 385 bao cho sản xuất của đội 3
- Ngày 18 tháng 10: Xuất kho 500 bao cho sản xuất của đội 2
- Ngày 28 tháng 10: Xuất kho 420 bao cho sản xuất của đội 1
Do xí nghiệp áp dụng tính giá theo phương pháp nhập trước-xuất trước
- Nên giá trị của các lần xuất kho sẽ là:
+ Ngày 04/10: Trị giá xuất kho của 130 bao là:
130 x 89.000 = 11.570.000 (đồng)
Trang 3815 x 89.000 = 1.335.000 (đồng)
235 x 88.000 = 20.680.000 (đồng)
=> Tổng giá trị xuất kho của 250 bao xi măng là:
1.335.000 + 20.680.000 = 22.015.000 (đồng)+ Ngày 15/10: Trị giá xuất kho của 385 bao là:
385 x 88.000 = 33.880.000(đồng)+ Ngày 18/10: Trị giá xuất kho của 500 bao là:
280 x 89.000 = 24.920.000 (đồng)
220 x 88.000 = 19.360.000 (đồng)
=> Tổng giá trị xuất kho của 500 bao xi măng là:
24.920.000 + 19.360.000 = 44.280.000(đồng)+ Ngày 28/10: Trị giá xuất kho của 420 bao là:
420 x 88.000 = 36.960.000 (đồng)Đây là cách tính đơn giản, ít tốn nhiều công sức Theo cách tính này thì giátrị hàng tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số hàng mua vào sau cùng hiện cótrong kho Tuy nhiên, cách tính giá theo phương pháp nhập trước – xuất trước nàycũng có một số hạn chế, đó là nếu việc nhập – xuất nguyên vật liệu diễn ra khôngthường xuyên, số ngày nhập và số ngày xuất cách nhau quá xa, trong khi đó giá cảtrên thị trường luôn luôn có sự biến động lên, xuống không ổn định Do đó, cáchtính này sẽ khổng phản ánh được sự biến động của giá cả
2.2.3 Kế toán chi tiết nguyên vật liệu tại Công Ty Cổ Phần Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A.
2.2.3.1 Tổ chức hạch toán ban đầu:
Để kiểm soát tình hình nhập – xuất – tồn của từng thứ, từng nhóm, từng loạiNVL theo cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị, công ty sử dụng các loại chứng từ sau:
- Phiếu nhập kho
- Phiếu xuất kho
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, dụng cụ, sản phẩm, hàng hoá
- Hoá đơn GTGT, hoá đơn vận chuyển
Trang 39- Thẻ kho…
Trình tự, thủ tục nhập – xuất được diễn ra như sau:
a Nhập khoHàng ngày, căn cứ vào hoá đơn GTGT của bên bán, hoá đơn vận chuyểnhoặc giấy báo nhận hàng và biện bản kiểm nghiệm vật tư, kho vật tư tiến hành lậpphiếu vật tư, ghi vào phiếu nhập vật tư các nội dung chính như: tên vật tư, quy cách,đơn vị tính, số lượng, đơn giá (theo hoá đơn GTGT)…
Phiếu nhập vật tư được lập thành 2 liên: 1 liên thủ kho giữ để làm cơ sở ghithẻ kho, sau đó chuyển lên cho kế toán vật tư để ghi vào sổ Còn 1 liên chuyển cho
kế toán thanh toán kèm theo hoá đơn GTGT và các chứng từ liên quan trong trườnghợp thanh toán ngay
Trường hợp vật tư nhập kho nhưng thanh toán chậm thì phiếu nhập kho, hoáđơn GTGT và các chứng từ liên quan được chuyển cho kế toán vật tư, sau đó khithanh toán thì kế toán vật tư chuyển cho kế toán thanh toán toàn bộ chứng từ này
Khi hàng đến kho của công ty, trước khi nhập kho, phòng kinh tế kỹ thuật sẽkiểm tra quy cách, chất lượng, số lượng NVL và ghi vào biên bản kiểm nghiệm.Nếu kết quả kiểm nghiệm cho thấy toàn bộ NVL đều đúng quy cách, chất lượng, sốlượng thì lúc này, thủ kho mới nhập kho lượng NVL này và ghi số lượng thực nhậpvào phiếu nhập kho
Nếu kết quả kiểm nghiệp cho thấy NVL chưa đúng quy cách, phẩm chấthoặc thiếu, mất trong quá trình vận chuyển thì thủ kho chưa cho nhập kho ngay màchờ quyết định của Ban giám đốc để biết có nhập hay trả lại hàng
Sau đây là Biên bản kiểm nghiệm vật tư và phiếu nhập kho của đợt mua 620bao xi măng Bỉm Sơn vào ngày 03 tháng 10 năm 2008
Đơn vị: Công Ty CP Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A
Trang 40BIÊN BẢN KIỂM NGHIỆM VẬT TƯ, CÔNG CỤ, SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ
Ngày 03 tháng 10 năm 2008
Số: 001
Ban kiểm nghiệm vật tư gồm có:
1 Ông: Đỗ Thanh Hải - Trưởng ban
2 Ông: Lê Văn Thanh - Kỹ thuật: Uỷ viên
3 Bà: Nguyễn Thị Thu - Thủ kho: Uỷ viên
Căn cứ vào hoá đơn số 0004651 của Công ty TNHH Thiên Long ngày 03/10/2008, đã kiểm nghiệm vật tư như sau:
STT Tên nhãn hiệu quy
cách vật tư ĐVT
Số lượng Theo
chứng từ Thực tế
Đúng cách
Không đúng quy cách
Phương thức kiểm nghiệm: kiểm tra số lượng, nguồn gốc và sự nguyên vẹn của bao bì
Kết luận của Ban kiểm nghiệm: Nhập kho Công ty
Ngày 03 tháng 10 năm 2008
Sau khi đã có ý kiến của ban kiểm nghiệm, thủ kho tiến hành nhập kho, lập phiếu kho căn cứ vào số lượng nguyên vật liệu thực nhập
Các lần mua xi măng Bỉm Sơn tiếp sau đó trong tháng 10 cũng đã có hoáđơn GTGT do bên bán chuyển sang và được Ban kiểm nghiệm cho phép nhập kho
Từ đó, kế toán tiến hành viết phiếu nhập kho
Đơn vị: Công Ty CP Thương Mại và Kỹ Thuật Đông A