1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: tìm hiểu và phân tích cơ sở lí thuyết, thực trạng và những giải pháp để góp phần hạn chế tình hình chuyển giá ở Việt Nam trong giai đoạn mở cửa hội nhập hiện nay potx

54 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn: Tìm hiểu và phân tích cơ sở lí thuyết, thực trạng và những giải pháp để góp phần hạn chế tình hình chuyển giá ở Việt Nam trong giai đoạn mở cửa hội nhập hiện nay
Tác giả Nguyễn Minh Sáng
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Minh Sáng
Trường học Đại học Ngoại thương Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 402,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ vàtài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giáthị

Trang 1

GVHD: Nguyễn Minh Sáng Đề tài 7

nhập hiện nay

Trang 2

MỤC LỤC TÀI LIỆU

Phần một: Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 ý nghĩa khoa học

2.2 ý nghĩa thực tiễn

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Phương pháp luận

5.2 Phương pháp nghiên cứu

6 Giả thuyết nghiên cứu

7 Khung lý thuyết

Phần hai: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1 Cơ sở lý luận

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1.2.1 Những quan điểm lý luận

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

2 Những khái niệm công cụ

2.1 Hộ gia đình

2.2 Nghèo đói

2.3 Chính sách xã hội

2.4 Phát triển

Chương II: Hiện trạng vấn đề xoá đói giảm nghèo ở huyện Yên Minh – Hà Giang

1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện KT – XH của địa bàn nghiên cứu

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Thực trạng đói nghèo

2.2 Phân bố hộ nghèo theo các xã trong huyện

2.3 Tìm hiểu hộ nghèo theo tiêu chí cơ cấu nghề nghiệp

2.4 Tìm hiểu hộ nghèo theo trình độ học vấn

2.5 Tìm hiểu hộ nghèo theo tiêu chí độ tuổi

Trang 3

2.6 Các trạng thái biểu hiện của hộ nghèo

2.7 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo

3 Các chính sách xã hội về xoá đói giảm nghèo trên địa bàn

3.1 Kết quả thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo

3.1.1 Hỗ trợ về vốn

3.1.2 Hỗ trợ người về tư liệu sản xuất, sinh hoạt

CHƯƠNG III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, hội nhập quốc tế đã và đang là xu hướng chung của mọi quốc gia, trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó rõ nhất là trong lĩnh vực kinh tế và lĩnh vựcthông tin Xét riêng trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hóa là cách hiệu quả giúp cho cácnước chậm tiến thực hiện con đường phát triển rút ngắn và từng bước đuổi kịp các nướckinh tế phát triển Tuy nhiên, bên cạnh đó, nó còn đem lại nhiều vấn đề tiêu cực, điểnhình là việc trốn thuế của các công ty đa quốc gia thông qua hoạt động chuyển giá Hầuhết các doanh nghiệp FDI đều khai báo kinh doanh thua lỗ nhưng thực tế vẫn có khoảnlợi nhuận chuyển về công ty mẹ

Trước tình hình đó, và theo Bộ trưởng tài chính Vũ Văn Ninh đánh giá trong phiênhọp Quốc hội Việt Nam ngày 05 tháng 10 năm 2008 là tình hình chuyển giá “không kiểmsoát được”, thì việc nghiên cứu để tìm giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá là cấpthiết, khi mà luồng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều

Vì vậy, nhóm đã tiến hành tìm hiểu và phân tích cơ sở lí thuyết, thực trạng và nhữnggiải pháp để góp phần hạn chế tình hình chuyển giá ở Việt Nam trong giai đoạn mở cửahội nhập hiện nay Trong quá trình phân tích có những sai sót mong được sự góp ý củathầy Nhóm xin chân thành tiếp nhận ý kiến đóng góp để hoàn thiện bài nghiên cứu

Trang 5

Chương 1 CHUYỂN GIÁ

I Lý thuyết

1 Khái niệm:

Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ vàtài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giáthị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia (Multi NationsCompany) trên toàn cầu

2 Nguyên nhân:

2.1 Từ bên trong

Để có một hình ảnh đẹp về tình hình tài chính trước các cổ đông và các bên hữu quankhác Trong một số trường hợp khi MNC phạm phải các sai lầm trong kế hoạch kinhdoanh, sai lầm trong việc nghiên cứu và đưa sản phẩm mới vào thị trường, các chi phíquảng cáo, quảng bá sản phẩm quá cao và hậu quả là tình trạng thua lỗ của MNC tạichính quốc hay của các công ty thành viên trên các quốc gia khác Vì thế, để có một hìnhảnh đẹp về tình hình tài chính trước các cổ đông và các bên hữu quan khác, thì chuyểngiá là một giải pháp để có thể thực hiện được ý đồ trên Chuyển giá giúp các MNC chia

sẻ việc thua lỗ với các thành viên, nhờ vậy các khoản thuế phải nộp giảm xuống và tìnhhình kinh doanh trở nên sáng sủa hơn một cách giả tạo vi phạm pháp luật các quốc gia

Trang 6

Chiếm lĩnh được thị trường là một trong những tham vọng của các MNC Nhưng đểlàm được điều đó, MNC phải đánh bật được các đối thủ của mình, đồng thời chiếm toàn

bộ quyền kiểm soát và quyền sở hữu công ty MNC thực hiện việc này bằng cách tăngcường các hoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm trong giai đoạn mới thâm nhập thịtrường, làm cho MNC bị lỗ nặng và kéo dài Bằng nguồn lực tài chính dồi dào của mình,các MNC thực hiện hành vi chuyển giá bất hợp pháp để kéo dài tình trạng thua lỗ nhằmchiếm lấy quyền kiểm soát và quyền quản lý công ty Tồi tệ hơn là đẩy các đối tác ra khỏihoạt động kinh doanh và chiếm toàn bộ quyền kiểm soát cũng như sở hữu công ty Saukhi chiếm lĩnh được thị trường, các MNC thực hiện nâng giá sản phẩm để bù đắp chophần lỗ lúc trước Tình trạng này thường thấy ở các nước đang phát triển như Việt Nam,khi mà trình độ quản lý còn nhiều yếu kém

Ngoài ra, các MNC còn thực hiện việc chuyển giá nhằm giảm thiểu rủi ro khi giaodịch các sản phẩm và dịch vụ có tính đặc thù cao, độc quyền và tính bảo mật cao nhưtrong các ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, y dược …

2.2 Từ bên ngoài

2.2.1 Thuế:

Hiện nay chính sách thuế giữa các quốc gia có sự chênh lệch rất lớn, chính vì điều đó

đã tạo môi trường thuận lợi để MNC thực hiện hành vi chuyển giá Có rất nhiều quốc giaban hành một chính sách thuế vô cùng ưu đãi nhằm thu hút dòng vốn quốc tế chảy vàonước mình, đặc biệt ở một số quốc gia thì mức thuế áp dụng là vô cùng thấp thường đượcgọi là “thiên đường thuế”, trong khi đó thì các quốc gia còn lại đánh mức thuế suất tươngđối cao Cụ thể như sau:

Thuế TNDN

Trang 7

Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình, các MNC luôn tìm kiếm một lợi thế từthuế suất thuế TNDN của các quốc gia có mức thuế suất khác nhau bằng các hành vichuyển giá Các thủ thuật thường sử dụng là nâng giá mua đầu vào các nguyên vật liệu,hàng hóa và định giá bán ra hay giá xuất khẩu thấp tại các công ty con đóng tại các quốcgia có thuế suất thuế TNDN cao Nhờ vậy, các MNC đã chuyển một phần lợi nhuận từquốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sang quốc gia có thuế suất thuế TNDN thấp, nhưthế các MNC đã thực hiện được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình Nói tóm lại, sựkhác biệt về thuế suất thuế TNDN là động cơ lớn thúc đẩy chuyển giá.

2.2.2.Tỷ giá:

Với mục tiêu bảo toàn vốn ban đầu theo nguyên tệ, MNC rút vốn đầu tư ở quốc gia

mà họ kỳ vọng vào việc đồng tiền nước đó sẽ yếu đi trong tương lai Như vậy lúc nàyngoài lợi nhuận thu được, MNC còn thu được một khoản lợi nhuận chênh lệch do sự biếnđộng có lợi về tỷ giá

2.2.3.Hoạt động liên doanh liên kết:

Nhằm tăng cường tỷ lệ vốn góp trong hoạt động liên doanh liên kết, MNC định giáthật cao các yếu tố đầu vào từ công ty mẹ đẻ nắm quyền quản lý

2.2.4.Lạm phát:

MNC sẽ tiến hành chuyển giá ở các nước có tỷ lệ lạm phát cao để bảo toàn số vốn đầu

tư và lợi nhuận trong điều kiện đồng tiền nước đang đầu tư bị mất giá

2.2.5.Tình hình kinh tế - chính trị:

MNC sẽ thực hiện chuyển giá để chống lại các tác động bất lợi của các chính sáchkinh tế ở nước đang đầu tư, mặt khác hoạt động chuyển giá làm giảm các khoản lãi dẫnđến giảm áp lực đòi tăng lương của lực lượng lao động

2.2.6.Ưu đãi của các quốc gia:

Lợi dụng sự ưu đãi mà các quốc gia đưa ra trong chính sách kêu gọi đầu tư của nướcmình, MNC xem công ty con đặt tại các quốc gia này như một nơi tập trung toàn bộ lợinhuận của MNC, thực hiện hành vi chuyển giá để lại hậu quả xấu cho nước tiếp nhận đầutư

Trang 8

3 Các kĩ thuật chuyển giá quốc tế:

Tùy vào hoàn cảnh kinh doanh khác nhau mà các MNC sử dụng các biện pháp khácnhau để thực hiện chuyển giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu

3.1 Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn

Đầu tư dưới dạng liên doanh: việc nâng giá trị tài sản đóng góp sẽ làm cho phần vốngóp của bên phía có ý nâng giá trị góp vốn tăng, nhờ đó, sự chi phối trong các quyết địnhliên quan đến hoạt dộng của dự án liên doanh sẽ gia tăng và mức lời được chia sẽ tăng.Ngoài ra, khi dự án kết thúc hoạt động thì tỷ lệ trị giá tài sản được chia cao hơn

Đối với các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài thì việc nâng tài sản góp vốn sẽgiúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm, làm tăng chi phí đầu vào Việc tăng mứckhấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư:

 Nhanh hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ đó giảm thiểu rủi ro đầu tư

 Giảm mức thuế TNDN phải đóng cho nước tiếp nhận đầu tư

3.2 Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu…(tài sản

vô hình)

Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư hết sức khó, lợi dụngviệc này mà các MNC chủ ý thổi phồng phần góp vốn bằng thương hiệu, công thức phachế, chuyển giao công nghệ… nhằm tăng phần góp vốn của mình lên Một số trường hợpphía góp vốn bằn tài sản vô hình có xuất trình gấy chứng nhận của công ty kiểm toánnhưng độ tin cậy, trung thực của các giấy chứng nhận này rất khó kiểm định

3.3 Nhập khẩu nguyên vật liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài, hoặc từ công ty đối tác trong liên doanh với giá cao

Đây là hình thức chuyển một phần lợi nhuận ra nước ngoài thông qua việc thanh toántiền hàng nhập khẩu Ngoài ra, việc mua hàng nhập khẩu với giá đắt làm chi phí sản xuấttăng, dẫn tới lợi nhuận chịu thuế TNDN giảm

Trang 9

3.4 Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý

Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê trung gian Một số đốitác liên doanh còn bị ép nhận chuyên gia với chi phí rất cao nhưng hiệu quả lại thấp Chiphí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu

Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài ra còn phảitrả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý Ở một số trườnghợp cũng có hiện tượng chuyển giá ở khâu này khi công ty cung cấp nguồn nhân lực cũng

là công ty con của cùng một tập đoàn

Một số trường hợp còn thực hiện chuyển giá thông qua hình thức đào tạo ở nướcngoài: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ với chi phí cao.Một hình thức chuyển giá của công ty có vốn FDI là trả lương, chi phí cho chuyên gia

tư vấn được gởi đến từ công ty mẹ Loại hình tư vấn này rất khó xác định số lượng vàchất lượng để xác định chi phí cao hay thấp Lợi dụng điều này, nhiều công ty FDI thựchiện hành vi chuyển giá mà thực chất là chuyển lợi nhuận về nước dưới danh nghĩa là phídịch vụ tư vấn

3.5 Thực hiện chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa

Khi thuế nhập khẩu cao thì công ty mẹ bán nguyên liệu, hàng hóa với giá thấp nhằmtránh nộp thuế nhập khẩu nhiều Trong trường hợp này, công ty mẹ sẽ tăng cường hoạtđộng tư vấn, huấn luyện, hỗ trợ tiếp thị với giá cao để bù đắp lại hoặc mua lại sản phẩmvới giá thấp Đối với hàng hóa nhập khẩu mà thuế suất thấp, thì công ty ký hợp đồngnhập khẩu với giá cao nhằm nâng chi phí để tránh thuế

3.6 Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ

Bằng hình thức này, các công ty con tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lý nhưdùng nguồn vốn vay từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản đầu tư dài hạn

mà không tăng vốn góp và vốn chủ sở hữu nhằm đẩy chi phí hoạt động tài chính lên caonhư chi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay… và chuyển một phần lợi nhuận về nước

Trang 10

dưới dạng lãi vay, chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế, tránh lỗ do chênh lệch tỷ giá vềsau.

3.7 Chuyển giá thông các trung tâm tái tạo hóa đơn

Trung tâm tái tạo hóa đơn đóng vai trò người trung gian giữa công ty mẹ vàcác công ty con Hàng hóa trên chứng từ hóa đơn thì được bán từ công ty nơi sảnxuất hàng hóa qua trung tâm tái tạo hóa đơn và sau đó thì trung tâm này lại bán lại chocông ty phân phối bằng cách xuất hóa đơn và chứng từ kèm theo Thông qua việc này sẽđịnh vị lại loại ngoại tệ của cả đơn vị sản xuất và trung tâm tái tạo hóa đơn Nhưng trênthực tế, hàng hóa được chuyển giao trực tiếp từ công ty sản xuất qua thẳng công typhân phối mà không qua trung tâm tái tạo hóa đơn Hình thức này thường xảy ra trongngành dược phẩm

4 Tác động của chuyển giá:

4.1 Đối với MNCs

- Tác động tích cực

Được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi đầu tư (như thuế suất, lĩnh vực đầu tư…) tạođiều kiện cho các MNC dễ dàng trong việc thực hiện giảm thiểu trách nhiệm ở quốc giaMNC đang đầu tư

Thực hiện chuyển giá, các MNC sẽ bảo toàn được nguồn vốn đầu tư, nhanh chóng cóđược dòng ngân lưu cho các cơ hội đầu tư khác

Thực hiện chuyển giá sẽ giúp các MNC nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở cácnước đang đầu tư

- Tác động tiêu cực

Nếu bị các quốc gia phát hiện và thực hiện chế tài thì các MNC phải chịu một khoảnphạt rất lớn, bị rút giấy phép kinh doanh tại quốc gia đó hoặc ảnh hưởng nghiêm trọngtrên thương trường quốc tế dẫn tới sự chú ý nhiều và chặt chẽ hơn của các cơ quan thuế ởnhững nước MNC đi đầu tư sau đó

4.2 Đối với các quốc gia tiếp nhận dòng vốn đầu tư

- Tác động tích cực:

Trang 11

Khi có hoạt động chuyển giá ngược, do nước thu hút đầu tư có mức thuế thu nhậpthấplàm tăng thu nhập cho nước tiếp nhận vốn.

- Tác động tiêu cực:

Cơ cấu vốn của nền kinh tế ở quốc gia tiếp nhận vốn sẽ bị đột ngột thay đổi do việcthực hiện hành vi chuyển giá của các MNC làm các luồng vốn chảy vào nhanh mạnh, sau

đó lại có xu hướng chảy ra trong thời gian ngắn Hậu quả là tạo ra một bức tranh kinh tế

bị sai lệch ở các quốc gia này trong các thời kì khác nhau

Đối với các quốc gia được coi là thiên đường về thuế, họ là người được hưởng lợi từhoạt động chuyển giá trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, họ phải đương đầu với cáckhó khăn tài chính khi các MNC thoái vốn do các thu nhập không bền vững trước đâytrong ngắn hạn không phản ánh chính xác sức mạnh của nền kinh tế

Với việc thực hiện hành vi chuyển giá và thao túng thị trường, chính phủ các nướctiếp nhận đầu tư sẽ khó khăn hơn trong việc hoạch định chính sách điều tiết nền kinh tế vĩ

mô và khó khăn trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất trong nước phát triển

Hoạt động chuyển giá sẽ phá vỡ cán cân thanh toán quốc tế và các kế hoạch kinh tếcủa các quốc gia tiếp nhận đầu tư, chính vì thế nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ dẫn tới lệthuộc vào nền kinh tế của chính quốc, về lâu dài có thể dẫn tới lệ thuộc về chính trị

4.3 Đối với các quốc gia xuất khẩu đầu tư

- Tác động tích cực:

Nước xuất khẩu vốn thu được ngoại tệ nhiều hơn nhờ đó góp phần cải thiện cán cânthương mại, cán cân thanh toán quốc tế Sự hoạt động của các công ty mẹ tốt hơn về hìnhthức thì cũng tác động tốt hơn đến hiệu quả kinh tế xã hội: đóng góp nhiều thuế hơn chonhà nước, tác động tốt tới tăng trưởng GNP của nước xuất khẩu vốn đầu tư

- Tác động tiêu cực:

Nếu thuế suất ở các quốc gia tiếp nhận đầu tư thấp hơn thuế suất ở chính quốc, sẽ làmcho các nước xuất khẩu đầu tư bị mất cân đối trong kế hoạch thuế của nước này do việcthất thu một khoản thu nhập từ thuế

Mục tiêu quản lý nền kinh tế vĩ mô ở các quốc gia này sẽ gặp một số khó khăn nhấtđịnh do việc các dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ý muốn quản lý của chính phủ

Trang 12

II Thực trạng chuyển giá:

1 Tình hình chung:

Sự chênh lệch lớn về thuế giữa các quốc gia cùng với tầm ảnh hưởng vô cùng to lớncủa các MNC đã khiến chuyển giá trở thành vấn nạn của các quốc gia trên thế giới Điềunày được thể hiện rõ qua các số liệu sau:

- Các quốc gia làm nơi trú ẩn thuế chiếm 1,2% dân số thế giới nhưng tập trung tới26% tài sản và 31% lợi nhuận ròng của các tập đoàn đa quốc gia của Mỹ (Hines và Rice,1994) Mỗi năm có khoảng 200.000 công ty mới được thành lập tại đây và con số tích lũylên đến hơn 3 triệu công ty (Baker, 2005)

- Khoảng 3.600 công ty lớn của Mỹ đặt nơi trú ẩn tại quần đảo Virgin và Barbados(Rugman, 2000, pp 22-23)

- Thống kê liên bang ước tính rằng, giữa năm 1990 và năm 1995, lên đến 400 tỷ vốn

có thể đã được đưa ra khỏi Nga vào Mỹ, Anh, Cyprus, Thụy Sĩ, Hà Lan và Đan Mạch(Tikhomirov, 1997)

- Người ta ước tính rằng 11.500 tỷ USD tài sản ra nước ngoài cư trú tại nơi trú ẩnthuế (The Observer, ngày 27 Tháng Ba năm 2005)

- Nghiên cứu của Christain Aid tháng 5/2008 cho thấy rằng 60 tỷ USD tiền thuế đãbiến mất từ việc chuyển giao tiền và hàng hóa

Từ những số liệu trên đã cho ta thấy, chính hoạt động chuyển giá làm cho nền kinh tếthế giới hàng năm bị thiệt hại nặng Do đó, việc ban hành các biện pháp nhằm ngăn chặnhành vi chuyển giá đã trở thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách của nhiều quốc gia

2 Các trường hợp chuyển giá cụ thể trên Thế giới

2.1 Google

Đại bản doanh của Google tại các thị trường ngoài Mỹ được đặt tại trung tâm thủ đôDublin của Ireland Năm 2009, tòa nhà văn phòng là nơi làm việc của 2.000 nhân viênGoogle này, được cho là nơi đóng góp 88% vào doanh thu 12,5 tỷ USD tại thị trường

Trang 13

nước ngoài của hãng này Tuy nhiên, phần lớn số lợi nhuận từ doanh thu này đã được gửigắm sang “thiên đường thuế” Bermuda.

Để giảm số thuế phải đóng ở thị trường ngoài Mỹ, Google vận dụng một cơ chế pháp

lý phức tạp Cách làm này đã giúp công ty tiết kiệm được 3,1 tỷ USD tiền thuế lẽ ra phảiđóng từ năm 2007 tới nay, đồng thời làm gia tăng lợi nhuận gộp của năm 2009 thêm26%

Mặc dù nhiều công ty đa quốc gia khác cũng có cách “né” thuế tương tự, Googlethành công hơn khi đẩy được mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thực tế xuốngthấp hơn so với nhiều công ty ngang tầm khác trong lĩnh vực công nghệ

Từ năm 2007 tới nay, thuế suất thực tế mà Google phải chịu ở thị trường nước ngoàichỉ là 2,4% Trong khi đó, theo báo cáo của các công ty, Apple, Oracle, Microsoft vàIBM - những doanh nghiệp cùng Google hợp thành nhóm 5 công ty có giá trị vốn hóa lớnnhất trên thị trường chứng khoán Mỹ - chịu mức thuế suất dao động trong khoảng 4,5%-25,8% trong thời kỳ 2007-2009 tại các thị trường ngoài Mỹ

Điều đáng nói là mức thuế suất thực tế của Google rất thấp Trong khi đó, Googlehoạt động khắp thế giới, mà chủ yếu là những quốc gia thuế cao, nơi thuế suất doanhnghiệp bình quân trên 20%” Thuế suất doanh nghiệp ở Anh - thị trường lớn thứ hai củaGoogle sau Mỹ là 28%, tại Mỹ là 40% Nhưng tại Bermuda, thuế thu nhập là thứ khôngtồn tại Lợi nhuận của Google được gửi tới quần đảo này bằng hai “thủ thuật” mà giớiluật sư về thuế gọi là “Double Irish” và “Dutch Sandwich”

Trong trường hợp Google, hai “thủ thuật” trên được vận dụng như sau: Khi một công

ty ở châu Âu, Trung Đông hoặc châu Phi mua một quảng cáo trên Google, số tiền phải trảđược gửi tới chi nhánh của Google ở Dublin Mức thuế suất doanh nghiệp mà Chính phủIreland đặt ra là 12,5% - đã vào hàng thấp so với nhiều quốc gia châu Âu khác - nhưngGoogle vẫn gần như không phải chịu thuế suất này, vì lợi nhuận của hãng đã âm thầm rờikhỏi văn phòng ở Dublin - nơi báo cáo mức lợi nhuận trước thuế chưa đầy 1% trên doanhthu của năm 2008

Trang 14

Luật của Ireland khiến Google không dễ chuyển thẳng lợi nhuận tới Bermuda màkhông bị đánh thuế cao Do vậy, Google phải đi “đường vòng” sang Hà Lan, vì Irelandkhông đánh thuế các khoản tiền được chuyển sang cho các công ty thuộc các quốc giakhác trong Liên minh châu Âu (EU).

Một khi tiền đã tới Hà Lan, Google có thể tận dụng luật thuế hào phóng của quốc gianày Chi nhánh Google tại Hà Lan là Google Netherlands Holdings, vốn chỉ là một “vỏ sòrỗng” vì không có một nhân viên nào, sẽ thực hiện chuyển 99,8% số tiền nhận được sangBermuda với tư cách là tiền mà chi nhánh Google ở Dublin trả để mua bản quyền sở hữutrí tuệ từ Google Ireland Holdings - một thực thể “ảo” do Google ở Bermuda quản lý.Chi nhánh Google ở Bermuda về phương diện kỹ thuật là một công ty Ireland nữađược gán cho chức năng là “quản lý hoạt động của Google Ireland Holdings” Cách trốnthuế này dựa trên hai công ty Ireland - một công ty (chi nhánh Google ở Dublin) trả tiềnbản quyền để sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, làm phát sinh các chi phí nhằm giảm thu nhậpchịu thuế ở Ireland; công ty kia (Google Ireland Holdings do Google ở Bermuda quản lý)thu số tiền bản quyền đó ở một “thiên đường thuế” như Bermuda, nhằm tránh thuế ởIreland Bởi vậy, cách làm này được gọi là “Double Irish”

Do Hà Lan trở thành địa điểm trung chuyển giữa hai công ty Ireland trong chiến thuậttrốn thuế nói trên, nên cách làm như vậy được gọi là “Dutch Sandwich”

Trên thực tế, Google Ireland Holdings là một thực thể thuộc sở hữu của hai chi nhánhGoogle có ban lãnh đạo là hai luật sư và một giám đốc thuộc công ty luật Conyers Dill &Pearman có văn phòng khá đơn sơ ở Bermuda Tất cả những bước đi trên của Google đềuhợp pháp Nhờ chiến thuật né thuế, Google phải đóng ít thuế hơn ở nước ngoài

Google tại Ireland được cấp phép sử dụng công nghệ tìm kiếm và quảng cáo trựctuyến được tạo ra từ trụ sở của Google ở Mountain View, California, Mỹ Thỏa thuận cấpphép này cho phép Google báo cáo lợi nhuận tại các thị trường nước ngoài là lợi nhuận từhoạt động của Google tại Ireland, thay vì Google ở Mỹ - nơi phần lớn các công nghệ củaGoogle được phát triển

Trang 15

Theo luật Mỹ, Google tại Ireland phải trả một mức giá ngang với một công ty không

có quan hệ gì với Google phải trả để có được quyền sử dụng công nghệ của Google Tuynhiên, do phí cấp phép thu từ chi nhánh Ireland tạo ra cho Google khoản lợi nhuận có thể

bị đánh thuế ở mức 40% ở Mỹ - vào hàng cao nhất trong các mức thuế suất doanh nghiệptrên thế giới - nên Google có lý do để đưa ra mức giá cấp phép thấp nhất có thể Kết quả

là một phần trong lợi nhuận của Google ở Mỹ được dịch chuyển ra nước ngoài, và cáchlàm này được các chuyên gia gọi là hiện tượng chuyển giá (“transfer pricing”)

Năm 2009, Google nộp hơn 1,5 tỷ USD thuế thu nhập tại Mỹ Theo các chuyên gia,bằng cách chuyển giá, Google đã giảm được mức thuế suất thực tế phải chịu tại Mỹ về22,2% trong năm ngoái

2.2 SmithKline

SmithKline là một công ty dược phẩm lớn đã bị sự giám sát của cơ quan thuế Canada

Từ 1980-1989, chính quyền đã nghi ngờ công ty này thực hiện chuyển giá qua thuốccimetidine, một thành phần được sử dụng trong thuốc Tagamet SmithKline sản xuất,đóng gói và phân phối thuốc và thu được lợi nhuận đáng kể ở Canada Tuy nhiên, theomột thỏa thuận vào năm 1977, công ty này đã mua các thành phần chính của thuốc (đãđược bảo hộ bằng sáng chế) với mức giá 400 USD/kg từ các chi nhánh nước ngoài chịumức thuế thấp của nó như Bahamas và Ireland

Trong đầu những năm 1980, dạng chính của thành phần này đã được bán trên thịtrường với mức giá từ 50 – 250 USD/kg và điều này làm giảm giá thị trường của thuốc.Trong khi đó, SmithKline tiếp tục mua các thành phần theo thỏa thuận từ trước ở mức giá

400 USD/kg, dẫn đến báo cáo lợi nhuận thấp hơn và thậm chí thua lỗ ở Canada

Cơ quan thuế cho rằng lợi nhuận ở Canada đã bị làm giảm bớt do công ty đã sử dụnggiá chuyển giao nội bộ mà không quan tâm tới giá thị trường Sau vụ kiện kéo dài, mộtthẩm phán đã kết luận rằng: nếu công ty này trả theo giá thị trường quốc tế cho việc cungcấp thuốc này, lợi nhuận hoạt động của nó đã có thể nhiều hơn gấp ba lần Một suy đoán

Trang 16

đơn giản rằng công ty sẽ vẫn có lợi nhuận nếu quyết định không mua thuốc với giá đắthơn từ chi nhánh của mình

Sau một tranh cãi quyết liệt trong tám năm, cơ quan thuế cuối cùng đã không chophép khấu trừ 515 triệu USD và công ty đã phải trả 3,2 tỷ USD chi phí pháp lý

2.3 Yukos

Yukos là công ty năng lượng tư nhân lớn nhất của Nga Khodorkovsky là người sánglập và cựu giám đốc điều hành của Yukos Năm 1988, Khodorkovsky thành lập ngânhàng Menatep rất phát triển dưới sự đỡ đầu của các doanh nhân và chính trị gia Nga

Để thực hiện việc gian lận của mình, ông sử dụng các công ty vỏ bọc (shell company)

ở nước ngoài Những công ty giả tạo này được thành lập ở những “thiên đường thuế” đểcung cấp sự bảo mật cho doanh nghiệp và ngân hàng Trong số khoảng 70 “thiên đườngthuế” trên thế giới, Khodorkovsky thường chọn Thụy Sĩ, Gibraltar, Panama, và Isle ofMan

Trong năm 1994, Khodorkovsky và bạn bè đã mua 20% cổ phần của Apatit, một công

ty nhà nước của Nga, trị giá 1,4 tỷ USD vào lúc đó, với số tiền 225.000 USD và một lờihứa đầu tư 283 triệu USD Khi công ty được đưa ra bán đấu giá, Khodorkovsky bố trí chobốn công ty vỏ bọc của mình đủ điều kiện để mua nó Nhưng sau khi trúng thầu, chủ đầu

tư không bơm tiền vào công ty và cũng phớt lờ lệnh trả lại cổ phần của tòa án Thay vào

đó, họ đã bán cổ phần cho Menatep, và Menatep chuyển giao nó cho các công ty vỏ bọcnước ngoài

Những nhà quản trị công ty thiết lập một chương trình chuyển giá, bán sản phẩm củaApatit với giá thấp cho các công ty vỏ bọc của họ, và bán chúng trên thị trường thế giớivới giá cao hơn Do đó, các loại thuế và cổ tức được trả thấp hơn Tại vụ xử củaKhodorkovsky, các công tố viên cho biết với việc chuyển giá, Khodorkovsky đã lừa hơn

200 triệu USD của các cổ đông và công ty cũng như hàng triệu đô la tiền thuế của đấtnước

Trang 17

Năm 1995, Khodorkovsky đã tiếp tục làm một chương trình tương tự đối với Avisma,một công ty khoáng sản Một lần nữa, Ngân hàng Menatep lại chiến thắng Sau đóMenatep thiết lập một hệ thống chuyển giá, điều này có nghĩa là họ sử dụng một công ty

vỏ bọc nước ngoài để “mua” titan của Avisma với giá thấp hơn giá thị trường và sau đóbán nó với giá cao hơn, chính vì vậy nó trả thuế thấp và đạt được lợi nhuận tiềm ẩn, mứclợi nhuận này không được chia sẻ các cổ đông còn lại

Menatep đã mua công ty dầu Yukos trong một cuộc đấu giá gian lận của Menatep.Khodorkovsky đã trả 309 triệu USD để kiểm soát 78% cổ phần của Yukos Các “chủ sởhữu mới” này là các công ty vỏ bọc nước ngoài của Khodorkovsky Tháng sau đó, Yukosgiao dịch trên thị trường chứng khoán Nga với giá trị vốn hóa thị trường là 6 tỷ USD Các chương trình chuyển giá của Yukos và chi nhánh của nó đã làm giảm 210 tỷ RURdoanh thu trong năm 2000 và chính phủ đã yêu cầu công ty trả 28 tỷ USD thuế hoàn trả

và tiền phạt Chính phủ Nga đã tuyên bố rằng một chi nhánh sản xuất của Yukos đã bándầu thô dưới giá thị trường cho một công ty vỏ bọc có liên kết với Yukos và được thànhlập ở một khu vực có thuế thấp hoặc không có thuế Các công ty vỏ bọc này sẽ bán dầulại cho người mua trong và ngoài nước theo giá thị trường Yukos kiểm soát toàn bộ quátrình hoạt động và tài chính của các công ty vỏ bọc bao thông qua vị trí giám đốc, quyềnhạn của luật sư và cũng như một hợp đồng với công ty vỏ bọc Hầu hết các giao dịch củacông ty vỏ bọc được thực hiện với các chi nhánh Yukos khác Yukos sẽ nhận hoa hồngdanh nghĩa cho các dịch vụ này (chỉ 0,01-0,5%); và các công ty vỏ bọc nhận được phầnlớn lợi nhuận trong toàn bộ quá trình sản xuất và bán dầu Việc chuyển giá giúp Yukostránh các loại thuế cũng như các công ty vỏ bọc được hưởng các nhượng bộ về thuế docác công ty này thường được thành lập ở những “thiên đường thuế”

Trang 18

và bán hàng lại có lợi nhuận là 3 triệu bảng Anh trên doanh thu bán hàng là 1,5 tỷ bảngAnh Các nhà máy sản xuất của Toyota ở châu Âu đều tập trung tại Anh và Pháp, vàToyota cũng tuyên bố lợi nhuận hoạt động ở khu vực châu Âu của mình trong sổ sách kếtoán so với tập đoàn ở Nhật Bản trong cùng thời kỳ Nhưng lợi nhuận lại không phát sinhtại UK, bởi đây là một trong nơi có luật thuế TNDN cao nhất ở châu Âu

3 Thực trạng chuyển giá ở Việt nam

3.1 Tình hình chung về chuyển giá hiện nay ở Việt Nam

Sau hơn 20 năm mở cửa, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đã có nhữngđóng góp đáng kể vào thành tích xuất khẩu, giải quyết việc làm cho người lao động vàhiện đang trở thành đầu tàu tăng trưởng về giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Tuynhiên, đóng góp của khu vực kinh tế này cho ngân sách quốc gia lại khác hẳn

Về cơ bản, sản phẩm của khu vực FDI thường được chia làm ba loại: Thứ nhất là sảnphẩm trung gian Thứ hai là sản phẩm cuối cùng nhưng được tiêu thụ ở thị trường nướcngoài theo đơn đặt hàng của công ty mẹ Thứ ba là các sản phẩm được tiêu thụ trongnước

Với loại sản phẩm thứ nhất, các doanh nghiệp FDI thực chất là một công xưởng vớinguyên vật liệu chính được nhập khẩu, toàn bộ giá trị của sản phẩm được xuất khẩu để điqua các công đoạn tiếp theo, từ đó mới hình thành giá bán Như vậy, về thực chất toàn bộhoạt động của loại doanh nghiệp này hầu như không hạch toán lợi nhuận Phía Việt Namkhông những không thu được đồng thuế giá trị gia tăng nào mà ngược lại các doanhnghiệp FDI được hoàn thuế; thuế thu nhập doanh nghiệp cũng coi như không có vì không

có lợi nhuận

Với loại sản phẩm thứ hai, doanh nghiệp FDI tuy có chút lãi nhưng không đáng kể,

đó là một quy trình gần như khép kín Về hạch toán lợi nhuận phía Việt Nam khôngđược phép biết hoặc tham gia gì vì vốn của chủ doanh nghiệp nước ngoài, như vậy việcxuất khẩu được bao nhiêu cũng không đóng góp giá trị gia tăng trong GDP

Trang 19

Với loại sản phẩm thứ ba, tuy được tiêu thụ trong nước, nhưng hầu hết các nguyên vậtliệu chính đều được nhập khẩu từ bên ngoài Chẳng hạn như bột ngọt gần như 100%nguyên vật liệu là nhập khẩu, da cứng chiếm 83%; giày thể thao là 76%; sứ vệ sinh 74%;sơn hóa học 68,3%; bột giặt 56% Do quá trình hạch toán lợi nhuận khép kín của cácdoanh nghiệp FDI, nên dù là tiêu thụ trong nước cũng được xem thực chất là nhập khẩu.Thống kê của Cục Thuế TPHCM về kết quả kinh doanh năm 2009 của doanh nghiệpFDI trên địa bàn cho thấy, gần 60% số doanh nghiệp báo cáo thua lỗ Năm 2008, tỷ lệdoanh nghiệp FDI ở TPHCM thua lỗ cũng chiếm tới 61,3% và trước đó, năm 2007, nămhưng thịnh của kinh tế Việt Nam, vẫn có gần 70% doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tếnày lỗ Kết quả trên đồng nghĩa với TPHCM không thu được một khoản thuế thu nhậpdoanh nghiệp từ những công ty này.

Có thể nói, thua lỗ đã trở thành xu hướng chung của doanh nghiệp FDI, không chỉ ởTPHCM, mà trên cả nước Nó được phản ánh qua tỷ lệ đóng góp cho ngân sách quốc giacủa khối này (không kể dầu thô) khá thấp Trong các năm 2005-2008 chỉ dao động quanh9-10% tổng thu ngân sách của quốc gia

Theo các chuyên gia kinh tế, tỷ lệ thua lỗ cao bất thường của doanh nghiệp FDI khônghẳn tại khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn do nhiều công ty đã thựchiện chính sách chuyển giá, nhằm trốn thuế ở Việt Nam

3.2 Các trường hợp chuyển giá ở Việt Nam

3.2.1 Chuyển giá thông qua việc nâng giá trị vốn góp

Việc định giá cao thiết bị máy móc đầu tư ban đầu đã giúp cho các MNC chuyển mộtlượng tiền đi ngược trở ra cho công ty mẹ ngay từ lúc đầu tư và thông qua chi phí khấuhao hàng năm sẽ làm cho nhà nước thất thu thuế

Điển hình như, một khách sạn liên doanh giữa Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn vàVina Group đã xác định giá trị đưa vào góp vốn của Vina Group là 4,34 triệu USD.Nhưng theo sự thẩm định giá của công ty giám định giá Quốc Tế thì giá trị tài sản gópvốn của Vina Group chỉ có giá trị là 2,99 triệu USD Như vậy trong nghiệp vụ định giá

Trang 20

giá trị góp vốn liên doanh này phía Việt Nam đã bị thiệt 1,35 triệu USD tương đương45.2% Theo một báo cáo giám định của công ty kiểm định Quốc Tế về việc xác định giátrị vốn góp của các bên liên doanh thực hiện vào năm 1993 cho ta kết quả trong bảng sốliệu dưới đây:

Bảng: Xác định giá trị vốn góp của các bên liên doanh

Stt Tên dự án liên doanh Giá trị thiết

bị khai báo

Giá trị thiết bịthẩm định

Chênh lệch dokhai khống

Tỷ lệ khaikhống

Do nâng giá trị tài sản góp vốn nên tỷ lệ vốn cao hơn phía Việt Nam, vì vậy bên đốitác nước ngoài thường sẽ nắm quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp Đối tác nước

Trang 21

ngoài sẽ điều hành công ty theo mục đích của họ để cho tình hình thua lỗ kéo dài và bênliên doanh Việt Nam không đủ tiềm lực tài chính để tiếp tục hoạt động đành phải bán lạiphần vốn góp và hàng loạt các công ty liên doanh trở thành công ty 100% vốn nướcngoài

3.2.2 Chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ

Ngoài việc nâng giá trị tài sản vốn góp khi tiến hành liên doanh thì các MNC cònthực hiện việc chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ và thu phí tiền bảnquyền, đây là một loại chi phí chiếm tỷ trọng lớn do khấu hao giá trị tài sản cố định vôhình Một ví dụ điển hình cho việc chuyển giá thông qua chuyển giao công nghệ đó là tạiCông ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam

Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam là một công ty liên doanh hoạt độngtheo Luật Đầu tư Nước ngoài của Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kếhoạch và Đầu tư) cấp phép số 287/GP ngày 9/12/1991 Hai đối tác liên doanh là Công tyThực phẩm II tại thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Heneiken International Behler (HàLan) Đến năm 1994 thì giấy phép liên doanh này được chuyển nhượng sang giấy phép số287/GPDCI ngày 27/10/1994 liên doanh với Asia Pacific Breweries PTE.LTD(Singapore) Tổng số vốn đầu tư là 49,5 triệu USD và vốn pháp định là 17 triệu USD.Bên liên doanh Việt Nam chiếm 40% và bên liên doanh Singapore chiếm 60% vốn,ngành nghề sản xuất của liên doanh là sản xuất bia để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.Khi đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tình trạng kinh doanh của công ty bị thua lỗkéo dài qua các năm, nguyên nhân chủ yếu là do phải trả cho chi phí bản quyền quá cao

và tăng dần qua các năm Trong tình hình công ty liên doanh thường xuyên thua lỗ, phíaliên doanh Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề nhưng ngược lại phía liên doanh nướcngoài vẫn không hề hấn gì vì họ vẫn nhận đủ tiền bản quyền từ nhãn hiệu và tiền bảnquyền lại có xu hướng ngày càng tăng

Trong hơn 2.000 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép thì chỉ có 94 trường hợpchuyển giao công nghệ với tổng giá trị hơn 200 triệu USD được trình lên Bộ Khoa họcCông nghệ và Môi trường Trong đó có 80 hợp đồng đã được phê duyệt, còn lại đang

Trang 22

được xem xét và yêu cầu bổ sung Trong các dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào ViệtNam, một số công nghệ đã rất lỗi thời và bán tự động do không thông qua việc đăng kývới Bộ Khoa Học và Môi Trường vẫn được xem là chuyển giao công nghệ trong các liêndoanh Điều này đã dẫn đến tình trạng là chúng ta vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, lỗithời trên thế giới Hậu quả là một mặt gây ảnh hưởng môi trường, đồng thời chúng ta phảitrả phí bản quyền chuyển giao công nghệ Một nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng này

là do chúng ta không chuẩn bị tốt trong khâu soạn thảo hợp đồng và đàm phán chi phíbản quyền khi tham gia liên doanh vì vậy mà chi phí cao hơn mức chi phí chuyển giaocông nghệ cho phép là 5% Phía Việt Nam thường ký vào hợp đồng đã được bên đối tácsoạn sẵn Trong số hơn 80% hợp đồng đã được Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trườngphê duyệt thì bên Việt Nam sau khi thực hiện đàm phán lại chi phí bản quyền đã giảm đi

so với giá trị hợp đồng trước khi đàm phán từ 20 đến 50% Trong năm 1998, chỉ riêng 6trong số các hợp đồng đã được phê duyệt đã thu lai được 35 triệu USD

Một ví dụ cho việc này là ban đầu, liên doanh Mecedes- Benz (Đức) trước khi đàmphán đòi chi phí bản quyền chuyển giao công nghệ là 42 triệu USD Sau khi phía ViệtNam đàm phán lại giảm xuống chỉ còn 9,6 triệu USD; giảm đi 77% so với chi phí banđầu phía Đức đưa ra Trường hợp khác, cũng trong ngành sản xuất xe ô tô, đó là công tyMitsubishi Motor Corporation (Nhật Bản) trong liên doanh sản xuất ôtô Ngôi Sao đòi phíbản quyền chuyển giao công nghệ là 61 triệu USD Sau khi đàm phán lại thì giảm xuốngchỉ còn 4,4 triệu USD; tức giảm đi gần 15 lần Một trường hợp nữa là công ty mía đườngĐài Loan đòi phí bản quyền là 54 triệu USD nhưng sau khi đàm phán thì phí bản quyềnchỉ còn là 6 triệu USD, giảm 9 lần

3.2.3 Chuyển giá nhằm mục đích chiếm lĩnh thị trường

Các MNC khi đi vào đầu tư kinh doanh tại một quốc gia thì họ thường sẽ thích liêndoanh với một công ty nội địa hơn là vào đầu tư thẳng là công ty 100% vốn nước ngoài.Nguyên nhân là các MNC này muốn sử dụng hệ thống phân phối và thị phần có sẵn củacác công ty nội địa Sau một thời gian liên doanh thì các MNC này sẽ dùng các thủ thuậtkhác nhau, trong đó có thủ thuật chuyển giá để đẩy công ty nội địa ra và chuyển công ty

Trang 23

liên doanh thành công ty 100% vốn nước ngoài Dưới đây chúng ta sẽ theo dõi hai ví dụ

đã xảy ra tại công ty P&G Việt Nam và công ty liên doanh Coca Cola Chương Dương

 Trường hợp P&G Việt Nam

P&G Việt Nam là một công ty liên doanh giữa Công ty Proter & Gamble Far Earstvới Công ty Phương Đông, được thành lập vào ngày 23 tháng 11 năm 1994 Tổng số vốnđầu tư ban đầu của liên doanh này là 14,3 triệu USD và đến năm 1996 tăng lên là 367triệu USD Trong đó Việt Nam góp 30% và phía đối tác chiếm 70% (tương đương 28triệu USD) Sau hai năm hoạt động (năm 1995 và 1996) liên doanh này đã lỗ đến một con

số khổng lồ là 311 tỷ VND Số tiền lỗ này tương đương với ¾ giá trị vốn góp của cả liêndoanh Trong con số thua lỗ 311 tỷ này thì năm 1995 lỗ 123,7 tỷ VND và năm 1996 lỗ187,5 tỷ VND Để giải thích cho số tiền thua lỗ này thì chúng ta sẽ phân tích các nguyênnhân và chi phí sau: Do thời điểm năm 1995 và 1996 đây là gia đoạn mới vào Việt Namnên P&G muốn xây dựng thương hiệu tại Việt Nam và muốn các sản phẩm của mình đềuđược người tiêu dùng biết đến và sử dụng Với mục đích chiếm lĩnh thị trường, trong hainăm 1995 và 1996, P&G đã chi cho quảng cáo một số tiền rất lớn lên đến 65,8 tỷ đồng.Đây là một con số quá lớn đối với quảng cáo tại Việt Nam vào thời điểm đó Trong thờiđiểm này hầu như các kênh truyền hình đài phát thanh và báo chí đều có sự xuất hiệnquảng cáo của các sản phẩm của công ty P&G như Safeguard, Lux, Pantene, Header &Shouder, Rejoice… Vào thời điểm này, mọi người đều nghe các khẩu hiệu quảng cáo như

“Rejoice tạo mái tóc mượt và không có gàu”, “Pantene giúp tóc bạn khỏe hơn”, “Header

& Shoulder khám phá bí quyết trị gàu”,“bột giặt Tide thách thức mọi vết bẩn”… Tổngcác chi phí quảng cáo này chiếm đến 35% doanh thu thuần của công ty và đã vượt xamức cho phép của luật thuế là không quá 5% trên tổng chi phí và nó cũng đã gấp 7 lần sovới chi phí trong luận chứng kinh tế ban đầu

Ngoài các khoản quảng cáo này thì các khoản chi phí khác cũng vượt xa so với luậnchứng kinh tế ban đầu Quỹ lương năm đầu tiên xây dựng trong luận chứng kinh tế là 1triệu USD nhưng thực tế đã chi đến 3,4 triệu USD, tức là gấp 3,4 lần Nguyên nhân chủ

Trang 24

yếu là do P&G đã sử dụng đến 16 chuyên gia là người nước ngoài trong khi trong luậnchứng kinh tế chỉ đưa ra từ 5 đến 6 người

Ngoài hai chi phí trên thì các chi phí khác cũng phát sinh lớn hơn nhiều so với luậnchứng kinh tế ban đầu như chi phí cho chuyên gia xây dựng cơ bản ban đầu là 7 tỷ VND,chi phí tư vấn pháp lý hết 7,6 tỷ VND và chi phí thanh lý hết 20 tỷ VND… Ngoài ra mộtnguyên nhân khác dẫn đến việc thua lỗ nặng nề trong năm đầu tiên là do doanh số thực tếnăm chỉ đạt 54% kế hoạch và phải gánh chịu chi phí tăng cao, dẫn đến kết quả là năm đầutiên hoạt động thua lỗ 123,7 tỷ VND

Tình hình này lại tiếp tục lặp lại vào năm thứ hai và kết quả là năm thứ hai lại tiếptục thua lỗ thêm 187,5 tỷ VND với con số thua lỗ lũy kế hai năm đến 311,2 tỷ VND;chiếm ¾ tổng số vốn của liên doanh, và đến tháng 7 năm 1997 thì tổng giám đốc củaP&G đã đầu tư quá giấy phép là 6 triệu USD, công ty phải vay tiền mặt để trả tiền lươngcho nhân viên Đứng trước tình thế thua lỗ nặng nề và để tiếp tục kinh doanh thì bên phíađối tác nước ngoài đề nghị tăng vốn thêm 60 triệu USD Như vậy phía Việt Nam cần phảităng theo tỷ lệ vốn góp 30% (18 triệu USD) Vì bên phía Việt Nam không có đủ tiềm lựctài chính nên cuối cùng đã phải bán lại toàn bộ số cổ phần của mình cho đối tác nướcngoài Như vậy công ty P&G Việt Nam từ hình thức là công ty liên doanh đã trở thànhcông ty 100% vốn nước ngoài

 Trường hợp công ty liên doanh Coca Cola Chương Dương

Công ty liên doanh Coca Cola Chương Dương là một liên doanh giữa hai đối tác làCông ty Nước giải khát Chương Dương trực thuộc Bộ Công Nghiệp Việt Nam và Công

ty Coca Cola Indochina PTE LTD Liên doanh này được cấp phép hoạt động vào ngày

27 tháng 9 năm 1995 với tổng số vốn đầu tư là 48,7 triệu USD Vốn pháp định của liêndoanh này là 20,7 triệu USD Trong đó phía Việt Nam góp 8,3 triệu USD bằng quyền sửdụng 6 ha đất trong thời gian là 30 năm và chiếm 40% trong tổng vốn đầu tư Liên doanhnày được cấp phép ngành nghề sản xuất kinh doanh là nước giải khát mang nhãn hiệuCoca Cola, Fanta, Sprite theo license của công ty Coca Cola Company, Atlanta, GeorgiaHoa Kỳ và một số loại nước giải khát khác Sau khi đi vào hoạt động thì công ty đã tiến

Trang 25

hành các hoạt động chuyển giá thông qua các hành vi như sau: Khi tham gia góp vốn liêndoanh thì bên đối tác nước ngoài đã tiến hành nâng giá trị tài sản vốn góp bằng cách địnhgiá cao các máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất nước giải khát Do tại thời điểm nàytrình độ chuyên môn cũng như thẩm định giá trị tài sản của Việt Nam còn nhiều hạn chếnên không kiểm soát được vấn đề này Luật pháp trong giai đoạn này cũng chưa điềuchỉnh được các tình huống trên Đến năm 1996, do nhận thấy được tình trạng trên nênLuật đầu tư đã có những sửa đổi nhưng vẫn còn chung chung, chưa cụ thể hóa Như vậybên liên doanh đã định giá cao các thiết bị máy móc và dây chuyền sản xuất và thực hiệnthành công việc chuyển giá thông qua việc nâng giá trị tài sản vốn góp

Sau khi bắt đầu sản xuất kinh doanh thì công ty Coca Cola bắt đầu thực hiện các chiếnlược chiếm lĩnh thị phần của các công ty nội địa Để thực hiện việc chiếm lĩnh thị trườngthì công ty Coca Cola đã thực hiện các chiến lược bán phá giá sản phẩm, chiến lượcquảng bá sản phẩm và xây dựng thương hiệu thông qua quảng cáo và marketing sảnphẩm, thực hiện các chiến lược khuyến mãi, tài trợ để xây dựng thương hiệu và đánhbóng tên tuổi tại thị trường Việt Nam Mặc dù mới xâm nhập vào thị trường Việt Namvới một thời gian không lâu nhưng sản phẩm mang nhãn hiệu Coca Cola đã tràn ngập thịtrường và đã dần dần chiếm lấy thị phần của các công ty nội địa Cuộc đối đầu giữa hainhãn hiệu nước giải khát lớn là Coca Cola và Pepsi đã dần dần loại bỏ các nhà sản xuấtnước giải khát nội địa như Hòa Bình, Cavinco, Chương Dương… Các công ty nội địamột số phải đóng cửa hoặc phải bỏ thị trường chính như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội

và các thành thị để chuyển đến các thị trường nông thôn Một số ít các công ty phảichuyển đổi sang kinh doanh sản phẩm khác như công ty Tribico Tribico nhờ chuyểnhướng kinh doanh sang sản phẩm sữa đậu nành và đây là một sản phẩm mà hai đại giatrong ngành nước giải khát chưa sản xuất nên mới có thể tiếp tục tồn tại

Trong chiến lược xâm chiếm thị phần của mình thì công ty Coca Cola Chương Dương

đã thực hiện chính sách bán phá giá Giá bán của sản phẩm giảm một cách rõ rệt qua từngnăm Có những thời điểm giá bán phá giá từ 25% đến 30% doanh thu Chính điều nàygóp phần vào làm cho công ty Coca Cola Chương Dương lỗ nặng nề hơn Theo số liệu

Trang 26

thống kê của Cục Thuế TP.HCM thì giá bán giữa tháng 3 năm 2007 và tháng 3 năm 2008giảm đến 23%

Bảng: Giá bán của một thùng Coca Cola từ năm 1996 đến 1999

tỷ giá lúc bấy giờ 1 USD = 14.000 VND, tức là 1 lon coca được bán với giá 10.500 VND.Một lon coca cùng thời điểm trên được bán tại thị trường Việt Nam với giá từ 5.000 VNDđến 7.000 VND (tương đương từ 40 đến 50 cents) Như vậy giá một lon coca được bántại Việt Nam thấp hơn so với thị trường Mỹ là 25 cent (khoảng 50%) Thông qua phântích giá bán sản phẩm thì liệu chúng ta có thể xác định chính sách bán phá giá này cóđược sự điều phối từ công ty mẹ ở chính quốc

Trong thời điểm diễn ra cúp bóng đá thế giới vào năm 1998, để đánh bóng thêm chotên tuổi và thương hiệu Coca Cola tại thị trường Việt Nam thì công ty Coca Cola còn tiếptục thực hiện việc tài trợ 1,3 tỷ VND bất chấp sự không đồng ý của phía liên doanh ViệtNam Đi đôi với chiến dịch khuyến mãi này là việc tăng dung tích chai Coca Cola từ 200

ml lên thành 300 ml (tương đương 50%) nhưng giá bán không đổi Chiến dịch khuyến

Trang 27

mãi này được quảng cáo rầm rộ trong suốt thời gian diễn ra cúp bóng đá thế giới trên cácphương tiện truyền thông như các kênh truyền hình, đài phát thanh, và báo chí… Kết quảcủa chiến dịch khuyến mãi này đã làm cho công ty Coca Cola đã lỗ hết 20 tỷ đồng

Bảng: Kết quả kinh doanh của công ty Coca Cola từ năm 1996 đến 1998

(Nguồn: Cục Thuế TP Hồ Chí Minh)Ngoài những hoạt động như khuyến mãi quảng cáo thì tại công ty Coca Cola có mộtđặc điểm là có hơn 40% chi phí nguyên vật liệu cho sản xuất được nhập khẩu trực tiếp từcông ty mẹ Đối với ngành sản xuất nước giải khát thì chi phí nguyên vật liệu chiếm hơn50% trong tổng chi phí, vì vậy giá trị nguyên vật liệu nhập từ công ty mẹ là rất lớn Do đóchắc chắn sẽ có hiện tượng nâng giá đầu vào tại khâu mua nguyên vật liệu từ công ty mẹ Theo báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty, xem xét tỷ trọng chi phínguyên vật liệu chiếm trong tổng chi phí thì chi phí nguyên vật liệu chiếm tới 60,14%trong tổng chi phí Khi so sánh với doanh thu thì chi phí nguyên vật liệu chiếm 66,82%.Nếu đem tỷ lệ chi phí nguyên vật liệu so với doanh thu và chi phí tại công ty Coca Cola

so sánh với các công ty trong cùng ngành sản xuất nước giải khát thì tỷ lệ này quá cao vàkhông phù hợp với đặc điểm và tỷ suất lợi nhuận của ngành này

Trong thời điểm mà Nhà nước chưa quản lý được giá mua nguyên vật liệu giữa công

ty Coca Cola Chương Dương và công ty Coca Cola mẹ ở chính quốc thì có thể xảy ratình trạng kê khai nâng giá mua vào trên hóa đơn so với giá thực tế (đây là hiện tượngchuyển giá) Mục đích của việc làm này là gây lỗ cho công ty tại Việt Nam nhưng công

ty mẹ tại chính quốc sẽ thu lợi do giá nguyên vật liệu đuợc bán với giá cao Đây cũng làmột hình thức chuyển lợi nhuận về chính quốc trong khi công ty con tại Việt Nam phảichịu lỗ So sánh tỷ lệ nguyên vật liệu trên giá vốn hàng bán (NVL/GVHB) của công tyCoca Cola Chương Dương và hai công ty con của Coca Cola mẹ hoạt động tại Úc và

Ngày đăng: 08/08/2014, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w