1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

197 Phương hướng hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ trong các Ngân hàng thương mại

31 540 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương Hướng Hoàn Thiện Công Tác Kiểm Toán Nội Bộ Trong Các Ngân Hàng Thương Mại
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kiểm Toán
Thể loại Chuyên đề
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 136 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

197 Phương hướng hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ trong các Ngân hàng thương mại

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường thì nhucầu về vốn của các nghành, các thành phần kinh tế ngày càng tăng để phục vụcho phát triển và mở rộng sản xuất Đáp ứng yêu cầu đó thì hệ thống các ngânhàng đã ra đời với tư cách là các nhà trung gian tài chính Nhưng để giúp chocác nhà quản lý và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể kiểm tra,kiểm soát nguồn vốn một cách có hiệu quả, đồng thời tránh sự lợi dụng những

kẽ hở trong hệ thống quản lý của một số cán bộ nhằm thu lợi bất chính thì cầnphải có một công cụ thích hợp đó chính là công tác kiểm toán

Ở Việt Nam, hoạt động kiểm toán nói chung cũng bắt đầu được thựchiện vào cuối những năm 80 và kiểm toán nội bộ (KTNB) được áp dụng thựchiện vào đầu những năm 90-91 Sự phát triển mạnh mẽ của kiểm toán nóichung và kiểm toán nội bộ nói riêng đã tác động lớn đến tính hiệu quả, xuhướng hoạt động của các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế - mọi doanh nghiệp

và đơn vị kinh doanh trong đó có các NHTM đều phải điều chỉnh và hoànthiện các hoạt động của mình nhằm xây dựng tổ chức mình ngày càng mạnh

mẽ hơn, tạo sự tin cậy hơn trong công chúng để tăng sức cạnh tranh của mìnhtrong nền kinh tế Hệ thống NHTM Việt Nam cũng thực hiện hoạt độngKTNB xuất phát từ chính nhu cầu của mình để tạo ra những động lực thúcđẩy phát triển

Để có thể tìm hiểu sâu vấn đề này tôi chọn chuyên đề “Phương hướng hoàn thiện công tác kiểm toán nội bộ trong các ngân hàng thương mại”.

Nội dung đề tài bao gồm những phần sau:

Phần I: Lý luận chung về KTNB trong các NHTM ở Việt Nam

I Bản chất, chức năng và nhiệm vụ của KTNB

II Trình tự tiến hành KTNB

Trang 2

III Sự cần thiết phải KTNB trong các NHTM

Phần II: Thực trạng của hoạt động KTNB trong các NHTM ở Việt Nam hiện nay và các ý kiến đề xuất

I Thực trạng - khó khăn

II Những giải pháp - ý kiến đề xuất

Trang 3

PHẦN I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NHTM Ở VIỆT NAM

I BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KIỂM TOÁN NỘI BỘ

Trên thế giới thuật ngữ kiểm toán (KT) đã có từ lâu, từ khi xuất hiện nhucầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trong BCTC để có thểnắm được một cách chính xác tình hình tài sản của một chủ thể kinh tế

Ở Việt Nam thuật ngữ KT mới chỉ xuất hiện từ những năm cuối của thập

kỷ 80 nhưng nó đã nhanh chóng trở nên rất quan trọng trong hoạt động kinh

tế và đặc biệt kể từ khi Việt Nam bước sang nền kinh tế thị trường

Nếu như kế toán có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho cácquyết định kinh tế của các đối tượng có liên quan thì kiểm toán có tráchnhiệm thẩm tra đánh giá, đảm bảo và nâng cao độ tin cậy của các thông tinkinh tế Như vậy có thể hiểu một cách tổng quát: kiểm toán là việc kiểm tra,thẩm định, đánh giá nhằm xem xét chất lượng hoạt động của một tổ chức,chất lượng của các hồ sơ tài chính, kế toán

Người ta có thể định nghĩa KT như sau: Kiểm toán là quá trình cácchuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng vềcác thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đíchxác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩnmực đã được thiết lập từ trước

Đối tượng chủ yếu của KTNB là các sai lầm và gian lận Nó xem xétđánh giá sự đánh giá hợp thức của các số liệu, tài liệu kế toán Để có thể đạtđến mục đích này công việc phải làm là xác định các sổ kế toán, các số liệu kếtoán được kiểm tra không chứa đựng một sai lầm hay gian lận nào

Trang 4

Sai lầm và gian lận là các khiếm khuyết, các vi phạm đối với nguyên tắc

và luật lệ kế toán đã được qui định Sự khác biệt giữa sai lầm và gian lận nằmtrong yếu tố ý đồ

Sai lầm là sự vi phạm do bất cẩn, vô ý hay kém cỏi mà người thực hiệnhoàn toàn không có

Gian lận là một sự vi phạm do cố tình mà người thực hiện có ý đồ phạmpháp rõ rệt

Trên thực tế kiểm toán viên nhiều khi khó phân biệt xem sự vi phạm nào

là sai lầm và sự vi phạm nào là gian lận Xác định một trường hợp vi phạm là

có ý đồ hay không có ý đồ hoàn toàn không đơn giản

Các dạng sai lầm thường gặp là do thiếu sót, do định khoản sai, nhầm lẫn

về ghi sổ và chuyển khoản sổ, nhầm lẫn do trùng lắp, sai lầm bù trừ nhau, sailầm về nguyên tắc

Các hình thức gian lận thường gặp là gian lận tiền bạc và tài sản tạodựng tình huống

Có nhiều cách phân loại kiểm toán khác nhau.

a- Theo chức năng của kiểm toán có 3 nội dung sau:

- Kiểm toán hoạt động

- Kiểm toán báo cáo tài chính

- Kiểm toán tuân thủ

* Kiểm toán hoạt động

Kiểm toán hoạt động đánh giá tính hiệu quả, tác dụng của 1 phương ánkinh doanh, 1 qui trình công nghệ hay một loại TSCĐ muốn đưa vào hoạtđộng Kiểm toán hoạt động sử dụng các kỹ năng khác nhau: kế toán, tài chính,kinh tế, kỹ thuật và khoa học Kết thúc cuộc kiểm toàn thường lập một bản

Trang 5

giải trình đánh giá, kết luận các mặt tốt, xấu gửi cho các cơ quan có thẩmquyền.

Nội dung chủ yếu của kiểm toán hoạt động gồm:

- Kiểm tra việc huy động, phân phối sử dụng một cách tiết kiệm và cóhiệu quả các nguồn lực (nhân lực, vật tư và tài sản, vốn, lợi thế kinh doanh )của doanh nghiệp

- Kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, phân phối

và sử dụng thu nhập, kết quả bảo toàn và phát triển vốn

- Kiểm tra và đánh giá hiệu quả và hoạt động của các bộ phận chức năngtrong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp

* Kiểm toán tuân thủ

Kiểm toán tuân thủ là thường do cấp trên kiểm tra các đơn vị cấp dưới vềviệc cháp hành các qui định, qui chế

Nội dung công việc kiểm toán tuân thủ

- Việc kiểm tra tính tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kếtoán, chế độ quản lý của nhà nước và tình hình chấp hành các chính sách,nghị quyết, quyết định, qui chế của hội đồng quản trị, của ban giám đốc

- Kiểm tra tính tuân thủ các qui định về nguyên tắc, qui trình nghiệp vụ,thủ tục quản lý của toàn bộ cũng như của từng khâu công việc, của từng biệnpháp trong hệ thống kiểm soát nội bộ

- Kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, chính sách, các chuẩn mực kếtoán từ khâu lập chứng từ vận dụng hệ thống tài khoản, ghi sổ kế toán, tổnghợp thông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị đến lưutrữ tài liệu kế toán

* Kiểm toán báo cáo tài chính

Trang 6

Kiểm toán báo cáo tài chính nhằm kiểm tra xác nhận các thông tin sốliệu trên báo cáo tài chính được tập hợp có trung thực và hợp lý không, cóphù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán thông dụng đã được chấpnhận không,

Nội dung công việc của kiểm toán báo cáo tài chính gồm:

- Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ, khách quan, tính tin cậy củabáo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi giám đốc ký duyệt vàcông bố

- Kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trịđược ra những kiến nghị và tư vấn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinhdoanh nhằm bảo đảm sụ hợp lý và hiệu quả

b- Theo chủ thể kiểm toán thì kiểm toán có thể gồm 3 loại:

- Kiểm toán độc lập

- Kiểm toán nội bộ

- Kiểm toán Nhà nước

* Kiểm toán độc lập là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên độclập hành nghề trong các công ty kiểm toán hoặc trong các văn phòng kiểmtoán chuyên nghiệp tiến hành Trên thế giới, kiểm toán độc lập là loại hoạtđộng dịch vụ tư vấn dưới sự bảo hộ và thừa nhận của pháp luật Ngày naycông việc kiểm toán độc lập càng ngày càng được quản lý chặt chẽ bởi cáchiệp hội chuyên ngành về kiểm toán Hoạt động chủ yếu của kiểm toán độclập là kiểm toán báo cáo tài chính và thực hiện kiểm toán theo yêu cầu củakhách hàng ngoài ra còn thực hiện các dịch vụ tư vấn về tài chính - kế toánthuế Ở Việt Nam trong những năm gần đây kiểm toán độc lập đã và đangphát triển mạnh mẽ

* KTNB là công việc kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị

Trang 7

* Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là công việc là kiểm toán do cơ quankiểm toán nhà nước tiến hành để xem xét việc chấp hành các chính sách, luật

lệ, chế độ của nhà nước và sự đánh giá sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động tạicác đơn vị sử dụng vốn và kinh phí của nhà nước Kiểm toán nhà nước cónhiệm vụ kiểm tra, xác nhận việc chi tiêu đúng mục đích, đúng dự toán và cóhiệu quả ngân quỹ của nhà nước Bên cạnh đó, KTNN còn có quyền góp ý vàyêu cầu các đơn vị được kiểm toán sửa chữa những sai phạm và kiến nghị vớicấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm, đề xuất với chủ nhà nước sửa đổi, cảitiến cơ chế quản lý tài chính, kế toán cần thiết

1 Bản chất của KTNB

Lịch sử phát triển hoạt động kiểm toán ở các nước có nền kinh tế thịtrường cho thấy KTNB là một nghề nghiệp mới mẻ Vì vậy cần phải có sựthống nhất về nhận thức và cách thức tiến hành, triển khai và thực hiện khôngnhững ở các doanh nghiệp mà còn ở các tổ chức tài chính - tiền tệ (như ngânhàng), cơ quan quản lý nhà nước

Ở các nước trên thế giới, thông lệ KTNB không được qui định bởi phápluật Nói một cách khác, không có qui định nào bắt buộc một công ty nhànước hay tư nhân phải có KTNB Việc quyết định thành lập bộ phận KTNBphải xuất phát từ sự tự nguyện, từ yêu cầu thực tế của ban giám đốc Các mụctiêu và chức năng của KTNB vì thế mà thay đổi tuỳ theo yêu cầu cụ thể củaban giám đốc

KTNB là công cụ quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp để kiểmsoát, đánh giá, phân tích tình hình hoạt động của doanh nghiệp, đánh giá vàđiều chỉnh chiến lược kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất KTNB cũng làcông cụ để phân tích đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm toán và hệ thốngkiểm toán nội bộ

Mục tiêu chính của KTNB trong khuôn khổ xem xét định kỳ là kiểm trracác thủ tục có đủ an toàn và các thông tin có trung thực, tin cậy hay không,

Trang 8

các nghiệp vụ có hợp thức, tổ chức hoạt động có hiệu quả, cơ cấu có rõ ràng

và thích hợp hay không

Tóm lại KTNB là hoạt động cần thiết của các doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường, là nhu cầu cần thiết khách quan cho việc kiểm tra, kiểmsoát chất lượng của hoạt động thông tin kinh tế, tài chính của BCTC

2 Chức năng của KTNB

Trong doanh nghiệp, KTNB là bộ phận chịu trách nhiệm xem xét lại mộtcách định kỳ các biện pháp mà ban giám đốc và các nhà quản lý ở mọi cấp ápdụng để quản lý và kiểm soát doanh nghiệp Chức năng này được đảm nhiệmbởi một bộ phận chịu sự điều hành của Ban giám đốc nhưng hoàn toàn độclập với tất cả các bộ phận khác KTNB có 3 chức năng cơ bản là kiểm tra,xác nhận và đánh giá

Phạm vi kiểm tra, xác nhận và đánh giá của KTNB bao gồm:

- Độ tin cậy của thông tin tài chính - kế toán do kế toán tổng hợp xử lý

và trình bày

- Tính tuân thủ luật pháp và các qui chế, các qui định của nhà nước, cácqui định của bản thân doanh nghiệp

- Tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ

- Tính hiệu quả của các hoạt động kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực,lựa chọn các phương án các quyết định kinh tế

Trang 9

- Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tàichính, của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị doanh nghiệp trước khitrình ký duyệt và công bố.

- Kiểm tra và đánh giá sự tuân thủ luật pháp chính sách, chế độ tài chính,

kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của hội đồng quản trị, của bangiám đốc doanh nghiệp

- Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệtài sản của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến hoàn thiện hệthống quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp

Đây là những nhiệm vụ cơ bản nhất mà một cuộc KTNB cần phải hoànthành để đáp ứng yêu cầu về thông tin cho doanh nghiệp cũng như nhữngngười quan tâm đến doanh nghiệp

4 Các hình thức kiểm toán nội bộ

Hoạt động KTNB có thể tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗihình thức kiểm toán đem lại những kết quả nhất định và thoả mãn những yêu

ầu khác nhau Tuỳ từng điều kiện hoàn cảnh và trong từng khoảng thời giankhông gian cụ thể cần và có thể vận dụng các hình thức kiểm toán một cáchthật linh hoạt sao cho có hiệu quả Trên thực tế trong công tác KTNB người ta

sử dụng các hình thức sau:

a) Kiểm toán toàn diện và kiểm toán đặc biệt

Kiểm toán toàn diện nhằm vào toàn bộ hoạt động kinh doanh, hoạt động

kế toán với mục đích xem xét sự chính xác của tài liệu, số liệu kế toán, đồngthời tìm hiểu xem các tài liệu này đã phản ánh trung thực của tình hình hoạtđộng của cơ quan, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp chưa

Trái lại, kiểm toán đặc biệt (hay kiểm toán chuyên đề) tập trung vào sốnghiệp vụ nhất định, ví dụ như kiểm toán ngân quỹ, kiểm toán hoạt động bánhàng, kiểm toán chi phí, lợi nhuận,

Trang 10

Tuy nhiên để phân biệt giữa 2 loại kiểm toán này cũng không đơn giản,

vì đôi khi 1 cuộc kiểm toán đặc biệt chỉ nhìn vào một vấn đề xem công ty cóchia lãi đúng qui định không, cũng đòi hỏi phải thực hiện một cuộc kiểm toánhầu như toàn diện mới có đủ yếu tố để xác định.do đó, tiêu chuẩn phân biệthai loại kiểm toán này nằm ở chỗ bao gồm nhiều hay ít nghiệp vụ phải kiểmtoán Nếu cuộc kiểm toán chỉ nhằm vào một đối tượng, một vấn đề nào đóđược xác định rõ thì đó là kiểm toán đặc biệt Trái lại, nếu cuộc kiểm toán baoquát nhiều vấn đề nhằm vào nhiều mục đích thì đó là kiểm toán toàn diện

b) Kiểm toán thường xuyên và kiểm toán định kỳ

Kiểm toán thường xuyên là thực hiện các việc thẩm tra, xem xét liên tục,hàng tuần, hàng tháng trong suốt năm Hình thức này tỏ ra khá hữu hiệu vì cóthể giúp cho việc phát hiện mau chóng kịp thời các sai sót, nhờ đó hạn chếngăn chặn được các tác hại Nhờ đó thực hiện thường xuyên, các cuộc kiểmtoán này có tác dụng ngăn chặn, phòng ngừa rất hiệu quả

Kiểm toán định kỳ chỉ nhằm theo dõi tình hình qua các báo cáo tài chính

kế toán hàng tháng, thàng quý hay cả năm nghiên cứu đánh giá bảng cân đối

kế toán giữa năm hay cuối năm để đưa ra những nhận xét kết luận, đánh giácông việc kinh doanh của doanh nghiệp

Do khoảng cách về thời gian kiểm toán cách nhau khá xa nên nhiều khikhông mang lại kết quả mong muốn về các sai trái, tiêu cực (nếu có) đã gây ranhững hậu quả khó có thể khắc phục

c) Kiểm toán phòng ngừa và kiểm toán sau hoạt động

Kiểm toán phòng ngừa là loại hình kiểm toán bao gồm những biện phápphòng ngừa được áp dụng trước hay ngay sau khi một nghiệp vụ kế toán phátsinh nhằm bảo đảm cho bộ máy kế toán hoạt động chuẩn xác và hợp thức, loạitrừ các sai phạm trước hay ngay khi chúng xuất hiện

Trang 11

Kiểm toán sau hoạt động chỉ nhằm xem xét khảo sát để xác định xem các

sổ kế toán có trung thực chính xác không, đồng thời phát giác các vi phạm,gian lận nếu có

Hai hình thức này mặc dù có sự khác nhau nhưng vẫn có sự hỗ trợ nhaurất hữu hiệu Một mặt, chính nhờ các kinh nghiệm, các kết luận được rút từnhững cuộc kiểm toán sau hoạt động mà các chuyên gia mới xây dựng, thiếtlập các biện pháp phòng ngừa cho công tác kiểm toán phòng ngừa Mặt khác,việc ban hành các biện pháp phòng ngừa không chỉ đơn thuần đưa ra các chỉthị, các qui định mà còn phải có những sự kiểm toán theo dõi sự tuân thủ,chấp hành nữa, đó là một dạng kiểm toán sau hoạt động đầu tiên

II TRÌNH TỰ TIẾN HÀNH KIỂM TOÁN NỘI BỘ

Trình tự tiến hành KTNB trong một doanh nghiệp bao gồm các bướcsau:

1) Lập kế hoạch và lựa chọn phương pháp kiểm toán

Công việc chủ yếu ở bước này bao gồm:

- Lập chương trình kế hoạch, xác định mục tiêu, nội dung, phạm vi vàthời gian tiến hành KTNB

- Xác định qui mô cuộc kiểm toán, phương pháp, cách thức tiến hànhkiểm toán, biện pháp tổ chức thực hiện, tổ chức lực lượng kiểm toán (baogồm cả KTV trong ngoài doanh nghiệp và các nhân viên chuyên môn cần huyđộng)

2) Công tác chuẩn bị kiểm toán

Sau khi thực hiện song bước 1 kiểm toán tiến hành thực hiện bước 2gồm các công việc sau:

- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu liên quan đến tình hình hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, nhiệm vụ kế hoạch hoặc các điều kiện, biện pháp,

Trang 12

các chính sách, qui định của doanh nghiệp trong kỳ kinh doanh sẽ kiểm toán.

Sơ bộ đánh giá về điều kiện và môi trường hoạt động kinh doanh ảnh hưởngđến các mặt hoạt động của doanh nghiệp

- Xem xét các báo cáo, tài liệu, hồ sơ kiểm toán trước đó, kể cả các tàiliệu bên ngoài doanh nghiệp có liên quan đến cuộc kiểm toán; tóm tắt thôngtin cần phải kiểm tra trong quá trình kiểm toán sắp tới, thu thập và chuẩn bịcác mẫu, các chương trình, các chỉ dẫn cho cuộc kiểm toán sẽ được tiến hành

3) Thực hiện việc kiểm toán

Các nhiệm vụ trong bước này gồm:

- Phải xem xét, thu thập và đánh giá đầy đủ các bằng chứng cần thiết cóliên quan kể cả các chứng cứ bên ngoài doanh nghiệp

- Xem xét, đánh giá việc thực hiện các chính sách, qui định trong thực tếhoạt động của doanh nghiệp

- Đánh giá khả năng sai sót nhầm lẫn, gian lận đối với từng loại nghiệp

vụ, từng hoạt động kinh tế, đánh giá tính trọng yếu và rủi ro trong các nghiệp

vụ phát sinh từ nội bộ doanh nghiệp

- Thực hiện phân tích, khảo sát,các khoản mục chính, khảo sát, bổ xungcác chi tiết, xem xét các sự kiện tiếp sau, đang kết quả cuộc kiểm toán

- Các bước tiến hành thực hiện cuộc kiểm toán phải theo đúng qui trìnhcủa một cuộc kiểm toán và các bước tiến hành kiểm toán phải được ghi nhậntrên tài liệu hồ sơ kiểm toán

4 Kết thúc cuộc kiểm toán

Khi kết thúc kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ phải lập báo cáo kiểmtoán Trong báo cáo kiểm toán phải trình bày đầy đủ các nội dung và kết quảkiểm toán theo mục tiêu, yêu cầu đã đề ra cho từng cuộc kiểm toán, các phântích đầy đủ, hợp lý của báo cáo kiểm toán, báo cáo kết quả từ hàng năm trước

Trang 13

khi trình ký duyệt, đề xuất các kiến nghị và biện pháp xử lý các sai sót, gianlận, các vi phạm, nêu các giải pháp cần thiết để nâng cao chất lượng và hiệuquả quản lý kinh doanh của doanh nghiệp.

Phúc tra kết quả kiểm toán là công việc tiếp sau cuộc kiểm toán nhằmkiểm tra lại việc triển khai thực hiện những kiến nghị, những đề nghị xử lý vànhững giải pháp đã nêu trong báo cáo kiểm toán ở các bộ phận quản lý, điềuhành kinh doanh của doanh nghiệp

III SỰ CẦN THIẾT PHẢI KIỂM TOÁN NỘI BỘ Ở CÁC NHTM

Xuất phát từ bản chất chức năng và nhiệm vụ của công tác kiểm toánnội bộ cho thấy sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của KTNB là vấn đề hết sứccần thiết trong mọi ngành mọi lĩnh vực trong nền KTQD, tạo điều kiện tốt chocác chủ thể nắm bắt chính xác về những thông tin của chính mình và các đốitác của mình

1 Khái niệm về KTNB trong các NHTM

KTNB của các NHTM là cơ quan chức năng giúp Hội đồng quản trị,Tổng giám đốc xác định được những thông tin hợp lý về tình hình sản xuấtkinh doanh, việc chấp hành các qui chế, chính sách của cấp trên, của ngành,của nhà nước, xác định tính đúng đắn và hợp lý của các báo cáo tài chính củacác đơn vị thành viên, của cả hệ thống Đồng thời là cơ sở để kiểm toán viênđộc lập xem xét trong quá trình kiểm toán trong quá trình kiểm toán và xácnhận báo cáo tài chính hàng năm

2 Đặc trưng hoạt động của các NHTM :

Theo quan điểm chung trên thế giới thì NHTM là một loại hình doanhnghiệp hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Theo pháp lệnh ngânhàng Việt Nam thì NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ là hoạt động chủ yếu

và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và

sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương

Trang 14

tiện thanh toán Như vậy, NHTM cũng giống như các doanh nghiệp khác ởchỗ nó cũng có một hệ thống cơ cấu tổ chức và mục tiêu hoạt động cao nhấtcũng vẫn là lợi nhuận là việc đa dạng hoá vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp

và NHTM

Đặc trưng quan trọng nhất trong hoạt động của các NHTM có thể làmang tính rủi ro cao, rủi ro mang tính qui luật như rủi ro tín dụng, hối đoái Tính rủi ro cao mang tính qui luật trong hoạt động của các NHTM xuất phát

từ nhiều nguyên nhân khác nhau như:

- Có thể kể đến là do các NHTM hoạt động dựa trên cơ sở thu hút tiềncủa khách hàng (dưới hình thức nhận tiền gửi, huy động bằng KP, kỳ phiếu và

đi vay ) , với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư

và các nghiệp vụ thanh toán Thông qua việc sử dụng không chỉ bằng nguồnvốn tự có của mình mà chủ yếu bằng nguồn vốn tín dụng huy động của kháchhàng Nếu như NHTM không thu hồi được số nợ mà họ đã cho vay hoặc đầu

tư cũng gặp phải rủi ro thì không những họ bị mất nguồn vốn tự có của bảnthân mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả được số tiền đã huy động củakhách hàng Điều này dẫn đến sự phá sản của ngân hàng và đây là rủi ro lớnnhất của NHTM

- Do NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, nó khác với cácdoanh nghiệp bình thường ở chỗ NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vựctiền tệ, tín dụng, thanh toán mà tiền tệ luôn luôn gắn liền với rủi ro, rủi ro về

sự biến động giá trị của đồng tiền Do đó mà hoạt động của NHTM cũng gắnliền với rủi ro

- Hoạt động của NHTM gắn liền với một mảng trong nền KTQD nếunhư trình độ pháp lý và khả năng điều hành của các cấp lãnh đạo chỉ cần cómột chút sơ xuất là có thể gây ra thiệt hại lớn cho nền kinh tế rất dễ dẫn đếntình trạng phá sản lan truyền giữa các NHTM trong nền kinh tế

Trang 15

- Rủi ro có thể đến với bất kỳ một ngân hàng nào nếu như nó không cósức cạnh tranh trên thị trường, không tìm cho mình một chỗ đứng vững chắctrên thị trường.

Rủi ro mang tính chủ quan của con người cũng làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Rủi ro đó có thể là do:4

+ Trình độ quản lý, khả năng điều hành của các cấp lãnh đạo Theo báocáo tổng kết của các NHTM năm 1996-1997 vẫn còn một số cán bộ lãnh đạongân hàng trình độ chuyên môn chưa toàn diện, chưa nâng cao Bên cạnh đó

có một số khác trong khi quản lý điều hành còn thể hiện tính quan liêu, thiếusâu sát, buông lỏng quản lý Từ đó dẫn đến hàng loạt trường hợp các phòngtín dụng, kế toán thực hiện nghiệp vụ không đúng quy định của NHNN Tất

cả những sai sót đó nhìn bề ngoài tuy không nghiêm trọng nhưng chúng cóthể đưa đến những ruỉ ro khó lường đối với hoạt động kinh doanh của ngânhàng

+ Phẩm chất cán bộ ngân hàng: Phần lớn cán bộ ngân hàng các NHTMViệt Nam đều có phẩm chất đạo đức tốt Tuy nhiên bên cạnh đó còn không ítcán bộ ngân hàng có những hành vi không đúng với phẩm chất cán bộ ngânhàng, lợi dụng chức quyền hoặc sơ hở của chính sách, chế độ làm thất thoáttài sản của nhà nước

+ Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào quả lý Hiệnnay, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý còn chưa cao nêncông tác quản trị điều hành của các cấp lãnh đạo ngân hàng đối với các chinhánh trực thuộc chưa được nhanh chóng và nhạy bén Điều này có thể đemđến rủi ro mất các cơ hội kinh doanh của ngân hàng

+ Chất lượng công tác kiểm soát nội bộ ở các NHTM: Hiện nay côngtác kiểm soát nội bộ ở các NHTM còn mang nặng tính hình thức, chiếu lệ,thực hiện không đều đặn, thiếu thường xuyên và thiếu năng động Do đó kết

Ngày đăng: 21/03/2013, 18:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w