1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng con người xã hội và xã hội hoá ppsx

24 351 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 289 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm của các nhà khoa học khác xã hội học + Quan điểm duy tâm: Con người được giải thích từ sự sáng tạo và chi phối của thượng đế, thánh thần và từ ý thức trừu tượng Con người do c

Trang 1

BÀI 3 CON NGƯỜI XÃ HỘI VÀ XÃ HỘI HOÁ

ThS Thân Trung Dũng

Con người xã hội và xã hội hoá là một trong những khái niệm cơ bản của

xã hội học Con người không được thiên phú nhiều bản năng Do vậy, để đápúng nhu cầu, bù dắp những thiếu hụt bẩm sinh con người phải học hỏi để hợptác và phụ thuộc lẫn nhau – Biểu hiện rõ nét nhất của sự phụ thuộc và hợp tác là

con người tạo ra khuôn mẫu hành vi xã hội mà các cá nhân học hỏi và cùng nhau chia sẻ một nền văn hoá chung Như vậy, nhờ quá trình xã hội hoá, chúng

ta có khả năng giao tiếp với nhau, nắm vững các vai trò xã hội nhất định củamình, thậm chí xã hội hoá tạo điều kiện cho sự duy trì xã hội trong quá trìnhthay thế các thế hệ Có những điều kiện gì để tồn tại xã hội hoá và ảnh hưởngcủa xã hội hoá tới cấp độ vi mô và vĩ mô của xã hội như thê nào?

I CON NGƯỜI XÃ HỘI

1 Một số quan niệm về con người xã hội

Trong lịch sử tư tưởng có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về con người

xã hội do đó có nhiều quan niện khác nhau

a Quan niệm của các nhà khoa học khác xã hội học

+ Quan điểm duy tâm: Con người được giải thích từ sự sáng tạo và chi

phối của thượng đế, thánh thần và từ ý thức trừu tượng (Con người do chúa trời sinh ra; ở những nước chịu ảnh hưởng của Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo, triết học cũng giải thích nguồn gốc con người từ một đấng thần linh tối cao, hoặc từ một lực lượng thuần bí; ở phương Đông còn có thuyết con trời và người cùng hoà hợp với nhau (thiên nhân hợp nhất) thiên tử - vua (con trời); Theo Hêghen, ý niệm tuyệt đối tha hoá thành tự nhiên, thành con người cũng giống như ở phương Đông những từ “thái cực”, “đạo”, “khí” được coi là nguồn gốc sinh ra vũ trụ và con người v.v ).

=>> Việc giải thích con người theo quan điểm này không làm rõ được bản chất con người với tư cách là một sinh vật xã hội, một chủ thể của hoạt động xã hội và thực tế không đem lại ý nghĩa tích cực trong cuộc sống.

Trang 2

+ Quan điểm duy vật trước Mác: Từ thời Aristốt đến các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII đều cho rằng: Con người là một sinh vật xã hội “sinh ra đã

có tính xã hội” Quan điểm này cho rằng, bản chất con người chỉ ở mặt tự nhiên

của nó Ngay cả Phơ Bách – nhà triết học duy vật cổ điển Đức cũng chỉ mớidừng lại ở chủ nghĩa nhân bản tự nhiên, bởi vì theo nhận thức của ông, conngười chỉ là một cá nhân trừu tượng, một sinh vật thuần tuý về mặt sinh học

=>> Quan niệm duy vật trước Mác có điểm hạn chế là: không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, xem xét con người tách rời với hoạt động thực tiễn trong điều kiện lịch sử nhật định - những điều kiện làm cho họ trở thành con người đúng như đang tồn tại.

+ Quan niệm của chủ nghĩa Mác- lênin về con người xã hội.

Xuất phát từ hoạt động thực tiễn của con người, Marx cho rằng, bản chất con người chính là nhân cách Nhân cách ấy tìm thấy trong mối quan hệ xã hội Tuy

nhiên, bên cạnh đó Mark vẫn thừa nhận tính sinh học trong chỉnh thể người

Con người xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác lênin được biểu hiệntrên những nội dung cơ bản sau:

- Con người là một thực thể tự nhiên đồng thời là một thực thể xã hội Yếu

tố tự nhiên và yếu tố xã hội trong con người thống nhất biện chứng và tác động qua lại lẫn nhau Thể hiện ở những điểm sau:

+ Là một thực thể tự nhiên con người chịu sự quy định của các quy luật tự

nhiên (sinh – lão - bệnh - tử; quy luận hô hấp; quy luật tuần hoàn v.v ); là một

thực thể xã hội con người chịu sự quy định, điều tiết của các quy luật xã hội

(quy luật kinh tế; quy luật nhận thức v.v ).

+ Hai hệ thống quy luật tự nhiên và xã hội đan xen vào nhau, cùng chi phốimọi hành vi, hoạt động và cách ứng xử của con người Trong đó, các quy luật tựnhiên bao hàm và xuyên qua các yếu tố xã hội, còn các quy luật xã hội thông quacác yếu tố tự nhiên và được thể hiện ra ở từng cá nhân con người cụ thể

+ Trong 2 hệ thống, quy luật tự nhiên và quy luật xã hội chi phối con người,thì hệ thống các quy luật xã hội, các yếu tố xã hội giữ vai trò chủ đạo, định hướng,quyết định hình thành nên con người xã hội với tính cách là một nhân cách Cò hệthống quy luật tự nhiên, các yếu tố tự nhiên giữ vai trò quan trọng không thể thiếuvới tư cách là tiền đề vật chất bên trong của con người xã hội

- Con người với bản tính tự nhiên và bản chất xã hội của mình, nó luôn có nhu cầu gắn bó với đồng loại và nhu cầu tương tác, kết hợp với người khác

Trang 3

? Vì sao con người luôn có nhu cầu gắn bó tương tác, kết hợp với người khác? Gắn bó, tương tác với người khác đem lại những lợi ích gì?

+ Gắn bó với đồng loại, tương quan kết hợp với người khác là nhu cầu tựnhiên và nhu cầu xã hội của con người với tư cách là một nhân cách

+ Gắn bó với đồng loại, kết hợp với người khác thì mới bảo đảm cho conngười được chia sẻ thông tin, được thoả mãn các nhu cầu để tồn tại, phát triển vàđược che chở, bảo vệ…

+ Gắn bó với đồng loại, kết hợp với người khác con người mới có điềukiện thể hiện được vai trò, vị thế và quyền lực của mình - một nhu cầu không thểthiếu của mỗi con người

+ Gắn bó với đồng loại, kết hợp với người khác con người mới học hỏiđược những kinh nghiệm, nhập tâm được những giá trị, chuẩn mực xã hội đểđóng tốt vai trò của mình và phát triển, hoàn thiện mình với tư cách là một nhâncách

=>> Môi trường sống, khả năng tương tác xã hội là điều kiện, là cơ sở để

mỗi cá nhân trở thành một nhân cách, một con người xã hội

- Con người xã hội luôn tồn tại trong sự thống nhất đa dạng của các quan

hệ xã hội.

+ Đây là đặc trưng quan trọng khi giải thích về con người xã hội, cũngnhư khi nghiên cứu về hành vi, thái độ và cách ứng xử của con người xã hội

+ Mỗi con người từ khi sinh ra, lớn lên luôn tồn tại trong nhiều mối quan

hệ chồng chéo, đan xen nhau, khi thực hiện mỗi loại quan hệ khác nhau cónhững mục đích, yêu cầu, chuẩn mực riêng khác nhau

+ Trong hệ thống các quan hệ phức tạp đó, mỗi người, mỗi mối quan hệlại được thực hiện dựa trên những vị thế, vai trò, địa vị khác khau Yêu cầutrong thực hiện các quan hệ mỗi người không được nhầm lẫn vai trò, khôngđược lấn át vai trò Nếu nhầm lẫn, lấn át vai trò sẽ làm cho trật tự xã hội bị rốiloạn, hành vi lệch chuẩn xuất hiện và xung đột xã hội sẽ nẩy sinh

- Các quan hệ giữa người và người trong xã hội được xác lập dựa trên sự khác biệt về vị trí, vị thế và vai trò xã hội Vị trí, vị thế, vai trò xã hội của cá

nhân như là bộ khung quyết định tính chất, nội dung, hình thức quan hệ của các

cá nhân

- Để tồn tại và phát triển, con người phải luôn học hỏi, điều chỉnh hành

vi, thái độ và cách ứng xử của mình phù hợp với những giá trị, chuẩn mực xã

Trang 4

hội đã được xã hội thừa nhận và yêu cầu đối với từng vai trò Mỗi cá nhân phải

đóng tốt vai trò của mình trong các mối quan hệ xã hội

b Quan niệm của các nhà xã hội học

Do nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội, các nhà

xã hội học cũng có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất con người Dưới đâyxin giới thiệu một số quan niện cơ bản của ba nhà xã hội học nổi tiếng:

+ Quan niệm của Emile Durkhiem – Nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp: Theo Durkhiem, con người là một thực thể xã hội và văn hoá Con người đã được xã hội truyền lại nền văn hoá xã hội và đã biến mình thành con người xã hội Ông coi xã hội tạo ra bản chất con người “xã hội là một

nguyên lý giải thích cụ thể”, con người là một tồn tại “giao lưu” chứ không

phải là một tồn tại xã hội hành động, quá trình xã hội hoá cá thể là một quá trìnhgiao lưu ngôn ngữ, giao lưu tinh thần giữ người này với người khác để lĩnh hội

các “biểu tượng văn hoá”, các tập tục, nề thói tạo ra “hành vi xã hội”.

Trong quan niệm này, yếu tố văn hoá, xã hội quyết định đến đến việc hình thành con người xã hội

+ Theo Isunesaburro Makiguchi- nhà xã hội học người Nhật Bản: “khái

niệm con người không chỉ bao hàm một thể vật chất, cảm quan, hữu tình mà còn bao gồm một khía cạnh tâm linh khác với thể chất, nhưng lại tồn tại trên cơ sở

thể chất ấy” =>> Con người bao gồm cả hai mặt thể chất và tinh thần tồn tại trên cơ sở thể chất.

+ Theo J.G.Fichter – Nhà xã hội học Mỹ: “Con người khác với loài vật

ở chỗ có khả năng suy tư, trừu tượng, có thể quyết định và lựa chọn Con người

là con vật tự điều khiển lấy mình Con người có thể làm những dự án, trù liệu tính toán cho trách nhiệm về hành vi của mình và có khả năng phát triển ý thức trách nhiệm với người khác.”

Nếu như trong định nghĩa của Makiguchi lấy chỉnh thể sinh học- xã hộilàm điểm xuất phát cho khái niệm con người, thì trong định nghĩa của Fichter,

điểm xuất phát lại nặng về những gì con người khác với động vật, vượt lên động

vật Con người chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở những quy luật tiến hoá hữu cơ vàđồng thời với quy luật xã hội, vận động sinh học gắn liền với vận động xã hộitrong chỉnh thể người Đối với quá trình phát sinh, phát triển và hoàn thiện ởmột cá thể thì những yếu tố sinh học và những yếu tố xã hội tác động không

Trang 5

giống nhau ở từng thời kỳ trưởng thành “Yếu tố sinh học và yếu tố xã hội không phải là song song tồn tại trong con người mà làm môi giới cho nhau, thâm nhập vào nhau và in dấu lên toàn bộ hoạt động sống của con người”

Như vậy, các nhà xã hội học đã nhìn nhận con người như một chỉnh thể

trong sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội của nó Tuy nhiên, mặc dù cácnhà xã hội học thừa nhận mặt sinh học của con người, nhưng chủ yếu vẫn tập

trung tìm hiểu khía cạnh mang tính xã hội của con người, và khác với các nhà khoa học khác, các nhà xã hội học xem xét con người trong mối tương tác giữa con người với con người, giữa con người với các nhóm xã hội và xã hội nói chung Chính vì vậy mà Fihter cho rằng: “Con người được gọi là con người xã hội theo nghĩa một con người vừa có khuynh hướng kết hợp với người khác;

mà cũng vừa có nhu cầu tương quan với người khác.

c ý nghĩa đối với việc xây dựng con người mới XHCN hiện nay

Muốn xây dựng con người mới XHCN cần thực hiện những vấn đề cơ bảnsau:

- Một là: xây dựng môi trường xã hội lành mạnh bao gồm: môi trường

kinh tế, môi trường chính trị, môi trường văn hoá… thông qua môi trường xã hội lành mạnh để từng cá nhân thực hiện các tương tác xã hội nhằm giúp họ bộc lộ hết khả năng, năng lực, bản chất, của họ tạo cơ hội cho họ cống hiến sức lực cho xã hội, cho công đồng Mặt khác, môi trường xã hội lành mạnh còn giúp

cá nhân thực hiện quá trình xã hội hoá một cách tích cực

- Hai là: Trong tình hình hiện nay phải tăng cường duy trì kỷ cương phép

nước, giáo dục định hướng các giá trị, chuẩn mực xã hội tích cực, tiến bộ cho mỗi người thực hiện đúng vai trò, vị trí của mình hạn chế thấp nhất các hành vi lệch chuẩn Từ đó góp phần tạo nên sự ổn định về chính trị xã hội Đây là cơ sở

cho sự hình thành và phát triển con người xã hội theo yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

- Ba là: Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống xã hội

chủ nghĩa, giáo dục các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời kết hợp với việc giáo dục các giá trị tiến bộ của nhân loại, giúp cho mỗi công dân vừa mang bản sắc văn văn hoá dân tộc vừa bắt kịp với sự phát triển chung của con người thời đại.

- Bốn là: Trong quân đội phải đặt việc xây dựng con người xã hội quân

nhân trong quá trình xây dựng, trưởng thành của quân đội Trước hết phải xây

Trang 6

dựng cơ quan quõn đội cú mụi trường văn hoỏ lành mạnh, thực hiện dõn chủ cơ

sở, duy trỡ chặt chẽ kỷ luật quõn đội, phỏp luật nhà nước, thực hiện nề nếp xõydựng chớnh quy Cần thay đổi cỏch tiếp cận, cỏch giỏo dục quõn nhõn, trỏnh ỏpđặt chủ quan, khụng đốt chỏy giai đoạn; cần cú chương trỡnh nội dung giỏo dụcgiỏ trị trong quõn đội một cỏch cú hệ thống và mang tớnh bắt buộc

2 Một số khỏi niệm chủ yếu trong nghiờn cứu con người xó hội

a.Vị trớ xó hội (Social position)

? Chỳng ta thường nghe tới khỏi niệm vị trớ xó hội? Người này ở vị trớ

cao, người kia ở vị trớ thấp ? Vậy, vị trớ xó hội là gỡ ?

Vị trớ xó hội của cỏ nhõn chớnh là vị trớ tương đối của cỏ nhõn trong cơ cấu xó hội, trong hệ thống cỏc quan hệ xó hội Nú được xỏc định trong sự đối chiếu và so sỏnh với cỏc vị trớ xó hội khỏc

Sự tồn tại vị trớ xó hội của cỏc cỏ nhõn phụ thuộc chủ yếu vào sự tồn tạicỏc vị trớ khỏc tuỳ theo cỏc mối quan hệ Nhưng đú thường là vị trớ của nhữngngười thõn thuộc trong phạm vi khụng gian xó hội gần như gia đỡnh, nhúm bốbạn, nơi làm việc

? Một cỏ nhõn cú thể cú bao nhiờu vị trớ xó hội khỏc nhau? Những vị trớ

xó hội mà họ cú được là do đõu?

=> Một cỏ nhõn cú thể cú rất nhiều vị trớ xó hội khỏc nhau Những vị trớ xó hội mà họ cú là do:

- Tham gia vào nhiều cỏc quan hệ xó hội

- Dựa vào những đặc điểm vốn cú của họ: giới tớnh, chủng tộc dũng họ,nơi sinh

- Dựa vào những đặc điểm cỏ nhõn cú thể phấn đấu mà cú được như: nghềnghiệp, học vấn, tỡnh trạng hụn nhõn

+ Trong mọi cơ cấu xó hội, vị trớ xó hội này chỉ tồn tại khi tồn tại một

số vị trớ xó hội khỏc cú quan hệ gần.

Vớ dụ: Một người phụ nữ nụng thụn cú thể cú những vị trớ xó hội là người vợ,

người mẹ, nhà kinh doanh, người buụn bỏn, cụ giỏo Tuy nhiên, những vị trí xã hội

đó chỉ tồn tại khi nó đặt trong mối quan hệ với các vị trí xã hội khác nh một ngời phụnữ là vợ nếu so với chồng của cô ấy chứ không phải so với ngời đàn ông khác; cô ta

là mẹ với con của cô ta, còn đối với học sinh cô ta lại là cô giáo

+ Vị trớ xó hội bỡnh đẳng như nhau vỡ chưa cú sự đỏnh giỏ của xó hội

về chỳng Tức là, vị trớ xó hội của một cỏ nhõn chưa thể cho chỳng ta biết thụng

tin gỡ về thứ bậc cao thấp của cỏ nhõn đú trong xó hội

Trang 7

VD: Chúng ta không thể so sánh vị trí của người vợ với vị trí của cô giáo.

Vì hai vị trí này thuộc hai môi trường khác nhau, một là gia đình, một là trườnghọc Thậm chí ngay cả trong gia đình khi chưa có sự đánh giá của xã hội thìchúng ta cũng không thể so sánh thứ bậc cao thấp khác nhau giữa vị trí của mẹ

Ví dụ, vị trí người mẹ được xã hội cho là có trách nhiệm chăm sóc,thương yêu con cái nhưng đồng thời xã hội cũng nhìn nhận họ cũng có quyềnđược con cái quan tâm, chăm sóc, thương yêu

Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và những quyền lợi gắn kèm theo Nói cách khác, vị thế xã hội chính là một khái niệm tổng hợp nhằm chỉ vị trí xã hội cùng với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng với các vị trí đó

- Các quyền và nghĩa vụ này thường tương ứng với nhau: quyền lớn thìnghĩa vụ nhiều và ngược lại Thế nào là quyền và nghĩa vụ nhiều hay ít, hoàntoàn phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của các xã hội, các nền văn hoá thậmchí của các nhóm xã hội nhỏ

Ví dụ, trong gia đình truyền thống con trưởng được hưởng tất cả các tài

sản của cha mẹ để lại nhưng sẽ phải có trách nhiệm trong việc dựng vợ gảchồng, chăm sóc các em

- Chính những quyền và nghĩa vụ cao, thấp khác nhau của các vị trí xã hội

sẽ tạo ra thứ bậc của chúng Nếu xem xét vị trí xã hội một cách độc lập vớinhững quyền và nghĩa vụ tương ứng thì chúng ta không thể sắp xếp thứ bậc caothấp giữa chúng Nhưng khi xem xét các vị trí này với những quyền và nghĩa vụkèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt

trong thứ bậc xã hội Do đó, vị thế xã hội của cá nhân chính là sự đánh giá của

xã hội với một vị trí xã hội.

Trang 8

Như vậy, vị thế xã hội khác hẳn vị trí xã hội Khi một cá nhân ở một vị trí xã

hội có quyền hạn và nghĩa vụ cao hơn quyền và nghĩa vụ của các cá nhân ở vị trí xã

hội khác, thì rõ ràng anh ta có thứ bậc cao hơn cá nhân kia Nghĩa là căn cứ vào vị thế xã hội của cá nhân chúng ta mới có thể xác định được thứ bậc cao thấp của

họ

Cần chú ý rằng, khi tách các quyền và nghĩa vụ khỏi các vị trí xã hội của

cá nhân, thì các cá nhân lại ở các vị trí xã hội tương đồng (không thể xác định ai

ở thứ bậc cao hoặc thấp hơn)

Việc xác định quyền và nghĩa vụ cho các cá nhân ở các vị trí xã hội khácnhau cũng thay đổi theo từng xã hội, từng khu vực Nó dường như là hệ quả của

sự bất bình đẳng trong xã hội Ở xã hội bình đẳng và có tính gia trưởng cao, mức

độ quyền hạn và nghĩa vụ của người chồng, cha, nam giới sẽ cao hơn quyền vànghĩa vụ của người vợ, mẹ, nữ giới

+ Các loại vị thế xã hội

Một cá nhân có nhiều vị trí khác nhau do đó cũng có nhiều vị thế khácnhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là:

-Vị thế đơn lẻ: nếu xuất phát từ một vị trí xã hội bất kỳ trong cơ cấu xã

hội, cá nhân sẽ có một vị thế tương ứng như: cô giáo, người mẹ, người vợ

-Vị thế tổng quát: Đó là một vị thế khái quát những vị thế cơ bản mà cá

nhân có

Thông thường các cá nhân có một hệ các vị thế gồm nhiều các vị thế khácnhau Các vị thế xã hội còn được chia làm các loại khác như sau:

+ Vị thế có sẵn - bị gán cho: đó là các vị trí xã hội gắn liền với các yếu tố

tự nhiên, bẩm sinh như: tuổi, giới tính, chủng tộc, dòng họ, nơi sinh

Thí dụ, một người Việt nam sinh ra ở Hà nội sẽ có những vị thế là người

da vàng, được sinh ra ở Hà nội Hoặc trong đạo đức của Khổng Giáo thì vị thế của người già sẽ cao hơn vị thế của những người trẻ tuổi Trong gia đình con traitrưởng có vị thế cao hơn con thứ

+ Vị thế đạt được: đó là những vị thế được xác định dựa trên các vị trí xã

hội mà cá nhân giành được trong quá trình hoạt động sống, bằng sự cố gắng của bản thân như học sinh, sinh viên, cô giáo, cán bộ Hội phụ nữ

+ Một số vị thế vừa mang tính có sẵn vừa mang tính đạt được

Trang 9

Mỗi một cỏ nhõn bao giờ cũng cú nhiều vị trớ xó hội khỏc nhau, vỡ họtham gia vào nhiều mối quan hệ xó hội khỏc nhau Do đú, cũng cú nhiều vị thế

xó hội tương ứng Tuy cú nhiều vị thế xó hội song một cỏ nhõn bao giờ cũng cúmột vị thế chủ đạo xỏc định bộ mặt xó hội, chõn dung xó hội của cỏ nhõn đú Vớ

dụ một người cú thể cú thể mang những vị thế khỏc nhau như giỏo sư đại học,người chồng, người cha, chủ nhiệm khoa… thỡ vị thế xỏc định cỏ nhõn đú vềmặt xó hội (trả lời cõu hỏi ễng ấy là ai?) chớnh là giỏo sư đại học Nhưng nếu vịgiỏo sư Việt Nam ra nước ngoài cụng tỏc thỡ vị thế chủ đạo sẽ là người ViệtNam hoặc người Chõu ỏ núi chung

Sự tạo lập nờn vị thế chớnh yếu của mỗi người một mặt phụ thuộc vào sựphấn đấu, hoạt động tớch cực của họ, mặt khỏc tuỳ thuộc vào thang giỏ trị mà xóhội tụn trọng

Những nghề nghiệp ổn định của chỳng ta thường tạo cỏc vị thế xó hội chủđạo như bỏc sĩ, kỹ sư, luật sư, giỏo viờn Trong quá trình tơng tác, cá nhân thờnghành động căn cứ theo vị thế chủ đạo của mình

Túm lại, ở những thời đại, những xó hội khỏc nhau sẽ tạo điều kiện làm

xuất hiện những vị thế xó hội khỏc nhau, tuỳ theo sự phỏt triển và tiến bộ xó hội

mà đũi hỏi đối với những vị thế xó hội cao ở từng giai đoạn cũng khỏc nhau

+ Quỏ trỡnh tạo lập lờn vị thế xó hội của một cỏ nhõn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khỏc nhau, đú là:

- Vị thế xó hội xuất thõn

- Sự nỗ lực, phấn đấu của cỏ nhõn

- Trỡnh độ văn hoỏ, học vấn

- Vị thế của nhúm xó hội mà cỏ nhõn đú tham gia, là thành viện

- Trong quõn đội, vị thế của quõn nhõn lại phụ thuộc chủ yếu vào sự nỗ lựcphấn đấu của từng người, vào phẩm chất chớnh trị,đạo đức cỏ nhõn, vào vịthế của quõn đội trong đời sống xó hội ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể

+ Vị thế xó hội của cỏ nhõn cú vai trũ và ý nghĩa hết sức quan trọng:

- Trước hết nú tạo nờn quyền lực xó hội cho cỏ nhõn

- Quyết định phạm vi ảnh hưởng trong xó hội của cỏ nhõn

- Quyết định thỏi độ ứng xử của xó hội đối với cỏ nhõn đú

c Vai trũ xó hội (Social role):

+ Khỏi niệm vai trũ (vai trũ xó hội là gỡ?)

Trang 10

Thuật ngữ “vai trò xã hội” xuất phát từ kịch học Vai trò xã hội của cá

nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặtđộng của vị thế xã hội vì luôn biến đổi trong xã hội khác nhau thậm chí qua cácnhóm xã hội khác nhau

Để thực hiện những quyền và nghĩa vụ của từng vị thế xã hội, mỗi cánhân cần phải thực hiện những hành động nhất định Tức là, tương ứng với từng

vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vi được

xã hội mong đợi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội đó

Vậy vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan

căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định, để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó.

Như vậy, vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội.

Những đòi hỏi mà được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Các chuẩnmực này thường không giống nhau trong các loại xã hội Vì vậy, ở các xã hộikhác nhau cùng một vị thế xã hội nhưng mô hình hành vi được xã hội mong đợirất khác nhau tức là các vai trò xã hội cũng khác nhau

Ví dụ, theo cách đánh giá của chúng ta hiện nay vị thế phụ nữ trong xã hộiphong kiến bao gồm những nghĩa vụ nặng nề và các quyền nhỏ bé Họ không cóquyền đòi hỏi nhiều ở chồng, con, hay từ xã hội Trong xã hội hiện đại quyền vànghĩa vụ của người phụ nữ đã thay đổi nhiều theo hướng bình đẳng hơn với ngườichồng Nói cách khác xã hội đã đặt ra những đòi hỏi về hành vi phù hợp hơn với

vị thế đã thay đổi của người phụ nữ Do đó, vai trò của họ cũng thay đổi theo

Ngay trong cùng một xã hội những nghĩa vụ và quyền của các vị thế xãhội được đánh giá khác nhau do sự khác nhau về tiểu văn hoá Vì vậy, cùng một

vị thế xã hội nhưng các mô hình hành vi được mong đợi trong các nhóm xã hộicũng khác nhau Mỗi nhóm cũng có thể đặt ra những đòi hỏi về hành vi khácnhau từ một vị thế xã hội

Ví dụ, vai trò của người phụ nữ được đạo Thiên chúa nhìn nhận khác vớiKhổng giáo hay Hồi giáo

+ Phân loại vai trò xã hội.

Trang 11

Tương ứng với mỗi quan hệ xó hội, cỏ nhõn cú một vị thế xó hội Nhưng

cỏ nhõn thường cú rất nhiều quan hệ xó hội khỏc nhau do vậy họ cú rất nhiều vị thế khỏc nhau Mỗi vị thế đú lại tương ứng với một vai trũ cụ thể Cho nờn cỏ nhõn cú nhiều vai trũ khỏc nhau

Talcott Parsons đó phõn tớch cỏc loại vai trũ đa dạng khỏc nhau của cỏ

nhõn thành năm loại sau:

- Một số vai trũ đũi hỏi sự kiềm chế tỡnh cảm khi thực hiện, trong khi một số khỏc lại khụng

Vớ dụ, bỏc sĩ, y tỏ nhiều lúc phải chứng kiến cảnh ốm đau, buồn thảm vìvậy họ phải kiềm chế tình cảm của mình để hoàn thành chức trách Nhưngnhững người thõn, bạn bố khụng cần thiết phải kiềm chế tỡnh cảm khi thực hiệnvai trũ xó hội nếu như họ gặp cảnh đau buồn

- Một số vai trũ xó hội dựa trờn vị thế đó cú sẵn

Vớ dụ, chỳng ta luụn sẵn những vị thế như là người phụ nữ, là người davàng và từ đó chúng ta có những vai trò tơng ứng nh vai trò một ngời phụ nữ,một ngời Việt nam da vàng Một số vai trò dựa trên vị thế đạt đợc

Vớ dụ, những vai trũ cỏn bộ Hội phụ nữ, cụ giỏo, chủ kinh doanh khôngphải là sẵn có ngay từ khi cá nhân sinh ra, mà dựa trên sự phấn đấu và những cốgắng, sự trởng thành của bản thân

- Một số vai trũ được xỏc định hẹp cũn một số khỏc lại được xỏc định rộng

Vớ dụ, vai trũ bỏc sĩ là vai trũ được xỏc định hẹp, vỡ bỏc sĩ chỉ được coi làbỏc sĩ trong quan hệ chữa trị cho bệnh nhõn tức là chỉ trong việc xỏc định bệnh,quỏ trỡnh chữa trị chứ bác sĩ không thể có ý kiến phê phán nếu nh bệnh nhânkhông thích học môn toán, hay bệnh nhân thích nghe nhạc nhẹ (tất nhiờn loạitrừ cỏc trường hợp những điều đú gõy ảnh hưởng đến sức khoẻ)

Vai trũ trờn khụng được thực hiện ngoài cỏc lĩnh vực liờn quan đến y tế,chăm súc sức khoẻ Vai trũ của cha, mẹ được xỏc định rộng hơn vỡ cha mẹ phảiquan tõm chỳ ý tới tất cả cỏc mặt trong đời sống của con cỏi như bệnh tật, cỏc sởthớch, hướng nghiệp, việc học hành

- Một số vai trũ đũi hỏi cỏc cỏ nhõn cú thỏi độ ứng xử với mọi người theo quy tắc chung Ngược lại, một số vai trũ khỏc đũi hỏi đối xử với người khỏc theo cỏch đặc thự vỡ những quan hệ đặc biệt với họ

- Cỏc vai trũ khỏc nhau cú những động cơ khỏc nhau Vớ dụ, vai trũ nhà kinh

Trang 12

doanh trước hết là phấn đấu cho lợi ích của bản thân sau đó mới là làm giàu cho

xã hội Còn người làm công tác từ thiện chân chính trong xã hội thì lại đặt mụcđích phục vụ cho xã hội nhiều hơn bản thân

+ Mâu thuẫn và xung đột vai trò:

Để cá nhân có thể thực hiện tốt các vai trò, một mặt, các đòi hỏi, chuẩnmực do xã hội đặt ra phải rõ ràng Mặt khác, cá nhân phải học hỏi về các vai tròtrong quá trình xã hội hoá, tức là học hỏi về những yêu cầu, đòi hỏi mà họ cầnphải thực hiện khi họ tiếp nhận một vị thế xã hội nhất định Nhưng không phảibao giờ những điều mà cá nhân hiểu về vai trò và sự mong đợi của xã hội vớicác vai trò đó cũng phù hợp với nhau Hơn thế, cá nhân nhiều khi không thựchành tất cả những hiểu biết của họ về các đòi hỏi với những vai trò trên thực tế.Chính vì vậy, chúng ta thường thấy độ chệch nhất định giữa việc thực hiện vaitrò, kiến thức về vai trò và vai trò được xã hội kỳ vọng (mong đợi)

Sự chênh lệch lớn chứng tỏ cá nhân không đáp ứng được đòi hỏi xã hội Cánhân nào không thực hiện đầy đủ những đòi hỏi của vai trò, tức là chưa thực hiệnđúng vai trò xã hội của mình thì thường bị lên án vì không làm tròn bổn phận

Khi một cá nhân mang nhiều vị thế xã hội, thì cá nhân đó sẽ phải thựchiện nhiều vai trò Tuy vậy, cá nhân không thể nhầm lẫn trong việc thực hiện vaitrò phù hợp với vị thế xã hội của mình ở từng thời điểm

Chẳng hạn một người là Chủ tịch, bí thư huyện nhưng khi về nhà anh takhông thể sử dụng quyền để ra lệnh với vợ và con mình được Bởi khi ở nhà vịthế xã hội của anh ta trước hết là vợ con từ góc độ tình cảm, chứ không phảitheo những qui định của huyện, xã hay của pháp luật

Trong xã hội hiện đại, khi cá nhân tham gia vào nhiều các quan hệ xã hộihội sẽ mang nhiều vị thế và từ đó là các vai trò xã hội khác nhau Mỗi vai trò sẽ

có những đòi hỏi riêng

Ví dụ, để thực hiện vai trò người mẹ, những người phụ nữ phải quan tâmchăm sóc, thương yêu con cái Để thực hiện vai trò người cán bộ Hội phụ nữ xã

cô ta phải chăm lo đến các công việc, hoạt động của Hội hay tâm tư nguyệnvọng, mối quan hệ của các gia đình chị em phụ nữ

Trên thực tế, nhiều vai trò xã hội có những đòi hỏi khác nhau Những đòihỏi này ở một số vai trò có thể phối hợp được với nhau, nhưng cũng có nhữngđòi hỏi hoàn toàn trái ngược, mâu thuẫn, xung đột với nhau Ví dụ, một cá nhân

Ngày đăng: 08/08/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w