1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Xây dựng bộ tiêu chí khoanh vùng kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn ppsx

12 751 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 249,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm soát ô nhiễm bao gồm: kiểm soát các nguồn thải gây ra ô nhiễm môi trường nguồn thải khí ô nhiễm, nguồn thải nước ô nhiễm, nguồn thải chất thải rắn, nguồn thải tiếng ồn, nguồn thải b

Trang 1

Tổng cục Môi trường Cục Kiểm soát ô nhiễm -oOo -

Nhiệm vụ Điều tra, khảo sát, xây dựng các bộ tiêu chí khoanh vùng ô nhiễm và đề xuất

dự án xây dựng bản đồ ô nhiễm trên phạm vi toàn quốc

XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ KHOANH VÙNG KIỂM SOÁT Ô NHIỄM

TIẾNG ỒN

Hà Nội, tháng 12 năm 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

3 CƠ SỞ KHOA HỌC KHOANH VÙNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 5

3.2 Cơ sở khoa học phương pháp khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn 7

4 LỰA CHỌN THÔNG SỐ ĐỂ XÁC ĐỊNH BỘ TIÊU CHÍ

KHOANH VÙNG TIẾNG ỒN

9

4.1 Tỷ lệ vượt giới hạn độ ồn cho phép 9 4.2 Mức độ kéo dài của âm lượng vượt giới hạn 9 4.3 Chỉ số đánh giá ô nhiễm tiếng ồn 9

Trang 3

1 MỞ ĐẦU

Kiểm soát ô nhiễm môi trường là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong công tác quản lý môi trường quốc gia, cũng như quản lý môi trường ở mỗi địa phương, nhằm mục đích theo dõi kịp thời tình hình ô nhiễm môi trường, xác định đúng nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và đề xuất kịp thời các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm, giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường

để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ các hệ sinh thái và đảm bảo phát triển bền vững

Tầm quan trọng của kiểm soát ô nhiễm trong công tác quản lý môi trường

đã được xác định trong Luật bảo vệ môi trường (năm 2005), trong Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, đặc biệt là trong Quyết định số 328/2005/QĐ - TTg, ngày 12 tháng 12 năm 2005, của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010

Kiểm soát ô nhiễm bao gồm: kiểm soát các nguồn thải gây ra ô nhiễm môi trường (nguồn thải khí ô nhiễm, nguồn thải nước ô nhiễm, nguồn thải chất thải rắn, nguồn thải tiếng ồn, nguồn thải bức xạ), kiểm soát ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, kiểm soát ô nhiễm môi trường các ngành sản xuất công nghiệp, kiểm soát ô nhiễm môi trường xung quanh ở các khu vực đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế, các làng nghề và kiểm soát ô nhiễm (chất lượng) môi trường không khí, môi trường nước mặt, nước ngầm và môi trường nước biển ven bờ

Việc khoanh vùng ô nhiễm phục vụ cho công tác kiểm soát ô nhiễm trong Nhiệm vụ “Điều tra, khảo sát, xây dựng các bộ tiêu chí khoanh vùng ô nhiễm và

đề xuất dự án xây dựng bản đồ ô nhiễm trên phạm vi toàn quốc” là khoanh vùng

ô nhiễm (hay chất lượng) môi trường xung quanh mà con người và các hệ sinh thái trực tiếp sinh cư trong các điều kiện của môi trường này, đó là môi trường không khí xung quanh (không bao gồm môi trường tiếng ồn và môi trường bức xạ), môi trường nước mặt xung quanh, môi trường nước biển ven bờ, môi trường đất, môi trường tiếng ồn

Ở các nước trên thế giới người ta thường khoanh vùng ô nhiễm/chất lượng môi trường xung quanh vào một thời gian xác định, khoảng 5 năm hay 10 năm một lần, thí dụ như vào các năm 1990, 2000, 2005 Đối với hiện trạng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và thời gian khoanh vùng ô nhiễm đã xác định thì sự biến thiên tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh phụ thuộc chủ yếu

Trang 4

vào điều kiện tự nhiên Như là đối với môi trường không khí xung quanh thì sự biến thiên, mức độ ô nhiễm môi trường chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện khí hậu (hướng gió và tốc độ gió), mưa, nắng v.v ); Đối với ô nhiễm môi trường các dòng sông thì chủ yếu phụ thuộc vào lưu lượng dòng chảy, tốc độ và hướng dòng chảy, nhiệt độ nước.v.v.) Đối với ô nhiễm môi trường nước biển ven bờ thì chủ yếu phụ thuộc vào các dòng hải lưu và tình trạng thủy triều; Đối với ô nhiễm môi trường đất thì chủ yếu phụ thuộc tính thẩm, thấu khuyếch tán ô nhiễm môi trường đất và điều kiện địa chất thủy văn Đối với khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn theo thời gian kéo dài và độ ồn

Vì vậy, ở các nước trên thế giới, người ta thường sử dụng 2 phương pháp tiếp cận để khoanh vùng ô nhiễm/chất lượng môi trường xung quanh như sau:

- Phương pháp tính toán theo mô hình khuyếch tán ô nhiễm môi trường bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS) Phương pháp tiếp cận này đòi hỏi phải có đầy đủ các thông số về các nguồn thải gây ra ô nhiễm môi trường (vị trí không gian, lưu lượng thải, chất thải, phương thức thải và các tính chất vật lý của nguồn thải) và phải có đầy đủ các thông số về điều kiện khí hậu, thủy văn, hải văn, địa hình, địa chất thủy văn của khu vực nghiên cứu Phương pháp tiếp cận tính toán phân bố ô nhiễm theo mô hình có thể vẽ được các đường đồng mức ô nhiễm tương đối chính xác, tức là có thể khoanh chia vùng nghiên cứu thành các khu vực có mức độ ô nhiễm môi trường khác nhau

Tuy vậy, phương pháp tính toán mô hình khuyếch tán ô nhiễm không phải

là phương pháp vạn năng Thí dụ đối với ô nhiễm môi trường không khí chỉ đảm bảo độ chính xác tin cậy đối với các nguồn ô nhiễm công nghiệp và nguồn ô nhiễm giao thông Còn ô nhiễm môi trường không khí do các nguồn khác gây ra, như là nguồn ô nhiễm không khí từ các hoạt động xây dựng và sinh hoạt dịch vụ đun nấu của nhân dân , nói chung không thể hoặc rất khó khăn xác định bằng phương pháp tính toán theo mô hình khuyếch tán ô nhiễm

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê số liệu quan trắc môi trường thực tế Phương pháp này đòi hỏi phải có hệ thống các trạm quan trắc môi trường xung quanh hoàn thiện, phân bố các điểm đo bao trùm cả khu vực nghiên cứu, phân bố các điểm đo càng dày càng đạt được độ chính xác của khoanh vùng ô nhiễm Thời gian quan trắc phải phù hợp để kết quả quan trắc phản ánh đúng thực trạng ô nhiễm môi trường Việc khoanh vùng ô nhiễm trên cơ sở phân tích, thống kê các số liệu quan trắc môi trường thường chỉ có giá trị gần đúng, nhưng là phương pháp cơ bản, có tính khả thi, thường được sử dụng phổ biến ở các nước trên thế giới Trong nhiều trường hợp thiếu số liệu quan trắc môi

Trang 5

trường thực tế thì người ta kết hợp thêm với phương pháp tính toán theo mô hình khuyếch tán ô nhiễm để khoanh vùng ô nhiễm/hay chất lượng môi trường

xung quanh

2 TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

Trong quá trình xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội, hội nhập với kinh tế thế giới, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu to lớn, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân Bên cạnh đó là những hạn chế đang phát sinh và cần phải khắc phục Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề đang nhận được sự quan tâm của không chỉ của người dân Việt Nam mà nó còn là của cả cộng đồng các nước trong khu vực và thế giới

Ô nhiễm tiếng ồn, từ lâu đã gây ra những tác động tiêu cực đến cuộc sống của mọi người, do đó các cơ quan quản lý nhà nước đã và đang có những nỗ lực

để tối đa để xử lý vấn đề này

Trước đây, trong hệ thống tiêu chuẩn về tiếng ồn đã có :

• TCVN 5949-1995 Tiếng ồn khu vực công cộng và dân cư Mức ồn tối đa cho phép

• TCVN 5948-1995 Tiếng ồn phương tiên giao thông vận tải đường bộ

• TCVN 3985:1999 Âm học Mức ồn cho phép tại các vị trí làm việc

• TCVS 3733/ 2002 Mức ồn cho phép tại các vị trí lao động

Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đang được hoàn thiện Các tiêu chuẩn được rà soát, chuyển đổi sang thành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, xây dựng mới các Quy chuẩn khác cần thiết

Mặt khác, các cơ quan quản lý nhà nước cũng tiến hành nhiều chương trình, nghiên cứu đóng góp cho việc khắc phục, hạn chế tối thiểu vấn đề ô nhiễm tiếng ồn

Việc xây dựng bộ tiêu chí khoanh vùng ô nhiễm cũng là một trong những nghiên cứu quan trọng đó Bộ tiêu chí này giúp khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn, tạo tiền đề xây dựng hệ thống bản đồ ô nhiễm tiếng ồn, cảnh báo, từ đó giúp các nhà quản lý xây dựng các chiến lược, chính sách, biện pháp cụ thể nhằm khắc phục và cải thiện môi trường

Trang 6

3 CƠ SỞ KHOA HỌC KHOANH VÙNG Ô NHIỄM TIẾNG ỒN

3.1 Các thông số về tiếng ồn

Định nghĩa

Tiếng ồn là âm thanh không có giá trị, không phù hợp với mong muốn của người nghe

Âm thanh (Sóng âm) là một loại dao động cơ học của không khí có biên độ dao động và tần số dao động trong khoảng thính giác con người nhận biết được tạo thành cảm giác âm thanh

Sóng âm

Một sóng âm đơn giản nhất (đơn âm) có thể minh họa bằng một biểu đồ hình sin mối quan hệ giữa áp suất âm và thời gian hoặc chiều dài quãng đường lan truyền như hình sau:

Quan hệ giữa các đại lượng đặc trưng của sóng: f = 1/ τ λ = c/f

f: tần số, 1/s;

λ: chiều dài bước sóng, m;

c : vận tốc truyền sóng âm thanh trong không khí ở 20 oC xấp xỉ c ≈ 343 m/s

τ : thời gian truyền được một khoảng cách = 1 bước sóng λ

Ví dụ: Sóng âm có tần số 1000Hz thì chiều dài bước sóng sẽ là:

λ = 343 / (1000) = 0,34 m

Các thông số

Áp suất âm P trên một mặt nào đó là tỷ số giữa lực tác dụng do các phần tử

của môi trường không khí dao động lên một mặt với diện tích của mặt đó (Chú ý: Áp suất ở đây là áp suất dư do sóng gây ra) Đơn vị tính là Pascan (Pa)

Trang 7

Cường độ âm I ở một điểm nào đó trên phương đã cho trong trường âm là số

năng lượng âm thanh đi qua một đơn vị diện tích bề mặt S vuông góc với phương truyền âm tại điểm đó trong một đơn vị thời gian Đơn vị tính là W/m2

Mức áp suất âm và Decibel:

Người ta đánh giá tiếng ồn bằng mức áp suất âm L được tính từ công thức:

Lp = 10 lg (P/P0)2 = 20 lg (P/P0)

Trong đó: P - Áp suất âm toàn phương trung bình (Pa)

P0 - Áp suất âm nhỏ nhất tai người có thể nghe thấy (= 2.10-5 Pa)

Bel là đơn vị đo mức cường độ âm thanh (hay mức áp suất âm) 1 bel là ngưỡng

âm thanh tai người có thể nghe được Decibel là đơn vị (bằng 1/10 bel) đo tiếng

ồn thông dụng ngày nay

Các mức áp suất âm

• Mức áp suất âm theo đặc tính A, đo bằng dbA (decibel-A): là mức áp suất âm theo đặc tính A, được tính bằng công thức:

LpA = 20 lg (pA/p0)

Với: pA là áp suất toàn phương trung bình theo đặc tính A, Pa;

• Mức áp suất âm tương đương liên tục theo đặc tính A, đo bằng dexiben: giá trị mức áp suất âm theo đặc tính A của âm thanh liên tục, ổn định trong khoảng thời gian T, có cùng giá trị áp suất âm toàn phương trung bình với âm thanh đang nghiên cứu có mức thay đổi theo thời gian Mức đó được tính theo công thức:

Với: LAeq,T là mức áp suất âm tương đương liên tục theo đặc tính A (dB) được xác định trong khoảng thời gian T, bắt đầu từ t1 và kết thúc ở t2

Pa(t) là mức áp suất âm đo tức thời theo đặc tính A của một tín hiệu âm thanh

Mức áp suất âm tương đương liên tục theo đặc tính A, trong thời gian T cũng được gọi là mức âm trung bình trong một khoảng thời gian, ký hiệu LAeq,T, tính bằng dB Khoảng thời gian đo lấy trung bình đã được ghi rõ trên chỉ số Mức áp suất âm tương đương liên tục theo đặc tính A được dùng để đánh giá tiếng ồn nghề nghiệp tiếp xúc

Trang 8

Tai người có khả năng cảm nhận mức cường độ âm thanh rất rộng, từ 0 –

180 dB, với 0 dB là ngưỡng bắt đầu nghe thấy và 140dB là mức cao nhất mà tai người có thể chịu đựng nghe được, được gọi là ngưỡng chói tai

Để đo mức âm tổng hợp ở nhiều tần số khác nhau, người ta sử dụng đơn

vị dBA tương ứng với đặc tính tần số tương đối A

Con người có thể nghe thấy âm thanh ở tần số 16-20000 Hz Khoảng tần

số mà tai người nhạy cảm nhất với âm thanh là từ 1000 đến 5000Hz Người ta chú ý đến khoảng tần số này khi cần hạn chế tiếng ồn Âm thanh ở tần số nhỏ hơn 16 Hz, ta có hạ âm Âm thanh ở tần số trên 20 kHz ta có siêu âm Để đánh giá mức độ ồn, ta luôn xác định mức áp suất âm ứng với dải tần số nào đó

Tần số

Âm thanh là một dao động cơ học nên có một đại lượng đặc trưng nữa cho âm thanh là tần số âm Tần số âm là số lần âm thanh dao động trong một giây Đơn vị đo tần số là Hz

Con người cảm nhận được âm thanh có tần số từ 16 Hz tới 20.000 Hz Với tần số 16 Hz âm thanh thuộc phần hạ âm và 16 Hz là sóng siêu âm, tai người không có khả năng nhận biết được Tuy vậy ở các cá thể khác nhau sự phân biệt

âm thanh ớ các tần số khác nhau không giống nhau

Tiếng ồn là dạng âm thanh gây ô nhiễm đặc trưng của đô thị hoá, công nghiệp và giao thông vận tải Tiếng ồn càng tăng khi mật độ giao thông càng lớn, mật độ tập trung người và máy móc thiết bị càng lớn

Thính giác của con người có đặc tính cảm thụ cường độ âm thanh theo hàm Logarit Vì thế cường độ âm thanh tăng 100 lần thì người ta chỉ thấy tiếng ồn to gấp đôi

Âm thanh truyền đi trong môi trường không khí dưới dạng sóng dao động

cơ học Trên đường lan truyền, âm thanh suy giảm theo qui luật tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách lan truyền Nghĩa là: Khi khoảng cách tăng gấp đôi thì cường độ âm thanh giảm còn ¼ và mức cường độ âm giảm đi 6 dB

3.2 Cơ sở khoa học phương pháp khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn

Việc khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn trong toàn bộ lãnh thổ quốc gia có thể căn cứ vào các chỉ tiêu ô nhiễm tổng quát của khu vực tiến hành khoanh vùng khu vực đó thành 4 loại như sau:

- Khu vực yên tĩnh - màu xanh da trời;

- Khu vực bị ô nhiễm tiếng ồn - màu vàng;

Trang 9

- Khu vực bị ô nhiễm tiếng ồn nặng - màu đỏ;

- Khu vực bị ô nhiễm rất tiếng ồn nặng - màu tía

Việc khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn là việc phân chia một vùng không gian

địa lý của các tỉnh/thành hay toàn quốc gia thành các khu vực có mức độ ô

nhiễm tiếng ồn khác nhau bằng bộ tiêu chí đánh giá mức độ ô nhiễm

Bộ tiêu chí khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn về cơ bản căn cứ vào tiêu chuẩn về

tiếng ồn đã ban hành và có tham khảo dự thảo Quy chuẩn tiếng ồn

Hai thông số chính để khoanh vùng ô nhiễm tiếng ồn là mức áp suất âm

(dbA) và thời gian diễn ra mức áp suất âm đó tại một khu vực, không gian nhất

định tại một thời điểm quy ước

Theo TCVN 5949-1998, giới hạn tối đa cho phép khu vực công cộng và dân

cư (theo mức âm tương đương)

Đơn vị: dBA

Khu vực

Thời gian

Từ 6h đến 18h

Từ 18h đến 22h

Từ 22h đến 6h

1 Khu vực đặc biệt yên tĩnh:

Bệnh viện, thư viện, nhà điều

dưỡng, nhà trẻ, trường học, nhà

thờ, chùa chiền

50 45 40

2 Khu dân cư, khách sạn, nhà

3 Khu dân cư xen kẽ trong khu

vực thương mại, dịch vụ, sản

xuất

75 70 50

Ngoài giới hạn độ ồn trên đây thì cần thiết phải đưa yếu tố thời gian diễn ra

tiếng ồn, tức là thời gian độ ồn kéo dài bao lâu để đánh giá chính xác hơn

Nếu chỉ sử dụng duy nhất thông số độ ồn thì là chưa chính xác Bởi vì trong

điều kiện hiện nay của đất nước ta thì khu vực dân cư, khách sạn, thương mại,

bệnh viện, thư viện, nhà điều dưỡng là gần như không riêng biệt, nên tiếng ồn

vượt giới hạn trong mỗi khu vực là khá phổ biến do đó phải lồng ghép thêm yếu

tố thời gian tiếng ồn kéo dài bao lâu

Trang 10

Trong bộ tiêu chí này không phân biệt nguồn gây tiếng ồn mà chỉ đặc biệt sử dụng thông số mức áp suất âm và thời gian kéo dài Cả hai thông số này đều có thể dễ dàng quan trắc được

4 Lựa chọn thông số để xác định bộ tiêu chí khoanh vùng

4.1 Tỷ lệ vượt giới hạn độ ồn cho phép

)

∑ ∑

= ⎜⎜ =

j

n

Pij n

m

Fj

1

1

(1) Trong đó:

- Fj là mức độ độ ồn vượt giới hạn cho phép ở khu vực thứ j

- Pij là áp suất âm đo được tại địa điểm thứ i của khu vực j

- P0j là áp suất âm giới hạn cho phép trong khu vực j

Theo tiêu chuẩn tiếng ồn thì phân ra làm 3 khu vực nên j=1,2,3

Còn đối với n thì phụ thuộc vào số lần đo độ ồn tại mỗi khu vực j, n càng lớn thì càng chính xác

4.2 Mức độ kéo dài của âm lượng vượt giới hạn

xTi

t kj

60

Trong đó:

- t là số phút bình quân âm lượng vượt độ ồn cho phép tại mỗi khu vực (nếu tính t là giờ thì trong công thức 2 sẽ bỏ hằng số 60)

- Ti là thời gian (giờ) theo các thời điểm ban đêm, tối, và ban ngày

Ứng với thời gian từ 6h đến 18h; 18h đến 22h và 22h đến 6h là k1, k2, k3

8 60 3

; 4 60 2

; 12 60

1

x

t k

x

t k

x

t

4.3 Chỉ số đánh giá ô nhiễm tiếng ồn

Quy ước chỉ số đánh giá ô nhiễm tiếng ồn là N thì ta có

=

3 1

Fj.kj 3

1

j

(3)

Ngày đăng: 08/08/2014, 06:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w