116 Hạch toán chi phí sản Xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Vật liệu và Công nghệ
Lý luận chung về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp công nghiệp
Chi phí sản xuất
1.1 Khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm của chi phí sản xuất.
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất, trong đó nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào đều liên quan đến sự vận động và tiêu hao các yếu tố cơ bản Để sản xuất hàng hóa, người sản xuất cần chi trả chi phí cho thù lao lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Do đó, việc hình thành các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm là điều tất yếu và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người.
Chi phí sản xuất kinh doanh là tổng hợp các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất định, như tháng, quý hoặc năm, liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Cần phân biệt rõ giữa chi phí và chi tiêu trong hoạt động sản xuất kinh doanh Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho quá trình sản xuất mà doanh nghiệp phải chi trong một kỳ hạch toán Chỉ những hao phí liên quan đến sản phẩm sản xuất trong kỳ mới được tính là chi phí, không phải mọi khoản chi ra Ngược lại, chi tiêu đơn thuần là sự giảm đi các loại vật liệu, tài sản, và tiền vốn của doanh nghiệp, không phân biệt mục đích sử dụng.
Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ Chi tiêu là yếu tố tạo ra chi phí; nếu không có chi tiêu, sẽ không có chi phí Ngoài sự khác biệt về lượng, chi phí và chi tiêu còn khác nhau về thời gian; một số khoản chi tiêu có thể xảy ra trong kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí, trong khi một số khoản chi phí có thể phát sinh trong kỳ này nhưng thực tế chưa được chi tiêu.
Sự khác biệt giữa các loại tài sản trong quá trình sản xuất xuất phát từ đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của chúng, cũng như yêu cầu kỹ thuật hạch toán tương ứng.
Trong nền kinh tế thị trường với sự biến động liên tục của giá cả, việc tính toán chính xác và kịp thời chi phí sản xuất là rất cần thiết Điều này không chỉ giúp quản trị giá thành hiệu quả mà còn xác định đúng chi phí phù hợp với giá cả thực tế, từ đó bảo toàn vốn cho công ty theo yêu cầu của chế độ quản lý kinh tế hiện nay.
1.2 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh.
Hạch toán chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho quản lý, đặc biệt trong các doanh nghiệp sản xuất với nhiều loại khoản chi phí khác nhau Việc phân loại chi phí một cách khoa học và hợp lý là cần thiết cho công tác kế hoạch hoá, hạch toán và tính giá thành sản phẩm Phân loại chi phí theo từng loại không chỉ nâng cao tính chi tiết của thông tin mà còn tạo cơ sở tin cậy cho việc lập kế hoạch giảm chi phí Do đó, trong công tác quản lý hạch toán, chi phí sản xuất thường được phân loại theo các tiêu thức khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi phí đợc chia làm ba loại:
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các khoản chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và quản lý hành chính, cũng như quản trị doanh nghiệp.
-Chi phí hoạt động tài chính: gồm những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn và đầu t tài chính.
-Chi phí bất thờng: gồm những chi phí ngoài dự kiến có thể do chủ quan hay khách quan mang lại.
Phân loại chi phí giúp xác định chính xác chi phí, hỗ trợ tính giá thành và đánh giá kết quả từng hoạt động kinh doanh, đồng thời tạo điều kiện lập báo cáo tài chính một cách nhanh chóng và kịp thời Phân loại này dựa trên các yếu tố chi phí.
Theo qui định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí đợc chia làm những yÕu tè sau:
Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế và công cụ dụng cụ Do đó, trong sản xuất kinh doanh, cần tính toán chính xác chi phí này, loại trừ giá trị của vật liệu không sử dụng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi.
-Yếu tố nhiên liệu, sử dụng vào qúa trình sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Yếu tố chi phí nhân công và các khoản phụ cấp lương đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh tổng số tiền lương và phụ cấp mà doanh nghiệp cần chi trả cho toàn bộ công nhân viên chức.
Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ là các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn được trích theo tỷ lệ quy định, tính dựa trên tổng tiền lương và phụ cấp lương phải trả cho công nhân viên chức.
3 Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: phán ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kú.
4 Yếu tố dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh
5 Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền cha phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kú
Phân loại chi phí giúp xác định cơ cấu và tính chất nguyên thuỷ của chi phí, từ đó làm rõ mức vốn lưu động cần thiết cho doanh nghiệp Ngoài ra, việc phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài chính hiệu quả.
Giá thành sản phẩm
2.1 Khái niệm và bản chất giá thành.
Trong quá trình sản xuất, chi phí đầu vào cần được đánh giá cùng với kết quả đầu ra, tức là sản phẩm hoàn thành, để xác định chất lượng sản xuất kinh doanh Mối quan hệ so sánh giữa chi phí và sản phẩm hoàn thành hình thành chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm phản ánh giá trị tiền tệ của tất cả các chi phí liên quan đến lao động sống và lao động vật hoá, liên kết với khối lượng công việc, sản phẩm và dịch vụ đã hoàn thành.
Mục đích của doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh là tạo ra giá trị sử dụng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp chú trọng đến hiệu quả chi phí, tìm cách tối thiểu hóa chi phí để tối đa hóa lợi nhuận Chỉ tiêu giá thành sản phẩm là một trong những chỉ tiêu kinh tế quan trọng, giúp đánh giá nỗ lực của doanh nghiệp trong công tác hạch toán và quản lý.
Giá thành sản phẩm thực hiện hai chức năng chính: bù đắp chi phí và lập giá Doanh nghiệp cần thu hồi toàn bộ chi phí đã bỏ ra để đảm bảo quá trình tái sản xuất, nhưng đây không phải là mục đích cuối cùng trong kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, giá bán sản phẩm bị ảnh hưởng bởi quy luật cung cầu, và việc tiêu thụ sản phẩm thể hiện giá trị sử dụng của nó Giá bán không chỉ phản ánh giá trị sản phẩm mà còn phải dựa trên cơ sở giá thành để xác định Qua giá bán, doanh nghiệp có thể đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Để hiểu rõ về giá thành sản phẩm, cần xem xét mối quan hệ giữa giá trị và giá cả Giá thành sản phẩm là yếu tố kinh tế khách quan trong sản xuất hàng hóa, là điểm khởi đầu cho việc xác định giá cả và là giới hạn tối thiểu của giá Dưới mức giá thành, việc tái sản xuất giản đơn không thể thực hiện Giá thành là phần quan trọng cấu thành giá trị và có mối liên hệ chặt chẽ với giá cả, thường có sự chênh lệch giữa giá thành và giá cả, điều này có thể có lợi hoặc bất lợi cho nhà sản xuất Để sản xuất tồn tại và phát triển, giá thành cần phải thấp hơn giá bán Việc xác định giá cả sản phẩm phụ thuộc vào độ chính xác trong việc xác định giá thành của từng loại sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất.
Giá thành và giá cả có mối quan hệ chặt chẽ; giá cả là cơ sở để xác định giá thành, trong khi giá thành lại là nền tảng để xây dựng giá cả Nếu giá bán không thay đổi, việc giảm giá thành sẽ dẫn đến tăng lợi nhuận Do đó, hạ thấp chi phí để giảm giá thành là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên trong quản lý kinh tế và quản trị doanh nghiệp.
2.2 Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Giá thành công xưởng có mối quan hệ chặt chẽ với chi phí sản xuất, được xác định dựa trên chi phí đã tập hợp và số lượng sản phẩm hoàn thành Nội dung giá thành công xưởng chính là chi phí sản xuất tính cho từng loại và số lượng sản phẩm cụ thể Mặc dù chi phí sản xuất và giá thành công xưởng đều tương đồng về chất lượng, nhưng lại khác nhau về số lượng.
Tổng giá thành sản phẩm được tính bằng công thức: Chi phí sản xuất = Xuất dở dang + Chi phí phát sinh - Xuất dở dang hoàn thành từ đầu kỳ đến cuối kỳ.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp công nghiệp trong một kỳ nhất định không giống với tổng giá thành sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ đó Điều này là do giá thành sản phẩm không bao gồm chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ, nhưng cần cộng thêm chi phí sản xuất dở dang từ kỳ trước chuyển sang.
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất là nền tảng để xác định giá thành sản phẩm, với hai bước này gắn bó chặt chẽ Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc không có sản phẩm dở dang, giá thành sản phẩm sẽ tương đương với chi phí sản xuất.
2.3 Phân loại giá thành. Để đáp ứng các nhu cầu của quản lí, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa, giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau Về lí luận cũng nh trng thực tế, ngoài các khái niệm giá thành xã hội,, giá thành cá biệt, còn có khái niệm giá thành công xởng, giá thành toàn bộ… Do vậy a Xét theo thời điểm tính và nguồn số liệu, giá thành đợc chia làm 3 loại:
Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bắt đầu kinh doanh, dựa trên giá thành thực tế của kỳ trước cùng với các định mức và dự toán chi phí cho kỳ kế hoạch.
Giá thành định mức, giống như giá thành kế hoạch, được xác định trước khi sản xuất sản phẩm Tuy nhiên, điểm khác biệt chính là giá thành định mức được xây dựng dựa trên các định mức chi phí hiện hành tại từng thời điểm cụ thể trong kỳ kế hoạch, thường là vào đầu tháng Do đó, giá thành định mức luôn thay đổi để phù hợp với sự biến động của các định mức chi phí trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi hoàn tất quá trình sản xuất sản phẩm, dựa trên các chi phí phát sinh trong suốt quá trình này Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được phân loại thành hai loại.
Giá thành sản xuất, hay còn gọi là giá thành phân xưởng, là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và chế tạo sản phẩm tại phân xưởng.
Hạch toán chi phí sản xuất
3.1 Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất a Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn mà các chi phí sản xuất đợc tập hợp nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm tra, phân tích và tính giá thành sản phẩm Phạm vi giới hạn tập hợp chi phí có 2 loại:
- Nơi phát sinh chi phí: phân xởng, tổ đội, bộ phận sản xuất hay giai đoạn công nghệ.
-Đối tợng chi phí: sản phẩm, nhóm sản phẩm hay đơn vị đặt hàng
Việc xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu phí, nhằm tạo cơ sở cho việc tập hợp chi phí sản xuất Điều này phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí hiệu quả, và cần dựa vào các cơ sở cụ thể để thực hiện.
+ Căn cứ vào tính chất sản xuất và đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm :
Nếu doanh nghiệp áp dụng quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm đơn giản, thì đối tượng hoặc giới hạn tập hợp chi phí sẽ bao gồm toàn bộ quy trình công nghệ đó.
Doanh nghiệp với qui trình công nghệ sản xuất phức tạp như chế biến liên tục có thể tập hợp chi phí sản xuất theo sản phẩm cuối cùng hoặc từng giai đoạn công nghệ Trong khi đó, với kiểu chế biến song, đối tượng tập hợp chi phí sẽ là thành phẩm hoặc từng bộ phận, từng chi tiết.
+ Căn cứ vào loại hình sản xuất :
Các doanh nghiệp thuộc lọai hình sản xuất đơn chiếc thì đối tợng tập hợp chi phí là từng sản phẩm
Các doanh nghiệp sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn thường dựa vào quy trình công nghệ để sản xuất sản phẩm Do đó, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong trường hợp này có thể là nhóm sản phẩm.
+ Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất:
Các doanh nghiệp có cấu trúc tổ chức sản xuất khác nhau sẽ có các đối tượng tập hợp chi phí khác nhau Đối với những doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo phân xưởng, đối tượng tập hợp chi phí là các phân xưởng Việc tập hợp chi phí theo phân xưởng giúp phân tích và kiểm tra các chi phí tại từng phân xưởng, đồng thời tạo điều kiện xác định chính xác kết quả hạch toán kinh tế nội bộ của doanh nghiệp Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phần quan trọng trong quy trình này.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là hệ thống các phương pháp dùng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố và khoản mục Hệ thống này hoạt động trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí sản xuất.
Các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất chủ yếu dựa trên việc xác định đối tượng hạch toán chi phí trong doanh nghiệp Chi phí sản xuất được ghi chép chi tiết qua thẻ hoặc sổ hạch toán, phản ánh các chi phí phát sinh liên quan đến từng đối tượng Việc phân tích chi phí theo yếu tố và khoản mục giúp tổng hợp chi phí hàng tháng, phục vụ cho việc phân tích và kiểm tra chi phí cũng như tính giá thành sản phẩm hiệu quả.
Tùy thuộc vào từng đối tượng hạch toán chi phí, cần áp dụng các phương pháp hạch toán chi phí phù hợp Dưới đây là các phương pháp hạch toán chi phí được sử dụng.
Phương pháp hạch toán chi phí theo chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm tập hợp và phân loại chi phí sản xuất theo từng bộ phận Giá thành sản phẩm được xác định bằng tổng chi phí của các bộ phận cấu thành Phương pháp này khá phức tạp, thường được áp dụng trong các doanh nghiệp có chuyên môn hóa cao, sản xuất ít sản phẩm hoặc mang tính chất đơn chiếc với ít chi tiết.
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo sản phẩm tập hợp và phân loại chi phí sản xuất theo từng loại sản phẩm riêng biệt, không phụ thuộc vào tính chất phức tạp của sản phẩm và quy trình công nghệ Trong trường hợp sản phẩm trải qua nhiều phân xưởng, chi phí sẽ được phân bổ theo từng phân xưởng, với chi phí trực tiếp hạch toán theo từng sản phẩm và chi phí gián tiếp phân bổ theo tiêu chí phù hợp Giá thành sản phẩm được xác định bằng phương pháp trực tiếp hoặc tổng cộng chi phí Phương pháp này thường được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản xuất hàng loạt và có quy mô lớn.
Phương pháp hạch toán chi phí theo nhóm sản phẩm cho phép tập hợp và phân loại chi phí sản xuất dựa trên các nhóm sản phẩm cùng loại Giá thành sản phẩm được xác định theo phương pháp liên hợp, phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất đa dạng sản phẩm như giày dép và may mặc Phương pháp này giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình hạch toán và nâng cao hiệu quả quản lý chi phí.
Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng tập hợp chi phí sản xuất cho từng đơn hàng riêng biệt Khi hoàn thành đơn đặt hàng, tổng chi phí sẽ trở thành giá thành thực tế của sản phẩm, bao gồm cả chi phí trực tiếp và gián tiếp Chi phí trực tiếp được hạch toán vào đơn hàng liên quan, trong khi chi phí gián tiếp được tập hợp và phân bổ theo tiêu chí phù hợp Phương pháp này thường được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc như cơ khí chế tạo và sửa chữa.
Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn vị sản xuất tập hợp chi phí phát sinh theo từng đơn vị sản xuất như phân xưởng, tổ, đội Trong mỗi đơn vị, chi phí được phân loại theo từng đối tượng chịu phí, chi tiết theo sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm Khi áp dụng phương pháp này, giá thành sản phẩm có thể được xác định qua các phương pháp tính trực tiếp, tổng cộng chi phí hoặc hệ số tỷ lệ Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đặc biệt là với sản xuất giản đơn, phương pháp này chủ yếu phục vụ cho việc kiểm tra chi phí và xác định kết quả hạch toán kinh tế của từng đơn vị sản xuất mà không nhất thiết để tính giá thành.
Phương pháp hạch toán chi phí theo toàn bộ dây chuyền sản xuất tập trung vào việc tập hợp và phân loại toàn bộ chi phí sản xuất theo từng giai đoạn công nghệ Trong mỗi giai đoạn, các chi phí được phân tích chi tiết theo từng loại sản phẩm hoặc bán thành phẩm, giúp quản lý hiệu quả hơn và tối ưu hóa quy trình sản xuất.
Tính giá thành sản phẩm
4.1 Đối tợng tính giá thành
Khác với hạch toán chi phí sản xuất, việc tính giá thành thực tế có mục đích xác định giá thực tế cho từng loại sản phẩm cũng như tổng giá trị của toàn bộ sản phẩm.
Đối tượng tính giá thành bao gồm sản phẩm, bán thành phẩm và công việc lao vụ, đòi hỏi việc xác định giá thành đơn vị Kế toán cần căn cứ vào đặc điểm sản xuất, tính chất và đặc điểm cung cấp, sử dụng của từng loại sản phẩm để xác định đối tượng tính giá thành phù hợp.
Khi xác định đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp, cần xem xét cách tổ chức sản xuất Đối với sản xuất đơn chiếc, đối tượng tính giá thành là từng sản phẩm hoặc công việc hoàn thành, trong khi sản xuất hàng loạt sẽ tính giá thành theo từng loại sản phẩm hoàn thành Quy trình công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng; nếu quy trình sản xuất đơn giản, đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối Ngược lại, với quy trình phức tạp kiểu liên tục, đối tượng tính giá thành bao gồm sản phẩm ở giai đoạn cuối và bán thành phẩm ở các giai đoạn khác Đối với quy trình phức tạp kiểu song song, đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm đã lắp ráp hoàn chỉnh hoặc các chi tiết bộ phận.
Các bảng phân bổ -Vật liệu , công cụ -Tiền l ơng, BHXH -KhÊu hao TCS§
Chứng từ gốc về đơn vị tính giá thành cần phải sử dụng những đơn vị được công nhận rộng rãi trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo phù hợp với tính chất hoá lý của sản phẩm.
Kỳ tính giá thành là thời điểm mà bộ phận kế toán giá thành xác định giá thành cho các đối tượng tính giá thành, dựa vào đặc điểm tổ chức sản xuất của sản phẩm Đối với doanh nghiệp sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn, kỳ tính giá thành thường là hàng tháng vào cuối tháng Nếu sản phẩm mang tính chất thời vụ với chu kỳ sản xuất dài, kỳ tính giá thành có thể là hàng năm vào cuối năm Trong trường hợp sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng với chu kỳ dài, kỳ tính giá thành sẽ được xác định khi sản phẩm hoàn thành.
4.2 Phơng pháp tính giá thành
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là cách xác định chi phí của từng loại sản phẩm và công việc hoàn thành dựa trên các khoản mục chi phí cụ thể Doanh nghiệp cần lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp, tùy thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành và mối quan hệ giữa chúng Một trong những phương pháp phổ biến là phương pháp tính trực tiếp.
Phương pháp xác định giá thành sản phẩm được áp dụng khi đối tượng hạch toán chi phí sản xuất cũng là đối tượng tính giá thành Theo phương pháp này, giá thành đơn vị sản phẩm được tính bằng cách chia tổng chi phí tập hợp được cho số lượng sản phẩm hoàn thành Phương pháp này thường được sử dụng trong các doanh nghiệp có số lượng mặt hàng ít và chu kỳ sản xuất ngắn.
Giá thành sản phẩm hàng hoá
Chi phí sản xuất dở dang ®Çu kú
Chi phí sản xuất phát sinh
– Chi phí sản xuất dở dang cuèi kú
– Khoản thu giảm giá thành
Giá thành đơn vị sản phẩm hàng hoá = Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá
Số lợng sản phẩm hoàn thành trong kỳ b Phơng pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này được áp dụng khi đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các giai đoạn công nghệ, trong khi đối tượng tính giá thành là các sản phẩm và công việc hoàn thành Giá thành sản phẩm hoàn thành được xác định bằng cách tổng hợp số chi phí sản xuất của các chi tiết và bộ phận sản phẩm qua các giai đoạn công nghệ.
Giá thành sản phẩm = Z1 + Z2 + … Do vậy + Zn c Phơng pháp hệ số
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất, nơi sử dụng chung một loại nguyên liệu và lượng lao động, nhưng tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau Chi phí không được phân bổ riêng cho từng loại sản phẩm, mà được tổng hợp chung cho toàn bộ quá trình sản xuất.
Theo phương pháp này, kế toán sử dụng hệ số quy đổi để chuyển đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc Sau đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành của các sản phẩm đã tập hợp, kế toán sẽ tính toán giá thành sản phẩm gốc cũng như giá thành cho từng loại sản phẩm.
Giá thành đơn = Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm vị sản phẩm gốc Tổng số sản phẩm qui đổi
Giá thành đơn vị sản Giá thành đơn vị sản hệ số qui đổi sản phẩm từng loại = phẩm gốc x phẩm từng loại
Số lợng sản n Hệ số qui phẩm qui đổi = Số lợng sản phẩm loại i x sản phẩm i=1 loại i
Tổng giá thành sản Giá trị SPDD Tổng CPSX phát Giátrị SPDD xuất của các loại SP = đầu kỳ + sinh trong kỳ - cuối kỳ d Phơng pháp tỷ lệ
Trong các doanh nghiệp sản xuất đa dạng sản phẩm như may mặc, dệt, và cơ khí chế tạo, kế toán thường nhóm chi phí sản xuất theo loại sản phẩm để giảm bớt khối lượng hạch toán Dựa vào tỷ lệ chi phí thực tế so với kế hoạch, kế toán sẽ xác định giá thành đơn vị và tổng giá thành cho từng loại sản phẩm.
Giá thành thực tế đơn vị Giá thành kế hoạch đơn vị sản phẩm từng loại = sản phẩm từng loại Tỷ lệ chi phí.
Tổng giá thành thực tế của các loại sản phẩm
Tổng giá thành kế hoạch của các loại sản phẩm e Phơng pháp loại trừ sản phẩm phụ
Phương pháp này được áp dụng cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, nơi bên cạnh sản phẩm chính còn phát sinh các sản phẩm phụ Để xác định giá trị sản phẩm chính, kế toán cần loại trừ chi phí của sản phẩm phụ khỏi tổng chi phí sản xuất.
Tổng giá thành sản xuất bao gồm giá trị sản phẩm chính và các chi phí phát sinh, được tính bằng công thức: Giá trị sản phẩm = Sản phẩm chính + Phát sinh - Phẩm phụ - Phẩm chính đầu kỳ + Phẩm chính cuối kỳ thu hồi Phương pháp liên hợp được áp dụng trong quá trình tính toán này.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, việc tính giá thành sản phẩm đòi hỏi áp dụng nhiều phương pháp khác nhau do tính chất quy trình công nghệ và sản phẩm Kế toán có thể kết hợp các phương pháp trực tiếp với tổng chi phí, cũng như tổng chi phí với tỷ lệ để đạt được kết quả chính xác.
4.3 áp dụng phơng pháp tính giá thành trong một số loại hình doanh nghiệp. a Đối với doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn
Doanh nghiệp sản xuất giản đơn sản xuất số lượng lớn một hoặc một số ít mặt hàng với chu kỳ sản xuất ngắn, không có hoặc có rất ít sản phẩm dở dang Việc hạch toán chi phí sản xuất được thực hiện theo từng sản phẩm, mỗi mặt hàng có sổ thẻ hạch toán riêng Giá thành thường được tính vào cuối tháng bằng phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp liên hợp Ngược lại, doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn, với đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng cụ thể Phương pháp tính giá thành sẽ được áp dụng dựa trên tính chất và số lượng sản phẩm của mỗi đơn, có thể là phương pháp trực tiếp, tổng cộng chi phí hoặc liên hợp Tất cả chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo từng đơn đặt hàng, với chi phí trực tiếp được hạch toán cho đơn hàng tương ứng và chi phí sản xuất chung sẽ được phân bổ theo tiêu thức phù hợp.
Phân tích thông tin chi phí và giá thành với việc quản trị doanh nghiệp
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là yếu tố quan trọng phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp Qua việc phân tích các chỉ tiêu chi phí và giá thành, doanh nghiệp có thể đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí trong sản xuất, từ đó phát hiện những tiềm năng để phát triển Đồng thời, việc phân tích các khoản mục chi phí giúp nhận diện những hạn chế cần khắc phục, từ đó xây dựng kế hoạch tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm hiệu quả.
Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là yếu tố then chốt trong quản lý doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, giúp các nhà quản lý điều hành hiệu quả và thích ứng với thị trường Phân tích này cho phép xác định giá bán, lợi nhuận, sản lượng hòa vốn và mức sản lượng tối ưu để tối đa hóa lợi nhuận, từ đó cung cấp cơ sở cho các quyết định kịp thời và chính xác.
Phân tích giá thành sản phẩm giúp xác định nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến biến động chi phí, từ đó hỗ trợ người dùng đưa ra quyết định tối ưu hơn Nội dung phân tích bao gồm các khía cạnh chi phí và giá thành sản phẩm.
-Đánh giá chung tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm.
Chi phí NVL chính tính cho thành phẩm
Tổng giá thành sản phÈm
Chi phí NVL chính tính cho thành phẩm
Chi phí chế biến b ớc 1 tính cho thành phẩm
Chi phí chế biến b ớc 2 tính cho thành phẩm
Chi phí chế biến b ớc n tính cho thành phẩm
-Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ thấp giá thành của những sản phẩm có thể so sánh đợc.
-Phân tích tính thực hiện kế hoạch chi phí trên 1000 đồng giá trị sản l- ợng hàng hóa.
-Phân tích tình hình biến động của một số yếu tố và khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
-Phân tích giá thành sản phẩm trong mối liên hệ với sản phẩm thực hiện. ở đây ta phân tích một số chỉ tiêu thông dụng sau:
-Chỉ tiêu thực hiện kế hoạch hạ thấp giá thành của những sản phẩm có thể so sánh:
Sản phẩm có thể so sánh là những sản phẩm đã được doanh nghiệp sản xuất và có tài liệu hạch toán giá thành từ các kỳ trước Doanh nghiệp thường lập kế hoạch hạ thấp giá thành cho những sản phẩm này nhằm xác định mục tiêu phấn đấu và quy mô chi phí tiết kiệm để tăng lợi nhuận Trong kế hoạch này, hai chỉ tiêu thường được đặt ra là giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất.
Mức hạ giá thành: phản ánh quy mô chi phí tiết kiệm.
Tỷ lệ hạ giá thành phản ánh tốc độ giảm chi phí sản xuất Để hiểu rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm, cần tiến hành phân tích Nội dung và trình tự phân tích tình hình thực hiện hạ giá thành sản phẩm bao gồm việc so sánh các yếu tố liên quan.
Để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, cần so sánh kết quả đạt được với kế hoạch đề ra dựa trên hai chỉ tiêu: mức hạ và tỷ lệ hạ Nếu cả hai chỉ tiêu đều hoàn thành, đơn vị đã hoàn thành kế hoạch hạ thấp giá thành sản phẩm một cách toàn diện Ngược lại, nếu chỉ hoàn thành một chỉ tiêu, kết luận sẽ không toàn diện Do đó, bên cạnh việc so sánh tổng thể, cần phân tích mức hạ và tỷ lệ hạ cho từng loại sản phẩm để xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến biến động chung.
+ Xác định các nhân tố ảnh hởng.
Nhân tố sản lượng sản xuất có mối quan hệ tỉ lệ thuận với mức hạ trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, đồng thời không ảnh hưởng đến tỷ lệ hạ.
Nhân tố cơ cấu sản lượng sản xuất ảnh hưởng đến mức hạ và tốc độ hạ của từng sản phẩm Khi cơ cấu sản lượng thay đổi, mức hạ và tỷ lệ hạ chung cũng sẽ biến đổi theo.
Nhân tố giá thành công xởng đơn vị là yếu tố quyết định, thể hiện hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận.
-Chỉ tiêu chi phí trên 1000 đồng giá trị sản lợng hàng hoá
F: chi phí trên 1000 đồng giá trị sản lợng hàng hoá.
Z: giá thành toàn bộ đơn vị sản phẩm
G: giá bán đơn vị sản phẩm.
Dựa vào công thức tính chỉ tiêu chi phí trên 1000 động sản, có ba yếu tố chính ảnh hưởng đến chi phí: cơ cấu sản lượng, giá thành toàn bộ đơn vị sản phẩm và giá bán đơn vị sản phẩm Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chi phí sản xuất và lợi nhuận.
Giá trị sản lượng hàng hóa giảm 1000 đồng được coi là tích cực Phân tích chi phí giúp doanh nghiệp nhận diện ảnh hưởng của từng yếu tố và nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi, từ đó đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm giảm giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
-Chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm theo khoản mục.
Giá thành đơn vị là tổng chi phí mà sản phẩm phải chịu trong quá trình sản xuất Để phân tích chỉ tiêu này, cần xem xét sự biến đổi của chi phí trong giá thành, từ đó xác định các yếu tố làm tăng hoặc giảm giá thành sản phẩm Điều này giúp doanh nghiệp nhận biết khả năng giảm giá thành ở từng khoản mục Mỗi khoản mục chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố chính: mức tiêu hao vật chất và đơn giá, cả hai đều thường xuyên thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy cần áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp.
Phân tích giá thành theo khoản mục bao gồm các bước sau: đầu tiên, so sánh giá thành thực tế với giá thành kế hoạch và giá thành của năm trước để xác định chênh lệch tuyệt đối về giá thành Tiếp theo, tính tỷ trọng chênh lệch đó so với giá thành đơn vị kế hoạch.
Việc phân tích chi phí từng khoản mục giúp doanh nghiệp xác định ảnh hưởng của từng khoản mục đến giá thành đơn vị, từ đó có biện pháp điều chỉnh các khoản mục chi phí hợp lý hơn Điều này cho phép doanh nghiệp xác định được việc giảm giá thành ở từng khâu và gắn trách nhiệm vật chất với vấn đề giảm giá thành sản phẩm, nhằm tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tóm lại, việc tiết kiệm chi phí để hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu của mọi doanh nghiệp, trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ giảm giá bán hàng hoá, tăng lợi nhuận, góp phần tăng sức cạnh tranh về hàng hoá trên thị trờng, tạo thế đứng vững chắc trên thị trờng Vì thế phân tích chi phí và giá thành trên nhiều góc độ là rất cần thiết, giúp cho doanh nghiệp thấy rõ năng lực của mình với một lợng vốn nhất định Tính toán và lập ra một kế hoạch giá thành sát thực, định hớng quản lý giá thành có hiệu quả là nội dung cần thết của công tác quản trị giá thành, là yếu tố quyết định trong việc tăng cờng quản trị doanh nghiệp.