101 Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục tại sản cố định trong kiểm toán BCTC do Công ty dịch vụ Tư vấn tài chính, Kế toán và Kiểm toán thực hiện
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển, các rào cản
về kinh tế đang dần được giảm bớt nên các Công ty và tập đoàn lớn của nước ngoài
đã và đang đầu tư rất nhiều vào nước ta Do vậy, cơ hội và thách thức đối với cácdoanh nghiệp của Việt Nam hiện nay ngày càng nhiều Điều này đòi hỏi các Công
ty phải có sự năng động và nhạy bén đối với các biến đổi của thị trường nếu không
sẽ không thể tồn tại và phát triển trước sự đổ bộ của các tập đoàn kinh tế với quy
có mối liên hệ với nhiều khoản mục khác trong BCTC nên có ảnh hưởng trọng yếu
đến BCTC Do vậy, do vậy em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC do Công ty dịch vụ Tư vấn Tài chính,
Kế toán và Kiểm toán thực hiện” làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 2Qua việc thực hiện luận văn này em muốn tìm hiểu sâu hơn về quy trình kiểmtoán khoản mục TSCĐ trên cả phương diện lý thuyết và thực tế Từ đó, em muốnđóng góp một số ý kiến để hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ tại AASC
Nội dung của luận văn tốt nghiệp của em gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan về Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán
Phần 2: Thực trạng kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC tại AASC Phần 3: Một số đánh giá và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ tại AASC.
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH KIỂM
TOÁN TSCĐ TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1.1 Khoản mục TSCĐ với vấn đề kiểm toán
1.1.1 Đặc điểm của TSCĐ
TSCĐ: Là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài
Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC những tài sản thỏa mãn những yêu cầu sauđược coi là TSCĐ:
Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó:Lợi ích kinh tế được biểu hiện thông qua việc tăng doanh thu, lợi nhuận, giảm chiphí sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động khi doanh nghiệp quản lý vàdùng TSCĐ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguyên giá tài sản được xác định một cách đáng tin cậy: Yêu cầu này đòi hỏimỗi TSCĐ được doanh nghiệp ghi nhận đều phải có căn cứ khách quan như: hợpđồng mua TSCĐ, biên bản bàn giao TSCĐ…và các chi phí tính vào nguyên giá làhợp lý
Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
Có giá trị theo quy định hiện hành ( từ 10 triệu đồng trở lên)
Trang 41.1.2 Nguyên tắc quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp
Việc quản lý TSCĐ trong mỗi doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất lànhiệm vụ vô cùng quan trọng Do vậy, việc quản lý cần phải tuân theo một sốnguyên tắc sau:
- Xác lập đối tượng ghi TSCĐ
- Mọi TSCĐ trong doanh nghiệp phải có hồ sơ riêng
- Mỗi TSCĐ phải được quản lý theo 3 chỉ tiêu giá trị là: Nguyên giá, giá trị haomòn và giá trị còn lại
- Doanh nghiệp cần xây dựng quy chế quản lý TSCĐ, như: Xác định rõ quyềnhạn, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong việc quản lý, bảo quản, sử dụng TSCĐ
- Quản lý những TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinhdoanh như các TSCĐ bình thường khác
- Vào cuối mỗi năm tài chính, doanh nghiệp cần phải định kỳ kiểm kê TSCĐ.Tất cả các trường hợp phát hiện thừa, thiếu đều phải lập biên bản, tìm rõ nguyênnhân và có biện pháp xử lý phù hợp với các quy định của doanh nghiệp cũng nhưquy định của Nhà nước
1.1.3 Vai trò của khoản mục TSCĐ trong doanh nghiệp
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thếgiới, các tập đoàn kinh tế lớn với tiềm lực kinh tế dồi dào đang từng bước thâmnhập thị trường Việt Nam Do vậy, sự cạnh tranh đang ngày một khốc liệt đòi hỏicác doanh nghiệp Việt Nam phải sử dụng một cách hiệu quả từng đồng vốn
Trang 5Việc sử dụng vốn đầu tư cho TSCĐ càng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tínhtoán và sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn nữa Do TSCĐ là loại TSCĐ có giá trị lớn,tốc độ quay vòng vốn chậm Do vậy đầu tư TSCĐ luôn là khoản đầu tư quan trọngđối với mỗi doanh nghiệp Trong mỗi doanh nghiệp, TSCĐ phải phù hợp với cơ cấungành nghề kinh doanh của doanh nghiệp đó Đối với các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực công nghiệp nặng tỉ trọng cũng như mức độ ảnh hưởng đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp lớn hơn so với các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ và thương mại Do vậy, các doanh nghiệp cầnphải đầu tư TSCĐ một cách hợp lý với ngành nghề kinh doanh của mình Việcquyết định đầu tư, thay mới TSCĐ còn phụ thuộc vào khả năng tài chính của mỗidoanh nghiệp Do TSCĐ có giá trị lớn và tốc độ thu hồi chậm nên doanh nghiệpphải đảm bảo việc mua TSCĐ không ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động liêntục của doanh nghiệp
Mặc dù vậy, TSCĐ là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động,giảm giá thành sản suất, nâng cao khả năng cạnh tranh và đem lại lợi ích to lớn chodoanh nghiệp nếu được quản lý hợp lý và sử dụng hiệu quả Do vậy, các doanhnghiệp cần phải chú trọng trong quá trình quyết định đầu tư
1.1.4 Phân loại TSCĐ
Trong mỗi doanh nghiệp, để quản lý và sử dụng hiệu quả TSCĐ là rất cần thiết
Do vậy, doanh nghiệp cần phải phân loại TSCĐ một cách khoa học và hợp lý Hiệnnay, việc phân loại TSCĐ được tiến hành theo nhiều tiêu thức khác nhau Trong đó,những tiêu thức phân loại quan trọng bao gồm:
Phân loại theo hình thái biểu hiện;
Phân loại theo quyền sở hữu TSCĐ;
Phân loại theo tình hình sử dụng TSCĐ
Trang 61.1.4.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo hình thái biểu hiện TSCĐ được chia thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vôhình
TSCĐ hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất TSCĐ hữu hình có thể
có kết cấu độc lập hoặc nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ kết hợp với nhau thành một
hệ thống để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định, nếu thiếu bất kì bộphận nào thì cả hệ thống đó không hoạt động được TSCĐ hữu hình được chi tiếtthành các nhóm sau:
Trang 71.1.4.2 Phân loại theo quyền sở hữu TSCĐ
Tiêu thức phân loại này dựa trên cơ sở quyền sở hữu của doanh nghiệp đối vớiTSCĐ Theo tiêu thức phân loại này TSCĐ được chia làm 2 loại là TSCĐ củadoanh nghiệp và TSCĐ thuê ngoài:
TSCĐ của doanh nghiệp: Là những TSCĐ do doanh nghiệp mua sắm, xây dựng,nhận biếu tặng, viện trợ…Đối với những TSCĐ này doanh nghiệp có quyền bán,thanh lý, sử dụng, cho thuê…theo các quy định hiện hành của pháp luật
TSCĐ thuê ngoài: Là TSCĐ mà doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong mộtkhoảng thời gian nhất định theo hợp đồng thuê mà không có quyền sở hữu Theophương thức cho thuê thì có hai loại cho thuê là: thuê hoạt động và thuê tài chính.Nhưng theo các tiêu chuẩn của TSCĐ cố định thì chỉ có thuê tài chính mới được coi
Thời hạn thuê tài sản tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụngkinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu;
Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanhtoán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê;
Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng
sử dụng không cần có sự thay đổi sửa chữa nào
Trang 8Hợp đồng thuê tài sản được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu thỏa mãn ít nhấtmột trong ba điều kiện:
Nếu bên thuê hủy hợp đồng và đền bù tổn thất tài chính phát sinh liênquan đến việc hủy hợp đồng cho bên thuê;
Thu nhập hoặc tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của giá trị còn lại củatài sản thuê gắn với bên thuê;
Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết han hợp đồngthuê với tiền thuê thấp hơn giá thuê thị trường
1.1.4.3 Phân loại theo mục đích và tình hình sử dụng
Việc phân loại TSCĐ theo tiêu thức này được chia thành bốn loại:
TSCĐ dùng cho kinh doanh;
TSCĐ dùng cho hành chính;
TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi;
TSCĐ chờ xử lý
Trang 91.1.5 Tính giá TSCĐ
1.1.5.1 Nguyên giá của TSCĐ
Việc xác định nguyên giá TSCĐ cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc sau:
- Thời điểm xác định nguyên giá là thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng
sử dụng đối với TSCĐ hữu hình hay thời điểm đưa TSCĐ vào sử dụng theo dự tínhđối với TSCĐ vô hình
- Giá trị thực tế của TSCĐ phải dựa trên những căn cứ khách quan có thể kiểmsoát được
- Giá trị thực tế của TSCĐ phải xác định dựa trên chi phí hợp lý dồn tích trongquá trình hình thành TSCĐ
- Các khoản chi phí liên quan đến TSCĐ phát sinh sau khi TSCĐ được đưa vào
sử dụng sẽ được tính vào nguyên giá nếu chúng làm tăng giá trị hữu ích của TSCĐ.Một số phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ:
- TSCĐ hình thành do mua sắm
NG = Gt + Tp + Pt + Lv – Tk – Cm – Th
Trong đó:
NG: Nguyên giá TSCĐ
Gt: Giá thanh toán cho nhà cung cấp TSCĐ ( tính theo giá thu tiền 1 lần)
Tp: Phí tổn trước khi dùng ( Vận chuyển, lắp đặt, chạy thử )
Lv: Lãi vay phải trả trước khi đưa TSCĐ vào sử dụng
Tk: Thuế trong giá mua hoặc giảm giá được hưởng
Cm: Chiết khâu thương mại hoặc giảm giá được hưởng
Th: Giá trị sản phẩm, dịch vụ thu được khi chạy thử
Trang 10- Nguyên giá TSCĐ hình thành do XDCB theo phương thức giao thầu: Là giáquyết toán công trình xây dựng theo quy định tại quy chế quản lý, đầu tư và xâydựng hiện hành cộng với lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do tự xây dựng: Là giá thành thực tế của TSCĐcộng chi phí lắp đặt chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan tính đến thời điểmđưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
- Nguyên giá TSCĐ được hình thành do điều chuyển: Là giá trị còn lại trên sổcủa đơn vị điều chuyển, hoặc giá trị theo đánh gía thực tế của hội đồng giao nhận vàcác chi phí trực tiếp liên quan mà bên nhận TSCĐ phải chịu cho đến khi đưa TSCĐvào trạng thái sẵn sàng sử dụng
- Nguyên giá TSCĐ hình thành do biếu tặng, nhận vốn góp liên doanh, nhận lạivốn góp liên doanh, hoặc phát hiện thừa thì nguyên giá được xác định bằng giá trịthực tế của hội đồng đánh giá và các chi phí bên nhận phải chi cho đến khi đưaTSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
- Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính: được tính bằng giá trị hợp lý và các phí tổntrước khi dùng
Giá trị hợp lý: Là giá trị có thể trao đổi giữa các bên có đầy đủ sự hiểu biết trọng
sự trao đổi ngang giá
Giá trị hợplý của TSCĐ thuê cao hơn giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiềnthuê tối thiểu thì ghi theo nhận nguyên giá theo giá trị hiện tại của khoản thanh toántiền thuê tối thiểu
1.1.5.2 Giá trị hao mòn và khấu hao TSCĐ
Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng do sự
ăn mòn trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc do tiến bộkhoa học kĩ thuật làm cho TSCĐ trở nên lỗi thời
Trang 11Hao mòn TSCĐ có tính khách quan, do vậy, doanh nghiệp cần tính toán và phân
bổ hợp lý nguyên giá của TSCĐ vào chi phí kinh doanh trong từng kì hạch toán vàgọi là khấu hao TSCĐ Việc phân bổ khấu hao vào chi phí không phản ánh đầy đủmức độ hao mòn của TSCĐ trên thực tế Nhưng do việc xác định giá trị hao mòncủa TSCĐ rất khó khăn nên trong kế toán giá trị hao mòn được tính bằng số khấuhao lũy kế đến thời điểm xác định
Hiện nay, theo chế độ tài chính hiện hành, các doanh nghiệp có thể tính khấuhao theo ba phương pháp:
Khấu hao đường thẳng
Theo phương pháp này, mức khấu hao năm của 1 TSCĐ (Mkhn) được tính theocông thức sau:
Mkhn = Nguyên giá của TSCĐ × Tỷ lệ khấu hao năm
Trong đó:
Số năm sử dụng dự kiến
Khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh
Thường áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thường xuyên đổi mớicông nghệ và TSCĐ thỏa mãn 2 điều kiện sau:
+ Là TSCĐ đầu tư mới
+ Là máy móc, thiết bị, dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm
Theo phương pháp này, mức khấu hao năm (Mkhn) của TSCĐ được xác địnhtheo công thức:
Mkhn = Giá trị còn lạicủa TSCĐ × Tỷ lệ khấu hao nhanh
Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức:
Tỷ lệ khấu hao nhanh = T ỷ l ệ k h ấ u h a o T S C Đ × H ệ s ố
Trang 12điều chỉnhTheo phương pháp đường thẳng
Hệ số điều chỉnh xác định theo số năm sử dụng TSCĐ sau:
Thời gian sử dụng TSCĐ Hệ số điều chỉnh (lần)
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t≤ 6 năm) 2,0
Khi khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần bằng hoặc thấphơn mức khấu hao bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại củaTSCĐ thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chiacho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ
Khấu hao theo số lượng sản phẩm
Phương pháp này chỉ áp dụng đối với các máy móc thiết bị đáp ứng các yêu cầusau:
- Trực tiếp liên quan đến sản xuất sản phẩm;
- Xác định được tổng số lượng khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suấtthiết kế của TSCĐ;
- Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính lớn hơn hoặcbằng 50% công suất thiết kế của TSCĐ
Theo phương pháp này, mức khấu hao tháng của TSCĐ được tính theo côngthức:
Trong đó:
Mức trích khấu hao bình quân
= Nguyên giá của TSCĐTính cho một đơn vị sản phẩm Sản lượng theo công suất thiết kế
Trang 14Mức trích khấu hao năm của TSCĐ sẽ bằng tổng mức trích khấu hao của 12tháng trong năm đó.
1.1.5.3 Giá trị còn lại của TSCĐ
Giá trị còn lại của TSCĐ là giá trị thực tế của TSCĐ tại một thời điểm nhất định.Giá trị còn lại của TSCĐ chỉ được xác định khi TSCĐ được đem ra bán trên thịtrường Về phương diện kế toán, giá trị còn lại của TSCĐ được xác bằng hiệu sốgiữa nguyên giá và giá trị hao mòn lũy kế đến một thời điểm xác định Do vậy, giátrị còn lại trên sổ kế toán mang tính chủ quan của doanh nghiệp
Mối quan hệ của ba chỉ tiêu giá của TSCĐ được thể hiện bởi công thức:
bộ hồ sơ TSCĐ phải bao gồm đầy đủ các chứng từ liên quan để chứng minh TSCĐthực sự thuộc về doanh nghiệp, giá trị được xác định một cách hợp lý và có nguồngốc rõ ràng bao gồm: “Hợp đồng”, “hóa đơn mua TSCĐ ”, “biên bản giao nhận”,
“tài liệu kĩ thuật”, “giấy bảo hành”…Dựa vào hồ sơ TSCĐ, kế toán TSCĐ mở “thẻTSCĐ” để theo dõi chi tiết từng đối tượng, thẻ TSCĐ phải có xác nhận của kế toántrưởng đơn vị Thẻ TSCĐ sẽ được lưu tại phòng kế toán trong suốt thời gian sửdụng TSCĐ Thẻ TSCĐ là cơ sở để kế toán ghi vào “ sổ TSCĐ ”, sổ TSCĐ sẽ đượclập một quyển chung cho toàn doanh nghiệp và mỗi bộ phận sử dụng TSCĐ mộtquyển
1.1.62 Tài khoản sử dụng
Trang 15TK 211: TSCĐ cố định hữu hình
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ hữu hình tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ hữu hình giảm trong kì
TSCĐ được chi tiết thành các loại TSCĐ sau:
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính giảm trong kì
TK213: TSCĐ vô hình
Bên nợ: Nguyên giá TSCĐ vô hình tăng trong kì
Bên có: Nguyên giá TSCĐ vô hình giảm trong kì
TSCĐ vô hình được chi tiết thành các loại TSCĐ sau:
Trang 16TK 2138: TSCĐ vô hình khác
1.1.6.3 Hạch toán TSCĐ
Sơ đồ 1.1 : Hạch toán tổng hợp tăng TSCĐ
Chi phí xd,lắp đặt, triển khai
Giá mua vào và phí tổn của TSCĐ không qua lắp đặt
Thuế GTGT được khấu trừ (nếu có)
TSCĐ hình thành qua xd lắp đặt, triển khai
Nhận quà biếu, quả tặng, viện trợ không hoàn lại bằng TSCĐ Nhà nước cấp hoặc nhận vốn góp liên doanh bằng TSCĐ
Thuế GTGTnằm trong nợ gốc
TK342
Nhận TSCĐ thuê TSCĐ
TK138
Nhận lại vốn góp liên doanh bằng TSCĐ
TSCĐ thừa không rõ nguyên nhân TK3381
Trang 17Sơ đồ 1.2: Hạch toán tổng hợp giảm TSCĐ
Trong đó: CL: chênh lệch đánh giá lại TSCĐ
CL CL
Trang 181.2 Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán BCTC
Khoản mục TSCĐ là khoản mục thường có ít nghiệp vụ phát sinh trong năm tàichính Tuy nhiên, quy mô của các nghiệp vụ luôn rất lớn, do vậy các biến độngTSCĐ ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.Chính vì vậy, KTV và Công ty kiểm toán luôn coi kiểm toán TSCĐ là một trongnhững phần hành kiểm toán quan trọng của kiểm toán BCTC
1.2.1 Vai trò kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC
Kiểm toán TSCĐ là một bộ phận quan trọng trong kiểm toán BCTC trong hầuhết các loại hình doanh nghiệp bởi giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài của khoảnmục TSCĐ Đặc biệt trong bối cảnh nước ta đã gia nhập WTO, mỗi doanh nghiệpcần phải tích kiệm và sử dụng hiệu quả từng đồng vốn Do vậy, KTV cần kiểm tra
và cung cấp những thông tin chính xác về tình hình sử dụng TSCĐ cho các nhàquản lý, nhà đầu tư và đưa ra những kiến nghị hợp lý cho doanh nghiệp
Trong một kì kế toán, số lượng các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh không nhiềunhưng có giá trị lớn và liên quan đến nhiều khoản mục trên BCTC Do vậy, nếu xảy
ra sai phạm sẽ ảnh hưởng lớn đến BCTC cũng như tình hình hoạt động của doanhnghiệp Xây dựng quy trình kiểm toán TSCĐ rất chặt chẽ và có tính ứng dụng caovới nhiều loại hình doanh nghiệp tuân thủ quy trình kiểm toán chung của kiểm toánBCTC và các yêu cầu về chất lượng kiểm toán là đòi hỏi cấp thiết đối với các Công
ty kiểm toán
Trang 191.2.2 Mục tiêu kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC
Kiểm toán TSCĐ là một bộ phận của kiểm toán BCTC, do vậy, mục tiêu kiểmtoán của khoản mục TSCĐ cũng hướng đến mục tiêu chung của kiểm toán BCTC làgiúp KTV và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của BCTCtrên những khía cạnh trạnh trọng yếu, sự tuân thủ pháp luật liên quan và sự tuân thủcác chuẩn mực kế toán hiện hành Mục tiêu kiểm toán gồm 6 mục tiêu chung, đốivới khoản mục TSCĐ 6 mục tiêu chung này được cụ thể hóa thành 6 mục tiêu đặcthù:
Trang 20MỤC TIÊU
KIỂM TOÁN
CHUNG
MỤC TIÊU KIỂM TOÁN ĐẶC THÙ KHOẢN MỤC TSCĐ
Tình hiện hữu Các TSCĐ được ghi vào sổ là có thật
Các nghiệp vụ tăng, giảm, khấu hao TSCĐ được ghi nhận trong
kỳ đều có căn cứ ghi sổ hợp lýTính đầy đủ Các nghiệp vụ tăng, giảm khấu hao phát sinh trong kỳ đều được
ghi sổChi phí và thu nhập từ hoạt động thanh lý, nhượng bán TSCĐ đều được ghi sổ đầy đủ
Quyền và
nghĩa vụ Đơn vị thực sự sở hữu, kiểm soát các TSCĐ được ghi sổCác TSCĐ nhận giữ hộ, không thuộc sở hữu của doanh nghiệp
đều được theo dõi
Trang 211.2.2 Quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ
Quy trình kiểm toán TSCĐ trong kiểm toán BCTC được thực hiện theo ba bướcnhư trong quy trình kiểm toán BCTC nói chung Nhưng kiểm toán khoản mụcTSCĐ được tiếp cận theo khoản mục Ba bước kiểm toán khoản mục TSCĐ baogồm:
Chuẩn bị kiểm toán;
Thực hiện kiểm toán;
Kết thúc kiểm toán
1.2.2.1 Chuẩn bị kiểm toán
Khảo sát đánh giá khách hàng tiềm năng và thỏa thuận cung cấp dịch vụ
Trong bước này, KTV cần thu thập các thông tin chung về khách lĩnh vực hoạtđộng, loại hình kinh doanh, hình thức sở hữu, công nghệ sản xuất, tổ chức bộ máyquản lý…Từ đó đánh giá, xem xét để đưa ra quyết định thực hiện kiểm toán Saukhi khảo sát, đánh giá khách hàng nếu chấp nhận khách hàng Công ty kiểm toántiến hành đàm phán về giá phí kiểm toán, thời gian thực hiện kiểm toán… và kí hợpđồng với khách hàng
Lập kế hoạch kiểm toán
Việc lập kế hoạch kiểm toán sẽ được phân thành các bước:
Lập kế hoạch: Dựa trên những hiểu biết về khách hàng cũng nhưngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của khách hàng, KTV xác định mức độ ảnh hưởngcủa khoản mục TSCĐ đối với BCTC Qua đó, KTV tiến hành lập kế hoạch kiểm
toán nhằm đảm bảo chất lượng với chi phí thấp nhất
+ Hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống KSNB đối với khoản mục TSCĐTrong bước này, KTV thu thập các thông tin liên quan đến các bộ phận của kiểmsoát nội bộ như: các thủ tục kiểm soát, các quy định về kế toán đối với TSCĐ củađơn vị…
+ Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm toán TSCĐ
Trang 22Đánh giá rủi ro là bước công việc quan trọng nhằm giới hạn các công việc cầnthực hiện của cuộc kiểm toán Dựa trên các thông tin thu thập được từ hệ thốngkiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán, KTV đánh giá mức rủi ro kiểm soát của đơn vị.Song song với đó, KTV đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng của khoản mục TSCĐ dựavào các thông tin chung về khách hàng như loại hình kinh doanh, tỉ trọng TSCĐtrên tổng tài sản để đánh giá rủi ro tiềm tàng Từ đó, KTV mức độ rủi ro phát hiệncần đạt được theo mô hình đánh giá rủi ro.
+ Xác định mức trọng yếu
Việc xác định mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC tuy thuộc vào từng loại hìnhdoanh nghiệp và sự phán đoán nghề nghiệp của KTV Căn cứ để xác định mứctrọng yếu thường được lựa chọn theo chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận
Sau khi đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC, KTV tiến hành phân bổmức trọng yếu đó cho khoản mục TSCĐ Đây là công việc đòi hỏi KTV phải cókinh nghiệm và sự am hiểu lĩnh vực hoạt động của khách hàng Tuy vậy, mức độtrọng yếu chỉ là tương đối và KTV thường có xu hướng định mức trọng yếu thấphơn mức cần thiết để tăng khả năng phát hiện các sai sót
Lập chương trình kiểm toán: Là bước công việc nhằm chi tiết kế hoạch đãlập như: bổ sung cơ sở dẫn liệu, xác định và phân bổ mức trọng yếu, phân côngcông việc cụ thể cho từng người trong nhóm kiểm toán Đây cũng là phương tiệntheo dõi, ghi chép và kiểm tra tình hình thực hiện cuộc kiểm toán
1.2.2.2 Thực hiện kiểm toán
Đây là giai đoạn thực hiện các công việc đã nêu trong chương trình kiểm toánbằng:
Thử nghiệm kiểm soát;
Thủ tục phân tích;
Kiểm tra chi tiết
Trang 23Thử nghiệm kiểm soát
Từ những hiểu biết về hệ thống KSNB của khách hàng và những đánh giá banđầu về rủi ro kiểm soát, KTV tiến hành thiết lập các thủ tục kiểm toán thích hợp chokhoản mục TSCĐ nhằm điều chỉnh mức độ rủi ro kiểm toán và xác định phạm vicủa các trắc nghiệm trực tiếp số dư Các thủ tục kiểm toán viên cần thực hiện:
Xem xét các chứng từ gốc với sổ nhật ký, sổ cái TSCĐ đối với những TSCĐ cógiá trị lớn hay phát sinh ngoài dự toán để đảm bảo các nghiệp vụ liên quan đếnTSCĐ thực sự phát sinh
Đối chiếu hợp đồng, biên bản và chứng từ liên quan với sổ nhật ký để đảm bảocác nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ phát sinh được ghi nhận đầy đủ
Xem xét việc phê duyệt có phù hợp với các chính sách của Công ty hay không.Xem xét dấu hiệu phê duyệt trên các chứng từ
So sánh ngày tháng hợp đồng mua TSCĐ, hóa đơn của người bán với ngàytháng ghi sổ của TSCĐ đó để đảm bảo các nghiệp vụ được ghi nhận kịp thời
Thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích được tiến hành nhằm đánh giá sự phù hợp của cơ cấu TSCĐtrên tổng tài sản của doanh nghiệp, mức độ tăng giảm giữa các năm nhằm khoanhvùng trọng yếu của các nghiệp vụ Đây là bước công việc đòi hỏi trình độ cũng như
sự am hiểu của KTV về đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp Nếu áp dung tốt thủtục phân tích, KTV có thể giảm bớt các công việc cần thực hiện khi kiểm tra chitiết Tùy vào từng loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động mà KTV sử dụng các
tỷ lệ, tỷ suất khác nhau Ba loại phân tích cơ bản mà KTV thường dùng trong kiểmtoán TSCĐ là:
Đánh giá tính hợp lý: So sánh giữa kế hoạch đầu tư TSCĐ với thực tế tăng trong
kì, chi phí sửa chữa trích trước so với chi phí thực tế…
Phân tích xu hướng: Phân tích biến động TSCĐ, khấu hao giữa các kì kế toán,phân tích biến động sửa chữa TSCĐ giữa các kì
Trang 24Phân tích tỷ suất: Các tỷ suất được kiểm toán viên sử dụng tron kiểm toán TSCĐnhư: tỷ suất TSCĐ trên tổng tài sản, tỷ suất giữa chi phí khấu hao trên tổng tài sản,
tỷ suất giữa doanh thu với tổng giá trị TSCĐ, tỷ suất giữa TSCĐ với vốn chủ sởhữu…
Thủ tục kiểm tra chi tiết
Thủ tục kiểm tra chi tiết là việc KTV tiến hành thu thập các ghi chép về số sách
kế toán của doanh nghiệp, các chứng từ liên quan đến các doanh động của doanhnghiệp từ đó KTV sẽ thực hiện các bước công việc kiểm toán tuy theo các khoảnmục cụ thể để đưa ra các kết luận cho các vấn đề kiểm toán
Đối với khoản mục TSCĐ, KTV viên sẽ tiến hành kiểm toán theo các bướcchính sau:
Kiểm tra tổng hợp số dư khoản mục TSCĐ
Đối với những cuộc kiểm toán khách hàng mới, KTV thu thập các thông tin về
số liệu số dư đầu kì của TSCĐ và các bằng chứng về quyền sở hữu của doanhnghiệp đối với TSCĐ Đối với các cuộc kiểm toán trong các năm tiếp theo, số liệunày sẽ được KTV lấy từ hồ sơ năm trước, do vậy, KTV chỉ cần tập trung kiểm tra sốphát sinh trong năm tài chính được kiểm toán
Công việc đầu tiên khi kiểm toán mỗi khoản mục, KTV phải đảm bảo rằng các
số liệu trên sổ chi tiết phải khớp với các số liệu trên sổ tổng hợp và các bảng khai tàichính
Sau đó, KTV tiến hành lập bảng tổng hợp số TSCĐ từ số dư đầu kì, số phát sinhtrong kì để tính ra số dư cuối kì và so sánh với BCTC để đảm bảo rằng khách hàng
đã phản ánh đúng số dư khoản mục TSCĐ
Kiểm tra các nghiệp vụ tăng TSCĐ trong kì
Trang 25Khi kiểm tra các nghiệp vụ tăng TSCĐ, KTV cần chú ý:
Kiểm tra sự phê chuẩn đối với mọi TSCĐ tăng trong kì và các chứng từ liênquan để đảm bảo các TSCĐ được đưa vào sử dụng thực thuộc quyền sở hữu kiểmsoát của đơn vị
Sau đó, KTV chọn mẫu để kiểm tra các chứng từ liên quan đến việc hình thànhTSCĐ nhằm phát hiện những khoản chi cần vốn hóa nhưng không được ghi nhậnhoặc ngược lại để phát hiện những khoản không được phép nhưng vẫn ghi tăngnguyên giá TSCĐ
Do TSCĐ được hình thành từ XDCB thường phức tạp do có nhiều nghiệp vụnhư mua nguyên vật liệu, tiền công…nên tiềm ẩn rất nhiều khả năng sai sót Vì thế,KTV nên chú trọng vào những TSCĐ loại này, đặc biệt là các TSCĐ có giá muahoặc quyết toán xây dựng cơ bản cao hơn dự toán
Xem xét tính chính xác và hợp lý trong việc xác định nguyên giá TSCĐ
Điều tra mọi khoản ghi tăng mà không tăng hiện vật, thường là những khoảnnâng cấp TSCĐ để đảm bảo các khoản tăng thực sự nâng cao công suất máy mócthiết bị hay kéo dài tuổi thọ TSCĐ
Kiểm tra các nghiệp vụ giảm TSCĐ trong kì
Mục đích của bước kiểm toán này chủ yếu là xem xét khả năng TSCĐ đã thanh
lý, nhượng bán trong kì nhưng không được hạch toán vào sổ sách kế toán haykhông KTV có thể lập hoặc sử dụng bảng kê các nghiệp vụ giảm TSCĐ trong kì và
so sánh số tổng hợp với giá trị tổng cộng các nghiệp vụ giảm trên sổ kế toán, xemxét mức khấu hao từng TSCĐ và mức khấu hao lũy kế, từ đó tính ra giá trị còn lạicủa TSCĐ
Đối với các TSCĐ cùng loại, nếu trong kì có mua mới TSCĐ thì KTV cần xemxét TSCĐ cũ có được đem đi thanh lý, nhượng bán hay không
Kiểm tra các nghiệp vụ thanh lý TSCĐ có được phê duyệt đầy đủ hay không, cóthành lập hội đồng thanh lý hay không
Trang 26 Kiểm tra khấu hao TSCĐ trong kỳ.
Trước tiên, KTV cần phải đánh giá phương pháp khấu hao của đơn vị có phùhợp với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không
Sau đó, KTV cần chọn mẫu và tính lại mức khấu hao dựa trên phương phápkhấu hao của khách hàng và lần theo số liệu của các TSCĐ đó trên sổ sách kế toánxem nó có được tính toán và hạch toán hợp lý hay không
KTV cũng cần phải thực hiện việc kiểm tra các khoản ghi giảm khấu hao với cácnghiệp vụ thanh lý nhượng bán TSCĐ trong kì
KTV cũng cần phải xem xét việc phân bổ khấu hao cho các bộ phận sử dụngTSCĐ có hợp lý không và xem xét chi phí khấu hao có được đơn vị ghi nhận theođúng chế độ kế toán hiện hành hay không
Trong trường hợp TSCĐ được nâng cấp dẫn đến thay đổi mức khấu hao, KTVcần đánh giá tính đúng đắn của giá trị nguyên giá tăng và mức trích khấu hao thayđổi
1.2.2.3 Kết thúc kiểm toán
Từ những kết luận đã được đưa ra trong quá trình kiểm toán KTV sẽ tổng hợp vàđưa ra kết luận kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán cho khách hàng Nhằmđảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán Trưởng nhóm và các thành viên trong banlãnh đạo Công ty kiểm toán sẽ tiến hành soát xét giấy tờ làm việc của các KTV đểkhẳng định các sai phạm đã có đầy đủ bằng chứng, các bước công việc đã được tiếnhành theo đúng quy trình của Công ty kiểm toán và phù hợp các chuẩn mực kiểmtoán hiện hành
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TOÁN TSCĐ TRONG
KIỂM TOÁN BCTC TY AASC 2.1 Tổng quan về Công ty dịch vụ Tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.1.1 Các giai đoạn phát triển của Công ty AASC
Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán có tên giao dịch
quốc tế là Auditing and accounting Financial Consultancy Service Company, gọi tắt là AASC Trụ sở chính đặt tại số 1, Lê Phụng Hiểu, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội AASC là một trong hai tổ chức kiểm toán đầu tiên và lớn nhất tại Việt Nam
hoạt động lập độc trong lĩnh vực dịch vụ kế toán, kiểm toán, và tư vấn tài chính,thuế Sự phát triển của Công ty được chia làm 3 giai đoạn với 3 tên gọi
Giai đoạn 1: Từ 13/5/1991 đến tháng 9 năm 1993
Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán tiền thân làCông ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán là doanh nghiệp Nhà nướctrực thuộc bộ Tài chính được thành ngày 13 tháng 5 năm 1991 theo Quyết Định số
164 TC/QĐ/TCCB của bộ trưởng bộ Tài chính với tên ban đầu là Công ty Dịch vụ
kế toán tên giao dịch tiếng anh là Accounting Service Company – ASC Ngày 14
tháng 9 năm 1991 Công ty ASC chính thức hoạt động
Ngày sau khi hoạt động Công ty liên tiếp mở các chi nhánh tại những thành phốlớn:
Tháng 3 năm 1992 mở chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 4 năm 1993 mở các chi nhánh tại Vũng Tàu và Đà Nẵng
Trong những ngày đầu Công ty hoạt động đất nước ta đang trong giai đoạn đầucủa cộng cuộc đổi mới, công tác kế toán còn rất non yếu nên Công ty chủ yếu chútrọng vào lĩnh vực kế toán đặc biệt là giúp các doanh nghiệp lập và ghi sổ kế toán,
Trang 28lập Báo cáo tài chính
Giai đoạn 2: Từ 14 tháng 9 năm 1993 đến tháng 7 năm 2007
Vào năm 1993, nhận thấy sự cần thiết của kiểm toán độc lập tại Việt Nam và sựlớn mạnh về đội ngũ và trình độ năng lực của các nhân viên, ngày 14 tháng 9 năm
1993 Bộ trưởng bộ tài chính đã ban hành Quyết định số 639/TC/QĐ/TCCB, chophép Công ty Dịch vụ Kế toán triển khai thêm lĩnh vực dịch vụ kiểm toán và đổi tên
thành “Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán”- AASC Từ đó
đến nay, cùng với sự chuyển mình của nền kinh tế và hệ thống pháp luật Công ty đãtiến hành cung cấp rất nhiều dịch vụ mới như hỗ trợ đào tạo, tuyển dụng và côngnghệ thông tin
Tháng 3 năm 1995, chi nhánh AASC tại thành phố Hồ Chí Minh tách ra thànhlập Công ty tư vấn Tài chính và Kiểm toán Sài Gòn(AFC Sài Gòn).Để đảm bảo tìnhhình hoạt động tại thị trường phía Nam, ngày 13 tháng 3 năm 2007, Công ty thànhlập văn phòng đại diện mới Tháng 5 năm 1998 văn phòng này được nâng cấp nênthành chi nhánh Công ty tại thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, chi nhánh AASCtại Đà Nẵng kết hợp với chi nhánh Công ty Kiểm toán Việt Nam(VACO) tại đâythành lập Công ty Tư vấn và Kiểm toán(A&C) Do nhu cầu mạnh mẽ của nền kinh
tế Công ty tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động của mình bằng việc lập thêm các chinhánh và các văn phòng đại diện tại một số tỉnh, thành phố:
Ngày 14 tháng 4 năm 1995, Công ty đã thành lập chi nhánh tại ThanhHóa
Năm 1998 mở chi nhánh tại Quảng Ninh
Năm 2003 văn phòng đại diện tại Hải Phòng được nâng cấp nênthành chi nhánh Nhưng từ 31 tháng 12 năm 2004 chi nhánh tại HảiPhòng không hoạt động nữa
Giai đoạn 3: Tháng 7 năm 2007 đến nay.
Công ty đã chuyển đổi từ Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểmtoán là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc bộ Tài chính thành Công ty kiểm toán
Trang 29độc lập với tên gọi Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán(AASC) Cùng với sự chuyển đổi này Công ty đã chia tách ra làm ba Công ty
con tại thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hóa Trong đó, trụ sở chính tại
Hà Nội lấy tên là Công ty TNHH Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán Hiện nay, Công ty đã mở lại chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh và vănphòng đại diện Quảng Ninh.Tuy nhiên, đội ngũ công nhân viên đã giảm đi rõ rết,chỉ còn 140 cán bộ công nhân viên trong đó có 39 kiểm toán viên nên ảnh hưởng rấtlớn đến hoạt động của Công ty Do vậy đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của các cán bộ,công nhân viên trong Công ty
Trải qua hơn 16 năm phát triển với nhiều lần chia tách, AASC đã đạt được
Năm 2005, AASC được nhận huân chương lao động hạng nhì do chủtịch nước trao tặng
Ngay sau khi chia tách AASC cũng vừa được ủy ban Chứng khoán Nhà nướccho phép kiểm toán các Công ty niên yết trên hai sàn Chứng khoán Hà Nội vàThành phố Hồ chí Minh Bên cạnh đó, AASC còn là một trong 4 Công ty kiểm toánViệt Nam cùng với 4 Công ty kiểm toán quốc tế lớn đang hoạt động tại Việt Namtham gia kiểm toán các dự án tài trợ bởi các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thếgiới(WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á(ADB)
2.1.1.2 Các lĩnh vực hoạt động của Công ty
Chức năng chính của AASC là cung cấp các dịch vụ về tư vấn tài chính kế toán,thuế giúp doanh nghiệp có thể thiết lập hệ thống kế toán phù hợp và hiệu quả đốivới doanh nghiệp mình Bên cạnh đó AASC còn kiểm tra và đưa ra những đánh giátrung thực và hợp lý cho ban quản trị và các cổ đông Hiện nay, AASC đang cung
Trang 30 Giám định tài chính, kế toán;
Đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng;
Công nghệ thông tin;
Thẩm định giá
Dịch vụ kiểm toán
Được đưa vào cung cấp vào năm 1993, dịch vụ này ngày càng phát triển cả về
số lượng và chất lượng do nhu cầu của quá trình phát triẻn của nền kinh tế Sau gần
15 năm hoạt động lĩnh vực này được coi là hoạt động truyền thống và mang lạidoanh thu cao nhất cho Công ty Trong đó các loại hình kiểm toán do Công ty cungcấp cho đến nay báo cáo tài chính gồm:
Kiểm toán báo cáo tài chính;
Kiểm toán hoạt động của các dự án;
Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư các công trình xây dựng cơbản;
Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán xác định vốn, giá trị doanh nghiệp;
Kiểm toán các doanh nghiệp tham gia niêm yết trên thị trường chứngkhoán;
Kiểm toán tỉ lệ nội địa hóa;
Kiểm toán doanh nghiệp Nhà nước phục vụ công tác cổ phần và giảmđịnh các tài liệu tài chính kế toán
Trong các dịch vụ trên kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơbản được coi là thế mạnh của Công ty
Trang 31Dịch vụ kế toán
Dịch vụ kế toán là dịch vụ truyền thống đầu tiên của AASC từ ngày đầu thànhlập Sau hơn 16 năm hoạt động AASC hiện có đội ngũ chuyên viên tư vấn kế toándày dạn kinh nghiệm đã và đang cung cấp cho các khách hàng nhiều dịch vụ kế toánnhư:
Tư vấn mở và ghi sổ kế toán;
Tư vấn lập các báo cáo tài chính định kì;
Tư vấn xây dựng các mô hình tổ chức kế toán;
Trợ giúp chuyển đổi hệ thống kế toán và báo cáo tài chính;
Trợ giúp lựa chọn các chế độ kế toán áp dụng
Trên cơ sở lợi ích của khách hàng và tuân thủ luật pháp của Nhà nước Công ty
đã đáp ứng rất tốt nhu cầu của khách hàng góp phần khẳng định thương hiệu củaAASC trên thị trường
Dịch vụ tư vấn tài chính và quản trị kinh doanh.
Dịch vụ tư vấn tài chính và quản trị kinh doanh nhằm cung cấp cho khách hàng
có thể đưa ra các quyết định đầu tư, quản trị hiệu quả nhất đối với cá nhân, doanhnghiệp mình mà vẫn tuân thủ pháp luật do Nhà nước ban hành
Do đối tượng của tài chính và quản trị kinh doanh rất đa dạng về cả loạihình,quy mô và lĩnh vực kinh doanh nên các dịch vụ tư vấn cũng rất đa dạng, baogồm:
Tư vấn soạn thảo phương án đầu tư, đăng kí kinh doanh và thành lậpdoanh nghiệp mới;
Tư vấn kiểm kê định giá tài sản;
Tư vấn quyết toán vốn đầu tư;
Tư vấn tiến hành cổ phần hóa, niêm yết chứng khoán, sáp nhập haygiải thể;
Tư vấn tuân thủ các quy định pháp luật, chính sách tài chính
Trang 32Dịch vụ đào tạo và hỗ trợ tuyển dụng
Để đáp ứng nhu cầu cập nhật kiến thức cho nhân viên của các doanh nghiệp, đặcbiệt trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, là lĩnh vực thường xuyên có sự sửa đổi bổsung lớn Công ty đã nghiên cứu và tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức Với độingũ chuyên gia đầy kinh nghiệm và liên tục cập nhật kiến thức Công ty đã tổ chứcthành công rất nhiều lớp nâng cao kiến thức cho các nhân viên cả trong và ngoàiCông ty
Ngoài ra, Công ty còn cung cấp dịch vụ hỗ trợ tuyển dụng giúp khách hàng cóthể tìm kiến các ứng viên phù hợp nhất và về trình độ chuyên môn, đạo đức nghềnghiệp, trình độ giao tiếp…với chi phí thấp nhất
Dịch vụ công nghệ thông tin
Nắm bắt nhu cầu về sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý của các doanhnghiệp AASC đã xây dựng và cung cấp một số phần mềm kế toán và một số phầnmềm quản lý nhân sự, phần mền quản lý tài sản cố định, phần mềm quản lý côngvăn, quản lý doanh nghiệp cho các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp Với đội ngũ chuyên gia dày dạn kinh nghiệp và không ngừng tìm hiểu các lĩnhvực mới AASC đang duy trì các dịch vụ đã có với chất lượng ngày càng cao vànghiên cứu nhu cầu thị trường để đưa ra các lĩnh vực mới đặc biệt trong giai đoạnViệt Nam vừa ra nhập tổ chức thương mại thế giới( WTO)
2.1.1.3 Đặc điểm về kết quả kinh doanh của đơn vị trong những năm gần đây
Trang 33Thị trường và khách hàng của Công ty
Do tiến trình cổ phần hóa diễn ra rất nhanh chóng nên nhu cầu kiểm toán trở nêncấp thiết hơn, nên số lượng các Công ty kiểm toán ra đời ngày càng nhiều Hiệnnay, tại Việt Nam đã có trên 160 Công ty kiểm toán trong nước và quốc tế đanghoạt động Song với kinh nghiệm hơn 16 năm hoạt động cùng với đội ngũ chuyêngia kinh nghiệm AASC được đánh giá là một trong hai tổ chức kiểm toán lớn nhấttại Việt Nam hiện nay
Với chiến lược tiếp cận khách hàng nhanh chóng, chủ động Công ty đã liên tục
mở nhiều chi nhánh và văn phòng đại diện khắp cả nước, chủ động liên hệ vớikhách hàng và luôn luôn đặt chất lượng lên hàng đầu số lượng khách hàng của Công
ty ngày càng đông đảo Bên cạnh đó, do tiền thân là doanh nghiệp Nhà nước thựchiện rất nhiều cuộc kiểm toán cho các tổng Công ty, doanh nghiệp lớn nên Công ty
đã có rất nhiều mối quan hệ tốt với nhiều khách hàng lớn
Hiện nay, sau hơn 16 năm hoạt động Công ty đã có khoảng 1500 khách hàngtrong đó khách hàng thường xuyên có khoảng 500 khách hàng thuộc nhiều lĩnh vựctrên khắp cả nước Các khách hàng chủ yếu của AASC thường trong các lĩnh vực:
Ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính;
Năng lượng, dầu khí;
Viễn thông, điện lực;
Công nghiệp, nông nghiệp;
Giao thông, thủy lợi;
Ngoài ra, với chất lượng kiểm toán của mình AASC còn được các tổ chức quốc
tế lớn như Ngân hàng thế giới(WB), Ngân hàng phát triển Châu Á( ADB) chọn
Trang 34kiểm toán các dự án tài trợ của mình tại Việt Nam bên cạnh 3 tổ chức kiểm toán lớntrong nước và 4 tổ chức kiểm toán quốc tế lớn nhất tại Việt Nam.
Một số khách hàng lớn và thường xuyên của Công ty như: Công ty xi măngNghi Sơn, Tổng Công ty xi măng Việt Nam, Công ty cổ phần thiết bị bưu điện,Công ty liên doanh Vietsopetro, Công ty xây lắp điện I, Công ty liên doanhVINAPIPE… luôn đánh giá cao chất lượng cũng như thái độ làm việc của các nhânviên AASC
Kết quả kinh doanh của Công ty
Trải qua 16 năm trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, với đội ngũ nhân viên giàukinh nghiệm, chính sách thu hút, đạo tạo nhân viên ngay từ những sinh viên tạo ranguồn nhân lực ổn định, chất lượng cao đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng AASCthu được mức doanh thu tăng trưởng ổn định ở mức cao Hơn thế với chính sáchtiếp cận khách hàng một cách chủ động nhất AASC đã thiết lập rất nhiều chi nhánh
và văn phòng đại diện tại nhiều tỉnh, thành phố lớn trong cả nước giữ vững và ngàycàng mở rộng thị phần của mình trên toàn quốc
Tuy vậy AASC cũng gặp không ít khó khăn trong giai đoạn hiện nay vì Công tyvừa trải qua một đợt chia tách lớn Hơn nữa, do sự cạnh tranh của các Công ty kiểmtoán quốc tế và sự ra đời của các Công ty kiểm toán mới và sự chia tách nhiều lầnkhiến cho AASC hiện nay gặp không ít thách thức nhưng nhờ đội ngũ lãnh đạo có
sự linh hoạt cao và đội ngữ nhân viên tâm huyết với nghề và với Công ty AASChiện nay vẫn là một trong hai Công ty kiểm toán lớn nhất Việt Nam hoạt động tronglĩnh vực kế toán, kiểm toán
Dưới đây là một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Công ty trong giai đoạn 2005 –2007:
Trang 35Bảng 2.1 : Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của AASC trong giai đoạn 2005 –
( Nguồn: Báo cáo của Giám đốc Công ty trong Hội nghị tổng kết công tác các năm
2005, 2006, 2007)
Theo bảng các chỉ tiêu kinh tế trên có thể dễ dàng nhận thấy sự tăng trưởng củaCông ty trong ba năm lại đây rất cao Năm 2006 doanh thu tăng 16.739 triệu haytăng thêm 38,8% so với năm 2005 Trong năm 2007, mặc dù trong điều kiện Công
ty vừa chuyển đổi hình thức sở hữu từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty TNHH
và sự chia tách lớn về lực lượng nhưng AASC vẫn đạt được mức lợi nhuận tươngđối cao là 56.319 triệu đồng và lợi nhuận cao hơn cả năm 2006 Điều nay chứng tỏBan lãnh đạo Công ty đã điều hành hết sực hiệu quả Doanh thu của AASC tăngmạnh trong ba năm gần đây là do doanh thu trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán tăngmạnh khi nhu cầu kiểm toán đang rất cao Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỉ trọng
Trang 36doanh thu lớn nhất trong tổng số doanh thu cung cấp dịch vụ của AASC.
Nhờ có sự tăng trưởng nhanh và ổn định, mức nộp ngân sách nhà nước củaCông ty cũng tăng đáng kể từ 4.493 triệu đồng năm 2005 và trong năm 2006 mứcđóng góp ngân sách của Công ty đã đạt gần 6 tỷ đồng và trong năm 2007 trong điềukiện thiếu hụt nhân lực Công ty vẫn hoạt động hết sức hiệu quả và đóng góp 4.112triệu đồng vào Ngân sách Nhà nước
2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý của đơn vị.
2.1.2.1 Khái quát về tổ chức quản lý của đơn vị
Hiện nay, sau khi chia tách cơ cấu bộ máy quản lý của Công ty TNHH Dịch vụ
Tư vấn Tài chính, Kế toán và Kiểm toán( AASC) bao gồm:
Ban Giám đốc : Tổng Giám đốc và 4 phó tổng Giám đốc Trong đó một phótổng Giám đốc phụ trách chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, tổng Giám đốc baphó tổng Giám đốc đang trực tiếp điều hành trụ sở chính tại Hà Nội
Cơ cấu tổ chức tại chi nhánh Hà Nội:
Phòng dịch vụ đầu tư nước ngoài;
Phòng kiểm toán đầu tư xây dựng cơ bản
Trang 372.1.2.2 Mô hình chung Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý Công ty AASC
Phòng kiểm toán 5
Phòng kiểm toán 2
Phó tổng giám đốc
VP đại diện ở QN
Phòng kiểm toán 3
Phó tổng giám đốc
Chi nhánh
ở TPHCM
Hội đồng thành viên
Ban thường trực HĐTV
Tổng giám đốc
Ban kiểm soát
Phòng kiểm toán XDCBPhòng
tổng hợp
Trang 38Tổng giám đốc sẽ quản lý tình hình chung của Công ty và trực tiếp chỉ đạophòng tổng hợp và phòng kiểm toán xây dựng cơ bản của Công ty.
Một phó giám đốc sẽ chịu trách nhiệm quản lý phòng kiểm toán 1 và phòngDịch vụ đầu tư nước ngoài
Một giám đốc sẽ phụ trách công việc phòng kiểm toán 2 và phòng kiểm toán 5.Một phó giám đốc sẽ phụ trách phòng kiểm toán 3 và văn phòng đại diện tạiQuảng Ninh
Và một phó giám đốc phụ trách chi nhánh tại thành phố thành phố Hồ Chí Minh.Tổng Giám đốc sẽ chỉ đạo mọi vấn đề của Công ty và chịu mọi trách nhiệmtrước Ban thường trự hội đồng thành viên và Hội đồng thành viên
2.1.3 Đặc điểm tổ chức hệ thống kinh doanh
Để đáp ứng nhu cầu của thị trường và yêu cầu về quản lý của Công ty AASC hệthống kinh doanh của Công ty được phân chia như sau:
Trụ sở chính tại Hà Nội: thực hiện kiểm toán cho hầu hết khu vực phía bắc,
miền trung hỗ trợ cho văn phòng đại diện ở Quảng Ninh và khu vực phía nam Trụ
sở chính được điều hành trực tiếp bởi Tổng Giám đốc và có số lượng nhân viên lớnnhất
Chi Nhánh Thành phố Hồ Chí Minh: Thực hiện kiểm toán khu vực phía nam.
Chi nhánh này được một phó Tổng giám đốc trực tiếp điều hành
Văn phòng đại diện tại Quảng Ninh: Được một phó Tổng giám đốc kiêm nhiệm
phụ trách Trong tương lai, do nhu cầu phát triển của nền kinh tế, AASC có thểchuyển văn phòng đại diện tại Quảng Ninh thành một chi nhánh và mở thêm chinhánh tại khu vực miền trung để đáp ứng yêu cầu về kiểm toán
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại Công ty
Trang 39giúp và chịu trách nhiệm toàn bộ trước giám đốc về công tác kế toán trongCông ty.
Kế toán tổng hợp: chịu sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng
và chịu trách nhiệm toàn bộ trước kế toán trưởng về công việc của mình,thực hiện việc lập báo cáo tổng hợp, có chức năng hạch toán các và ghi sổcác nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Thủ quỹ: Quản lý tiền mặt về mặt hiện vật, quản lý thu chi tiềnmặt và ghi sổ quỹ Chịu sự chỉ đạo trực tiếp của kế toán trưởng cũng nhưchịu trách nhiệm toàn bộ trước kế toán trưởng về công việc được giao
Tại chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, bộ phận kế toán gồm 2 nhân viên vàthực hiện hạch toán độc lập Cuối kì, kế toán tại chi nhánh nộp báo cáo tài chính vềtrụ sở chính để lập báo cáo tài chính tổng hợp
Bộ máy kế toán của AASC nhìn chung được thiết kế gọn nhẹ tổ chức phù hợpvới đặc điểm hoạt động của Công ty
2.1.4.2 Tổ chức công tác kế toán.
Các chính sách kế toán chủ yếu
Xuất phát từ tính chất ngành nghề kinh doanh của mình, đảm bảo thống nhất vềcông tác kế toán với Công ty quản lý, trụ sở chính tại Hà Nội tổ chức công tác kếtoán với một số đặc điểm sau:
- Niên độ kế toán: từ ngày 1/1 đến 31/12
- Phương pháp tính thuế GTGT: phương pháp khấu trừ
- Phương pháp tính khấu hao TSCĐ: phương pháp đường thẳng
Trang 40thu, chi phát sinh theo quy định Nội dung trên cả 3 liên của hoá đơn phải giốngnhau; hoá đơn dùng để khấu trừ thuế, hoàn thuế, tính chi phí hợp lý, hợp lệ phải làliên 2 còn nguyên vẹn, không tảy xoá, nếu ghi sai phải sửa lại và có xác nhận củabên bán.
Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán
Công ty sử dụng hệ thống TK ban hành theo quyết định số 15/2006/ QĐ-BTC
Hình thức sổ kế toán
Hiện nay, Công ty sử dụng phần mềm kế toán Fast2005 Do vậy, các nhân viên
kế toán chỉ phải nhập các dữ liệu đầu vào máy tính sẽ kết xuất ra các loại báo cáokhác nhau Sổ sách kế toán Công ty lập theo hình thức Nhật ký chung Các mẫu sổ
sử dụng theo mẫu sổ do Bộ tài chính ban hành theo Quyết định 15/2006/ QĐ-BTC
Tổ chức hệ thống báo cáo
Hệ thống BCTC mà Công ty lập theo quy định hiện hành của Nhà nước Hiệnnay, hệ thống BCTC được lập theo quyết định 15/2006/ QĐ-BTC của bộ trưởng bộTài chính bao gồm:
Bảng cân đối kế toán;
Báo cáo kết quả kinh doanh;
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ;
Thuyết minh báo cáo tài chính
2.1.5 Đặc điểm tổ chức kiểm toán tại đơn vị.
2.1.5.1 Đặc điểm về quy trình kiểm toán.
Là một Công ty hàng đầu trong lĩnh vực kiểm toán ở Việt Nam hiện nay Công ty
đã xây dựng và hoàn thiện rất nhiều quy trình kiểm toán cho các lĩnh vực sản xuất,kinh doanh với mô quy và hình thức sở hữu khác nhau Ngoài ra Công ty còn xâydựng được các quy trình kiểm toán các phần công việc xảy ra thường xuyên trongquá trình kiểm toán bằng phần mềm máy vi tính nên rất thuận tiện cho các kiểmtoán viên và trợ lý kiểm toán khi tiến hành công việc của mình