Tuyển tập 30 năm Tạp Chí Toán Học và Tuổi Trẻ (part5)
Trang 1KHORICHIAN GUIGHENXO
(1629 - 1695)
Khorichian Guighenxo 1a mét nhà toán
học và vật lý học nổi tiếng người Hà Lan
Ông đã biểu lộ năng khiếu khoa học và lòng
say mé hoc tập khi còn rất nhỏ tuổi Lên 8
tuổi, Guighenxơ đã nắm vững bốn phép tính
số học và học tập tốt tiếng la tỉnh ; lên 10
tuổi cậu đã say mê nghiên cứu luật thơ la
tỉnh và say mê chơi đàn ví cẩm Từ 14 đến
16 tuổi, Guighenxơ học toán theo chương
trinh và sách giáo khoa do một giáo sư viết
riêng cho cậu học trò xuất sắc của mình, Qua
mấy năm say sưa học tập, năm lô tuổi
Guighenxơ đã nắm rất vững "số học" của
Didphang, hinh hoc cha Décac, lam quen với
tất cả các bài toán tìm cực trị của Pheema
và các bài toán độc đáo về hình học giải tích
Nam 16 tuổi, Guighenxơ vào học trường Đại
học Ở đây, ông bát đầu quan tâm đến tác
phẩm bất hủ của Acsimet và "Tiết diện hình
nón" của Apôlôniut
Khi nghiên cứu "Số học" của Xehevin,
Guighenzơ bị lôi cuốn vào một điều xác nhận
rảng hình dáng của một sợi chỉ vật chất treo
cân bằng tự do giữa hai điểm là đường
parabôn Ông nhận thấy rằng điểu này
không đúng và đã chứng minh rằng trong
trường hợp tổng quát, nơ có hỉnh dạng như
một đường có từng mát xích nổi lại với nhau
Rhi nhận được cong trình khoa học đầu tay
này của nhà toán học trẻ tuổi, Đêcác hết sức khen ngợi và cho rằng Guighenxơ sẽ trở thành nhà bác học lỗi lạc Chỉ vài năm sau, lời tiên đoán của Đêcác đã thành sự thực, Trong tác phẩm "Đo đường tròn", Acsimét
đã tính giá trị gần đúng của số + : 3 + 10/71
< z < 8+ 1/7 bằng cách dựng hình đa giác đều 96 cạnh Guighenxơ đã viết tác phẩm
"Về cầu phương hình tròn" trong đó ông đã phát triển ý của Acsimet, và đã nêu ra phương pháp có hiệu quả hơn để tính gần
đúng số z ; chẳng hạn ông đã có được kết
quả trên đây của Acsimet từ việc khảo sát hình 12 cạnh và 6 cạnh đều, Guighenxơ còn nghiên cứu về một ngành toán học trẻ là lí
thuyết xác suất
Guighenxơ còn có nhiều công trình nổi tiếng về cơ học và thiên văn học Chẳng hạn,
nhờ những máy đo khúc xạ tự chế tạo, ông
đã quan sát được sao Thổ ; lần đầu tiên, ông
đã mô tả đám tỉnh vân trong chòm sao Thiên Lạp và đã thông báo về đường vết trên bề mặt sao Mộc và sao Hỏa Về cơ học thực hành, ông đã phát minh ra đồng hồ quả lắc nổi tiếng và viết tập sách gồm 4 cuốn về
công trình này
P.H sưu tầm
BLEDƠ PAT-SCAN
(1623 - 1662)
Ngày 19-6-1973 đánh dấu 350 nam ngày
sinh của B Pat-scan, một trong những
người nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại
Suốt 350 năm qua, biết bao người khác
nhau ở các thời đại khác nhau đã coi B
Pat-scan như người cùng thời đại với mỉnh
Những lời phát biểu về B Pat~scan đã được
410
gộp thành nhiều tuyển tập Thường chúng
ta chỉ nhác đến B Pat-scan là một nhà toán học, một nhà vật lí học Nhưng ông còn là
một nhà tư tưởng, một nhà văn lớn
Về thời niên thiếu của B, Pat-scan,
thường người ta hay nhắc đến môn hỉnh học
“cái gậy và đồng tiền" Số là hồi nhỏ B Pat-scan
Trang 2a
rất ham mê môn hình học Chính cha ông
(Êten Pat-scan, một người rất ham mê toán
học và kết thân với nhiều nhà toán học lớn
của Pháp hồi đó) đã gây cho B Pat-scan
lòng ham mê này Nhưng B Pat~scan lại rất
yếu nên Êten Pat-scan không đám đậy toán
cho con, sợ những suy nghỉ căng thẳng sẽ
ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe con mình,
Ông giấu tất cả sách vở và tất cả những vật
dụng gì có liên quan đến toán học Thế là
B Pat-scan phải tự "nghiên cứu” môn khoa
học này Cậu đã tự xây dựng môn hình học
riêng của cậu Cậu vẽ các hình, tự đặt tên
(nBư : đường thẳng là "cái gây", đường tròn
là "đồng tiền", hình chữ nhật là "mặt bàn",
hình tam giác là "thước thợ", ) và chứng
JZ,
Hình 1
minh hết định lí này đến định lí khác Trong
các định lí đó, có định lí tổng các góc trong
của một "thước thợ" bằng nửa tổng các góc
trong của một "mặt bàn"
Êten Pat-scan bát gặp con đang nghiên
cứu Sau khi nghe B Pat-scan kể, ông đã
sưng sướng tới phát khóc khi biết con mình
có thể sẽ trở thành nhà toán học lớn Từ đó
ông đã trao sách vở cho con đọc và hướng
dẫn con nghiên cứu Khi đó B Pat-scan mới
12 tuổi
13 tuổi, B Pat-scan đã tham gia nhém
nghiên cứu toán Ông tìm được người thày
giáo tin cây của mình là Đê-dac (1593 -
1662), kĩ sư, kiến trúc sư, người đã sáng lập
môn hình học chiếu Luận văn của Dê-dac
dinh 2
hồi đó rất Ít người đọc tới Nhưng B
Pat-scan đã nám rất vững và phát triển lên
ÐB Pat-scan đã ứng dụng lí thuyết hình
chiếu từ một tâm của Đê-dac vào việc nghiên cứu các tiết diện hình nón Kết quả
là vào năm 1640, B Pat-scan đã công bố luận văn "về tiết diện hÌình nón", trong đó
có định lí Pat-scan : Giả sử trên tiết diện
hình nón L (ð hình 1, L là một parapôn ; ở
hình 2, P Q, H là giao điểm của các cap
đường thẳng (1, 2) uù (4, õð) ¡ (2, 3) uà (5, 6); (ồ, 4) uà (6, 1) Khi đó, P, Q, R sẽ nằm trên một dường thằng (Với cách đánh số đơn
giản nhất như ở hình 2 L la mot élip), ta tùy ý chọn và đánh số 6 điểm Gọi P Q, R
là các giao điểm của các cập cạnh đối diện
của lục giác) Định lí mà Pat-scan gọi là "lục
giác thần kÌ" này đã được ông dùng như một chia khóa để mở ra lí thuyết tổng quát về thiết điện hình nón, rộng hơn định lí của Apôlôniút
Đê-dac đánh giá cao định lí này và gọi
nó là "định lí lớn Pat-scan" Ông khẳng định
nó đã bao hàm được cả bốn cuốn sách đầu của Apôlôniút
Pat-scan đã rút ra được gần 400 hệ quả
từ định lí của mình Một trong những hệ quả khá quan trọng là : tiết diện hình nón được xác định duy nhất bởi B điểm bất kì của nó
Công trình sau đây cũng không kém thú
vị Vào đầu năm 1640, gia đình Pat-scan chuyển về Ruan Ở đơ cha Pat-scan chuyển
sang làm công tác tài chính Cha Pat-scan phải tiến hành rất nhiều tính toán cổng
kếnh mà Pat-scan phải giúp đỡ luôn Cuối
411
Trang 3nam 1640, Pat-scan nẩy ra ý định chế tạo
máy tính Ý nghĩ nẩy ra rất nhanh và luôn
thường trực trong đầu óc Pat-scan ; ” mỗi
trục hay mỗi bánh xe ở thứ tự nào đó sẽ gắn
với 10 chữ số Mỗi khi quay đi một vòng,
chúng sẽ làm dịch chuyển một con số ”
Nhưng ý nghĩ sáng sủa và rõ ràng mới là
bước dau Dé biến nó thành hiện thực còn
phải tốn kém nhiều sức lực không thể lường
được Sau 5 năm lao động cảng thẳng,
Pat-sean mới chế tạo xong chiếc máy tính
làm được bốn phép tính số học rất tin cậy
tuy rằng không nhanh jdm, Nguyên liệu sử
dụng là gỗ, ngà voi, thau, đồng Người thời
đó gọi nớ là "bánh xe Pat-scan",
Chúng ta còn biết Pat-scan là một trong
những người sáng lập ra môn thủy tĩnh học
Những thực nghiệm thiên tài đã đưa lại định
luật Pat-scan nổi tiếng về sự cân bằng của
chất lỏng Định luật này ngay hồi đớ đã được
ứng dụng có hiệu quả, chẳng hạn việc chế
tạo máy ép nhờ sức nước
Và đây lại là một chuyện H thứ nữa Vào
năm 1651, Pat-scan nhận được một bức thư
của Đơ Mere Do Mere la một người học cao
biết rộng nhưng cũng rất kiêu căng Gặp bài
toán ; "deo hai con xúc x4c, tinh s6 lan deo
cần thiết để xác suất xuất hiện Ít nhất một
lần hai con 6 lớn hơn xác suất không lần
nào xuất hiện hai con 6 cá", Đơ Mere giải
bằng hai cách khác nhau và đi đến hai kết
quả khác nhau ; 24 ya 25 Tin vào cả hai
phương pháp giải, Đơ Mere đã nghỉ ngờ cả
cơ sở toán học và biên thư cho Pat-scan,
Pat-scan da giải những bài toán phức tạp
hơn và trao đổi những vấn đề này với Fecma
Những cuộc trao đổi đó đã làm nảy sinh một
ngành toán học mới : lí thuyết xác suất Vào
năm 1654, trong thông báo của Viện hàn
lâm khoa học Pari, Pat-scan đã liệt kê một
loạt công trình sắp công bố của mỉnh Trong
đó có một luận văn với tên đề làm mọi người
phải ngạc nhiên : "Toán học của sự ngẫu
nhiên"
Cũng vào nam nay, Pat-scan công bố một
trong những công trình phổ biến nhất :
"Luận văn về tam giác số" Nhờ nớ ta tính
được một cách đơn giản các hệ số trong khai
triển nhị thức Niutơn
412
Nhưng vào cuối năm 1654 Pat-scan đã t một tai nạn lớn : Sau khi cha mất, chị gá Pat-scan bó đi tu, Pat-scan sống mét min!
và trong một buổi đị lễ, khí qua một chiế
cầu, bất thần hai con ngựa trước của cỗ xụ
tứ mã đã hoàng sợ nhẩy xuống sông làn
chiếc xe lật tung trên cầu, Pat-sean ché
ngất đi, Sau đó ông mắc bệnh thần kinh ngồi ở bàn cũng phải quây ghế bốn chung quanh vÌ sợ ngã Ông chán chường tất cả và
bỏ vào tu viện Ở đây ông đã viết "những
bite thu" No da được đánh giá là một trong
những tác phẩm vĩ đại nhất của nền văn học
Pháp
Những nghiên cứu khoa học của Pat-scan
sau khi bị tai nạn hầu như đã bị đỉnh trệ
Nhưng một năm rưỡi trong khoảng thời gian
đố, Pat-scan lại có một loạt công trình toán học về đường xielôit (đường do một điểm
trên đường tròn lăn không trượt theo một
đường thẳng tạo nên) Chuyện như sau ;
Đầu mùa xuân năm 1658 vào một đêm nào
đó, Pat~scan bị đau Tăng Cảm giác vô cùng đau đớn Pat~scan đã nghĩ ra một cách chữa răng : tập trưng tất cả suy nghĩ vào nghiên
cứu toán học Thế là một loạt bài toán về
xíclôit được giải quyết và sáng hôm sau ông
đã khỏi bệnh đau răng ! Tiếp theo nhiều công trỉnh được hoàn thành và mãi sau theo
lời khuyên của bè bạn ông mới tập hợp lại
để công bố Những bài toán về xiclôit do những người khác giải thường sử dụng những công cụ sơ cấp Nhưng những bài toán do Pat~scan đặt và giải thường phức tạp hơn rất nhiều , trong đó Pat-sean đã đi
rất gần đến phép tính vị phân và tích phân
ma Niuton va Lepnit da chia nhau niém vinh
dự sáng lập ra nơ
Từ giữá năm 1659 do sức yếu và ảnh
hưởng của nhà thờ, Pat-scan chấm dứt hẳn
mọi nghiên cứu cả về vật lÍ lẫn toán học
Chúng ta có thể hiểu những ngày tháng này
của ông qua bức thư sau đây ông gửi cho
Fecma vào cuối năm 1660, khi Fecma mời ông lại chỗ mình :
*„ Hiện nay tôi nghiên cứu những thứ quá xa với hình học, đến nối tôi khó có thể nhớ được điều gì về hình học Mặc dù tôi
Trang 4
biết ngài là một nhà toán học lớn nhất chau
Âu, nhưng điều đớ cũng chẳng lôi cuốn được
tôi TBi thấy toán học là một thứ để luyện
tập tốt cho trí tuệ, nhưng đồng thời tôi cũng
thấy nó vô dụng Tôi khó phân biệt một nhà
hình học với một người làm nghề thủ công
Vi vay tôi gọi nớ là một nghề thủ công đẹp
dé Nhung di sao thi nd cũng chỉ là thủ
công Tôi thường nói nó chỉ để thử sức chứ
không phải để dụng sức " Những dòng cuối
cùng, ông viết về tình trạng sức khỏe của
mình ; "Tôi yếu đến nỗi tôi không thể đi
được mà không phải chống gậy, không thể leo lên thang gác, không thể ngồi xe ngựa quá hai đặm "
Vào tháng 12-1660, Huy-ghen đã đến
thăm Pat-scan hai lần, thấy Pat-scan là
một ông già lụ khụ, không thể ngồi nơi chuyện được (lúc đó Pat-scan mới 37 tuổi)
B Pat-scan chết ngày 19-8-1662,
DANG HY
AL - KHOREDOMI
(Thế ki IX)
Nhà đại số học vi đại Udơbêch khoảng ba
chục năm đầu của thế kỉ IX Muhamet ben
Muxa Al - Khôredơmi đã làm lừng lẫy tên
tuổi của mình bằng hai luận văn toán học :
một về đại số là "Khixabơ al-giep
Van-Mukabala" và một luận văn về số học
mang tên "Số học"
Al~-Khôredơmi là một nhà bác học xuất
chúng về thời đớ Ông sống trong cung của
chúa AI-Mamuna (813 - 833) là người bảo
hộ rất am hiểu về khoa học Theo ý kiến của
vị chúa này, nhiều trước tác của các tắc giả
kinh điển cổ Hy-lạp và của các nhà bác học
Ấn Độ đã được dịch ra tiếng Ả -rập Cũng
chính theo sự chỉ dẫn của Mamuna, AI -
Khôredơmi đã thành lập một hợp tuyển gồm
các bảng thiên văn của các nhà toán học Ấn
Độ AI - Khôredơmi đã có những sửa chữa
cần thiết các bang cát tuyến của Ptôlêmây
để dùng trong thiên văn Ngoài ra ông còn
tham gia đo độ kinh tuyến trái đất và viết
hàng loạt luận văn, trong số đó có "luận văn
về dụng cụ đo góc" và "luận văn về đồng hổ
mặt trời"
Trong luận văn nổi tiếng về đại số,
Al-Khôredơmi có mục đích viết một tuyển
tập ngắn gọn về các cách tính toán nhờ
phương pháp "phục hồi" (al-đơgiep) và "so
sánh" (Val-mukabala) Theo lời ông thì ông
rất hài lòng về cách trình bày Nó rất gọn nhẹ và dễ hiểu về mặt số học và gồm những vấn đề đụng chạm đến luôn trong các tính
toán tiền nong, trao đổi buôn bán và trong
việc đo đạc, tính toán ruộng đất v.v
VÌ vậy nó nhằm trình bày sơ giản những
kiến thức cần thiết nhất có tính chất thực hành
Trong tuyển tập này lần đầu tiên giải quyết vấn đề giải phương trình bậc nhất và
bậc hai, trong đó tác giả xét sáu trường hợp :
1) x? = ax 2Qe=a 3) ax = b 4) x2 +ax =6 5) x? +4@ = bx 6) ax +b = x?
Cả sáu trường hợp, AI - Khôredơmi đều
xét trong các thí dụ bằng số Dể giải phương trình tương tự, ông đề ra phương pháp "phục
hồi" (al-đơgiep) và "so sánh" (val~mukabala) Chẳng hạn phương trỉnh
z2 -Bx— 12 =x - 14 bằng phép "al-đơgiep" chúng có dạng
+2 + 14 =x+õx +12
và sau ghép "val-mukabala" đưa về dạng
z?+2 = br
418
Trang 5Do đó bằng hai phép toán chỉ ra ở trên
phương trình đã cho được đưa về dạng
"chuẩn" Trong trường hợp này nớ là trường
hợp thứ 5ð, tức là dạng
x2 +a = bx
bó
| |
Để giải phương trình dạng đó,
AI Khôredơmi đã có một quy tác phát biểu bằng
lời mà dùng kí hiệu bây giờ ta có công thức
xz= bía + {b?⁄4—d
Để giải phương trình bậc hai, có lẽ
AI - Khôredơmi đã sử dụng hai công cụ là
hình học và đại số Công cụ hình học dựa
trên sự so sánh các diện tích biểu diễn hình
học phương trình đã cho Chẳng bạn, để giải
phương trình z2 + ax = ð, ông đã xét hình
vuông lớn gồm bốn hình chữ nhật và năm
hình vuông nhỏ Kí hiệu § là diện tích của
hình vuông xuất phát, ta có
S =x? + 4(0/4)? + 4 (4/4) =
(x? + ax) + 4(a/4)? = b + 42/4
Mặt khác S = (x + a/2)2 So sánh hai đẳng
thức chúng ta nhận được
& + a/2? = 6 +a7/4
x = -a/2 + Vo+a74
Một nhà toán học Ba-tư đã viết các
phương pháp "al-đơgiep" và "Val-mukabala" thành những bài vè :
Al-dagiep
Khi giải phương trình nếu trong một vế bat kl vé nao Gặp một từ âm cộng vào hai vế
một từ như thế
chỉ khác dấu thôi
Dễ lắm bạn ơi
*
Val-mukabala Bay giờ nhìn lại xem nào, Những từ đồng dạng gộp vào, nhanh lên !
Việc so sánh cũng chẳng phiền
Bỏ phần giống ở hai bên phương trình
Nói về luận văn "số học" của Al-khôredơmi
thi nó là một nguồn truyền bá vào các nước Trung
Cận Dông và châu Âu hệ tính thập phân do các nhà toán học Ấn Độ sử dụng trước đó Tất nhiên khó có thể đánh giá được các luận văn về đại số và số học của Al-Khôredơmi,
vì cả hai đều đóng một vai trò rất lớn trong lịch sử không phải chỉ có toán học mà trong
cả lịch sử văn hóa của loài người
Để kết luận, cũng cần chú ý rằng danh
từ "algeble" (đại số) là tên gọi quốc tế của
một môn khoa học toán chính là xuất phát
từ chữ "al-đơgiep", tức là tên bài luận văn
của Al-Khôredơmi "Khixabo al-dogiep Val-mukabala" Một điều thú vị nữa là từ
"algôrít" (cách giải tổng quát một bài toán bất kÌ) không có gì khác chính là tên
*Al-Khéredémi”
MAY GIAI THOAI VE CAC NHA TOAN HOC
"Lời tiên đoán" ?
"Tôi không có tuổi ấu thơ, vì tôi đã học
từ khi vừa biết nói Tôi không có tuổi niên
thiếu, vì tôi không cớ bạn đồng niên và
không biết một trò chơi Tôi không có tuổi
414
thanh xuân, vì tôi thiếu nhất là tình yêu, và cuối cùng, tôi sẽ không có tuổi già, bởi vì tôi
sẽ chết sớm Ï”,
Urưxôn, nhà toán học thuộc loại chủ lực
của một trường phái toán học Liên Xô người
Trang 6đã có nhiều công trình quan trọng, nhiều
định lí nổi tiếng trong lĩnh vực đại số và
tôpô khi còn rất trẻ đã tự nói về mỉnh
như vậy
Một sự tỉnh cờ : Urưxôn đã bị chết trong
một lần đi tắm biển Sóng biển xô anh vào
đá Khi đó anh mới 34 tuổi Mọi người
thương tiếc anh Tuy nhiên, cũng không Ít
người nông nổi nơi rằng anh đã "tiên đoán”
trọn vẹn cuộc đời mình Thực ra ở tuổi anh,
với tỉnh yêu khoa học, với những thành quả
anh đã đạt được, không phải suy nghỉ nhiều,
chắc các bạn trẻ yêu toán cũng đồng ý với
tôi : lời "tiên đoán" của anh chỉ đúng một
phần : anh không có tuổi giả !
Chuyển động con lắc
Nhà toán học, cơ học và vật lí học vĩ đại
người Pháp Ximôn Đơni Poaxông, sinh năm
1781 tại thị trấn Pitiven Mẹ của nhà toán
học tương lai này chỉ vì sức khỏe quá kém
đã phải gửi con mình cho một người vú em
ở nông thôn, gần thị trấn
Một lần cha Poaxông đến thăm con Ông
không gặp người vú em ở nhà (bà đi làm
đồng) Ông đi vào nhà và hết sức kinh ngạc
khi nhìn thấy cậu bé bị treo trên trần nhà !
Nhưng sau đó ông đã hiểu : người ta làm
như thế để súc vật thả rông quanh nhà khỏi
xông vào "ăn thịt" cậu bé, vì ngôi nhà nhỏ,
cửa liếp quá yếu ớt
Điều thú vị là Poaxông lại là người đầu
tiên nghiên cứu phương trình toán học của
chuyển động con lắc Khi Poaxông đã thành
một nhà khoa học, ông hay kể lại chuyện
trên và nói đùa : "Không còn nghỉ ngờ gi
nữa, tôi bị lắc từ bên này sang bên kia, và
bằng cách đó, tôi da bất đầu nghiên cứu
chuyển động con lắc !"
Cái hích ban đầu :
Txăc Niutơn là nhà toán học và vật lí học
thiên tài của Anh Khi mới sinh ra Niutơn
là một đứa trẻ ốm yếu, quặt quẹo, đến nỗi
ai cũng nghĨ may lắm thì cậu cũng sống được
vài tiếng đồng hồ Người được cử di lấy thuốc
cũng dềnh dàng vì cho là vô ích, và khi về
thấy Niutơn còn sống đã phải kêu lên vì kinh
ngạc Vậy mà ông đã thọ 8õ tuổi, không hề
rụng một cái răng Chúng ta ai cũng biết về
định luật quán tính của Niutơn Theo ông
thì nếu không có ma sát, vật nào đứng yên
sẽ đứng yên mãi, còn vật nào chuyển động
(do nhận được một "cái hích ban đầu") sẽ
chuyển động mãi mãi Trong Cơ học các
thiên thể ông cũng xem các hành tỉnh như các bộ phận của một chiếc đồng hồ vi đại
Nhờ "Chúa" ban cho mét "cdi hich ban đầu"
mà đi vào một chuyển động vĩnh cửu
"Cái hích ban đầu" đã được sử dụng rộng
rãi theo một nghĩa bóng : để có kết quả
trong một lĩnh vực nào đó người ta cũng cần
một "cái hích ban đầu", tức là một sức bật,
một thành tích quyết định, v.v
Điều thú vị là chính thiên tài của Niutơn
có được cũng do một "cái hích ban đẩu" theo nghĩa đen của từ này,
Hồi học ở trung học, lúc đầu Niutơn chỉ hay đọc chuyện văn học, kết quả học tập rất xoàng Nhưng một lần, trong giờ giải lao, một học sinh nghịch ngợm đã tống vào bụng Niutơn một cái mạnh đến nỗi cậu bị ngất đi
Cảm giác cực kì đau đớn truyền khắp cơ
thể, mắt hoa lên trong giây lát không nhìn
thấy gì nữa, cậu lấy hết sức bình sinh nén
sự đau đớn Kẻ phạm lỗi đã không lấy làm xấu hổ, lại còn lấy làm khoái trá về cú đánh
của mình và cười chế riễu Niutơn Niutơn
căm giận, muốn trả thù ngay, nhưng "kẻ thù" lại quá mạnh so với mình Buc bội mãi, cuối cùng Niutơn nghỉ ra một cách trả thù
rất thú vị : đối phương chính là người đang ngồi ở vị trí đanh dự : "giỏi nhất lớp" Niutơn
quyết định phải ngồi thay vào chỗ đó NÑiutơn thực hiện kế hoạch không chê vào đâu được Chỉ một tháng sau, cậu đã được khen trước lớp, được ngồi vào vị trí danh dự và cậu không rời bỏ chỗ đó nữa
Công thức khai triển "nhị thức Niutơn"
được chứng minh ngay hồi Niutơn học ở
trường trung học phổ thông
Chúc các bạn trẻ yêu toán tạo được cho mình một cái bích ban đầu, đương nhiên
không phải cứ bằng một "cái hích vào bọng mỡ" như trường hợp của Niutơn
ĐẶNG HẤN
415
Trang 7VE LICH SU LUONG GIAC HOC
Cũng như mọi khoa học và các phân môn
khác của toán học, lượng giác học ra đời và
phát triển do những nhu cầu của đời sống
Nay sinh từ sự cần thiết phải đo lại ruộng
đất sau những trận lụt hàng năm ở sông
Nin, hinh hoc thai cổ Ai Cập cách đây 4000
nam đã đạt tới một trình độ đáng lưu ý Nó
cũng đã được ứng dụng vào việc xây dựng
Kim Tự Tháp, một kì quan của thế giới Với
sự phát triển của hình học, lượng giác học
đã hình thành Trong những tài liệu toán học
của người cổ Ai Cập còn thấy cà những yếu
tố tiền thân của lượng giác học, chẳng hạn
tỉ số những độ đài của những đoạn thẳng ở
những hình chớp
Ở Trung Hoa, những kiến thức hình học
và lượng giác cũng đã nảy nở sớm Ngay từ
khoảng năm 1100 trước công lịch người ta
đã tạo những góc vuông bằng cách dùng tam
giác có các cạnh 3, 4, õ đơn vị, đã xác định
chiều cao nhờ đo bớng, đã tính chiều sâu và
khoảng cách nhờ những tam giác vuông
Tiếc rằng nền toán học sớm của Trung Quốc
còn để lại ít dấu vết vì tất cả những sách và
tài liệu văn hóa của nước này đã bị Tần
Thủy Hoàng ra lệnh thiêu hủy
8o với toán học Ai Cập thì toán học
Babilon, trong đó có hình học và lượng giác,
đã đạt tới một trình độ cao hơn, Hiện nay
còn giữ lại được những tài liệu về những vấn
đề toán học khoảng 5000 năm về trước Ở
Mêsôpôtami, một vùng nằm giữa sông
Ophơrát và sông Tigdrơ, do phải xây dựng
những con đê phục vụ nông nghiệp, người ta
phải tính độ đốc của thành đê và chiều rộng
của mặt đê Trong những tính toán này, tỉ
số độ đài của những đoạn thẳng đóng một
vai trò quan trọng
Những vấn đề nây sinh trong thực tế đã
dẫn tới những kiến thức toán học Sự tỈ lệ
của các cạnh tương ứng trong những tam
giác đồng dạng và định H Pitago đã được
phát hiện Toán học Babilon cũng đã liên hệ
chặt chẽ với thiên văn học Mặc đầu thiên
văn học Babilon thời đó liên quan nhiều với
416
mê tín dị đoan nhưng cũng đã đạt được một
số kiến thức thiên văn thật sự Những quan sát hàng nhiều trăm năm đã cho thấy tính chư kì của những hiện tượng trong bầu trời, đặc biệt là sự lặp lại một cách cơ quy luật của hiện tượng nhật thực và nguyệt thực
Hiện vẫn còn giữ lại được những bảng tính những quá trình thiên văn cớ tính chu kì
Nếu biểu thị những giá trị số này trong một
hệ trục tọa độ (điều này thiên văn học thời
đó chưa làm) thì được một đường sin
Khoảng năm 1900 trước công lịch, những
nước nội địa như Ai Cập và Mêsôpôtami đã không còn tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho kinh tế và khoa học nữa Vai
trò này đã chuyển sang những nước ở ven
biển do sự phát triển của ngành đóng tẩu
Nhờ liên hệ mật thiết với Mêsôpôtami và
Ai Cập, toán học Hi Lạp đã tiếp nhận rất
nhiều công trình khoa học và đã đi tới những
nhận thức mới Thiết (624 ? - 548 ? trước
công lịch) đã đo chiều cao của những cái
tháp bằng cách đo bóng của chúng vào lúc bóng của ông vừa đúng bằng bản thân ông Ông cũng đã tính khoảng cách từ tầu thủy
đến cảng nhờ những tam giác đồng đạng Về sau toán học Hy Lạp đã phát triển đến một
trình độ đáng ngạc nhiên Tuy nhiên dần dần nó rơi vào ảnh hưởng của triết học duy
tâm, đặc biệt là của trường phái Pơlatông và
do đó bị đứt liên hệ với thực tế Trong xã hội chiếm hữu nô lệ mọi hoạt động thực tế
bị coi là Ít giá trị và người ta cho rằng không cần thiết phải ghi chép lại những phương pháp của toán thực tế, trong do co lượng
giác học
Vào những thế kÌ cuối trước công lịch,
yêu cẩu đối với khoa trắc địa tăng lên Những sự đo đạc này thúc đẩy khoa thiên văn Do đó lượng giác học, với tư cách là
công cụ toán học quan trọng, cũng có những tiến bo
Aritxtacốt (khoảng năm 270 trước công
lịch) đã thử đo tỉ số khoảng cách trái đất —
mặt trăng với khoảng cách trái đất - mặt
Trang 8trời theo con đường lượng giác bằng cách đo
góc giữa mặt tràng, trái đất và mặt trời lúc
bán nguyệt thực Do dụng cụ thời đó chưa
được tốt, ông nhận được tỉ số 1 : 19 trong
khi giá trị đúng là 1 : 370
Việc biến đổi lượng giác có sử dụng các
tỈ số sin, cosin, tang và cotang ở tam giác
vuông đã được những nhà học giả Ả-rập tiến
hành vào thế kỉ thứ 9 Trong khi ở châu Âu
khoa học bị kÈm hãm do ảnh hưởng của nhà
thờ Giatô giáo thì nền văn hóa Ẩ-tập nở rộ,
trong đó toán học đặc biệt là đại số và lượng
giác rất được khuyến khích phát triển Abu
Nát (khoảng năm 1000) da tim ra dinh lí
hàm số sỉn trong lượng giác phẳng Ất ~ Tút
(1201 - 1274) là người đầu tiên đã tập hợp
tất cả những thành tựu của lượng giác học
thành một tòa lâu đài hoàn chỉnh Người ta
đã tính được cả những bảng thiên văn và
lượng giác rất phức tạp, chẳng hạn Ulúc Bée
(1892 - 1449) da lap bang ham s6 lượng giác
với độ chính xác tới 17 chữ số thập phân
Lượng giác học và thiên văn học Ấn Độ
cũng đã đạt tới một trình độ cao tương tự
Dén thé ki 15 toán học châu Âu đuổi, kịp
và vượt nền toán học cổ Hi Lạp và La Mã
Ít nhất là ở một số bộ phận Những kết quả
mới đã đạt được là do đời sống xã hội đã đặt
ra những vấn đề mà việc giải quyết chúng
đòi hỏi phải sử dụng những phương pháp
toán học mới Điều này cũng xẩy ra cả trong
lượng giác học
Trong xã hội phong kiến đã phát triển
một giai cấp mới, giai cấp tư sản Giai cấp
này khuyến khích thương mại, mở rộng thị
trường ở hải ngoại Đường biển tới Ấn Độ
và một châu mới đã được phát hiện Tẩu
thuyền đi lại trên biển cả đòi hỏi một trình
độ cao về thiên văn học và lượng giác học
Cà thiên văn học cũng dat ra cho lượng
giác học những yêu cầu cao Bằng cách đo
đạc trong bầu trời nhờ những công cụ thiên
van đã được cải tiến, người ta nhận thấy
rằng quan niệm của Pơtôlême về địa tâm hệ
(trái đất là trung tâm) là không đúng Với
kĩ-rTcTr
tác phẩm khoa học "Về sự quay của các thiên
thể" mà trong đó nhật tâm hệ (mặt trời là
trung tâm) được lập luận, nhà bác học Ba Lan Côpécních (1473 - 1543) đã tạo nên bước quyết định cho sự phát triển của thiên văn học
Việc trang bị đại bác cho quân đội cũng
đòi hỏi cấp bách sự phát triển của ngành trac địa và đo đó của lượng giác học Để bán
đại bác trúng mục tiêu, người ta cần những phương pháp đo chính xác những khoảng
cách trên mặt đất,
Do những yêu cầu thực tế đó và cả những
yêu cầu thực tế khác nữa, lượng giác học đã phát triển rất nhanh vào thế kỉ 15, 16 và
17 Iohanet Phôn Gơmunden (1380 ? - 1442) và tiếp theo là Giêoóc Phôn Poibác
(1423 — 1461) đã tiến hành tính bảng lượng giác mở rộng Công trình phức tạp này cuối
cùng đã được Râghiômôntan (1436 ~ 1476)
hoàn thành Rêghiômôntan là một nhà toán học lỗi lạc của châu Âu thời đó Trong công
trình "Năm cuốn sách về tất cả các tam giác"
mà mãi đến năm 1533 mới được ïn, ông đã thâu tớm tất cả các phương pháp, định lí và bảng lượng giác mà thời đó đã đạt được Nhờ Réghidméntan lượng giác học ở châu Âu đã trở thành một khoa học nhất quán và về mặt
nội dung toán học nó đã đạt tới trình độ như
ngày nay
Về sau những bảng lượng giác còn được
cải tiến tốt hơn hẳn nhờ các nhà toán học Leticut (1614 - 1576), Viết (1540 — 1608) và nhà thiên văn học lớn lIôhannét Kêpơle
(1571 — 1630) Những tên gọi và kÍ hiệu mà hiện nay dùng trong lượng giác học thì mãi
sau này mới được đưa vào Về căn bản người
ta sử dụng những tên gọi kí hiệu do nhà toán
học thiên tài người Thuy sĩ là Lêôna le
(1707 — 1783) đã đặt ra : xz là số đo độ dài nửa đường tròn đơn vi, a, 6, ¢ là kí hiệu các cạnh của một tam giác : sin, cos, tang la kí hiệu những hàm số lượng giác,
NGUYEN BA KIM
417
Trang 9LEONA OLE
(1707 - 1783)
Su sach da ghi lai ngay 18 thang 9 nam
1783, ngày thiên tài toán học Lêôna Ole
ngừng làm toán và cũng là ngày ông từ trần
Nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Ớle vẫn còn
sống mãi với khoảng ð0 công thức, phương
trình, định lí, con số và những kí hiệu toán
học được mang tên ông
Lé6na sinh ngày 15 tháng 4 năm 1707 tai
Benơden Thuy sĩ Nghề nghiệp của người cha
và các bài giảng của Giôhan Becnuli đã dẫn
Ole đến với toán học Năm 20 tuổi (1727),
Lê@ôna Óle đến làm việc ở Viện Hàn lâm khoa
học Pêtecbua, vừa mới thành lập và là nơi thu
hút các tài năng trẻ của trung và tây Âu đến
làm việc Tám năm sau (1735), khi Viện Hàn
lâm Pêtecbua phải tiến hành những tính toán
thiên văn để thiết lập bản đổ, Ole đã đảm
nhận với thời hạn 3 ngày một khối lượng công
việc mà các viện sĩ cho rằng phải cần mấy
tháng mới làm được, và ông đã hoàn thành
công việc với thời hạn làm mọi người kinh
ngạc : một ngày một đêm ! Tuy vậy, để có
được một kì công như thế, ông đã phải làm
việc hết sức tập trung và cực kì căng thẳng,
cho nên ông bị hỏng mất mắt phải Với một
mắt cén lai, Ole vẫn làm việc say sưa với năng
suất không hể giảm sút
Năm 1741 ông trở về làm việc ở Viện Hàn
lâm khoa học Beclin (Đức) theo yêu cầu của
vua Friedrich đệ nhị O đây ông đã cống hiến
toàn lực cho khoa học, ngày đêm miệt mài
nghiên cứu và sáng tạo, tham gia công tác
lãnh đạo giới toán học, đóng gớp trong công
tác tổ chức và cả trong những công việc quản
H, hành chính
Ở Beclin Ole vẫn duy trì quan hệ chặt chế
với Viện Hàn lâm Pêtecbua Chính M V
Tômônôxôp, nhà bác học Nga trẻ tuổi và tài
năng, "người cha của nổn khoa học Nga", đã
được Cle thư từ trao đổi, dìu dất và được tiếp
nhận tới Beclin
Trong thời gian này Ớle làm việc rất có kết
quả và đã trở thành nhà toán học bậc thầy
của châu Âu
Năm 1766 Lé6na Ole dén Pétecbua léin thứ
hai theo một thỏa thuận với Nữ hoàng Nga
atêrina đệ nhị Bốn năm sau (1770), do ngày
đêm làm toán quên mình, con mắt còn lại của
Óle bị hỏng nốt
Tiếp theo đó một loạt bất hạnh đã xẩy đến
với Óle : nhà cháy, mất sạch của cải, người vợ
thân yêu của ông qua đời ! Song những tổn
thất vật chất và tỉnh thần đó cùng với sự
418
giảm sút súc khoẻ của tuổi gia vẫn không ảnh
hưởng tới sức sáng tạo và năng suất lao động
của Ole Ông đọc cho người khác viết hết, công
trình này đến công trình khác Từ năm 1766 cho đến lúc qua đời ông đã để lại 416 công
trình, tức trung bình 2ð công trình mỗi năm
(trước đó từ 7 đến 14 công trình mỗi năm),
Khi ông mất, số công trình chưa công bố của
ông để lại đã được đăng trên tạp chí của Viện Hàn lâm đến 80 năm sau mới hết, gấp 4 lần con số mà chủ tịch Viện Hàn lâm Pêtecbua đã
có lần yêu cầu ông trước lúc ông qua đời
Những công trình của Ởle đề cập đến hầu
hết các lĩnh vực của toán học thời bấy giờ và đến nhiều ngành khoa học và kỉ thuật khác Theo nhà nghiên cứu lịch sử tên tuổi Tiên Xô A.P Yuskêvich, 40% nghiên cứu của
Ole danh cho đại số, lí thuyết số và giải tích, 18% cho hình học, 28% cho cơ học và vật lí,
11% cho thiên văn Phần còn lại đành cho lí thuyết đường đạn bản đồ, tàu thuyền và xây dựng, H thuyết âm nhạc, thần học và triết học Năm 1911, ở quê hương ông, toàn bộ
những công trình của ông được in thành bộ
sách với tên đề "Leonhardi Euleri Opera Omnia! gồm 8õ quyển cỡ lỡn và gần 40.000 trang Sự xuất bản này là một đài kỈ niệm văn hóa xứng đáng với công lao to lớn của thiên
tài toán học le
Ở chương trình phổ thông, chúng ta đã biết đến tên tuổi Ole qua “dudng thang Ole, đường tròn le" (đường tròn 9 điểm) trong
tam giác, định lÍ Ole về liên hệ giữa số đỉnh, cạnh và mặt trong một đa điện lổi, v.v Chúng ta đã và đang làm toán với những kí
hiéu cla Ole : s6.z, 85 i (= ¥—1), sin, cos, tg,
cotg, Ax (số gia), 2 (tổng) /fx) hàm f của x), v.v
Những thành tựu sâu sắc, phong phú và
muôn vẻ của Lêôna Ole là những minh hoạ
tuyệt vời cho nhận định : "Tbán học chỉ cho ta
những phương pháp hoặc những con đường dẫn tới chân lÍ Toán học làm cho những chân
lí ẩn khuất nhất trở thành minh bạch và phơi
bày chúng ra trước ánh sáng, Một mặt toán học làm giàu sự hiểu biết của chúng ta, mặt khác né
làm cho suy nghỉ của chúng ta thêm sâu sắc"
Cuộc đời của Lêôna le là một tấm gương sáng chới về tính thần lao động sáng tạo không biết mỏi Đối với le, làm toán cũng tự
nhiên và cần thiết cho đời sống như là thở hút
khí trời vậy Sống là lao động sáng tạo, sống
là làm toán, và ông chỉ ngừng làm toán khi
trai tim ngừng đập
NGÔ ĐẠT TỨ
Trang 10Phần thứ hai
CAC BAI TOAN CHON LOC
419