Tuyển tập 30 năm Tạp Chí Toán Học và Tuổi Trẻ (part5-1)
Trang 1Trước hết ta nhắc lại định nghĩa của số
nguyên tố
Số nguyên tố là số tự nhiên khác 1 và
không có ước nào khác ngoài số 1 và chỉnh
nó Với định nghĩa đó của số nguyên tố thì
ta chứng minh được định lí cơ bản sau đây :
"Mọi số tự nhiên lớn hơn ! đều biểu diễn
được một cách duy nhất thành tích các thừa
SỐ nguyên tố" Đến đây đương nhiên đặt ra
vấn đề "có bao nhiêu số nguyên tố" Cách
đây hơn hai nghìn năm Oclid da tra lai được
vấn để này bằng định lí : "có vô số số nguyên
tố" Để đi sâu hơn nữa người ta xét sự phân
bố các số nguyên tố trong dãy số tự nhiên
Ta goi z (x) là số các số nguyên tố không lớn
hơn x, vi du (5) = 8 Vì có ba số nguyên
tố là 2, 3, ö là không lớn bơn 5 Bài toán về
phân bố số nguyên tố chủ yếu là so sánh Z(x)
với x Vì số các số nguyên tố là vô hạn nên
a(x) tang v6 han cing v6i x, tuy vay cũng
lại đã chứng minh được rằng khi z khá lớn
#4) là rất nhỏ so với x, hay nói bằng ngôn
ngữ của lí thuyết giới hạn là tỉỈ số 76) dan
tới không khi mà z tăng lên vô hạn, Việc
chứng minh mệnh đề này không khớ lắm
Người ta muốn được những kết quả tốt hơn
nữa, nên đã cố gắng đi tìm một hàm số quen
thuộc mà nó xấp xỈ bằng z (+) tại các giá trị
khá lớn cua x Da từ lâu người ta dự đoán
hàm số đơ có thể là = (Inx là logarit cơ số e
của +, e = 2,71828 ) Phải trải qua hơn một
thế kỈ với sự đóng góp của nhiều nhà toán
học thiên tài như Logiangdra, Gaoxa,
Sébusep, Riman mai dén nam 1896 Adama
va Đờ La Valê Pútsanh, đồng thời và độc lập
với nhau, mới giải quyết được vấn đề trên,
chứng minh được rang tl s6 x (x): m= có
giới han la 1 khi x trở nên vô cùng, Việc
chứng minh định li này phải dựa và lí thuyết
hàm số phức và người ta đã có ý nghỉ cho
rằng không thể chứng minh được định lí này
mà không dùng đến lí thuyết hàm số phức
Nhưng đến năm 1948 thì Selbéc đã chứng
minh được định lí này bằng phương pháp sơ
cấp nghĩa là không phải sử dụng lí thuyết
hàm số phức vào việc chứng minh Cần phải
nói rằng chứng minh định lí trên là rất khớ,
ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu vấn để để
mong giải đáp cho một số bạn đọc về vấn đề
phân bố số nguyên tố
342
Một vấn đề thứ hai cũng được đề ra đã
từ lâu là tìm một biểu thức đơn giản phụ
thuộc vào một biến số tự nhiên mà tất cả
các giá trị đếu là số nguyên tố Trước hết người ta nghĩ đến một đa thức nguyên, nhưng vấn đề này được giải quyết ngay : dễ chứng minh được rằng không có một đa thức nguyên nào mà tất cả các giá trị của nó ứng với giá trị tự nhiên của biến số đều là nguyên tố cả Tuy nhiên người ta cũng đã thấy tam thức z? + x + 41 lấy các giá trị
nguyên tố (khác nhau) với x = 0, 1, , 39,
và tam thức z? ~ 79x + 1601 lấy các giá trị nguyên tố (không phải là tất cả đều khác nhau) với z = 0, 1, ,79 Cũng đã nảy ra vấn
để là có hay không một đa thức nguyên lấy
vô số giá trị nguyên tố Đối với nhị thức bậc nhất thì có thể chứng minh được rằng mọi
nhị thức az + ð với (a, b) = 1 đều lấy vô số
giá trị nguyên tố, song người ta chưa biết
được một đa thức nào bậc cao hơn 1 mà có
tính chất đó Về vấn để biểu thức cho số nguyên tố Fecma đã phát biểu rằng các số
F, = 274+ lin = 0, 1 ) đều là số nguyên
tố, và đã thử thấy rằng : F, = 3, F, = 5,
F, = 17, F, = 257, F, = 65587 đều là các
số nguyên tố Đến năm 1732 Óle tìm ra rằng
số F, = 2” + 1 = 4294967297 là một hợp
số mà chia hết cho 641 Bây giờ người ta
biết khá nhiều số Fecma (số F, được gọi là
số Fecma) là hợp số Các số nguyên tố Fecma
có điều rất bổ Ích là nó liên quan mật thiết đến bài toán chia vòng tròn thành những phần đều nhau bằng thước và compa Nhân đây xin giới thiệu ý nghỉ của bạn Trền Mơi
Chí, cho rằng số 9” + 3?” là nguyên tố với
moi œø Thử lại thì ta thấy với n = 0, 1, 2 biểu thức trên cho các số nguyên tố lần lượt
Ja 5, 13 va 97, song với n = 3 ta có
2?`+ 82 = 6817 = 17 x 401 là một hợp
số Bạn Nguyễn Toàn hỏi rằng công thức fín) nào để cho với n ta tính được số nguyên tố thứ ø hay không ( ƒ(1) = p = 2, f(2) = p,
=3, ,ffm) = Đụ ) câu trả lời là không Còn như muốn nới ƒz) là một hàm số thì đẳng thie fin) = pạ là một hàm số hoàn toàn xác định vì dãy các số nguyên tố 2, 8, 5, 7, 11, thì được coi là đã biết đẩy đủ Một loại số
Trang 2nguyên tố nữa thường được nói đến nhiều là
số nguyên tố Mensen có dạng M, = 2P-1,
với p là nguyên tố Số Mensen có một ý
nghia quan trọng vì nó có vai trò đặc biệt
trong bài toán vê số hoàn chỉnh Về vấn dé
biểu thức cho số nguyên tố còn có nhiều biểu
thức khác nữa chúng ta không thể trình bày
hết ở đây được Cần phải nơi rằng người ta
đã chứng minh được rằng có số vô tỈ Á sao
cho [4**] ([y] là phần nguyên của y nghĩa là
số nguyên lớn nhất mà không lớn hơn ?) lấy
các giá trị nguyên tố với mọi giá trị tự nhiên
của x, Song vấn để này chỉ có ý nghĩa lí
thuyết mà thôi vì thực tế thì tính cụ thể các
số nguyên tố đó ra là việc không phải bao
gid cing làm được Người ta cũng đã chứng
minh duge rằng có số thực œ = a, mA tht
cả cdc 86 [2%], [2%], , với a„ xác định quy
nạp bởi công thức œ„= 2“a- đều là số
nguyên tố Kết quả này cũng như kết quả
trên chỉ có ý nghĩa lí thuyết mà thôi Liên
hệ với vấn đề này bạn Trần Mai Chí cho
B, = Pps Py — 408 C, = PyPy~ Py Pay
đều là số nguyên tố với œ > 2 (p, là số
nguyên tố thứ ¡ trong thứ tự quen thuộc
Pị =2,p;ạ=3 ) chỉ cần thử lần lượt
với n = 3, 4, 7 ta thấy rằng B, = 11,
B, = 101, B, = 1151 1a nguyén t6, nhung
By = 3.5.711.13 - 4 = 15011 = 17.883 là
một hợp số
C, = 23, C, = 199, C, = 2297, C, = 30013
đều là số nguyên tố, nhung C, = 510491 = 41.12451
là một hợp số
Đối với A„ thì cũng bằng cách thử ta thấy
rang cfc 86 Aj, Ay, As, A,, A, déu là nguyên
tố Tuy nhiên như vậy không có cơ sở nào
để khẳng định rằng Á, là nguyên tố với mọi
n > 2 Có lẽ bằng cách thử với một vài giá
trị nữa của œ ta có thể được một hợp số A,
nào đớ Còn nếu dự đoán của bạn Chí là
đúng thì cũng có nhiều chắc chắn rằng việc
chứng minh mệnh đề đơ là rất khó, và nếu
như nó chưa có được ý nghĩa lí thuyết nhất định nào đớ Cũng cần phải nói rằng việc kiểm tra xem một số khá lớn có là nguyên
tố hay không là một việc giải được về nguyên tác, nhưng cũng khó vì phải làm nhiều phép tỉnh Tuy nhiên đối với các số không lớn lắm thì bằng các máy tính hiện nay việc đó không phải khó khăn lắm Đối với các số mà bạn Chí nêu ra thì để kiểm tra Ag, ta céin làm khoảng trên 300 phép chỉa và đối với Ay cần khoảng 1300 phép chia, va nhu thé có thể mất vài buổi làm tính
Bây giờ chúng ta chuyển sang một vấn
đề khác là vấn đề khoảng cách giữa hai số nguyên tố Ta xét hiệu p„„¡ — p„ Có thể chứng minh được rằng trong đãy số tự nhiên
có đoạn lớn tùy ý không chứa một số nguyên
tố nào Thật vậy cho trước K, thì trong K số
tự nhiên liên tiếp (K + L) ! + 2, & + J)L+ 3,., (+) !+(K+1) K ! 1a tich & 86 tu
nhiên đầu tiên) không có một số nguyên tố nào Song một mặt khác lại gặp rất nhiều cặp số nguyên tố liên tiếp (gọi là số nguyên
tố sinh đôi) mà hiệu của chúng bằng 2 (hiển nhiên là chỉ có một cặp duy nhất hai số nguyên tố 2, 3 là hai số tự nhiên liên tiếp)
Có giả thuyết cho rằng có vô số cặp số nguyên tố sinh đôi Cặp số nguyên tố sinh đôi lớn nhất người ta biết là
p = 1900000009649 và p + 2 Vấn đề này được mở rộng thành vấn đề "Mỗi số chắn có thể biểu diễn được bằng vô số cách thành hiệu của hai số nguyên tố hay không ?”, Người ta cũng thấy có nhiều "bộ bốn số nguyên tố liên tiếp" gồm hai cặp số nguyên
tố sinh đôi, nghĩa là p, p + 2, p +6,p+8 đều là nguyên tố, ví dụ 11, 13, 17, 19 hay
3251, 3253, 3257, 3259 Bộ bốn số như thế lớn nhất mà người ta biết là p = 2863 308 T81 vàp +2,p +6 p+8 Cũng có giả thuyết cho rằng có vô số bộ bốn số nguyên tố như vậy
Trang 3LÍ THUYẾT NHÓM
Cấu trúc nhớm là một cấu trúc đại số
quan trọng vào bậc nhất Nó thâm nhập vào
hầu hết mọi ngành của Tbán học : trong Đại
số, trong Hình học, trong H thuyết Phương
trình vi phân, ; ngoài ra nớ có các ứng
dụng quan trọng trong các ngành khoa học
quan trọng khác như : Vật lÍ học, Cơ học
lượng tử, Hóa học, Tỉnh thể học
Khái niệm nhớm ra đời vào khoảng đầu
thế kÍ 19 với các công trình của Côsi về các
phép thế, của Aben về một lớp phương trình
giải được bàng đại số Nhưng phải nơi
Ga-loa là người nhận thấy liên hệ sâu sắc
giữa nghiệm của các phương trình đại số và
tập hợp các phép thế mà Ga-loa gọi là nhớm
các phép thế (1830) Và cũng chính Ga-loa
là người nhìn thấy tầm quan trọng của khái
niệm nhóm là ở cấu trúc của nó chứ không
phải ở tính chất của các phần tử lập thành
nhóm Như vậy ở nửa đầu thế kỉ thứ 19, lí
thuyết nhóm phát triển qua lí thuyết nhóm
các phép thế Tới nửa cuối thế kÌ 19, các nhà
toán học cho chúng ta khái niệm nhớm các
phép dời chỗ và tổng quát hơn, nhớm các
phép biến hình Khái niệm nhớm các phép
biến hình đã giúp Cơ-lai thống nhất được
các hình học đang phát triển mạnh mẽ ở thời
đó Cơ-lai đã phân loại các hình học theo
nhóm các phép biến hình Các tính chất của
một không gian bất biến qua một nhớm biến
hình lập thành một hình học
Sau khi đã tách được "cấu trúc nhóm” qua
một số các nhớm cụ thể (nhớm các phép thế,
nhóm các phép biến hình ) các nhà toán học
đã đi tới định nghĩa nhớm trừu tượng và
phát triển một cách độc lập lí thuyết nhóm
6 đây ta lại được một thí dụ về sự cố gắng
không ngừng của toán học để đi từ cụ thể
tới trừu tượng và tổng quát, do đó cho phép
các ứng dụng rộng rãi mà ta đã thấy trong
toán học ngày nay
Bây giờ chúng ta hãy đi vào định nghĩa
một nhớm
Giả sử N là một tập hợp bất kì không
rống mà các phần tử kí hiệu là a, b,c Gia
344
HOANG XUAN SiNH
sử trén N ta đã xác định một luật hợp thành trong, nghĩa là một quy tác cho phép ta từ hai phan tt bat kl a, 6 € X thành lập một phần tử c xác định cũng thuộc N Néu ta ki hiệu luật hợp thành trong bằng dấu * thì c
kí hiệu e = ø * ö (thường thường trong toán học ta dùng dấu + và., do đó c kí hiệu theo
thứ tự e = ø +b,e = œ5,
Nếu ta dùng kí kiệu + thì luật hợp thành gọi là phép cộng, nếu dùng kí hiệu, thì luật hợp thành gọi là phép nhân Tập hợp X với luật hợp thành trong kí hiệu * gọi là một nhóm nếu luật hợp thành * cớ các tính chất sau đây :
XỊ) Luật hợp thành có đính chất kết hợp nghĩa là a * ø * e) = (a * 6) * ¢ vai moi a,
bce, EN
ÁN;) Luật hợp thành có phần tử trung hòa, nghĩa là có một phần tử e G X sao cho e *
a =a”e=a với mọi a € N Phần tử e gọi
là phần tử trung hòa
N;) Mọi phần tử z € N đều có phần tủ dõi xing a’ © N, nghia laa * a’ =a’ *a =e, N,) Luat hop thành có tính chất giao hodn nghia laa * 6 = 6 * a với moia,b EN thì nhớm X gọi là một nhóm giao hoán hay
nhớm aben (do tên nhà toán học Aben)
Trong trường hợp luật hợp thành kí hiệu bằng dấu + thì nhớm gọi là nhóm cộng (người ta thường dùng kí hiệu + cho các nhớm giao hoán), phần tử trung hòa e kí hiệu O gọi là phần tử không, phần tử đối xing a’ cia phần tử a gọi là phần tử đối của phần tử ø, kí hiệu -ø Trong trường hợp luật hợp thành kí hiệu bằng đấu thì nhớm N gọi là nhớm nhân, phần tử trung hòa £ gọi
là phần tử đơn vị và kí hiệu 1, phần tử đối xứng a` của phần tử ø gọi là phần tử nghịch đào của phần tử ø, kÍ hiệu a~Ì,
Ta hãy lấy một số ví dụ về những nhớm : Xét tập hợp 7° các số thực dương, phép nhân các số thông thường là một luật hợp thành trong xác định trên 7",
Trang 4Thật vậy, nếu ø và ð là hai số thực dương
thi tích ø.b cũng là một số thực dương, nghĩa
là nếu a va b & T* thic = ab € T* Ta hay
thử xem 7” với phép nhân có thỏa mãn ba
tính chất N,), N,), N3) không Tính chất N))
thì đương nhiên được thỏa mãn vì phép nhân
các số có tính chất kết hợp Vì số 1 € 7" nên
Ñ,) cũng được thỏa mãn, Cuối cùng cho một
số thực đương ø, nghịch đảo a~! cũng là một
số thực dương, cho nên Xa) được thỏa mãn
Vậy tập hợp các số thực dương lập thành
một nhóm đối với phép nhân các số thông
thường Ta gọi nhớm đó là nhóm nhân các
số thực dương Dễ dàng thấy rằng do 14 một
nhóm œöen
Nếu ta lấy tập hợp 7' các số thực (không
nhất thiết là dương nữa) với luật hợp thành
là phép cộng các số thông thường, thì cũng
làm như ở trên, ta thấy ngay 7 lập thành
tnột nhóm giao hoán đối với phép cộng mà
ta gọi là nhớm cộng các số thực
Bay giờ ta hay đưa vào một số ví dụ mà
các phần tử của nhóm không phải là những
số và luật hợp thành không phải là phép
cộng hay phép nhân thông thường như
các số
Ta hãy xét ba vật tùy ý mà ta kí hiệu là
A, B, C Cé sáu phép mà ta gọi là phép thế
để trao đối ba vật A, B, C với nhau Th hãy
đặt tên cho sáu phép thé do 1a 7, J, K, R, S,
7 và viết các phép thế đó bằng cách viết các
vat A, B, C sau đó bên phai mdi vat A, B, C
viết vật mà vật đó trở thành sau phép thế ;
chẳng hạn
E=|BC|S=|BB|T= |BA
phép thế 7 biến vật A thành vật B, vật B
thành vật A, vật C thành vật C ; phép thế
I khong làm thay đổi vật nào cả, người ta
gọi là phép thế đồng nhất
Như vậy ta được một tập hợp mà ta kí
hiệu G; gồm sáu phần tử 1, J, X, R, S, 7
Bây giờ ta hãy xác định trên G¿ một luật
hợp thành trong mà ta gọi là phép nhân
Chẳng hạn ta hãy thực hiện lần lượt hai
phép thé J, R trén A, B, C
B¬C¬B
C>A=>A Két qua 14 A bién thanh C
8 biến thanh B
C bién thanh A
Như vậy thực hiện lần lượt hai phép thế
ở, RE cho ta cùng kết quả như thực hiện phép thế 9 Ta định nghĩa tích của hai phép
thé J, , kí hiệu IR là phép thế 8
Th cũng tiến hành tương tự như vậy để định nghĩa tích các phép thế khác Ta chú ý
Rj = T, do đó phép nhân ở đây không giao hoán (đây là một điều cẩn chú ý vì phép
nhân và phép cộng các số là giao hoán, cho
nên ta có xu hướng cho mọi phép toán là giao hoán)
Phép nhân các phép thế không giao hoán nhưng nó kết hợp, có phần tử trung hòa I
mà ta gọi là phần tử đơn vị Cuối cùng cho một phép thế bất kÌ, ta đều tìm thấy phần
tử nghịch đảo của nó Chẳng hạn phần tử nghịch đảo của ở là K, của # là R vì
JK= KJ =I RR=!I
Két luan tap hgp G, lap thanh mét nhém đối với phép nhân các phép thế Nhớm G, gọi là nhóm các phép thế của ba phần tử Ta
có thể lập bảng nhân như sau :
œlm|s|=lm|sis BIS
Các phép quay chung quanh một trục cố định trong không gian lập thành một nhớm giao hoán (tích của hai phếp quay có góc quay là ø và œ` là một phép quay có góc là
œ + a) Tổng quát hơn, các phép đời hình trong không gian lập thành một nhớm
Trang 5Nhĩm các phép biến hình cho phép các nhà
hình học phân loại các hình học Chẳng hạn
hình học khơng gian ƠcHt nghiên cứu các
tính chất bất biến qua các phép dời hình
Oclit
Bây giờ chúng ta hãy giới thiệu một cơng
cụ đác lực dùng trong lí thuyết nhớm, đĩ là
khái niệm đẳng cấu (phải nĩi khơng phải chỉ
M thuyết nhớm mới ding cơng cụ này, mà
tồn bộ tốn học ngày nay) Ta tưởng tượng
cĩ hai nhớm, như hai lâu đài tốn học bề
ngồi khơng cĩ gÌ giống nhau Nhưng khi
nghiên cứu thật kí ta thấy chúng cùng "kiến
trúc”, ta bảo hai nhĩm đớ là hai mơ hinh cu
thể của một nhớm trừu tượng, ta bảo chúng
đẳng cấu với nhau
Chúng ta hãy định nghĩa một cách chính
xác thế nào là hai nhớm đẳng cấu với nhau
Ta hãy xét một nhém N với phép tốn kí
hiệu và một nhớm thứ hai Mì; với phép
tốn kỉ hiệu +, Ta ? ? nhớm W và nhĩm N’
đẳng cấu với nhau nếu :
1) Cĩ một sự tương ứng một đối một ¢
giữa N và N, nghĩa là ứng với một phần tử
a CN là một và chỉ một phần tử a € N’ kf
hiệu (ø), và với một phần tử bất kì b G
N’ ta tim thấy một phần tử b € N sao cho
6` = g(È)} Người ta gọi sự tương ứng một
đối một ø là một song ánh Từ tương ứng
một đối một ø ta dễ dàng thấy rằng nếu W
hữu hạn thì N° cũng hữu hạn và hai tập hợp
cĩ cùng số phần tử
2) Song anh ø biến phép nhân trong N
thành phép cộng trong N°, nghĩa là :
® (A, b) = ø (a) +p 6b)
Th lấy một thí dụ cụ thể để hiểu khái
niệm đẳng cấu và đồng thời nhìn thấy tầm
quan trọng to lớn của khái niệm dod
Chúng ta đều biết rằng cộng hai số với
nhau thì để hơn nhân hai số với nhau, nhất
là trong trường hợp số lớn, chẳng hạn cộng
hai số 68975314 và 95143687 thì thoải mái
hơn là nhân hai số đĩ với nhau nhiều Trong
thiên văn học các khoảng cách trong vũ trụ
đều được đo bằng năm ánh sáng Để cĩ một
khái niệm về các khoảng cách trong vũ trụ,
chúng ta hãy nhớ rằng một năm ánh sáng
bằng 9.460.800.000.000 km Tém tat lại các
nhà thiên văn phải sử dụng những con số
346
rất lớn để tính tốn, và ta phải nhớ rằng ở thé ki 15, 16 ngudi ta chưa cĩ máy tính như ngày nay Đứng trước tỉnh hình đĩ, để cĩ thể nhân những số lớn, người ta đã tim cach biến phép nhân thành phép cộng bằng khái niệm logarit của một số Khái niệm này cho
ta một thí dụ về hai nhớm đẳng cấu với nhau
Thật vậy ta hãy xét nhớm nhân các số
thực dương T* va nhém cộng các số thực T;
? la@eT — ø(ø) = logø € 7, ø rõ rang
là một tương ứng một đối một
2) dị pad) = logia.b) =
= loga + logb = pla) + ø(b)
Th bảo song ánh ø biến phép nhân thành phép cộng Để biết kết quả của tích hai số
øœ và b, ta lấy logz cộng với logb, do đớ biết log (að) Biết log(a) ta được øb Như vậy ta chỉ phải cộng bai số logz và logb và tránh được việc nhân hai số ø và b
Qua thí dụ trên chúng ta cũng hình dung được một phần nào tẩm quan trọng của khái niệm đẳng cấu : ta cĩ hai nhớm đẳng cấu với nhau, nếu việc tính tốn trong nhĩm này phức tạp ta chuyển sang tính tốn ở nhớm đẳng cấu với nĩ mà trong đĩ tất nhiên việc tính tốn đơn giản hơn Đớ là một việc làm thường xuyên của người làm đại số hiện đại Muốn nghiên cứu một nhớm, nếu việc nghiên cứu thuận lợi người ta nghiên cứu ngay trong nhớm đĩ, nếu khơng người ta nghiên cứu trong một nhớm đẳng cấu với nhĩm đơ, với điều kiện là nhớm đẳng cấu cho ta nhiều điều kiện nghiên cứu dễ dàng hơn Nhờ khái niệm đẳng cấu, Cơlai đã đưa việc nghiên cứu nhĩm của một đa diện đều
về nhĩm của một phương trình bậc năm,
Pộngcarê đã đưa việc nghiên cứu các hàm
Phúc-sơ về việc nghiên cứu nhớm các phép đời hình trong mặt phẳng Lơbatrepski Và
ta cịn vơ vàn ví dụ tương tự như vậy vì làm Đại số hiện đại là như thế
Trong thiên nhiên khơng phải chỉ cĩ cấu trúc nhớm, cịn cĩ nhiều cấu trúc khác nữa,
nhưng cấu trúc nhớm là cấu trúc khá đơn giản cho nên ta gặp nĩ trong nhiều địa hạt của khoa học Do đĩ mà nớ chiếm một địa
vị khá quan trọng trong tốn học cũng như trong một số lớn ngành khoa học khác
Trang 6TỪ BÀN TÍNH GẢY
ĐẾN MÁY TÍNH ĐIỆN TỬ
Ngay từ thời thượng cổ để đếm đúng số
súc vật săn bắn được hoặc đếm số người
trong bộ lạc, con người đã lấy những đốt
xương sống của súc vật lồng vào một cái que
và gày dần từng đốt lên một đầu que mỗi
khi đếm một đơn vị Công cụ đó dần dần
giúp cho các "nhà toán học" thô sơ của chúng
ta biết phép tính cộng và sau này đã phát
triển thành bàn tỉnh gây của Trung Quốc và
của Âu châu
Có tài liệu nói rằng bàn tính Trung Quốc
đã xuất hiện gần 6000 năm nay, và Ít nhất
ta cũng có thể khẳng định được rằng công
cụ này đã được sử dụng rộng rãi từ đời
Nguyên (thế kỉ 18) Bàn tính gây du nhập
vào Âu châu qua nước Nga vào thời đại phục
hưng, hình đáng hơi khác bàn tính Trung
quốc ở chỗ không có then ngang và mối cột
có đủ 10 viên bí Hiện nay ở Trung Quốc các
công xã đều dùng bàn tính Còn ở Liên Xô
mặc dù rất nhiều máy tính hiện đại, người
ta vẫn không quên bàn tính Thí dụ như ở
trường Lômônôxôp, ai cũng trông thấy các
bà bán hàng một tay gây bàn tính, một tay
bấm nút trên một máy tính điện tự động !
VÌ vậy, các bạn chớ coi thường ban tinh gay,
nhất là các bạn cấp hai, trong chương trình
có dạy bàn tính gẩy, các bạn cố học cho cẩn
thận sử dụng cho thành thạo
Noi chung ban tinh gay cd thé lam được
mọi phép cộng trừ nhân chia và khai căn,
nhưng thông dụng nhất vẫn là cộng trừ Bàn
tính gây đã phần nào đáp ứng được nhu cầu
tính toán, về nông nghiệp như tính toán
ruộng đất, chia hoa mầu, thu chỉ các khoản
don gian v.v Bàn tính và một số dụng cụ
tính toán thô sơ khác đã góp phần vào việc
xây dựng những ngôi đền bằng đá đầu tiên
ở một số thành phố Nga ngày xưa như Kiếp,
Nốpgôrớt v.v
Nhưng sang thế kỈ thứ 16 - 17 công
nghiệp và thương mại phát triển đòi hỏi
thêm công cụ tính toán Năm 1617 Nêpe
phát minh những "cây đũa" giúp cho làm
phép nhân khá tiện lợi, năm 1942, Pátcan
mới 17 tuổi, đã giúp cho ông bố làm công
VŨ SƠN
tác tài chính đỡ vất và, đã sáng chế ra một máy tính công có thể tự động chuyển được
số nhớ từ hàng dưới lên hàng trên Năm
1694, Lépnit đã xây dựng thành công chiếc máy tính cơ khí đầu tiên thực hiện được đủ
4 phép tính số học Như vậy đi đôi với cuộc cách mạng kỉ thuật cơ giới hóa, các công cụ tính toán cũng đã dần da sử dụng nguyên tấc cơ khí như bánh xe răng cưa, khấc hình bậc thang v.v chứ không phải chỉ nhờ ngón tay gẩy như ở bàn tính Cuộc cách mang ki thuật càng đẩy mạnh, thì các công cụ tính toán dé càng phát triển nhất là từ thế kỉ
thứ 19 Năm 1874 Ốtne sáng chế ra máy
tính gài số trên hình trục, sau này cải tiến thành những chiếc máy kiểu Phêlixơ của Liên Xô hoặc Phi mã của Trung Quốc, mà hiện nay ở ta vẫn thường dùng
Từ khi cao trào điện khí hóa bất đầu, những máy tính cơ khí đã dần da trở thành những máy tính bấm điện như những loại Ascota và Nisa của Tiệp rất thông dụng ở ta Đồng thời những máy tính sử dụng bìa đục lỗ cũng ra đời Ngay từ năm 1801 Lácca
đã sáng chế ra một máy dệt điều khiển bằng
những tấm bìa đục lỗ để dệt ra các loại vải khác nhau Nhưng phải đợi ngót một thế kÌ sau mới đủ điểu kiện cơ khí và điện khí hóa
để thành hình một loạt loại máy sử dụng bìa đục lố như : máy đục lỗ, máy kiểm tra, máy lập bảng v.v Cho đến nay, các máy này vẫn đang phục vụ đắc lực trong các cơ quan thống ke, tài chính, ngân hàng, thương mại Một số máy như máy đục lỗ, máy kiểm tra, máy đục kết quả được tham gia vào làm một
bộ phận của máy tính điện tử chữ số vạn năng VÌ thế đôi khi các em nghe nới về loại máy này, có thể tưởng lầm đó là máy điện
tử Sự thực loại máy này chủ yếu chỉ sử dụng điện hoặc điện từ Gần đây có một số máy cũng sử dụng bìa đục lỗ xây dựng với kỉ thuật điện tử và đóng vai trò trung gian giữa loại máy trên và máy tính điện tử chữ số
Từ khoảng cuối thế kỈ 19 đầu thế kỉ 20 trở
đi còn dần dà thành hình loại công cụ tính toán mô hình như thước tính LôgarÍt, diện
Trang 7tích kế, títh phân kế và máy tính điện tử
mô hình Bước đường tiến triển của loại máy
tính này cũng đi từ thấp đến cao : diện tích
kế chỉ gồm những bộ phận cơ giới đơn giản
như bánh xe răng cưa và chỉ dùng để tính
được tích phân những hàm số mà ta vẽ được
đồ thị, trong khi đó máy tính điện tử mô
hình sử dụng kĨ thuật điện tử, giải được một
số lớp phương trình vi phân khá rộng
Nhưng, như ta đã biết, những máy này
khác xa máy tính điện tử chữ số vạn năng
về nguyên tắc cấu tạo Máy mô hình chỉ giải
được một số bài toán nhất định với một độ
chính xác chừng 3, 4 số lẻ, trong khi máy
tính điện tử chữ số vạn năng giải được bất
kì loại bài toán nào cớ thuật toán, với độ
chính xác tùy ý Máy tính điện tử chữ số vạn
năng cũng khác xa với các loại máy tính cơ
khí, hoặc điện khí nói trên, ở chỗ trong máy
tính điện tử mức độ tự động hớa không dừng
lại trong phạm vi từng phép tính, mà tự
động hóa toàn bộ quá trình tính toán, kể cả
khâu chuyển tiếp từ phép tính này sang
phép tính khác, dù việc chuyển tiếp đó phụ
thuộc vào sự suy luận lôgic lắt léo hoặc vào
điều kiện xung quanh tác động phức tạp đến
mức nào cũng được VÌ vậy, máy tính điện
tử có khả năng sử dụng không những như
một công cu tính toán, mà còn như một công
cụ điểu khiển tự động Chính vi vậy, máy
tính điện tử chỉ có thể ra đời và bắt buộc
phải ra đời trong cuộc cách mạng kĩ thuật
về tự động hớa
Tất nhiên, đã có những thiên tài thấy
trước từ lâu một số nguyên tac vi dai cia
máy tính điện tử chữ số vạn năng, Bébitgia
(Babbedge) một giáo sư người Ảnh, ngay từ
năm 1833 đã đề ra một phương án máy tính,
trong đơ trình bày đẩy đủ các nguyên tác địa
chỉ và lưu trữ chương trình, các phép tính
lôgíc, phép chia nhanh v.v Nhưng Babbedge
không thể vượt quá thời đại của mình trong
việc thực hiện, vÌ dùng cơ khí như thời đó
thì những bánh xe răng cưa cổng kềnh phức
tạp sẽ không chuyển động được với tốc độ
và mức chính xác thực tế Vì vậy chẳng bao
lâu, công trình của Babbedge đã bị lãng
quên, mặc dầu mấy chục năm sau, con cháu
ông đôi lần vẫn nhắc đến nơ
Phải đợi đến đầu thế kỉ 20, những khái
niệm cực kÌ mới mé về toán học hiện đại dẫn
đến sự hình thành lí thuyết, thuật toán
(khoảng năm 20) và lí thuyết máy tự động,
đặc biệt là máy Turinh (Turing) (năm 30)
348
khi đó lí thuyết về máy tính điện tử mới được xây dựng lại trên cơ sở mới
Nhưng lần này các tiên đề cần thiết cho
sự ra đời của máy tính điện tử chữ số vạn năng đã chín mùi :
~ Về nhu cầu kinh tế, sản xuất thì sự kiến thiết quy mô trên toàn thế giới đòi hỏi phải tính nhanh, nhiều và chính xác Nhu cầu về
tự động hóa sản xuất đòi hỏi máy tính tham gia đắc lực vào khâu tự động hớa Một như cầu trực tiếp là nhu cầu về pháo binh phòng không (xem Toán học và Tuổi trẻ số tháng
7~1967) đã tập hợp một số nhà toán học từ năm 1940 để chế ra máy tính hiện đại
— Về cơ sở kỉ thuật thì công nghiệp điện
và điện tử đã đạt mức độ cao, đáp ứng được nhu cầu chế tạo các bộ phận này
— Về cơ sở toán học, nhất là lôgie học đã
đủ tỉnh vi để phục vụ cho cấu trúc luận lí
của máy tính hoàn toàn tự động hóa
Tuy vậy, việc nghiên cứu còn nhiều khớ khăn trở ngại Từ năm 1940, trong một số phòng thí nghiêm về điện thoại và ở trường
Đại học Hacvarơ, người ta đã chế ra một số
máy tính dùng rơle điện từ, như máy Mark
- 1 và Mark ~ 2 nhưng đều thất bại Phải
đợi đến năm 1945, máy Eniac ra đời, dùng bóng đèn điện tử bấy giờ mới bắt đầu thành công trong việc xây dựng máy tính điện tử chữ số
Do như cầu thực tiễn sản sinh ra, nên máy tính điện tử cũng trở lại phục vụ thực tiến rất đắc lực như trong mấy bài báo trước
đã giới thiệu và sau này sẽ giới thiệu thêm, Chỉ xin bổ sung một điểm : Ngay sau khi mới
ra đời, máy tính điện tử đã giải một bài toán
về vật lí hạt nhân và một bài toán về quỹ đạo thiên thể là những bài toán thực tế không thể
giải được nếu thiếu máy tính điện tử Máy tính
điện tử không ngừng cài tiến và ngày càng
phát triển trên khấp thế giới Các nước xã hội
chủ nghia cũng rất chú trọng đến ngành này Ngay từ năm 19ð8, Liên Xô đã chế tạo được máy bĐCM là máy tính mạnh nhất châu Âu hồi đó và ngày nay đã sân xuất được máy tính nhanh hàng triệu phép tính một giây Trung Quốc đã phát động được nhiều trường Đại học
và cả trường Trung học chuyên nghiệp chế tạo lấy máy tính điện tử của mình Ba Lan, Cộng hòa dân chủ Đức, Bungari, v.v cũng
đã sản xuất được máy tính điện tử Và chắc hẳn, trong số các em thế nào cũng có nhiều
em trở thành các nhà khoa học về máy tính
điện tử của nước ta !
Trang 8NEU TUOC MAT CHU "KHONG"
TRONG NGON NGU
Bạn thử tưởng tượng xem, nếu bây giờ
cấm bạn dùng chữ "không" trong cuộc sống
hàng ngày thì chắc sẽ xảy ra lắm điều phiền
phức Thí dụ đến bữa có người mời bạn an
cơm, vì lí do nào đó bạn không muốn ăn, tất
nhiên câu trả lời đơn giản là "tôi không ăn"
Nếu cấm bạn dùng chữ "không", thì thực
cũng khó tìm được cách trả lời Tùy từng
trường hợp, bạn cơ thé thay câu trả lời nói
trên bằng những câu đại loại như "tôi no rồi",
"tôi vừa mới ăn xong" v.v nhưng rõ ràng là
những câu đó cũng không thể diễn đạt nổi
cái nội dung đầy đủ của câu "tôi không ăn",
những câu thay thế sẽ hoặc thừa hoặc thiếu
Có thể nói, cấm dùng chữ "không " là tước
mất một nửa hả năng nhận thức và diễn
đạt Trong bài này, tôi không dám bàn đến
chữ "không" nói chung, mà sẽ chỉ nơi chút
Ít về chữ "không " trong toán học thôi,
Ta bát đầu bàng một vài thí dụ đơn giản :
khi học về số thực ta phát biểu định lí :
Phương trình x2 + ! = 0 khóng có nghiệm
thực Và chứng minh như sau : Giả thử có số
thực z sao cho z + 1 = 0 Khi dé x? = -1 Một
số không âm (x?) bằng một số âm ! Vô lí Vậy
không có số thực x nào nghiệm đúng x? + 1 = 0
Ta có thể thay cả đoạn đó bằng một đoạn với
nội dung tương đương mà hoàn toàn mất chữ
"không" : Định lí : Với mọi số thực x, z2 + 1
là một số khác 0 Chứng minh : x là số thực,
vậy +2 là số dương hoặc 0, cộng thêm 1 được
số z2 + 1, số này là đương, vậy +2 + 1 khác 0
Bạn có thể đồng ý rằng hai câu "phương
trình x2 + L = 0 không có nghiêm thực" và
"với mọi số thực z, z2 + 1 là một số khác 0"
có nội dung tương đương, nhưng chác chắn
rằng bạn có thể thắc mắc : Tránh dùng chữ
"không" thì lại phải dùng chữ "khác", nào có
hơn gì ? Một số khóc 0 chẳng phải được định
nghĩa như là một số không bằng 0 là gì ?
Muốn giải quyết được thắc mắc đó, ta phải
tìm cách định nghỉa khái niệm "khác" mà
tránh dùng chữ không, tức là "khác" được
định nghĩa độc lập với "không bằng", Có thể
PHAN ĐÌNH DIỆU
làm như sau : Chẳng hạn nếu x va y là những số nguyên, thì ta có thể định nghia
*x lớn hơn y nếu có số dương ư sao cho
z =y +u" và sau đó "x khóc y nếu hoặc x lớn hơn y, hoặc y lớn hơn x" Với trường hợp
số thực, thì có phiền phức hơn chút ít Ta
biết rằng mỗi số thực x đều có một cách biểu
diễn thành phân số thập phân vô hạn :
Nếu ta không kể những phân số thập
phân mà từ một lúc nào đó trở đi mọi chữ
số đều là 9 thi mọi số thực có một cách biểu diễn duy nhất thành phân số thập phân vô hạn (thí dụ ta không viết ; = 0,4000 ma
1 chi viét 27 0,5000 ) Giả thử số thực y cơ cách biểu diễn :
y =, b, by by Ta dinh nghia "x khée y nếu
có một chỉ số z nào đó sao cho ø, khác ö " (vì ø„ và b„ là số nguyên, nên khái niệm "d„ khác b,„" coi như đã biết)
Lấy thêm vài thí du : những định lÍ sau đây : 1) Số 2 không có căn bậc hai là số hữu ti; 2) Không có hình chữ nhật nào là hình
tròn cả ;
Bạn có thể thay
3) Trong những hình có chu vi p cho trước thì hình vuông khóng phải là hình có diện tích lớn nhất v.v
Chẳng hạn bằng những định lí có nội
dung tương tự như sau : 1) Với mọi số hữu tÌ ø, luôn luôn a? khác 2 ;
2) Với mọi hình chữ nhật P và mọi điểm .A luôn luôn có thể tim trên chu vi của P hai điểm 8 và C sao cho ÁB có độ dài khác AC 3) Với mọi hình vuông có chu vi p, luôn luôn có một hình với chư vi p và có diện tích lớn hơn diện tích của hình vuông đó
(*) Trong cách biểu didn dd, a, là số nguyên : ai a; là những số nguyên ldy nhitng gid wi từ 0 đến 9
Trang 9Nói vài điểu như vậy để nếu bạn đồng ý
thì để nghị bạn thử làm một việc như sau :
Khi đọc một khái niệm, một định lí hay một
chứng minh nào, nếu trong đó có chữ
"không" thì bạn thử tập tìm một cách diễn
đạt khác cho khái niệm, định H hay chứng
minh đó mà đừng dùng chữ "không" Làm
như thế cũng là một cách tập dượt tư duy
lôgic của bạn, và chắc hẳn cũng không phải
là một việc vô Ích, viển vông Từ nông đến
sâu, bạn có thể làm việc đó trong phạm vi
một định lÍ, một chứng mỉnh, rồi đi ngược
lên, làm việc dé cho những định lí đã có
trước Và cao hơn hết là bạn sẽ đi đến ý nghĩ
làm việc đó cho toàn bộ toán học ! Di nhiên
việc vứt chữ "không" không phải bao giờ
cũng làm được dễ dàng đâu
Nhân đây xin nói thêm một tí Cái ý định
xây dựng một thứ toán học hoàn toàn không
có chữ "không" cũng đã được một số nhà
toán học chú ý Người đề xướng và tích cực
làm việc này là Griss Ông ta cho rằng mọi
khái niệm, chứng minh cớ dinh đáng đến chữ
"không" đều là mơ hồ Ví dụ cái câu "không
eó hình chữ nhật nào tròn" là rất mơ hồ Nào
có ai biết "hÌnh chữ nhật tròn" là cái gì Nếu
khẳng định "không có hình chữ nhật nào tròn" thế thì anh phải biết "hình chữ nhật tròn" là cái gì nếu như nó cớ chứ ? Đối với chứng mỉnh cũng vậy Thí dụ khi chứng
minh rằng "phương trình z?+ 1 = 0 không có nghiệm thực", ta giả thử rằng có số thực x
sao cho z2 +1 = 0 rồi đi đến vô Ii, tu do ta
quả quyết phương trình x2 + 1 = 0 không có nghiệm thực Đã không có x sao cho x2 + 1 = 0 thì sao lại cớ quyền giả thử rằng nó có ! Thế
là vớ vẩn Từ một điều vớ vẩn suy ra một điều vớ vẩn rồi tung ra một định lí Như vậy không được ! Nhưng thôi xin dừng ở đây vì người viết cũng không có ý định tuyên truyền cho tư tưởng của Giss Ban than người viết không phải là môn đồ của thuyết toán Griss và cũng mong các bạn sẽ không
là môn đồ của thuyết toán đơ Vì nói cho cùng, chữ "không" đối với chúng ta vẫn đáng quý lắm Viết bài này chỉ có mỗi một Tục đích là giới thiệu với các bạn một cách để tập dượt tư duy lôgie khi học toán mà thôi, chứ tuyệt đối không muốn các bạn vì mot vài lập luận cớ tính chất bài bác trên kia của Griss mà coi thường những phương pháp logic chúng ta vẫn ding trong toán học
PHƯƠNG PHÁP XẤP Xi LIEN TIEP
Như các bạn đều thấy, việc giải một
phương trình đại số bậc nhất một ẩn
là một việc hết sức đơn giản
Lại nữa, đối với phương trình bậc hai
0x2 + bz +c= 0 (2)
ta có những công thức rất đẹp để tìm nghiệm
#t; = (b + VE? ~ 4ac)/2a
Đến như phương trình bậc ba
a3 + bz2 + cx + đ = 0 (8)
thì việc tỉm nghiệm đã phức tạp hơn nhiều
Bằng phép thế ta đưa được (3) về dạng
350
HỒ THUẦN (Ha Noi)
Đối với (4) ta có công thức giải có đạng y= 3 ~g/2 + Vara +p27 +
+ 4 4/2 + vai + phai
Ở đây ta hiểu đối với một phương trình nào đó có công thức giải nếu như có thể biểu thị các nghiệm của phương trình đó theo các đại lượng có mặt trong phương trình nhờ
vào các phép tính số học (cộng, trừ, nhân,
chia), phép khai căn, các hàm lũy thừa, hàm lôga và các hàm số vòng thuận và ngược Với phương trình bậc bốn ta vẫn còn có công thức để giải nhưng hết sức phức tạp
Một câu hỏi hết sức tự nhiên là : thế còn đối với phương trình bậc năm và phương
Trang 10trình bậc cao han thi sao ? Nam 1826 nha
toán hoc Na uy Nin Henric Abel (va sau đó
là nhà toán học Pháp Galoa) đã chứng minh
rằng với n > ð thì nói chung không có công
thức biểu diễn nghiệm của phương trình
đại số
ax tax”) + +a,=0
nhờ vào các phép tÍnh số học và phép khai
căn Đối với hầu hết các phương trình siêu
việt, chẳng hạn
e + e* = Yeosx (e = 2,71828 )
thì tình hình cũng như vậy
Tuy nhiên điều đó hoàn toàn không có
nghĩa là chúng ta chịu bó tay trước những
phương trình loại đó Trong quá trình nghiên
cứu cách giải các phương trình, các nhà toán
học đã xây dựng được một phương pháp tổng
quát để giải các phương trình được gọi là
phương pháp xấp xỈ liên tiếp (hay phương
pháp lặp) mà ý cơ bản là như sau :
Giả sử phải giải phương trình
Th viết lại phương trình (5) dưới dạng
Nói chung có nhiều cách viết (5) dudi
dạng (6) Sau đó ta chọn một giá trị gần
đúng ban đầu *s (việc chọn này nói chung
là tùy ý) và thế vào vế phải của phương trình
(6), để tính giá trị gần đúng thứ nhất
*zị =Œ,)
Một cách tổng quát, một khi có giá trị
gần đúng thứ ø là x„, thì giá trị gần đúng
tiếp theo nè được xác định theo công thức
Như vậy ta xây dựng được dãy số
Xe ty X;, 4 X,y - VA trong trudng hợp dãy số
đó hội tụ
limx, = § n> © thì £ chính là nghiệm của phương trình
x = p(x) (© dy ta gid thiét p(x) là hàm liên
tục, có nghĩa lim p(x) = p(a))
xa
Thực vậy, xét đẳng thức (7?) ta thấy khi
»ø tiến tới vô cùng vế trái tiến tới ÿ còn vế
phai do g(x) là hàm liên tục nên tiến tới
ø() Từ đó £ = ø(£) Điều đó có nghĩa £ là nghiệm của phương trình + = g(x)
Trong thực tế ta tiến hành như sau Gia
sử sau một số bước ta có #„=„+¡ với độ chính xác cho trước Khi dé vì
#,+¡= #(x„) nên ta cũng có x„=(x„) với
độ chính xác cho trước Do đó cơ thể lấy #n
là giá trị gần đúng của nghiệm của phương trình z = ø()
Ta lấy một ví dụ : Giải phương trinh
10% ~ 1 - cosx = 0
với độ chỉnh xác tới 0,001
Ta viết lại (8) dưới dạng sau
x = (1 + cosx)/10 (9) Chon x, = 0 và thay vào vẽ phải của (9),
ta có
(8)
x, = (1 + cos0/10) = 0,2 Lại thay x = 0,2 vào vế phải của (9), ta có
#¿ = (1 + cos0,2)/10 = (1 + 0,98/10 = 0,198 Tiếp tục ta có
X3 = (1 + cos0,198/10 = 0,198
Ta thấy đẳng thức #„ =x; được thỏa mãn
với độ chính xác tới 0,001 Điều đó có nghĩa
là số x; = 0,198 là nghiệm với độ chính xác tới 0,001 của phương trình
x = (1 + cosx)/10
Trên đây đã trình bày bản chất của phương trình xấp xỈ liên tiếp để giải phương
trinh f(x) = 0 Van dé con tổn tại là hàm
ø() trong (6) phải như thế nào để quá trình lặp hội tụ (tức day {x,} hoi tu) va khi dé cần đánh giá tốc độ hội tụ của quá trình lặp (tức đãy các giá trị gần đúng Xe», 2o tiến tới nghiệm của phương trình z = ø(z) nhanh chậm ra sao) Để giải quyết các vấn để đó
ta cẩn đưa vào khái niệm ánh xạ co (Vì chỉ
xét trên trục số thực nên ở đây ta có thể
hiểu ánh xạ là hàm số thông thường)
Cho ham (x) xác định trên đoạn [ø, b]
Đó là một quy tắc làm ứng với mỗi x € [ø, J()
một giá trị hoàn toàn xác định và duy nhất
v(x) Quy tắc đó dược gọi là ánh xạ Nếu (x) & [a, 6] véi moi x € [a, 5] thi ta noi øŒ@) là ánh xạ từ [a, b] vào chính nớ
(1)xz€ [a, 6] doe 1 “x thuộc |a, b], có nghĩa x là một
điểm của [a, b}
351