Tuyển tập 30 năm Tạp Chí Toán Học và Tuổi Trẻ (part4-5)
Trang 1những nước có nền khoa học kí thuật tiên
tiến Nó được ứng dụng rất có hiệu quả
trong kinh tế (để tổ chức quá trình sân xuất,
kiểm tra sản phẩm điều tra thiên nhiền và
dân cư, dự báo thời tiết, v.v ), trong quân
sự (lí thuyết bán, lÍ thuyết thông tin v.v )
Kinh tế ngày càng phát triển, sự sản xuất
hàng loạt và ki thuật tự động ngày càng phổ
biến thì vai trò của lÍ thuyết xác suất ngày
càng quan trọng LÍ thuyết xác suất đã là
công cụ rất mạnh mẽ và không thể thiếu
được của vật H học, hóa học khi các khoa
học đó đi sâu vào thế giới đẩy sự ngẫu nhiên
của phân tử, nguyên tử v.v LÍ thuyết xác
suất cũng đã giúp cho y học, sinh vật học
hiện đại cùng nhiều ngành khoa học khác
đạt được những thành tựu xuất sắc
Trong phạm vi bài báo này chỉ có thể sơ
bộ giới thiệu với các bạn về khái niệm xác
suất chứ không thể nào nơi lên được nội
dung phương hướng (dò chỉ là những điểm
chủ yếu) và những ứng dụng to lớn của môn
toán học phong phú như lí thuyết xác suất
Bài toán săn thú
a) Hai người đi săn độc lập với nhau đồng
thời bắn vào một con thú Giả thiết rằng :
với khoảng cách như vậy, thông thường mỗi
một trong hai người bắn trúng thú một
trong ba trường hợp Tính xác suất để con
thú bị bắn trúng trong trường hợp này
b) Giải bài toán với trường hợp ba người
đi săn
e) Giải bài toán với trường hợp mœ người
đi săn
(Nếu ở đây thay người đi săn bàng chiến
sĩ phòng không và con thú bằng chiếc máy
bay địch thì ta có bài toán săn máy bay)
Lời giải :
a) Dé tinh xác suất ta có thể thay hai
người đi sản bằng hai người rút vé Cơ hai
chiếc hộp, mỗi hộp đựng 2 vé có ghi chữ S
(S là viết tắt chữ sai) và 1 vé ghi chữ 7'
(trúng) Hai người rút hú họa một cách độc
lập với nhau từ trong hai hộp ra một chiếc
vé Chữ 7' tương ứng với trường hợp con thú
bị bấn trúng, còn chữ ŠS tương ứng với
trường hợp ngược lại Ta kết hợp 3 "kết cục
có thể" *) (hai kết cục cho chữ § và một kết
cục cho chữ 7) của người thứ nhất với 3 "kết
cục cổ thể" của người thứ hai, ta sẽ có tất
cả 9 kết cục sau") ;
Rõ ràng là 9 kết cục này có khả năng xẩy
ra đồng đều như nhau (không thiên vị một kết cục nào) Mà trong 9 "kết cục có thể" đó chi 5 kết cục có chứa chữ 7T (tức B kết cục ứng với trường hợp con thú bị bấn trúng)
5 như vậy xác suất phải tìm là 8 b) Xét trường hợp ba người đi săn - ta cũng thay ba người đi săn bằng ba người rút
vé, trường hợp này có tất cả 27 kết cục có thể và đồng khả năng (kết hợp 9 kết cục trên với 8 "kết cục có thể" của người thứ ba)
T tính số kết cục có chứa chữ 7 Số kết cục
có chứa chữ 7' trong hai chữ đầu là 5 x 3
= 15 (két hợp 5 kết cục chứa chữ 7 trong phần a) với 3 kết cục có thể của người thứ ba) còn số kết cục mà chữ 7' chỉ đứng sau cùng là 4 (kết hợp 4 kết cục không chứa chữ
T trong phần a) với kết cục 7 của người thứ ba) Vậy trong 27 "kết cục có thể” và đồng khả năng ở trên có 15 + 4 kết cục ứng với trường hợp con thú bị bắn trúng Xác suất phải tìm là +
c) Trong trường hợp có người đi săn cùng bắn một lúc vào con thú, cũng tương
tự như các trường hợp ø, Ò ta đễ dàng thấy
là có 8? "kết cục cớ thể" và đồng khả năng Tuy nhiên việc tính số các kết cục có chứa chữ 7 sẽ phức tạp hơn nhiều Ta cd thé làm một cách đơn giản hơn là tính số các kết cục
(1) Giả sử ta thực hiện ø tần nhóm các điều kiện nói trên Ta kí hiệu số lần xuất hiện biển cố ngẫu nhiên 4 —
"
biến cố mà ta theo dõi — là na, khi đó = được gọi là tắn
số xuất hiện biến cố 4 Thí du nếu ta tung một đồng xu (không méo) 100 lần mà mặt ngửa xuất hiện 54 lần thì ta nói tắn số xuất hiện mặt ngửa là 54/100
*} Ở đây trong mỗi hộp có 3 chiếc vé, mỗi chiếc vé đều
có thể được rút ra, vì vậy kết quả rút vé của mỗi người có thể rơi vào một trong ba trường hợp : hai trường hợp cho chữ § và một trường hợp cho chữ 7 Ta gọi ba trường hợp
đó là 3 "kết cục có thể" trong việc rút vé của mỗi người riêng biết
” Ö đây ta xét việc rút vé của cả hai người, chữ 57
chẳng hạn là ứng với kết cục trong đó người thứ nhất rút
trúng chữ $, người thú hai rút trúng chữ T
325
Trang 2ứng với việc cả ba người đều bắn sai Trong
8 "kết cục có thể", rõ ràng số kết cục ứng
với người thứ nhất bấn sai bằng
2
gH 2.971 Trong 2.3°~ Í trường hợp
mà người thứ nhất bán sai ấy thì có 5 28 —!
trường hợp người thứ hai cũng bắn sai
Trong 22 8!” ? trường hợp cả hai người đầu
bán sai này thì có 2a gr? trường hợp
người thứ ba cũng bắn sai nốt Tiếp tục lÍ
luận đó ta sẽ có 2? kết cục trong 3" "kết cục
có thể" ứng với việc cả œ người đều bắn sai,
Vậy số kết cục ứng với việc con thú bị bấn
trúng (tức là ít nhất có một người bấn trúng)
bang 3” — 2", Xác suất phải tìm bằng
3 71- (3)
Bằng cách dùng chiếc que mà xác
định được gần đúng số + !
Ta biết rằng số x (bằng tỈ số giữa chu vi
vòng tròn và đường kính của nở) là một số
vô tỉ, hơn nữa nó không thể được biểu diễn
dưới dạng một biểu thức đại số hữu hạn Tuy
nhiên, có nhiều cách biểu diễn nớ được dưới
đạng một biểu thức đại số vô hạn, nhờ đó
có thể tính gần đúng số z với độ chính xác
tùy ý Thí dụ sau đây là một vài công thức
cổ điển đối với số x
Công thức Viết (1540 - 1608) :
x
2° ft ft, 2f2
3V2*2\2*
{1 atg A fy 3° 37 1
Công thttc Ole :
“ =.l+—+
„ha
Công thức Laynit (1646 — 1716)
4t-g?g 7+
Công thức Valit (1616 - 1708)
2224486
ˆ“1'5'5'515 17“
NV
326
Sau đây sẽ đưa ra một cách xác định gần đúng số x bằng phương pháp xác suất Phương pháp đó sẽ rút ra ngay được từ lời giải của một bài toán xác suất được gọi là bài toán Bupphông (1707 - 1788)
Trên mặt phẳng kẻ hai đường thẳng song song cách nhau một khoảng 2ø Tung hú họa xuống mặt phẳng một chiếc que nhỏ có độ dai 2a Chứng minh rằng xác suất để que cắt một trong hai đường thẳng song song bằng 2 = 0,637
Chú ý : Chữ tung hú họa ở đây phải hiểu
theo nghĩa : 1) Tâm của que rơi hú họa trên đoạn thẳng 2a vuông góc với hai đường thẳng song song
đã cho và kèm giữa chúng
3) Góc x là góc lập bởi que lí, với phương các đường thẳng song song lấy hú họa giá trị trong đoạn [0, z] (một cách độc lập với vị trí tâm của que)
Lời giải : ta kí hiệu khoảng cách từ tâm của que đến đường thẳng gần nhất trong hai đường thẳng song song 14 y (hinh 1)
Theo hai diéu kiện L), 2) ta thấy 0 « x
<~,Ũ<y <a, tất cà các kết cục có thể xảy ra được biểu thị bởi cặp số (x, y} trong
đó x lấy hú họa giá trị trong đoạn (0, z], còn + độc lập với x lấy hú họa giá trị trong đoạn ï0, ø] Tập hợp tất cả các "kết cục có thể"
đó có thể minh họa bằng tập hợp tất cả các điểm lấp đầy hình chữ nhật OMNP có các canh OM = a OP = x (hinh 2) va diém (z, y)
sẽ rơi hú hoa (không thiên về vị trí nào) trên hình
chữ nhật đó Theo
"đồng khẢ năng"
này ta cổ xác suất
để điểm (x, y) rơi vào một phần nào đó của hình chữ nhật sẽ bằng tỈ số diện tÍch của phẩn ấy trên diện tích hình chữ nhật OMNP Điều kiện cần và đủ để cho que cắt một trong các đường thẳng song song là y « asinr VÌ vậy xác suất p phải tìm chính là xác suất để
Hình 1
Hình 2
Trang 3điểm (, y) rơi vào phía dưới đường cong
y=œsin Diện tích hình chữ nhật OMNP
bằng az còn diện tích phần nằm phía dưới
đường cong y = asin bằng 2ø Vậy :
34 _ 2
Ti sự trỉnh bày khái niệm xác suất ở phần
đầu ta biết rằng có thể xác định gần đúng xác
suất p (tức cũng là xác định gần đúng số z)
nhờ tẩn số, vi vậy ta suy ra ngay tức khác
cách làm thế nào để tưng chiếc que nhiều lần mà xác định được gần đúng số œ Nhớ rang trong việc làm đó phải cố gắng chú ý dam bào hai điều kiện L), 2) Cũng cẩn nói
rõ với các bạn ; ban nào muốn chơi trò chơi nay thi hãy xem lại lòng kiên tâm của mình đấy, vì để xác định số z với độ chính xác lớn thì nói chung cần phải tung rất nhiều lần Thí dụ người ta đã tung 5000 lần và xác
định được giá trị gần đúng z ~ 3,159
KHÁI NIỆM VỀ
LÍ THUYẾT NHẬN DẠNG
Ta hãy vào thăm một lớp vỡ lòng Cô giáo
viết lên bảng chữ ø, chit e, chit i doc to cho
các em nghe Mỗi chữ cô giáo đều viết nhiều
lần Chữ cô thật là nắn nót, tuy vậy các chữ
œ cô viết cũng không thể hoàn toàn giống
nhau (xem hình 1) các chữ e cũng vay Mac di
như thế các em vẫn đần dần phân biệt được
cdc mau chit a với các mẫu chữ e, chit i, v.v
Giai đoạn học đã xong, bây giờ các em
thi Cô giáo (hoặc một thày giáo khác) viết
lên bảng một chữ ø chữ này không hoàn toàn
giống các mẫu chữ œ mà cô giáo đã viết,
nhưng còn giống chúng hơn các chữ khác
Do đó các em dễ đàng đọc được a
Lớn lên, các em làm quen dần với các
mẫu chữ ø do nhiều người viết, có khi viết
rất ngoáy Tuy không giống với những mẫu
chữ ø do cô giáo đã dạy, nhưng chúng vẫn
được các em phân biệt với các chữ khác
Rõ ràng khi trông thấy một mẫu chữ ø mới,
các em tuy có so sánh nơ với những mẫu chữa
đã học, nhưng không cẩn trông thấy hai hình
trùng khít với nhau mới kết luận rằng đơ là
chữ ø, Thực ra các em chỉ làm một phép phân
loại các mẫu chữ đã học ra thành các lớp
chit a, chữ e, chữ ¿ v.v Sau đó các em không
cần nhớ từng mẫu chữ a đã học, mà đường
như chỉ cần nhớ một khái niệm chung, một
"mẫu đại điện" đối với mỗi lớp Gặp một mẫu
ANH DƯƠNG
chữ mới, đường như các em chỉ làm một phép so sánh với những "mẫu đại điện" đớ, rồi trên cơ sở sự gần giống (chứ không phải
là giống hẳn) mà xếp mẫu mới vào một lớp
nào đó
Bộ ốc con người
loại các mẫu chữ đã học và nhận biết một,
mẫu mới nên xếp vào Hink I
lớp chữ nào cho đúng Đó là khả năng nhận dạng Khả năng này thể hiện rất rộng rãi Con người không phải chỉ nhận đạng chữ viết, mà có thể nới : sở di nhận thức được muôn vàn sự vật quanh mình, chính là nhờ khả năng nhận dạng
Thí dụ như việc phân biệt chớ với mèo, lợn, gà, Khi em bé được bố mẹ trỏ cho trông thấy mấy con chớ vàng, vện đầu tiên đang rén chơi với mấy chú mèo đen, mèo tam thể thì trong óc em đã hình thành sự phân loại khái niệm về chớ và mèo Sau này em trông thấy mèo mướp và chớ mực, tuy chẳng giống hoàn toàn những con chớ, con mèo đã gặp, nhưng em vẫn nhận đạng được chúng
Từ ngữ "nhận dạng" không chỉ bó hẹp trong phạm vi những hỉnh dạng có thể nhìn thấy Người ta có thể "nhận dang" cA âm
337
Trang 4thanh chẳng hạn, như dễ dàng phân biệt
tiếng đàn và tiếng sáo, tiếng bom và tiếng
súng, v.v
Lồi người đã từng băn khoăn tự phân
tích khả năng "nhận dạng" của bộ ĩc mình
Người ta nhận đạng bằng cách nào ? Đớ là
câu hỏi thật khớ giải đáp
Như trên đã nơi, để nhận dạng, bộ ĩc
khơng bao giờ yêu cầu mang mẫu mới ra so
sánh với từng mẫu ci đã học chơ tới khi
trùng khít nhau giữa mẫu mới với mẫu cũ
nào đø Bộ ĩc chỉ làm cơng việc so sánh để
phân loại mà thơi Trong quá trình học, bộ
ĩc phân loại các mẫu do người dạy đưa cho
xem (hoặc nghe, ngửi, sờ v.v ) Trong giai
đoạn thi, bộ ĩc xếp mẫu mới vào một trong
những loại đã được phân trước đây
Phải chăng việc phân loại đĩ thực hiện
được là nhờ người dạy đã miêu tâ các mẫu
cho bộ ĩc nắm được tiêu chuẩn của từng loại
mẫu ? Chẳng hạn cơ giáo đã dạy các em
phân tích các nét chữ :
"4 tờ giống mĩc cả hai
‡ ngắn cĩ chấm, tờ đài cĩ ngang"
Bố mẹ muốn dạy các em phân biệt con
chớ với con mèo cĩ thể nơi đến cái mõm dài,
cái thân hình to lớn hơn và đơi mắt khơng
trịn to xanh biếc, tiếng sửa khơng êm ái như
tiếng kêu meo meo
Đúng là việc phân tích tiêu chuẩn của hai
mẫu cĩ nhiều khi giúp cho việc phân loại và
nhận đạng dễ đàng hơn Nhưng sự vật nhiều
khi phức tạp lắm, phân tích tiêu chuẩn
khơng đủ đi sâu vào các khía cạnh phân biệt
các loại mẫu Biết bao nhiêu chữ cái khơng
thể miêu tả tỈ mỉ được và chác khơng phải
là cơ giáo hễ viết một chữ cái như h, g, r, s,
v.v lại phải nêu hình ảnh mĩc câu, cái mũ,
cái cột, cái gáo, v.v để miêu tả từng chữ
Dường như bộ ớc cĩ khả năng phân biệt được
những hÌnh ảnh đĩ mà khơng cần đến những
tiêu chuẩn chặt chẽ và tỉ mỉ để phân loại
cho chính xác Chẳng thế mà khơng những
ĩc phân biệt được những chữ cái với nhau,
ma cịn phân biệt được nét chữ do người này
hoặc do người khác viết Khi bố mẹ đến cổng
trường đĩn các em thì trong hàng trăm
giong ndi của học sinh, bố mẹ vẫn nhận ngay
được tiếng con mình mà chẳng cần phân biệt
âm sắc, âm giai gì chặt chế cả
328
Do đĩ, các nhà triết học đuy tâm cho rằng
bộ ĩc nhận dạng được là do trực giác, nĩi xa hơn nữa, là do thượng đế phú cho con người khả nâng bẩm sinh đĩ, cảm thơng trực tiếp với sự vật mà nhận thức ngay được bản chất Nhưng cái thử lập luận duy tâm ấy đã phá sân hồn tồn trước những thành tựu của khoa học, dùng máy tính điện tử để nhận dạng Quá trình nhận dạng của bộ đc đã được phân tích và mơ hình hớa tới một chừng mực nào đĩ trên máy tính điện tử, nhờ đĩ người ta dần đà đi sâu khám phá thêm cơ chế làm việc khá tỉnh vi của bộ dc
Người ta đã áp dụng trên máy tính điện
tử nhiều thuật tốn nhận dạng Sau đây, ta hãy xét một thuận tốn đơn giản nhất
Hình 2a
Giả sử máy đã học 3 loại chi H, E, I trên những mẫu trong hình 2a Những mẫu này cùng kích cỡ do đĩ ta cĩ thể đặt chúng lên những hình chữ nhật bằng nhau, giả sử mỗi chữ nhật chia làm 6 x 8
= 48 ơ vuơng Th cho mỗi chữ nhật mang hình chữ cái tương ứng với một
mã 48 chữ số 0 hoặc 1 theo quy ước sau đây : -Ơ vuơng nào cĩ nét chữ đi qua tương ứng với chữ số l, ơ vuơng nào để trắng tương ứng với chữ số 0
— Các chữ số 0 và 1 được viết liền nhau
từ trái sang phải, tương ứng với các ơ vuơng
từ hàng trên xuống hàng dưới và từ trái sang phải
Như vậy chữ Ưï đầu tiên sẽ tương ứng với
ma 100001.100001.100001.111111.100001.100001
-100001.100001 Chi H thi 3 tuong ứng với mã 110011.100001,100001.101101.111111
100001.100001.100001
Hình 2b
Trang 5Chữ E thứ nhất tương ứng với mã
111111.100000 100000.111100.100000 100000
100000.111111
Ta dễ đàng viết được mã tương ứng với
những chữ khác (việc mã hóa ở đây tương
tự như việc mã hóa đã nói trong bài "Máy
tắnh điện tử với các bài toán phi sốỢ đăng
báo Toán học và tuổi trẻ số 7Ở8~1972),
Bây giờ giả sử cho một mẫu mới, như
hình 2b Cần đoán nhận xem đó là mẫu
chữ gì
Trước hết, ta viết mã tương ứng với mẫu
mới :
111111.100000.100000.100100.111100
.100100.100000.111111
Bây giờ ta đếm chữ số không giống nhau ở
những vị trắ tương ứng trong mã mẫu mới và
mã các mẫu chữ đã học Th kắ hiệu những số đếm
duige IB dy ody ody ode vd, ide ody od dy sấy
và gọi là khoảng cách giữa _ mẫu mới với các
mẫu chữ thứ 1, thứ 2, thứ 3, chữ e thứ 1,
thứ 2, thứ 3 v.v
Te có: d, =21, d, = 15, d= 6
Tuong ty nhu vay, ta có thể đếm duge d, = 19,
2
d, = 4,4, = 8,d; = 20, d, = 19, d, = 21
Ta tắnh khoảng cách trung bình đ, giữa
mẫu mới với các mẫu chữ & :
d, = (dụ + dụ, + d, J8 = 55/8 = 188
Tương tự như vậy, ta tắnh khoảng cách
trung bình ở, giữa mẫu mới với các mẫu
chữ e
đ,=(d, + d, +d, J8 = 18/8 = 6
Ta cũng tắnh được đ, = 60/3 = 20
5o sánh 3 khoảng cách ta thấy đ_ nhỏ
nhất, chứng tỏ mẫu mới gần chữ e nhất Do
đó máy sẽ đoán nhận mẫu mới là chữ e
Thuật toán trên đơn giản, nên kết quả
nhận dạng chỉ đúng chừng 70% Cải tiến
thêm, có thể thu kết quả đúng tới 90 - 95%
Nhưng thuật toán của máy nhận hÌnh (còn gọi
là pec-xep-td-rôn) còn có hiệu quả cao hơn
Hãy xét một máy nhận hình đơn giản hóa
(xem hình 3) gồm một tấm màn in hỉnh ậ,
một bộ phần tử gọi là phần tử kết hợp A và
một phần tử phản ứng # Máy này phân biệt
được 2 loại hình đạng khác nhau, chẳng hạn chữ B và chữ E
Hình 3
Màn S chia ra n ô vuông, mỗi đô đều có
tế bào quang điện và được nối một cách ngẫu nhiên tới một trong các phần tử kết hợp Số phần tử kết hợp bằng m % n, do đó mỗi phan tử kết hợp đều được nối với Ít nhất một ô vuông nào đơ Mỗi phần tử kết hợp
A, tương ứng với một hệ số Ư, cho trước, J;
có thể dương hoặc âm, Khi ta in một hình nào đó, chẳng hạn hình chữ E lên màn S, thì những đ vuông có nét chữ đi qua bị kắch thắch (đo tế bào quang điện đã chuyển ánh sáng thành dòng diện và truyền tắn hiệu tới phần tử kết hợp tương ứng Phần tử A, nào nhận được ft nhất & tắn hiệu ( là một BỐ CỔ định cho trước) thì sẽ bị kắch thắch và truyền sang phần tử R số Ư, ni trên Như vậy với một hình ảnh nhất định (chẳng hạn chữ E) thì R nhận được một tổng số r = Ặ, +h + tị, trong dé i,, i cối là số hiệu các ` Nên tử A,
bị kắch thich lếu r > 0 thỉ quy ước máy trả lời là chữ B, ngược lại r < 0 thì máy trả lời
là chữ E
Trong quá trình đạy cho máy học, người
ta làm thay đổi các hệ số ¡, dựa trên kết quả phản ứng của # Nếu chiếu lên man S chữ B mà # phản ứng là r < 0 (tức là máy nhận đạng nhầm chữ B ra chữ E Khi do, phải tăng các Ư, ứng với các A, bi kắch thắch,
để lần sau nếu chiếu chữ B cũ đó lên man
S, thi may thu được r > 0 Ngược lại, nếu chiếu lên màn S chữ mà thu được r > Ô thì ta phải giảm các !¡ tương ứng với các A,
bị kắch thắch Cứ như vậy, dần dà ta sẽ có Í
hệ thống ắ, sao cho r z 0 đối với hình các chữ B và r < 0 đối với E
Thuật toán này cải tiến thêm sẽ cho phép
ta phân biệt không phải chỉ 2 chữ, mà một
số chữ tùy ý Mức độ chắnh xác đạt từ 95% đến 99%, Tốc độ làm việc cực kì nhanh
329
Trang 6chóng, chẳng hạn muốn dạy cho máy học 26
chữ cái, chỉ cần phóng lên màn S trung bình
một vài chục mẫu chữ cho mỗi chữ cái Máy
sẽ tính toán để điều chỉnh các hệ số 1, với
tốc độ điện tử (hàng vạn phép tính một
giây) Như vậy, máy có thể thuộc mặt chữ
cả bộ chữ cái trong vòng mấy phút, thậm chí
mấy giây Không những thế, máy còn co kha
năng "rút kinh nghiệm" ngay trong giai đoạn
thi Thật thế, khi thi nếu máy đoán nhầm,
thì sau khi "người coi thí" báo cho máy biết
GIẢI PHƯƠNG
Khi giải các bài "phân phối vé bóng đá"
và "ghép tên họ" trong báo "Tbán học và tuổi
trẻ” số 2 (mục "Giải trí toán học"), chắc
không mấy ai trong các bạn nghỉ rằng đó là
một bờ¿ (oán, có thể giải được bằng cách đặt
phương trình, vÌ nói đến toán, thường các
bạn chỉ nghỉ đến cái gÌ có bình hoặc có số
rõ ràng
Sau đây, xin giới thiệu với các bạn một đại
số mới, có nhiều điểu giống mà cũng có
nhiều điều khác với đại số mà các bạn đang
học ở trường, giúp các bạn giải được những
"bài toán" như các bài nói trên
1 Mệnh đề : Mệnh để là một câu nói cớ
tính chất hoặc đúng hoặc sơi Thí dụ : các
câu sau đây là mệnh đề :
1) 86 z lớn hơn 2 (đúng)
2) Quá đất vuông (sai),
3) Hình chữ nhật có một góc vuông
(đúng)
Nhưng các câu như : "§ố z lớn hơn 2",
"Hôm nay là thứ mấy ?" không phải là mệnh
đề, vì không thể nới các câu đó đúng hay sai
được
Trong số học, ta dùng chữ thay số 6 day,
ta ding chit thay cho ménh dé Chang han
ta goi ménh dé 1) trén day 14 @, ménh dé 2)
la 6, mệnh để 8) là c Nếu một mệnh đề p
là đúng thì ta viết p = 1 (p có giá trị chan
330
là nhầm máy sẽ tự động sửa các hệ số ¿;¡ như trong giai đoạn "học"
Máy nhận hình, cũng như mọi máy nhận dạng khác, đều có thể thay thế bởi một máy tính điện tử thông thường, có gần thêm một
số thiết bị phụ, chẳng hạn như một bộ phận thu nhận hình ảnh tương tự như man S V1 vậy, máy tính điện tử có thể dùng để nhận dạng Trong lĩnh vực ứng dụng quan trọng này, con người đã đạt được những thành tựu
kì diệu mà ta sẽ nói đến trong dịp khác
TRÌNH LÔGIC
HOÀNG CHÚNG
1 là 1), nếu p sai thì viết p = 0 @ có giá trị chân lí là 0) Trong ba mệnh để trên thì
2 Ta có thể nối các mệnh đề đơn giản lại
để được các mệnh đề phức tạp Chẳng hạn
từ hai mệnh đề "Hôm nay là ngày chủ nhật" (a),
"Hôm nay là ngày lễ" 6), ta có thể lập mệnh
đề : "Hôm nay là ngày chủ nhật øà (hôm nay) là ngày lễ, và kí hiệu mệnh để này bằng ø & b (đọc : a và b) ; là một hội của
œ và b,
Rõ ràng là hội ø & ð trên đây chỉ đúng (= 1) khi cả ø lẫn ö cùng đúng (ø = b = l), tức là nếu hôm nay đúng là ngày chủ nhật (ø = 1), mà cũng đúng là ngày lễ ( = 1), a
& b sai ( = 0) trong mọi trường hợp khác :
œ & b sai nếu hôm nay là ngày chủ nhật (œ
= 1), nhưng không phải là ngày lễ ( = 0} hoặc hôm nay là ngày lễ (® = 1) nhưng không phải là ngày chủ nhật (z = 0), hoặc hôm nay không phải là chủ nhật (ø = 0), hoặc hôm nay không phải là chủ nhật (œ = 0) mà cũng không phải là ngày lễ (b = 0)
Sự phụ thuộc của giá trị chân lÍ của ø & b vào giá trị chân lí của ø và của ö được ghỉ trong bảng 1, gọi là bảng chân lí của phép hội
Từ hai mệnh đề a và ö ở trên, ta cũng có thể lập mệnh đề : "Hôm nay là ngày chủ nhật hzy iè hôm nay là ngày lễ", Ta kí hiệu
Trang 7
a b la&pb ménh 46 nay binge v
6 (doc : @ hay là b) và
1 0 0 eda a va b; V gọi là
0 I 9 phép tuyển Bảng chân
Bảng 1 bảng 2 : tuyển avob
đúng khi ¡£ nhất một
av trong 2 mệnh dé a va b
# | P | ạ — là đúng sai khi cảø lẫn
ð cùng sai (hôm nay
1 | † | Í không phải là chủ nhật,
1 0 1 mà cũng không phải là
9 | † | Ì ngày lẽ
Bảng 2 minh dé dang cdc "cong
thức" sau đây :
@&b&e=ak(b &e) (4)
(aVvb)&c=(a&c)v(b&c) (B5)
Muốn chứng minh các công thức này, ta
lập bảng chân lí của mệnh để ở vế phải và
mệnh để ở vế trái, và thấy rằng hai mệnh
để đó luôn luôn có cùng giá trị chân lí, với
moi gid tri cla a, b và c
Bảng 3 Chẳng hạn công thức (1) được chứng
minh bang bang 3
So sánh các công thức trên với các công
thức trong đại số :
atb=bta axb=6xa
q) (2) (@@ x b) +e =at+(b +0) (8)
ta thấy rằng phép tuyển (V} có tính chốt
giống phép cộng (+) va phép hội (&) giống
phép nhân (x) : phép tuyển và hội cd tinh
giao hoán [các công thức (1) và (2)] và tính
kết hợp [(3) va (4)], phép bội có tính phân phối đối với phép tuyển (5) Vì vậy người ta cũng gọi œ V b là một "tổng", œ & b là một tích, và viết a.b hay ab thay cho ø và b
Do các công thức (1) - (5) mà trong "đại
số mệnh để" ta có thể thực hiện các phép biến đổi như bỏ dấu ngoặc, đạt thành "thừa số" chung, v.v như trong đại số thông thường
Trong "đại số mệnh đề" ta cũng có các công thức
3VÔ=0Vza =0 (ương tự ø +0 = 0+a = ga) a.1= 1ø = ø (tưởng tự đ.1 = lø = ø trong đại số thông thường)
œ0 = 0ø = 0 (tương tự 2.0 = Oa = 0 trong đại số thông thường)
4 Nhưng trong đại số mệnh đề, có những công thức đặc biệt mà trong đại số thông thường không cớ, chẳng hạn :
ee
nlana
da =a.qd a =d
—_—_——
n lần a
Các công thức này có thể chứng minh đễ dàng, dựa vào bàng 1 và 2 : nếu ø = 0 thi aVa=0VvV0=0=¿zø
aa=00=0 , néua = 1 thì œ@Va=1V]=l=ũaaa=ll=l=a, nghĩa là với mọi giá trị của a, ta luôn luôn
có Vơ = q, ơ.a = d
Nhờ các công thức đặc biệt này mà việc tính toán trong đại số mệnh đề đơn giản hơn trong đại số thông thường nhiều T5 áp dung
để giải bài toán sau : Trong một cuộc thi đấu bóng bàn giữa bốn vận động viên An, Bác, Chính, Dũng có mấy người xem dự đoán như sau :
1) Bắc đoạt giải nhất, An nhì
2) Bác chỉ nhì thôi, Dũng thứ ba
3) Chính nhì, Dũng tư
Hỏi kết quả xếp hạng như thế nào, biết rằng mỗi dự đoán trên đây đều ndi ding được về một người
Giải : Gọi mệnh để "Bác nhất" là b¡, "An nhì"
là ø; "Báe nhỉ" là ö„, "Dũng ba" là dy Vv Trong dự đoán thứ nhất có hai mệnh đề :
bị và ø, trong đó có một mệnh đề đúng (dự đoán đúng về một người), do đó tuyển 6, v a, phải đúng, nghĩa là ta có phương trình" :
331
Trang 86, va, =1, @
Với đự đoán thứ hai và thứ ba, cổ các
phương trình :
Nhân từng vế phương trình (1) và (2), có
hay là
Gị V a2) @y V dị) =1,
bib V bids V a6, V a,d, = 1
Nhung 6,5, = 0 (1 không thể có đồng thời
6, = 6, = 1, tie “Bac nh&t vA Bac nhi" duge),
cting nhu a,b, = 0 (vi An va Bac khong thé
cùng nhì), do đơ còn lại :
bd; V ad, =1
Lại nhân từng vế phương trình này với
phương trình (3), có :
bide, V andse, Vv bd.d, Vv add, = 1
ma vi 2 = bydd, = a;dyd, = 0, nên
bd, = 1 tice 6, =d,= e, = 1 Bắc nhất, Chính nhì, Dũng ba, do đó An phải thứ tư
Thử lại thấy đúng
Bây giờ, mời các bạn hãy giải các bài
"Phân phối vé bóng đá" và "Ghép tên, họ"
trong báo "Toán học và tuổi trẻ" số 2 (mục giải trí), bằng cách đặt phương trình lôgic
Trên đây có thể xem là phần mở đầu rất đơn giản để giới thiệu với các bạn về đại số Bun (Boole) và lôgic toán, một ngành toán rất quan trọng và có nhiều ứng dụng thực
tế Chắc các bạn đều đã đọc tiểu thuyết nổi tiếng "Ruồi trêu" ; tác giả cuốn sách này là
nữ văn sĩ E.Vôinitsơ, con gái của nhà toán học Anh Bun (G Boole, 1815 - 1864)
CAY
Trong tờ báo số 1 các bạn đã giải một bài
toán về cây Đồng chí Lê Văn Thiêm đã cho cây
mọc theo một quy luật nhất định - đó là quy
luật của đãy "Fibônasi" (Fibonacci) nổi tiếng
Nhất định các bạn sẽ đặt cho mình nhiều
câu hỏi VÍ dụ : nếu cây nơi trên đề nhánh
theo quy luật đó thì nó có thể đề nhánh theo
quy luật khác không ? các quy luật đẻ nhánh
của cây có dạng như thế nào ? Những quy
luật đề nhánh đó có tác dụng lí luận và thực
tiến gì không ? Một câu hỏi khó trả lời
nhưng không ngây thơ lắm là : cây cối ta
gặp trong thiên nhiên khi đẻ nhánh có theo
quy luật nào không ? và nếu có thì dạng của
quy luật đó như thế nào ?
Nhiều vấn đề nêu lên trên đây rất quan
trọng nhưng rất mới Nớ thuộc một ngành
DV
332
TẠ QUANG BỬU
toán học lí thú : Lí thuyết đồ thi tue Topo
tổ hợp Trong bài này, vì trình độ có hạn của người viết và do tuổi trẻ của người đọc, nên chỉ xin gợi ý một số điểm
1 Từ ngày cách mạng thành công ta làm chủ vận mệnh nước ta và làm chủ bản thân mình nên mỗi khi giải quyết vấn để gì, ta phải tính toán xem có bao nhiêu khả năng, mỗi khả năng cớ lợi có hại như thế nào, cớ triển vọng (xác suất) xẩy ra Ít hay nhiều rồi mới quyết định lấy một khả năng (ví dụ lấy khả năng 2 trong hình 1) Nhưng cuộc đời
là một dãy quyết định Sau quyết định vừa rồi lại phải tính toán cớ bao nhiêu khả năng, rồi lại chọn một khả năng (ví dụ khả năng
3 trong hình 2) Sau đó lại chọn tiếp v.v
như vậy ta được một con đường, có thể gọi
là con đường đời
Nếu các khả nang do co tinh chat logic (tức là sự việc chỉ có thể xẩy ra theo các khả năng đó không thể xẩy ra cách khác), thi con đường đó là con đường lôgic, và lí thuyết cây có thể dùng trong lôgic học Nếu các khả năng đó có là con đường ngẫu nhiên Do đó
Trang 9
l thuyết cây cũng có Ích cho lÍ thuyết xác
suất và lí thuyết các quá trình ngẫu nhiên
Cố nhiên trong cuộc đời phải khéo phối hợp
lôgic với quy iz@¿ của ngẫu nhiên
@)
Mang
SER
°
2 Trong việc tính toán các mạng lưới
phức tạp, các ki sư điện thường thay những
mạng điện (a) bởi cái cây (b) va mang bd
sung (c) ma người ta cũng gọi là có-cây,
Các bạn có thể thử nghiệm dé dàng
rằng một mạng với z nút sẽ có một cây
với n — 1 nhánh
bởi bỏ nhánh a b bởi bỏ nhánh øb và cả
Trong những bài toán phức tạp hơn có
khi phải dùng những 2 - cây, có được từ một
cây bằng việc bỏ đi một nhánh, n- cây, có
được từ một cây bằng bỏ đi (+ - 7) nhánh
Nhiều tài liệu gọi ø- cây với n bất kì là một
rừng toán học
Trên đây là một vài ứng dụng của lí
thuyết cây làm cơ sở cho các phương pháp
áp dụng tôpô tổ hợp vào kỉ thuật, được phát triển mạnh trong mấy năm gần đây từ những công trình rất đặc sắc của kỉ sư Gabrien Krôn (Gabriel Kron)
3 Bây giờ ta hãy trả lời câu hỏi hắc búa thuộc về vật lí sinh học Các cây thiên nhiên mọc theo cách nào ? Sau đây tôi xin giới thiệu giả thuyết của trường phái Rasepxki (Rashevsky), để các bạn tham khảo
Cây không có chân tay, không thể chạy kiếm thức ăn được nên cẩn diện tÍch rong
để lấy thức ăn từ ngoại giéi Do dé phai cớ nhiều nhánh và nhiều rễ, vậy về mặt toán học một cây gồm hai cây : một cây hướng về trời, một cây hướng về lòng quả đất (hình 3) Sau đây, ta chỉ chú ý cây hướng về trời
\Z
SUE
Nếu cho ty 7, là độ dài và bán kính của thân ; ¿, r độ dài và bán kính trung bình của nhánh ; z tổng số nhánh và ð là tỉỈ trọng trung bình thì tổng khối là :
Goi q là sự trao đổi chất (matabolit) mỗi đơn vị khối ta có : gM tÌ lệ với tổng số lá tức là tỈ lệ điện tích cây (xem lá là nhánh cuối cùng)
nhánh không thể dài quá vì quá dài thi cay gãy, đo đó / phụ thuộc vào r và ð
Thân phải khỏe, do đó #¿ phải phụ thuộc
ry va 6
=f ty dW; (4)
d6ng thdi r, phai du cho luéng trao déi chat
Và r cũng vậy :
r=f, (M6) (@
333
Trang 10Ta có 6 phương trình để tính Đụ nạn, Ì,
r, 6 từ M và q
Nhưng ð đại lượng Lato? Í, ð cũng đủ để
xác định được dạng cây Có 3 dạng như sau :
1 7 ahd, œ lớn là loại bụi (ø)
4, nhỏ, r„ to z nhỏ và ¿ lớn thì (b)
Ly Pym to và 1, n nhé thÌ (e)
Dùng các đạng thích hợp cho f, fy f, ta od
thể được các dạng cây làm hàm số của M và g
Say
Tém lai sự phát triển của một cây thiên nhiên rõ ràng là một chương trình động Trong hoàn cânh của từng cây, có thể nói mỗi cây là một lời giải tối ưu
CẤU TRÚC ĐẠI SỐ
làm đại số có thể nói chủ yếu là tính
toán Một thí dụ cụ thể : Bốn phép toán :
cộng, trừ, nhân, chỉa trên các con số Như
vậy là ta đã lấy một tập hợp đối tượng toán
học nào đó (trong thí dụ vừa rồi là tập hợp
các số) rồi ta thực hiện một số phép toán
trên các đối tượng đớ Một thí dụ khác : giải
hệ phương trình :
Cộng vế với vế hai phương trình (1) va (2)
ta được
(2x + y) + (8x ~ y) = 8+ 2 hay da = 5
do đố x = 1,y = 1
Ta nhận thấy để giải hệ phương trình, ta
đã lấy 2x + y cộng với 3x - y Nếu ta gọi là
đạng tuyến tính mọi biểu thức øx + ðy trong
đó a, 6 là hai số cho trước, thì ta đã vừa
làm một việc là thực hiện một phép cộng
trên hai dạng tuyến tính 2x + y và 3x - y
Qua thí dụ này ta thấy là người ta làm các
phép toán không những chỉ trên các con số
mà còn trên các đối tượng toán học không
phải là số Ta còn vô vàn thí dụ khác trong
một giáo trình toán học cao cấp về những
334
HOÀNG XUÂN SÍNH
phép toán thực hiện trên một đối tượng không phải là số Qua thực tiến đớ, con người đã đi tới nguyên lí chủ đạo của toán
học hiện đại Điều quan trọng đối uới nhà toán học không phải là bản thân cóc đối tượng toán học trên đó người ta nghiên cứu, nghĩa là điều quan trọng không phải là các đối tượng đó là các số hay các dạng tuyến tỉnh, mè diều quan trọng là các tính chất của các phép toán thục hiện trên các đối tượng đó Đại số học là một ngành của toán học đã đạt được trình độ trừu tượng đó trước moi ngành toán học khác Đã từ lâu người
ta đã quen coi Đại số như một bộ môn toán chuyên nghiên cứu các phép toán đại số trên các tập hợp mà các phần tử đã rời bỏ mọi
tính chất riêng tư là số hay là dạng tuyến tính v.v , mà ta thường kí hiệu bằng các chữ abe
“Thực hiện một phép toán đại số mà ta có thể kÍ hiệu bằng +, x, *, L, T' trên hai phần tử a, 6 của cùng một tập hợp E, là cho tương ứng với cặp (ø, b) một phần tử thứ ba xác định e của tập hợp E Phần tử đe được
ki hituc =a+6,axba*bat,aT b, tùy theo cách ta kí hiệu phép toán Nơi