Tuyển tập 30 năm Tạp Chí Toán Học và Tuổi Trẻ (part4-4)
Trang 1Chương IV- BUGC ĐẦU TÌM HIỂU TOÁN HỌC HIỆN ĐẠI
BÀI TOÁN THỨ MƯỜI CỦA HINBE
ĐÁ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT
"Có ai trong chúng ta lại không muốn vén
bức màn đang che kín tương lai của chúng
ta, để dù chỉ một thoáng nhìn thấy được
những thành tựu mai sau của kiến thức loài
người và những bí mật phát triển của nó
trong những thế kÌ sắp tới ? Những mục tiêu
đặc biệt nào mà những trí tuệ toán học chủ
đạo của thế hệ tương lai sẽ tự đặt ra cho
minh ? Những phương pháp mới và những
sự kiện mới nào sẽ được phát minh vào thế
kỈ tới trong lỉnh vực rộng rãi và phong phú
của tư duy toán học ?"
Bằng những lời đẹp đẽ đó, nhà toán học
Hinbe đã mở đầu bài phát biểu nổi tiếng của
mình tại Đại hội toán học quốc tế lần thứ
hai ở Pari năm 1900, năm cuối cùng trước
khi bước sang thế kÌ 20 với những thành tựu
huy hoàng của kháp các lĩnh vực khoa học
ki thuật mà chúng ta đang được chứng kiến
ngày nay Nhưng Hinbe không phải chỉ
muốn vén bức màn tương lai, mà với trí tuệ
uyên bác, với nhãn quan sắc sảo của minh,
Hinbe đã phần nào tiên đoán được hướng
phát triển tương lai của toán học và đã góp
phần cống hiến to lớn trong việc vạch đường
cho sự phát triển đó Trong bài phát biểu
nới trên, Hinbe đã đề ra một loạt 23 bài toán
lớn trong hầu khắp các lĩnh vực toán học,
mà việc nghiên cứu giải quyết chúng từ đó
đến nay đã thu hút sự cố gắng của rất nhiều
những tài năng toán học lỗi lạc và thực sự
đã có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ sự phát
triển của toán học trong thế ki 20 này
Bây mươi năm đã trôi qua, nhiều bài toán
Hinbe nêu ra đã được lần lượt giải quyết, và
cũng có những bài chưa được giải quyết đầy
đủ Trong bài báo nhỏ này, tôi xin giới thiệu
với các bạn một trong những bài toán đó,
308
PHAN ĐÌNH DIỆU
bài toán thứ mười, là bài toán vừa được giải
quyết trong năm 1970 này, và đặc biệt người giải quyết bài toán đó là một nhà toán học
còn rất trẻ của Liên xò, Macbhiaxiêvich, năm
nay mới vừa 23 tuổi,
Đây là một bài toán số học Th hãy xét
các phương trình số học dạng P@,y, , u) = 0, trong đó P là một da thức
với hệ số nguyên của các ẩn x, y, , Lư Những phương trình như vậy được gọi là phương trình Điôphăng Thí dụ :
z2—y+4=0 (2)
là những phương trình Điôphăng Phương trình (1) có một số hữu hạn nghiệm nguyên
la (x, y) = (41, +2), (+2, +1) ; phương trình
(2) có vô số nghiệm nguyên như các cặp (1,
5), (2, 8), (3, 13), v.v Còn phương trình (3)
không có nghiệm nguyên Vậy trong các phương trình Điôphăng, có những phương
trình có nghiệm nguyên và có những phương trình không cớ Trong danh sách các bài toán
ma Hinbe néu ra, bài toán thứ mười phát biểu như sau :
Giả sử cho một phương trình Điôphàng với các ẩn số tùy ý và với hệ số nguyên Háy nêu một phương phóp, theo đó sau một số hữu hạn phép toón có thể khẳng định dược
là phương trình dã cho có nghiệm nguyên hay không
Bài toán nêu ra khá để hiểu, nhưng việc
giải quyết nó thực không phải là đơn giản Vấn đề phương trình Điôphăng trong hang chục thế kỈ đã thu hút sự chú ý của các nhà toán học của mọi thời đại, và cho đến nay
Trang 2vẫn còn để lại những bài toán hóc búa, như
bài toán Phecma nổi tiếng (hãy chứng minh
phương trinh x" + y* = 2", véin > 2 khong
có nghiệm nguyên !) chẳng hạn Việc nghiên
cứu các phương trình Điôphăng đã có ảnh
hưởng lớn đến sự phát triển của số học, đại
số học và các ngành toán học khác
Ta trở lại với bài toán Hinbe Nhu vậy là
Hinbe đồi hỏi nêu ra một phương pháp
chung, để với mọi phương trình Điêphăng
cho trước, dùng phương pháp đó đoán nhận
được nó cố nghiệm nguyên hay không
Dường như là phương pháp đó có thật, và
trong mấy chục năm đầu của thế kỈ 20,
người ta cố gắng đi tỉm phương pháp đó
Không tÌm được phương pháp chung cho mọi
phương trỉnh Diôphăng thì tìm cho các lớp
riêng nào đó của phương trình Điêphăng
cũng được
Các nhà toán học đi tìm phương pháp
chung mà Hinbe đòi hỏi, nhưng có thé chang
cái phương pháp chưng đó không có ? Trước
những năm ba mươi của thế kÌ này, một sự
hoài nghỉ kiểu như vậy chưa có sơ sở Bởi
vì suốt mấy nghìn năm nay, các nhà toán
học đã tìm ra được vô vàn các phương pháp
để giải các bài toán loại này loại khác, nhưng
chưa ai chứng minh được (thậm chí nghỉ đến
việc chứng minh) rằng không có phương
pháp để giải một bài toán nào đó
Muốn chứng minh được không có phương
pháp, thì trước hết phải hiểu được một cách
chính xác thế nào là phương phóp ? Vào
khoảng 1935, 1936 về sau, với công trình
của nhiều nhà toán học lỗi lạc như Turing,
Goden, Klin, Séc, v.v trong toán học đã
xuất hiện các khái niệm chính xác về thuật
toán, lần đầu tiên người ta đã chứng minh
được không có thuột toán để giải một loạt
các bài toán trong lôgie (Sớt), trong đại số
học (Post, Mackôv, Nôvikôv, v.v ) và trong
nhiều ngành toán học khác
Và trên cơ sở đó, người ta bắt đầu nghĩ
đến việc chứng minh không có phương pháp
mà Hinbe đòi hỏi đối với các phương trình
Didphang
Với mục đích giải quyết vấn đề đó, bền
bỉ trong nhiều năm nghiên cứu, đến năm
1961, các nhà toán học Mi Dévis, Putman,
và Rôbinxơn đã chứng mỉnh được rằng :
không có thuật toán để uới một phương trình
Didphang mii bat ki cho trước, không định
được nó có nghiệm nguyên hay không Một
phương trình Điôphäng mũ là một phương trình có dạng PŒ,y, ,u) = 0, trong đó
ngoài phép lũy thừa, trong P có thể chứa
phép mũ (thí dụ 2x2 + # +x = 0 là một phương trình như vậy) Chỉ cần bỏ được chữ
mũ nói trên là chứng minh được không cớ phương pháp mà Hinbe đòi hỏi Tiến thêm một bước nữa, cũng các nhà toán học nói trên, năm 1963, đã chứng minh được rằng : không có phương pháp mà Hinbe đòi hỏi, nếu tìm được một quan hệ R (u, 0) giữa các
số nguyên u, U, thỏa mãn hai tính chất : 1) nếu R(u, u) đúng, thì u « u*, 2) uới mọi È, có u va u sao cho R (u, v)
ding va uk <u
Một sự dẫn đắt kì lạ và kết quả thu được
thật là xuất sắc ! Nhưng rồi vẫn chưa ai tìm
được một quan hệ # như vậy ! Và người ta lại đã bắt đầu nghỉ đến những cách khác để giải quyết bài toán Hinbe
Cho đến năm 1970 này, đúng 70 năm sau khi Hinbe nêu ra bài toán, Machiaxiévich,
nhà toán học 23 tuổi ở Léningordt, ngudi ma
mấy năm vừa qua đã chú ý nghiên cứu bài toán thứ mười của Hinbe, bằng những sáng tạo thông minh và độc đáo, đã tìm ra được
một quan hệ F rất đơn giản thôa mãn hai tính chất nói trên, Ta xét dãy số Fibônaxi :
1, 1,2, 3, ð, 8, 13, 21, 34,
(mỗi số bàng tổng của hai số đứng liền trước nó) Gọi ƒ, là số Pibônaxi thứ n, ta có f=lLf,=lLf,=2, vv Bây giờ ta định
nghĩa quan hệ # như sau : f(œ, 6) khi và chỉ
khi o=ƒ/ „ tức là ø là số Fibônaxi thứ 2w
Như vậy, chẳng hạn #(1, L), R(2, 3), R(3, 8)
›- là đúng, Machiaxievich chứng minh được
quan hệ E đó thỏa mãn các tính chất 1) và
2) Và do đó đã hoàn thành việc chứng minh không có phương pháp chung để uới mọi
phương trình Didphang cho trước, khẳng
dịnh được nó có nghiệm nguyên hay không
Và như vậy, bài toán thứ mười của Hinbe
được giải quyết một cách phủ định, trái với
dự kiến của chính Hinbe !
Tháng 9 năm 1970 vừa qua, kết quả này
đã được báo cáo tại Đại hội toán học quốc
tế họp ở thành phố Nixơ nước Pháp
309
Trang 3Giới thiệu lại quá trình nghiên cứu bài
toán thứ mười của Hinbe nhân dịp bài toán
đó được giải quyết, chúng ta thấy một bài
toán lớn có thể mở ra những chân trời rộng
lớn đến thế nào cho việc phát triển toán học,
và trên con đường giải quyết bài toán đó,
toán học đã thu lượm được biết bao kết quả
rực rỡ trước khi đến kết quả rực rỡ cuối
cùng ! Déng thời sự táo bạo trong nghiên
cứu có thể đưa lại cho ngay những nhà toán
học rất trẻ tuổi những vinh dự to lớn biết
bao † Vấn để là làm sao cho, như lời của chính Hinba, "trong lòng chúng ta luôn luôn vang
lên lời kêu gọi bất diệt của sự thôi thúc : đây
là những bài toán, anh hãy tìm cách giải
quyết chúng !", Chúng sẽ hấp dẫn anh bằng
những khó khăn và những hứa hẹn, và sau
đó sẽ đến công anh bằng niềm hạnh phúc
của những kết quả sáng tạo
ĐẾM ĐƯỢC VÀ KHÔNG ĐẾM ĐƯỢC
Khí giải một phương trình các bạn
thường đi đến một kết luận là phương trình
có hữu hạn nghiệm Nhưng đã có ai nghỉ
rằng "hữu hạn" là gì chưa ? Nếu eó người
hỏi, chác bạn sẽ trả lời rằng một tập hợp
hữu hạn là một tập hợp đếm được Nhưng
nếu có người bỏi tiếp "đếm được" là gì thì
chắc bạn sẽ lúng túng Cũng có thể có bạn
trả lời liều rằng đếm được có nghĩa là có thể
dùng đến các ngón tay (và khi cẩn cả ngón
chân) để đếm cho đến hết Trả lời như thế
vẫn có phần đúng
Trong toán học, người ta hiểu một tập
hợp X là hữu hạn nếu số các phần tử của X
có thể biểu thị được bởi một số nguyên
đương + nào đớ Điều này có nghĩa là người
ta có thể thiết lập một sự tương ứng giữa
các phần tử của X và các số từ 1 đến w sao
cho mỗi phần tử của X ứng với một số duy
nhất và ngược lại mỗi số chỉ ứng với một
phần tử của X Một sự tương ứng như vậy
còn được gọi là một sự tương ứng 1 - 1 Về
mnặt bản chất, đó chính là một quá trình đếm
giống như khi ta dùng ngón tay để đếm
đồ vật,
Các vật cụ thể (không phải là sản phẩm
suy nghỉ của con người) thường là hữu hạn,
Nhưng không phải lúc nào người ta cũng
đếm được chúng theo nghỉa thông thường
Ví dụ như tập hợp các hạt cát trên trái đất
là hữu hạn Có thể cam đoan rằng bạn chưa
310
NGO VIET TRUNG
hề nghỉ đến việc chứng mỉnh điều này Ở đây ta phải xuất phát từ điều kiện các hạt cát không thể bé như các nguyên tử và do
đó chúng có một thể tích nhất định Vì vậy, nếu các hạt cát là vô hạn thì thể tích trái
đất cũng sẽ là vô hạn và ta có một sự mâu thudn R6 rang la ching ta đã không đếm
mà vẫn biết tập hợp các hạt cát là hữu hạn
Một quá trình đếm bao giờ cũng cho ta một số phần tử cụ thể Trong định nghĩa tập
hợp hữu hạn ở trên, œ chính là số phần tử của X Mở rộng khái niệm số phần tử, người
ta gọi hai tập hợp là có cùng lực lượng nếu
có một sự tương ứng 1 - 1 giữa các phần tử
của chúng Rõ ràng là hai tập hợp hữu hạn
có cùng lực lượng khi và chỉ khi chúng có
cùng số phần tử VÌ vậy, một tập hợp hữu
hạn không bao giờ có cùng lực lượng với một
tập con thật sự của nó Điều này không còn
đúng nữa đối với một tập vô hạn VÍ dụ như
các số tự nhiên và các số dương chẵn có cùng lực lượng thông qua sự tương ting n dén 2n
Tổng quát hơn, mỗi một tập vô hạn bao giờ cũng chứa một tập hợp con có cùng lực lượng
với tập các số tự nhiên Thật vậy, cho trước
z phần tử khác nhau ø, ø„ của một tập
vô hạn Ÿ, người ta luôn luôn có thể tÌm thấy một phần tử a,„, của Y khác với các phần
tử trên Điều này cho phép ta xây dựng một
day vô hạn các phần tử khác nhau
@), 2 G3 cua Y Dãy này có cùng lực lượng
Trang 4với tập các số tự nhiên thông qua sự tương
ứng z đến a, Nhu vay, ta có thể coi các gố
tự nhiên có lực lượng nhỏ nhất trong các tập
vô hạn
Một tập hợp có cùng lực lượng với tập
hợp các số tự nhiên được gọi là đập hợp dấm
được LÍ do là bằng một phép đếm thông
thường người ta có thể đạt đến mọi phần tử
của nó (mặc dù không thể đếm hết toàn bộ)
Điều này còn được thể hiện qua việc có thể
sắp xếp các phần tử của một tập hợp đếm
được thành một dãy vô hạn 4, Ay G3 ., VOI
chỉ số là các số tự nhiên Với một sự sắp xếp
như vậy, các bạn có thể nghỉ rằng một tập
hợp đếm được trên đường thẳng thực sẽ là
một tập điểm rời rạc Điều này không phải
lúc nào cũng đúng Mọi người đều biết rằng
các điểm hữu tỈ trù mật trên đường thẳng
thực (bất kì một đoạn thẳng nào, dù nhô đến
đâu cũng chứa vô số điểm hữu tÌ) và chúng
ta sẽ thấy tập các số hữu tỉ là đếm được
Theo định nghĩa một số hữu tỈ là một phân
số của hai số nguyên Hãy xếp các phân số
cđ cùng mẫu số trên một dong theo thi tự
của tử số (Ở đây ta giả thiết tử số là một số
nguyên dương) Sau đó xếp các dòng này
theo thứ tự của mẫu số bắt đấu là 1, -1, 2,
-2, 3, Bang cách đặt @,=0;a,=1;
a,=2;a,=—1l;a,=1/2;a,= =2;
a,=3;a,= 4; theo thi ty cla cdc dung
7 7 7
⁄ ⁄ ⁄ ⁄
-1 i ⁄ x et 5
⁄ a
⁄ ⁄
‡ ⁄
chéo ta có thể sắp xếp các số hữu tỉ thành
một dãy vô hạn với chỉ số là các số tự nhiên Các bạn cũng có thể hỏi tập hợp tất cả các số thực có phải là một tập hợp đếm được
hay không Câu trả lời sẽ là không Thật vậy, giả sử ta có thể sắp xếp tất cả các số thực
thành một dãy vô hạn Uy) Uy, Uy Hay biểu
diễn các số thực dưới dạng các phân số thập
phân vô hạn
ị =mị + Ũ, yl yey
By = My +0, € 2,026 93
u,=n?+0, 21022222
6 đây nụ,n„, n;, là các số nguyên Th sẽ kí hiệu e„ là chữ số nhỏ nhất khác với đ„ và 9
Phân số thập phân vô hạn
u=Ú, Gi8¿C2S
là một số thực không cớ chữ số 9 sau đấu thập phân Rõ ràng là ¡ # „ với mọi n Diéu này không thể xảy ra được vì z phải xuất hiện trong day sé Uj, Uy uy Như vậy ta đã chứng mỉnh tập hợp các số thực là không đếm được
Một vấn để mới nảy ra là các tập hợp
điểm không đếm được trên đường thẳng thực có cùng lực lượng với các số thực hay
không Vấn đề này còn biết được dưới tên Boi gid thuyét continuum Nam 1964, nha toán hoc Mi Cohen da dua ra một lời giải ngạc nhiên về vấn đề này Ông ta đã chứng mỉnh rằng có thể công nhận hoặc phủ nhận giả thuyết continuum mà vẫn không nhận được bất kì một sự mâu thuẫn nào với các tiên để của lí thuyết tập hợp Như vậy, tùy theo sự lựa chọn, chúng ta có thể coi hoặc không coi tập hợp các số thực là tập hợp có
lực lượng nhỏ nhất trong tất cả các tập hợp không đếm được
alt
Trang 5CÂU CHUYEN VE
LI THUYET DO DO
Không thể xác định được chính xác vào
lúc não loài người cổ nhu cầu phải xác định
diện tích các hình và thể tích các vật thể
Chỉ biết rằng cách đây 4000 năm người
Ai Cập đã biết đo diện tích, Đất đai hai bên
bờ sông Nin rất phì nhiêu nhưng cứ sau mỗi
trận lụt thÌ biên giới giữa các khoảng đất bị
xóa nhòa Người Ai Cập đã tìm được cách đo
lại diện tích các khoảnh đất và do đó mà
hình thành và phát triển môn hình học
(Danh từ hình học "geometrie" nguồn gốc Hi
Lap có nghĩa là đo đạc đất đai) Các công
trình kiến trúc cổ Ai Cập như kim tự tháp
là một bằng chứng cho thấy cách đây 3000
năm loài người đã biết tính thể tích của một
số khối đa diện Các nhà toán học Hi Lạp
Asimet (Archimede), Héréng (Heron) sống ở
thế kỉ 3 trước công nguyên đã có nhiều
đóng góp trong việc tÌm diện tích các hình
và thể tích các vật thể Các công thức về
diện tích và thể tích hình cầu và nhiều vật
tròn xoay phức tạp khác đều do Asimet nêu
ra Đối với mỗi một vật thể, Asimet phải
sáng tạo ra một phương pháp mới có khi là
những phương pháp rất khôn khéo (Trong
những phương pháp đớ đã chứa đựng mầm
mống của phép tính tích phân sau này)
Sự phát triển của khoa học và kĩ thuật ở
thế kỉ 16, 17 đã đẫn đến những bài toán tính
thể tích của những vật thể và diện tích của
những hÌnh rất phức tạp, giới hạn ở giữa
những đường cong hay những mặt cong
Phép tính tích phân do hai bộ ớc vĩ đại nhất
cia thé ki 17 la Niuton (Newton) và
Laibonit (Leibnitz) sáng tạo ra, đã cho một
phương pháp đơn giản và tổng quát để giải
những bài toán đó Tuy nhiên, phép tính tích
phân còn chưa cho phép xác định điện tích
(hay thể tích) của một số hình "kì quặc",
chẳng hạn diện tích một hình gồm những
điểm Œ, y) với các tọa độ hữu tỈ nằm trong
một hình vuông nào đó là bao nhiêu ?
Đến cuối thế kỈ 19 với sự phát triển của
toán học, các nhà toán học thường gặp phải
312
DANG HUNG THANG
bài toán đo điện tích (hay thể tích) của
những hình "kÌ quặc" như vậy Nhưng có
phải bất kì hinh nao (vat thé nao) cũng đều
có điện tích (thể tích) hay không ? Và nơi
chung diện tích (thể tích) của một hình (một
vật thể) là cái gì ?
Có lẽ đa số các bạn (cũng như các nhà
toán học trước thế kỈ 20) đều quan niệm
rằng diện tích (thể tích) là một thuộc tính vốn có của mỗi một hình, (một vật thể) là một số đo khách quan biểu thị sự "chiếm
chỗ" của hình (vật) trong mặt phẳng (trong
không gian) Một định nghĩa trực quan,
"ngây thơ" như vậy không thỏa mãn những
yêu cẩu chật chẽ của toán học hiện đại
Người ta thấy rằng cẩn phải đưa ra một định nghĩa có đnh chất tiên đề, nghĩa là sẽ chỉ ra
những tính chất "hiển nhiên" mà một diện
tích (thể tích) cần phải cớ
Giả sử X là một tập hợp điểm nào đó
(trong mặt phẳng hay trong không gian) Hai tập con A và B của X được gọi là toàn đẳng với nhau nếu chúng ta có thể nhận
được tập này từ tập kia bằng phép tịnh tiến, phép quay hay phép chiếu gương Điều kiện cần và đủ để các tập A và B toàn đẳng là
giữa các điểm của chúng có tổn tại phép tương ứng một - một bảo toàn khoảng cách
tức là nếu ø, œ, là hai điểm tùy ý của A và
b, b„ là hai điểm tương ứng của B thi
khoảng cách giữa ø; và ø, bằng khoảng cách
giữa b¡ và b Để biểu thị hai tập A và B toàn đẳng ta viết A = B
Th nới rằng trên X có xác định một độ đo
? nếu với mỗi tập con A của X được gắn cho một số m(A) > 0 gọi là độ đo của tập A sao cho các điều kiện (tiền để) sau được thỏa
mãn :
1) Nếu A được phân hoạch thành ø tập con rời nhau
A=A,UA,U UA,
Trang 6thi = m(A) = m{A)) + mA.) + + m(A,)
2) Néu A= B thi m(A) = m(B)
3) Có một tập E nào đó có độ đo bằng 1,
m(E) = 1 Các điều kiện 1) 2) 3) là các tính
chất hiển nhiên của diện tích và thể tích
Nếu X là mặt phẳng hoặc là một đa tạp
hai chiều (như mặt cầu, mặt xuyến ) thì độ
đo của tập A C X gọi là diện tích của A Nếu
Z là không gian ba chiều thì độ đo của A gọi
là thể tích của A Nhà toán học kiệt xuất
của Balan (Banắc) (S Banach) đã chứng
minh rằng một độ đo như vậy trên mặt
phẳng là tổn tại Độ đo của mỗi tập A chính
là điện tích của tập A hiểu một cách trực
quan trước đây Tuy nhiên nhà toán bọc Đức
Hauxdooe (F Hausdorff) da lam sửng sốt
giới toán học đương thời bằng việc chỉ ra
tầng, không thể gán diện tích cho một bộ
phận của nuặt cầu Phát hiện của ông dựa
trên một ví dụ kì lạ sau đây (đo Ông xây
dựng) : Tốn tại một phép chia mat cfu
thành 3 phần rời nhau A, B, C sao cho
A= B= C va A= BUC Khi đó nếu tồn tai
m(A) = m(B) = m(C) =4nR2/3 (R là bán
kính mặt cẩu Mặt khác vì A= BUỤC nên
m(A) = 4nF?/2 Mâu thuẫn
Mặt đất chúng ta đang sống là mặt cầu,
vậy trên mặt đất có tổn tại những phần
không có diện tích ! Đối với trường hợp X là
không gian 3 chiều, hai nhà toán học Balan, Banắc và Thexki (Tarski), đã chứng minh một mệnh đề rất kì lạ, dường như không thể
tin được gọi là nghịch lí Banác - Tarxki như sau : Giả sử ta có hai quả cầu S, va S, Qua
cfu S, rất lớn, lớn như mặt trời còn quả cầu 6, thi bé tí xíu như hạt đậu Tuy nhiên có tồn
tại một cách phân hoạch 5 và 5%; làm n phần
S, =A, UA, UA,
S,=B,UB, UB,
A, * By A,= By A,* B,
sao cho Nghĩa là, qua một phép phân hoạch hữu hạn rồi xếp đạt lại mà vẫn giữ nguyên khoảng cách (không nén lại), một vật thể lớn như mật
trời có thể nhét được vào túi áo ( !)
Từ định If nay cla Bandc - Tarski ta suy ra trong không gian có những uất thể không có
thể tích Thật vậy nếu có thể gán thể tích
cho các tập A, và B, trong phân hoạch nêu
trên thÌ ta có m(S,) = m(S,) hay R, = RCN)
(R,, R, Ja ban kinh của mật trời và hạt đậu),
Điều này vô lÍ
Câu chuyện về lÍ thuyết độ đo còn dài và
lí thú song chúng ta tạm đừng ở đây Nếu các bạn quan tâm, chúng ta sẽ tiếp tục trong
những số báo sau
LÀM QUEN VỚI CÁCH
GIẢI TOÁN BẰNG ĐỒ THỊ
Trong báo Toán học và Tuổi trẻ số 153
(1-1987) bạn Đô Bá Khang đã giới thiệu với
bạn đọc "Một số khái niệm và bài toán của
Ii thuyết đổ thị", Trong bài này chúng tôi
muốn giới thiệu với bạn đọc một số cách giải
một bài toán bằng phương pháp luận của lí
thuyết đồ thị
Bài toán : Một cơ quan cẩn tuyển 3
người để lập thành một nhóm có đủ năng
lực biên địch các tài liệu từ 6 thứ tiếng Anh,
DANG VIỄN
Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc và Bồ Đào Nha sang tiếng Việt Có 7 người đến đự tuyển,
trong dé mối người đều biết 2 và chỉ 2 trong
6 thứ tiếng đó và bất cứ hai người nào cũng cùng biết nhiều nhất một thứ tiếng chung trong 6 thứ tiếng đơ Biết rằng thứ tiếng nào cũng có Ít nhất hai người biết, hỏi có thể
xảy ra trường hợp không thể tuyển chọn
được như yêu cầu đã nêu không, tại sao ?
(ĐỀ thí học sinh giỏi toán lớp 11
Mà Nội 1987 ~ 1088)
313
Trang 7Loi gidi Chuyén sang bai todn d6 thi :
"Cho dé thi don 6 dinh (A, FN, D, T, B)
và 7 cạnh, bậc của mỗi đỉnh đều không nhỏ hơn 2 Có thể xẩy ra trường hợp không có
ba cạnh nào đôi một không kế nhau hay
không, tại sao ?"
Ta sé trả lời phủ định, nghĩa là luôn luôn tim được ba cạnh đôi một không kế nhau,
Không làm mất tính tổng quát, với mỗi một trường hợp ta chỉ cần nêu một đồ thị đại diện
Cóch 1 Xét đường đi dài nhất Œ (tồn tại,
vì đồ thị này hữu hạn) Vì chỉ có 6 đỉnh và đỉnh nào cũng có bậc > 2 nên độ dài ¿ của
phải thỏa mãn 2 < ¿ « õ
1)/ = 5 Chỉ việc chọn cạnh thứ nhất,
thứ ba, thứ năm Chẳng hạn, với @ = AFBDNT, ta có nghiệm hình là AF, BD, NT:
?
Hình 1
2) 1= 4 Xét đồ thị h.1 với = NABDT
Vi là đường đi đài nhất nên N, 7 không
kề với đỉnh còn lại Z Hơn nữa, bậc của W,
7 đều > 2 (*) nên nếu W, 7 không kề nhau
thì cần thêm ít nhất bai cạnh kề W (hoặc 7)
mà không kế F va hai cạnh khác kế # Số
cạnh Ít nhất là : 4+2+ 2 = 8 (>7) {9
Vậy N, T kế nhau Ta chỉ việc chọn một cạnh
kề F và hai cạnh thuộc chu trình NABDTN
không kể với cạnh vừa chọn Trong đồ thị
h.1 ta có nghiệm hinh : FD, BA, NT:
x =— x7
Hình 2
3) ¡ = 8 Xét đồ thị h.2 với © = ABFN
Vì A, N không kế với D, 7 nên có Ít nhất một cạnh không thuộc É kế với A, N Ngoài
314
ra, nếu D không kề T, cẩn thêm 4 cạnh kế với D, T và số cạnh Ít nhất là 3ä + 1 + 4 = 8
(> 7) CĐ Vay D, T phải kề nhau ; và ta có
nghiệm hình : 27, AB, EN
™! w *T
Hình 3
4)1= 9 Xét đồ thị h.3 v6i © = ABN Dé
đ(A), đ(N) > 2, phải có cạnh AN Nếu trong
các đỉnh còn lại Ð, F, 7 mà có đỉnh kế đỉnh
nào đó trong A, B, N thì sẽ có đường đi với
độ đài > 3, trái điều kiện 4) Vậy ba đỉnh
này chỉ nối với nhau và nhiều nhất được 3
cạnh, đo đó tổng số cạnh nhiều nhất là 6 (< Ð (1) Vậy không xẩy ra
Và, bài toán đã được giải xong
Cách 2 Xét chu trình Ế với độ dài lớn nhất ¿ (tốn tại, vì số đỉnh nhỏ hơn số cạnh)
Ta có: 3</<6
1) ÿ = 6 Chỉ việc chọn theo một chiều nhất định các cạnh thứ nhất, thứ ba, thứ
năm Chẳng hạn, với © = ABDTNFA, ta chon nghiém hinh : AB, DT, NF
2) L = 6 Chỉ việc chọn cạnh kể với đỉnh
ngoài chu trình và hai cạnh không kể nó
thuộc chu trình Trong đồ thị h.l, ta có
nghiệm : FD, BA, NT
Hình 4
3) 1 = 4 Xét đồ thị h.4 với É = AFDBA Nếu Ñ, 7 không kề nhau thì phải có 4 cạnh
kế chúng và số cạnh Ít nhất là 4 + 4 = 8 (> 7) (9 Vậy phải có cạnh N7 và ta có nghiệm hinh : NT, AF, BD
(*) điểu này về sau ta không nhắc lại nữa trong các trưởng hợp tướng tự
Trang 8x Hink 5
4) 1 = 3 Xét dé thi h.5 v6i © = ADFA
Nếu có đỉnh nào trong các đỉnh còn lại N,
T, 8 mà kề với hai trong A, D, F thì sẽ tổn
tại một chu trình độ dài 4, trái điều kiện 4),
do dé, mỗi một trong W, 7¡ B phải kể với ít
nhất một trong hai đỉnh còn lại, vì vậy giữa
chúng phải cớ Ít nhất hai cạnh, giả sử đơ là
NT, NB Nếu B, T không kề thì chúng phải
nối với các đỉnh trong A, D, # và tạo ra chu
trình với độ dài > 4, trái với điểu kiện 4)
Vậy phải có cạnh B7 và số cạnh đã xét là
3+8 = 6 Còn lại l cạnh nối hai đỉnh tương
tng thuộc hai chu trình đã xét Ta chọn cạnh
đó và hai cạnh không kể nó lần lượt thuộc
2 chu trinh dd Trong h.5, ta có nghiệm hình
FN, DA, BT Va bai todn đã được giải xong,
Cách 3, VÌ 7 x 2 = 14 = 6.2+3 nên phải
có một đỉnh bậc 4 (hoặc hai đỉnh bậc 3) còn
lại toàn đỉnh bậc hai Hơn nữa, đồ thị này
liên thông (ngược lại, nó có Ít nhất bai thành
phần liên thông, mỗi thành phần có ít nhất
3 đỉnh để mỗi đỉnh có bậc > 2 ; và số cạnh
lớn nhất là 3 + 8 = 6 (< 7) (1) Xây ra :
SV
øÀ——————‡?
Hình 6
1) Có một đỉnh bậc 4 Trong đồ thị h.6,
đ(A) = 4 với các dỉnh kế A là 7 D, B, N,
Như thế, đỉnh # không kế A mà kế với 2
trong Ñ, 7, D, B và hai đỉnh còn lại phải kể
nhau Chẳng hạn, có #D, FB, NT: Ta chọn
nghiệm : N7; AD, FB
2) Có hai đỉnh bậc ba Trong các đổ thị
h.7, b.8, h.9 ta có đ(A) = đựP) = 8 VÌ đồ thị
liên thông nên có Ít nhất một đường đi từ Á
đến Ƒ, Tạm bỏ đường đi đó (trừ các đỉnh A4,
#0, có thể xẩy ra :
a) Đồ thị không liên thông nữa Như trên
đã nêu, nó phải gồm bởi hai tam giác nhân biệt, và đường đi tạm bỏ chỉ gồm bởi 1 cạnh
Ta chọn cạnh đó và 2 cạnh không kề nó lần
lượt thuộc hai tam giác trên Trong h.7, ta
ed nghiém AF, BT; ND
YON,
Hinh 7
b) Đồ thị vẫn liên thông Và đó là một chu trình (vì mỗi đỉnh đều bậc 2) Như vậy,
có 3 đường đi từ A đến Ƒ' (1 theo đường tạm
bỏ, 2 theo chu trình) Trong ba đường đi này, đường ngắn nhất phải cớ độ dài 1 (h.8) hoặc
7x———xyôp
iN
r———A
a A \,
AN LO
2 (h.9) Trong h.8 ta có chu trình độ dài 6 :
NABTDEN, chi viée chon theo một chiều nhất định các cạnh thứ nhất, thứ ba, thứ năm và có nghiệm hình : NA, B7; DF Trong
h 9, ta có chu trình độ đài 5 là ATNFBA
Chỉ việc chọn một cạnh thuộc đường đi ngắn
nhất và hai cạnh không kề nó thuộc chu trinh, chang han : DA, TN, FB
Và, bài toán đã được giải xong
Cách 4 Trước hết, phải có Ít nhất một cặp cạnh không kể nhau (ngược lại, ứng với một cạnh AA, nào đó, 4 đỉnh còn lại không
nối với nhau mà nối với A; A; bằng 8 cạnh (> 7) (1) Xây ra :
1) Hai đỉnh còn lại kề nhau, ta có ngay nghiệm hình là cạnh kể hai đỉnh này và hai
cạnh kia
2) Hai đỉnh còn lại không kề nhau Xét
đồ thị h.10 với hai cạnh không ké AD, FN
Vì B, 7 không kề nhau nên có thể xẩy ra :
315
Trang 9a) B, T tương ứng kể với các đỉnh thuộc
cùng 1 cạnh trong AD, FN chẳng hạn, có các
canh BF, TN, ta chọn 2 cạnh này và cạnh
còn lại AD
b) Không x4y ra trường hợp 2 a) Giả sử
có BF, suy ra không có TA VÌ chỉ có 3 khả
nang la TF, TA, TD nén trong hai cạnh kể
7 phải có Ít nhất một trong TA, 7D Giả sử
cé TD
ø) Có TA Suy ra không có BD, hơn nữa,
không có BA (vì có 7D) Vậy phải có BN, và
ta có hai tam giác phân biét BNF, TAD véi
6 cạnh Còn lại 1 cạnh phải nối hai đỉnh nào
đó của 2 A này Ta chọn cạnh đó và hai cạnh
không kề nó lần lượt thuộc hai tam giác kia
Chẳng bạn, có cạnh AF thì nghiệm hình là :
AF, BN, DT
F x8
A
Tr
i Z ly
Hinh 10
8) Khong cé TA Suy ra cé TF, do dé không cé BN, ma khong có BA (vì có TD)
nên phải có BD Khi này còn một cạnh nữa
phải nối hai đỉnh W, A Ta chọn canh NA
này và hai cạnh không kể nó là 8D, TE
Và, bài toán đã được giải xong
su’ PHAN BO SO NGUYEN TO
VA GIA THUYET RIMAN
Số nguyên tố đóng một vai trò quan trọng
bậc nhất trong bộ môn số học Chính vì mọi
số tự nhiên đều được phân tích duy nhất
thành tích các số nguyên tố nên số nguyên
tố được coi như những viên gạch xây nên tòa
lâu đài các số, như những hạt cơ bân trong
vật lÍ và những nguyên tố trong hóa học
Sau khi nhà toán học vĩ đại Ócht (thế kÍ
8 trước công nguyên) chứng minh rằng có
vô số các số nguyên tố, nhiều câu hỏi xung
quanh các số nguyên tố đã được nêu ra Một
số các câu hỏi đó (mặc dầu được phát biểu
rất đơn giản) đã trở thành những bài toán
nổi tiếng trong lịch sử toán học cho đến nay
vẫn chưa có lời giải trọn vẹn
Bài toán nổi tiếng nhất và quan trọng
nhất có lẽ là bài toán về sự phân bố các số
nguyên tố trong dãy số tự nhiên Theo dõi
day số nguyên tố 2, 3, ð, 7, các bạn dễ
đàng nhận thấy càng di xa các số nguyên tố
càng được gặp thưa thớt hơn Có những
316
BANG HUNG THANG
khoang dài tùy ý trong đó ta không gặp một
số nguyên tố nào Thật vậy với số tự nhiên &
bất kì ¿ — 1 số liên tiếp &! + 2, kÌ + 8, kÌ + &
đều là hợp số Tất nhiên chúng ta phải đi
rất xa mới gặp một khoảng dài 1 tÌ gồm toàn
những hợp số Mặt khác các bạn có thể tự chứng minh được trong đoạn [n, n! + 1] có Ít
nhất một số nguyên tố Năm 1892 nhà toán
học Nga Tsebesep đã chứng minh rằng trong khoảng [n, 2n] chắc chắn cơ Ít nhất một số nguyên tố Người ta lại thấy có nhiều cặp số nguyên tố cách nhau 2 đơn vị (1, 2 đứng
cạnh nhau) VÍ dy (5, 7), (11, 18), 29, 31), (1000000009649, 1000000009651), Những cặp này được gọi là cặp số nguyên tố sinh đôi ? Có bao nhiêu cặp số nguyên tố sinh đôi ? Có phải cố vô số cặp số nguyên tố sinh
đôi không ? Câu hói này cho đến nay vẫn chưa được trả lời Một giải thưởng 2ð vạn
đôla đang chờ đợi người nào giải được câu
đố này
Trang 10Như vậy, sự phân bố các số nguyên tố rất
phức tạp có vẻ không tuân theo một quy luật
nào Tuy vậy, các nhà toán học của nhiều
thời đại vẫn cố gắng hi vọng nắm bát được
một thứ trật tự nào do trong thế giới các số
nguyên tố
Ki hiéu x (n) 1A số các số nguyên tố không
vượt quá : Trên cơ sở nghiên cứu bảng các
8Ố nguyên tố, nhà toán học lỗi lạc Đức Gauss
(1777 ~ 1855) đã dự đoán Tang x (n) xấp xÌ
bằng n/logr (ở đây logn là logarit của n theo
cơ số e) tức là lim (z0) logr]/n = 1
n~>œ
Dự đoán thiên tài này đã được hai nhà
toán học Pháp J.Hadamard va L.V Poussin
chứng minh sau đó vào năm 1896 Chứng
mỉnh phải sử đụng đến những công cụ phức
tạp của lÍ thuyết hàm số biến số phức Thật
là một điều lạ lùng ? Các số nguyên tố lại
có mối liên hệ chặt chẽ với các số phức và
hâm số phức,
Nam 1859, trong một bài báo nhan đề :
"Về số các số nguyên tố bé hơn một giá trị
đã cho" nhà toán học Đức B.Riman {1826 -
1866) đã đưa ra hàm số đêta ÿ (s) xác định
trên tập hợp các số phức Khi s là số thực
lớn hơn 1 thì ÿ () cớ thể viết dưới dạng
chuỗi :;
1 1 1
S@)at+ toe +
Riman da chi ra rằng có một sự liên hệ
chặt chẽ giữa hàm deta và các số nguyên tố
Dáng điệu của hàm đeta nói cho ta rất nhiều
điều về sự phân bố các số nguyên tố
Các số phức s mà tại đơ È @) = Ô được
gọi là các không điểm của Ê (s) Riman nhận
thấy rằng các không điểm mà ông tim được
đều có phần thực là 1/2 (tức là đều có đạng 1/2 + 6)
Từ đó ông đã dự đoán rằng điều này phải
đúng cho tất cả các không điểm của hàm
đeta (số không điểm của É (s) là vo han) Dé
là giả thuyết Riman nổi tiếng Tại hội nghị toán học thế giới ở Pari năm 1900 Hilbert,
nhà toán học vỉ đại nhất lúc bấy giờ, đã đưa giả thuyết Riman vào danh sách 28 bài toán
khổ nhất của thế kỉ 19 thách thức thé ki 20 Liên quan tới giả thuyết của Riman là giả thuyét Mertens Goi M(n) là hiệu giữa số các
86 tự nhiên bé hơn ø là tích của một số chăn các số nguyên tố khác nhau và SỐ các gố tự nhiên bé hơn œ là tích của một số lẻ các số
nguyên tố khác nhau, Chẳng hạn M(16) = 1 Với máy tính bỏ túi các bạn có
thể dễ dàng tính được giá trị của Mn) với
œ đã cho Nhà toán học Đức Mertens sau khi
tính 10000 giá trị của Mín) đã thấy rằng mặc dù đáng điệu của M(x) thay đổi rất lụng
tung nhưng Ä#(:) luôn bé hơn V% Từ đó ông
dự đoán rằng Ä(n) < Ýn với moi n Dén nam
1963 bang may tinh người ta đã xác nhận gia thuyết Mertens là đúng cho tất cá œ bé
hơn 10 tỈ và đã tìm thấy 300 triệu không
điểm của hàm đêta, tất cả đều có phần thực
là 1⁄2 Người ta cũng chứng tỏ rằng giả thuyết Mertens đúng sẽ kéo theo giả thuyết ‘ Riman ding
Mùa xuân năm 1984, 2 nhà toán học A Odlyzko (MI) va H Riele (Ha Tan) đã bác bô giả thuyết Mertens bằng cách chỉ ra sự tồn tại của một số n ma M(n) > Vn Su kiện này
dén tdi vide nghi ngờ giả thuyết Riman có
thể sai Nhưng đến tháng 9 nam ấy, một tin Uui đã đến với các nhờ toán hoe Tai trường
đại học Tổng hợp Pari nhà toán học Nhật Ban H Matsumoto dé loan báo rồng ông da chúng mình thành công được dự đoán của
Riman Nhu Uậy dự doán thiên tài của Riman sau 125 nam tồn tai dé được xác nhận là đúng Du luận Tbán học đều nhất trí dánh giá đây là thành tựu toán học lớn nhất của năm 1984
31