68 Tổ chức hạch toán chi phí sản Xuất và tính giá thành sản phẩm
Trang 1Lời nói đầu Trong quá trình tái sản xuất xã hội, hoạt động sản xuất đợc coi là khâu cơ bản nhất, nó tạo ra những sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội Trớc đây, khi nền kinh tế nớc ta còn trong cơ chế tập trung bao cấp việc xác định: sản xuất cái gì ? sản xuất nh thế nào ? và sản xuất cho ai ? không đợc chú trọng quan tâm nhiều lắm, nhất là ở các doanh nghiệp nhà nớc nơi chỉ chuyên sản xuất theo kế Từ sau đại hội Đảng lần thứ VII, nền kinh tế nớc ta đã có nhiều bớc chuyển đổi to lớn sang nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nớc Thực tế những năm vừa qua cho thấy, đây là một mô hình kinh tế năng
động và có hiệu quả Trong cơ chế này doanh nghiệp đợc toàn quyền chủ
động về mọi mặt trong sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó doanh nghiệp cũng gặp không ít những khó khăn không ít các doanh nghiệp, nhất là các doang nghiệp nhà nớc bấy lâu đợc Nhà nớc bao cấp, vì không đứng vững
đợc trớc những khó khăn đã dẫn tới đình trệ sản xuất và cuối cùng lâm vào tình trạng phá sản Tình hình trên buộc các doanh nghiệp luôn phải tính toán xem làm thế nào để đẩy mạnh sản xuất và kinh doanh có lãi Mà một trong các phơng án quan trọng có ý nghĩa tiên quyết là hợp lý hóa chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý vật t, lao động, tiền vốn, thiết
bị máy móc Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn khi mà các mặt hàng đa ra thị trờng phải đáp ứng không đơn thuần chỉ là chất lợng, độ tiện dụng mà còn về giá cả nữa, doanh nghiệp thật không dễ tự tiện tăng giá hàng bán, tất yếu để tăng lợi nhuận cần tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Việc hợp lý hóa chi phí sản xuất tạo điều kiện tính
đúng, tính đủ giá thành sản phẩm Chỉ tiêu giá thành sản phẩm là cơ sở xác định kết quả sản xuất kinh doanh, xác định mức tích luỹ của doanh nghiệp Tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm có ý nghĩa to lớn đối với việc tăng tích luỹ của doanh nghiệp, nâng cao đời sống của ngời lao động, củng cố thế mạnh và đẩy nhanh sự phát triển của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại ngắn vốn
Hiểu biết ý nghĩa của chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm càng thấy rõ việc hạch chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không chỉ
Trang 2Chuyên đề cuối khoá
còn là cần thiết mà còn cực kỳ quan trọng, đó là cơ sở giúp cho việc đánh giá và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, giúp cho nhà lãnh đạo doanh nghiệp có biện pháp cải tiến tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, vừa tăng cờng quản trị doanh nghiệp vừa giúp cho việc quản lý vĩ mô của Nhà nớc
Nhận thức đợc tầm quan trọng cũng nh tính bức xúc của vấn đề trên,
vì vậy em đã chọn đề tài : “Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” để nghiên cứu Trong bài viết này mặc dù đã có
nhiều cố gắng song không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy em rất mong đợc sự chỉ bảo của các thầy cô giáo để bài viết này đợc hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3ơng1: Bản chất, nội dung của chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm
1 - Chi phí sản xuất - Phân loại chi phí sản xuất.
Xét về bản chất, chi phí sản xuất đợc xem nh một lợng vốn bỏ ra cho các hoạt
động của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm trong kỳ kinh doanh nhằm đạt đ ợc một mục tiêu nhất định Sự hình thành nên các chi phí sản xuất để tạo ra giá trị sản phẩm là tất yếu khách quan còn cố gắng chủ quan của nhà sản xuất là luôn h ớng tới những chi phí hợp lý nhất Mặc dù các chi phí bỏ ra cho sản xuất gồm nhiều loại, nhiều yếu tố khác nhau nhng chúng đều đợc tập hợp và biểu hiện dới hình thái giá trị tiền tệ
Tóm lại có thể nói rằng chi phí sản xuất là biểu hiên bằng tiền của toàn bộ những chi phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã thực tế
bỏ ra để tiến hành các hoạt động sản xuất trong kỳ nhất định (tháng, quý, năm).Theo thông lệ kế toán quốc tế chi phí lại đợc đinh nghĩa là các khoản chi mà doanh nghiệp bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết cho hoạt động sản xuất (thu mua hàng hóa, vật liệu, vật t dự trữ và các chi phí khác phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ) Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, quan niệm về chi phí cũng nới rộng hơn Một số chi phí trớc đây không đợc tính đến là một khoản chi phí thì nay nền kinh tế càng phát triển, trình độ khoa học ngày càng tiên tiến chi phí đã đợc nhìn nhận một các sâu sát hơn, đợc đánh giá chính xác hơn các khoản chi phí đó đã đợc chấp nhận
Các chi phí sản xuất luôn biểu hiện ở 2 mặt định tính và định lợng Mặt định tính của chi phí sản xuất là các yếu tố chi phí hiện vật hoặc bằng tiền tiêu hao trong quá trình sản xuất; Mặt định lợng thể hiện ở mức độ tiêu hao cụ thể của từng loại chi phí tham gia vào quá trình sản xuất để cấu thành nên sản phẩm hoàn thành, biểu hiện bằng thớc đo tổng quát là thớc đo giá trị Đứng về mặt lợng mà nói chi phí sản xuất phụ thuộc vào hai yếu tố sau:
-Khối lợng lao động và t liệu sản xuất tiêu hao trong một thời kỳ nhất định.-Giá cả các t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình sản xuất và thù lao lao
động tính cho một đơn vị thời gian
Trong nền kinh tế thị trờng yếu tố giá cả thờng xuyên biến động nằm ngoài sự kiểm soát chủ quan của doanh nghiệp, nên nếu doanh nghiệp muốn hạ thấp chi phí thì cần điều chỉnh yếu tố khối lợng Việc tính toán chính xác đầy đủ và kịp thời chi phí sản xuất cũng nh giá thành sản phẩm chẳng những là tất yếu mà còn
Trang 4Chuyên đề cuối khoá
là vấn đề đợc coi trọng nhằm xác định đúng đắn chi phí phù hợp với giá cả thực tại tạo điều kiện giúp doanh nghiệp bảo toàn vốn theo yêu cầu của chế độ quản lý kinh tế hiện nay
Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau tuỳ theo chính sách quản lý, chính sách giá cả và khả năng hạch toán để đề ra các chế độ quy định, phạm vi và nội dung của chi phí và tính giá thành sản phẩm Để quản lý và hạch toán chi phí sản xuất theo từng nội dung cụ thể, theo từng đối tợng tập hợp chi phí, đối tợng tính giá thành sản phẩm cần tiến hành phân loại chi phí một cách khoa học, thống nhất theo tiêu chuẩn nhất định Phân loại chi phí một cách khoa học, hợp lý có vai trò quan trọng trong công tác kế hoạch hoá, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất của các đơn vị bao gồm nhiều loại khác nhau về nội dung kinh tế, về đặc điểm, tính chất cũng nh công dụng Hạch toán chi phí theo từng loại sẽ nâng cao tính chi tiết của thông tin hạch toán, là cơ sở tin cậy cho việc phấn đấu giảm chi phí Tuỳ theo yêu cầu công tác quản lý và hạch toán
có thể phân loại theo các đặc trng khác nhau
a Chi phí sản xuất phân theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Theo tiêu thức này, căn cứ vào việc tham gia của chi phí vào hoạt động kinh doanh, toàn bộ chi phí đợc chia làm 3 loại:
-Chi phí sản xuất, kinh doanh: Bao gồm những chi phí liên quan đến hoạt
động sản xuất, tiêu thụ và quản lý hành chính, quản trị kinh doanh
-Chi phí hoạt động tài chính: Gồm những chi phí liên quan đến hoạt động về vốn và đầu t tài chính
-Chi phí bất thờng: Gồm những chi phí ngoài dự kiến, có thể do chủ quan hay khách quan mang lại
Cách phân loại này giúp cho việc phân định chi phí đợc chính xác, phục vụ cho việc tính giá thành, xác định chi phí và kết quả của từng hoạt động kinh doanh đúng đắn cũng nh lập báo cáo tài chính nhanh chóng, kịp thời
b Chi phí sản xuất theo kinh doanh theo yếu tố chi phí.
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu
đồng nhất của nó mà không xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh của chi phí, chi phí đợc phân theo yếu tố Về thực chất, chỉ có 3 yếu tố chi phí là chi phí
về sức lao động, chi phí về đối tợng lao động và chi phí về t liệu lao động Tuy nhiên để cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng và phân tích định mức vốn lu động, việc lập, kiểm tra và phân tích
dự toán chi phí Các yếu tố chi phí trên có thể đợc chi tiết hóa theo nội dung kinh
Trang 5Chuyên đề cuối khoá
tế cụ thể của chúng Theo quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn chi phí đợc chia làm 7 yếu tố sau:
-Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ sử dụng vào sản xuất kinh doanh
-Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ
-Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng
-Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ
-Yếu tố khấu hao tài sản cố định
-Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài
-Yếu tố chi phí khác bằng tiền
c Chi phí sản xuất kinh phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí đợc phân chia theo khoản mục Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tợng Cũng nh cách phân loại theo yếu tố, số lợng khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, trình độ quản lý và hạch toán ở mỗi n -
ớc, mỗi thời kỳ khác nhau
Theo quy định hiện hành, giá thành sản xuất ở Việt Nam bao gồm 3 khoản mục chi phí:
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên, vật liệu chính, phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ
-Chi phí phân công trực tiếp: Gồm tiền lơng, phụ cấp lơng và các khoản trích cho quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỷ lệ với tiền lơng phát sinh
-Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phẫnởng sản xuất
Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng
d Chi phí sản xuất kinh doanh phân theo chức năng trong sản xuất kinh doanh
Dựa vào chức năng hoạt động trong quá trình kinh doanh và chi phí liên quan
đến việc thực hiện các chức năng mà chia chi phí sản xuất kinh doanh làm 3 loại:
Trang 6Chuyên đề cuối khoá
-Chi phí thực hiện chức năng sản xuất : Gồm những chi phí phát sinh liên quan đến việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện các lao vụ dịch vụ trong phạm vi phân xởng
-Chi phí thực hiện chức năng tiêu thụ: Gồm tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, lao vụ
-Chi phí thực hiên chức năng quản lý: Gồm các chi phí quản lý kinh doanh, hành chính và những chi phí chung phát sinh liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp
Các phân loại này là cơ sở để xác định giá thành công x ởng, giá thành toàn
bộ, xác định giá trị hàng tồn kho, phân biệt đợc chi phí theo từng chức năng cũng
nh làm căn cứ để kiểm soát và quản lý chi phí
e Phân theo cách thức kết chuyển chi phí.
Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh đợc chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ Chi phí sản phẩm là những chi phí đợc gắn liền với các sản phẩm đợc sản xuất ra hoặc đợc mua; Còn chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức trong một thời kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị sản phẩm đợc sản xuất hoặc đợc mua nên đợc xem là các phí tổn cần đợc khấu trừ ra từ lợi tức của thời kỳ
mà chúng phát sinh (chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp)
Tóm lại nhận định và hiểu cách phân loại ứng xử của từng loại chi phí là chìa khoá của việc đa ra các quyết định đúng đắn trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà quản trị
Tuy nhiên nếu chỉ tìm hiểu chi phí mà bỏ qua giá thành sản phẩm là một thiếu sót lớn Bởi vì khi doanh nghiệp bỏ chi phí ra tất yếu phải gặt hái đợc sản phẩm Vì vậy, chi phí kết tinh trong sản phẩm là bao nhiêu ? Muốn biết đợc cần phải tính giá thành sản phẩm
2 Giá thành sản phẩm phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá giá thành lại
là một chỉ tiêu tính toán không thể thiếu đợc của một chế độ quản lý theo nguyên tắc hạch toán kinh tế Do vậy có thể xem xét giá thành sản phẩm dới nhiều góc độ khác nhau nhằm sử dụng chỉ tiêu giá thành có hiệu quả trớc hết giá thành sản phẩm là lợng hao phí kết tinh trong sản phẩm trên góc độ này giá thành sản phẩm mang tính khách quan vì sự di chuyền và kết tinh của giá trị t liệu sản xuất vào hao phí lao động trong sản phẩm là tất yếu, còn tính toán đo lờng lợng hao phí và thể hiện chúng dới hình thái giá trị thành tiền chỉ là cách phản ánh của quản lý Giá thành sản phẩm còn đợc hiểu là những khoản chi phí mà doanh nghiệp để
Trang 7Chuyên đề cuối khoá
thực thi hoàn thiện từ việc sản xuất đến tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định nào
đó, theo cách hiểu này dễ thấy giá thành không chỉ gồm 2 yếu tố C và V mà còn gồm các khoản chi phí khác có nguồn gốc là thặng d sản phẩm nh trả lại tiền vay, chi quảng cáo với cách biểu hiện là các khoản chi phí không tạo ra giá trị sử dụng nhng nhất thiết phải có Theo quan điểm tài chính học thì giá thành chính là thớc đo mức chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Đây là căn
cứ để xác định hiệu quả kinh doanh và ra quyết định trong sản xuất
Tóm lại tất cả những khoản chi phí phát sinh (cả trong kỳ hạch toán lẫn kỳ tr
-ớc chuyển sang) và các chi phí trích tr-ớc có liên quan đến khối lợng sản phẩm (lao
vụ, dịch vụ ) hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lợng sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành
Mục đích sản xuất kinh doanh hay nói cách khác là mục đích bỏ chi phí của doanh nghiệp là để tạo nên những giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp luôn quan tâm đến hiệu quả của các chi phí bỏ ra, làm sao để với chi phí bỏ ra tối thiểu có thể thu đợc giá trị sử dụng lớn nhất, cũng nh luôn tìm biện pháp hạ thấp chi phí nhằm tối đa hóa lợi nhuận
Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý, giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong nó Nh vậy bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm, lao vụ hoàn thành
Giá thành sản phẩm có 2 chức năng chủ yếu là : Chức năng th ớc đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá Toàn bộ chi phí mà các doanh nghiệp chi ra sẽ hoàn thành một khối lợng sản phẩm, lao vụ phải đợc bù đắp từ chính số tiền thu về từ tiêu thụ sản phẩm, lao vụ Việc bù đắp các chi phí đầu vào chỉ mới đảm bảo đ ợc quá trình tái sản xuất giản đơn Mục đích sản xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trờng đòi hỏi các doanh nghiệp phải đảm bảo trang trải, bù đắp mọi chi phí đầu vào của quá trình sản xuất và phải có lãi Trong cơ chế thị trờng giá bán sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào quy luật cung cầu, vào sự thoả thuận giữa doanh nghiệp và khách hàng Do vậy thông qua việc tiêu thụ sản phẩm mà thực hiện giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa Giá bán sản phẩm là biểu hiện giá trị của sản phẩm, phải đợc dựa trên cơ sở giá thành để xác định Thông qua giá bán sản phẩm
mà xác định mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí
Trang 8Chuyên đề cuối khoá
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch hóa giá thành cũng nh yêu cầu xây dựng giá cả hàng hóa mà giá thành đợc xem xét dới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau Về lý luận cũng nh trên thực tế ngoài các khái niệm về giá thành xã hội, giá thành cá biệt còn có
*Căn cứ theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính có thể chia giá thành ra làm 3 loại:
+ Giá thành kế hoạch : Là giá thành đợc xác định trớc khi bớc vào sản xuất kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trớc (năm trớc) và các định mức kinh tế
kỹ thuật cũng nh dự đoán chi phí kỳ kế hoạch Nó bao gồm tất cả các chi phí gắn liền với sản xuất sản phẩm của đơn vị lập trên cơ sở định mức hao phí lao động, hao phí vật chất kế hoạch và theo giá cả kế hoạch
+ Giá thành định mức : Cũng giống nh giá thành kế hoạch, giá thành định mức có thể đợc tính trớc khi sản xuất, song đợc xác định không phải dựa trên định mức kinh tế kỹ thuật hiên hành Giá thành định mức thờng chỉ tính cho một đơn
vị sản phẩm, giá thành định mức có thể thay đổi khi có sự thay đổi các định mức chi phí sản xuất Giá thành định mức là thớc đo chính xác các chi phí cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm trong điều kiện sản xuất nhất định tại thời điểm nhất định
+ Giá thành thực tế : Khác với 2 loại giá thành trên, giá thành thực tế chỉ đợc xác định khi quá trình sản xuất đã hoàn thành dựa trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp đợc trong kỳ Nếu hai loại giá thành trên chỉ bao gồm những chi phí trong phạm vi kế hoạch định mức đợc tính toán trớc và mang tính chất chủ quan nhiều hơn thì giá thành thực tế bao gồm mọi chi phí thực
tế đã phát sinh đã phát sinh và rất có thể vợt kế hoạch và nằm ngoài đinh mức Giá thành thực tế đợc xác định theo con số thực của kế toán Giá thành thực tế của sản phẩm phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
*Căn cứ theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành đợc chia làm 2 loại:
+ Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xởng), là chỉ tiêu phản ánh tất cả các chi phí phát sinh trong phạm vi công xởng sản xuất (chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung)
+ Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ), là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, quản lý và bán hàng) Do vậy giá thành tiêu thụ còn đợc gọi là giá thành đầy
đủ hay giá thành toàn bộ và đợc tính theo công thức sau:
Trang 9Chuyên đề cuối khoá
Sự vận động của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm hai mặt đối lập nhau nhng có liên hệ mật thiết với nhau, một mặt là chi phí đã chi ra, mặt khác
là những sản phẩm kết quả kết quả sản xuất đã hoàn thành cần tính giá thành Sau khi hiểu rõ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, chúng ta đi sâu tìm hiểu quan
hệ giữa chúng
3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Các chi phí sản xuất phát sinh có tính chất thờng xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất, song để đánh giá chất lợng kinh doanh của doanh nghiệp thì mặt hao phí bỏ ra - chi phí sản xuất - phải đợc xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt kết quả thu đợc - giá thành sản phẩm Mối quan hệ này đợc thể hiện ngay trong công tác kế toán, kế toán tập hợp chi phí sản xuât sẽ tạo cơ sở số liệu để tính giá thành sản phẩm Có thể nói đây là “hai bớc công nghệ” liên tiếp gắn bó hữu cơ không thể tách rời Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm giống nhau về mặt chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm Tuy vậy giữa hai phạm trù lại không giống nhau về mặt lợng, sự khác biệt đó thể hiện ở các điểm sau:
- Thứ nhất là: Chi phí sản xuất luôn gắn liền với một thời kỳ nhất định còn giá thành sản phẩm lại gắn với một loại sản phẩm công việc, lao vụ nhất định, tức là hạch toán chi phí quan tâm mọi chi phí chi ra trong kỳ hạch toán còn giá thành khi đợc tính lại chỉ gồm những chi phí gắn liền với sản phẩm hay khối lợng công việc đã hoàn thành đợc xác định tạo thời điểm tính giá thành mà không kể đến chi phí đơc chi ra trong kỳ kế hoạch nào
- Thứ hai là: Giá thành sản phẩm không bao gồm những chi phí đã chi ra trong
kỳ nhng còn chờ phân bổ cho kỳ sau, song phải cộng thêm một phần chi phí sẽ phát sinh ở kỳ sau nhng đợc ghi nhận là chi phí của kỳ này và một phần đã phát sinh ở kỳ trớc cha phân bổ đợc chuyển sang kỳ này
- Thứ ba là: Giá thành sản phẩm chứa đựng cả chi phí phát sinh của kỳ tr ớc chuyển sang (giá trị sản phẩm dở dang) còn chi phí sản xuất kỳ này có cả giá trị sản phẩm dở dang kỳ sau
4 Sự cần thiết - Nhiệm vụ của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
là những chỉ tiêu quan trọng luôn đợc các doanh nghiệp quan tâm vì chúng gắn liền với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Thông qua số liệu do bộ phận kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cung cấp cho các nhà
Trang 10Chuyên đề cuối khoá
lãnh đạo quản lý nhân lực biết đợc chi phí và giá thành thực tế của từng loại hoạt
động, từng loại sản phẩm cũng nh toàn bộ kết qủa hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để phân tích đánh giá tình hình thực hiện các định mức, dự
đoán chi phí, tình hình sử dụng lao động, vật t tiền vốn, có hiệu quả tiết kiệm hay lãng phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành nh thế nào, để từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu kịp thời nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm,
đề ra các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị doanh nghiệp Trên phơng diện tài chính bên cạnh chức năng là công cụ quan trọng nhằm kiểm soát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, còn giá thành là một căn cứ quan trọng giúp doanh nghiệp xây dựng giá cả cho từng loại sản phẩm cũng nh chiến lợc tiêu thụ sản phẩm
Việc phân tích đánh gía đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ
có thể dựa trên việc tính giá thành sản phẩm chính xác; mà tính chính xác của giá thàn sản phẩm lại chịu sự ảnh hởng của kết quả tập hợp chi phí sản xuất Do vậy tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đảm bảo xác định đúng nội dung chi phí cấu thành sản phẩm, l ợng giá trị các yếu tố chi phí đã đợc chuyển dịch vào sản phẩm đã hoàn thành có ý nghĩa quan trọng và
là yêu cầu cấp bách trong điều kiện nền kinh tế thị trờng Để đáp ứng những yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, kế toán cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất vầ đối tợng tính giá thành
- Tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tợng đã xác định và phơng pháp kế toán tập hợp chi phí thích hợp với điều kiện thực tế của đơn vị
đối với sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Xây dựng trình tự hạch toán hợp lý trên cơ sở chấp hành đúng quy định chế
độ kế toán Nhà nớc đề ra
Trang 11Chuyên đề cuối khoá
Ch
ơng2: Đối t ợng - Trình tự hạch toán và ph ơng pháp
tập hợp chi phí sản xuất
1 Đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất, bao gồm nhiều loại với nội dung kinh tế, công dụng khác nhau, phát sinh ở những địa điểm khác nhau Mục
đích của việc bỏ ra các chi phí là để tạo ra những sản phẩm mà những sản phẩm lại đợc sản xuất ở nhiều phân xởng, bộ phận khác nhau theo quy trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Do đó các chi phí phát sinh cần đợc tập hợp theo các yếu tố, khoản mục chi phí theo những phạm vi, giới hạn nhất định để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm Nh vậy xác định khối lợng hạch toán chi phí sản xuất chính là xác định giới hạn tập hợp chi phí, mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí
Việc xác định tối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
- Quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm
- Đặc điểm phát sinh chi phí, mục đích công dụng của chi phí
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
Dựa vào các căn cứ trên và điều kiện thực tế doanh nghiệp có thể xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất có thể là một trong các loại sau:
+ Tập hợp chi phí theo từng sản phẩm: từng sản phẩm riêng biệt đợc chọn là
đối tợng tập hợp chi phí Nếu quá trình chế biến sản phẩm trải dài qua nhiều phân xởng khác nhau thì các chi phí đợc tập hợp theo từng phân xởng trong đó các chi phí trực tiếp đợc phân loại theo từng sản phẩm, các chi phí phục vụ quản lý sản xuất đợc phân bổ cho từng sản phẩm theo các tiêu chuẩn phù hợp Loại này hay áp dụng ở các doanh nghiệp sản xuất hàng loạt và khối lợng lớn
+ Tập hợp chi phí theo từng bộ phận, chi tiết sản phẩm: ở đây từng chi tiết, đối tợng sản phẩm đợc xem là đối tợng tập hợp chi phí sản xuất Kiểu này khá phức tạp nên chỉ áp dụng hạn chế ở những doanh nghiệp chuyên môn hóa sản xuất cao, sản xuất ít mặt hàng hay sản phẩm mang tính đơn chiếc có ít chi tiết và bộ phận cấu thành sản phẩm, các chi tiết này có giá trị lớn
+ Tập hợp chi phí theo nhóm sản phẩm : Chi phí sản xuất phát sinh đợc tập hợp và phân loại cho cả nhóm sản phẩm cùng loại Kiểu này thờng đợc áp dụng rộng rãi ở các doanh nghiệp sản xuất có quy cách khác nhau