49 Kế toán quản trị – cơ sở cho các quyết định kinh doanh ngắn hạn
Trang 11 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Để tồn tại và phát triển thích ứng với một nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải tìm cách đối phó với những cạnh tranh khốc liệt từ các doanh nghiệp khác Nhất là trong giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang bước vào hội nhập với nền kinh tế thế giới, nhu cầu thông tin cho quản lý của quá trình sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp hiện nay là một điều không thể thiếu được Kế toán - một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế - tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Thông tin kế toán không chỉ quan trọng và cần thiết cho các doanh nghiệp mà còn cần thiết cho các đối tượng khác có quyền lợi trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp
Tuy nhiên, để kế toán có thể phát huy một cách tốt nhất chức năng thông tin và kiểm tra của mình thì cần phải xây dựng một hệ thống kế toán hoàn chỉnh Với hệ thống này thông tin được cung cấp không chỉ hướng vào các quá trình và các sự kiện kinh tế đã xảy ra, mà còn phải hướng đến những diễn biến trong tương lai nhằm giúp các nhà quản lý doanh nghiệp hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát và đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với các mục tiêu đã xác lập Một hệ thống kế toán đáp ứng được nhu cầu thông tin như thế phải là một hệ thống kế toán bao gồm hai phân hệ: Kế toán tài chính (KTTC) và kế toán quản trị (KTQT)
Thông tin của KTTC phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán, có tính phản ánh khách quan các sự kiện kinh tế đã xảy ra, phải có độ chính xác gần như tuyệt đối Thông tin của KTTC cũng rất cần thiết cho việc lập kế hoạch nhưng chưa đầy đủ vì đó chỉ là sự phản ánh quá khứ trong khi sự vật lại vận động không ngừng
Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường do yêu cầu cần nhạy bén nắm bắt nhanh
cơ hội kinh doanh nên thông tin cung cấp cho các nhà quản trị cần linh hoạt, tốc độ và phù hợp với từng quyết định không phải tuân thủ các nguyên tắc kế toán cũng như phải chính xác tuyệt đối Đó chính là thông tin KTQT Thông tin do KTQT cung cấp đặt trọng tâm cho tương lai – đó là những thông tin cần thiết một cách trực tiếp và thường xuyên đối với các nhà quản trị - bộ não điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, luôn cố gắng đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và không ngừng phát triển trong một nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh ngày càng gay gắt
Trang 2Thế nhưng, ở nước ta cho đến nay, nhận thức và hiểu biết về KTQT vẫn còn nhiều hạn chế và chưa hoàn toàn thống nhất cả về lý luận lẫn thực tiễn Khái niệm “Kế toán” để nói về hệ thống kế toán của doanh nghiệp từ trước đến nay cũng chỉ đề cập chủ yếu đến kế KTTC, mặc dù hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam vẫn có những biểu hiện nhất định về KTQT Vì thế, tổ chức KTQT với những nội dung thích ứng trong điều kiện và môi trường hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam góp phần hoàn thiện tính đồng bộ của hệ thống kế toán Việt Nam, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp nước ta trong giai đoạn hiện nay là vấn đề có tính cấp thiết cả về
lý luận lẫn thực tiến ứng dụng
Bên cạnh, trong quản lý, doanh nghiệp thường đối diện với nhiều tình huống cần phải đưa ra các quyết định, để đi đến các quyết định cần phải dựa trên các cơ sở và thông tin cần thiết Trước hết, đó là mục tiêu của doang nghiệp Mọi quyết định đưa ra điều phải nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Sau mục tiêu chung, còn phải xác định được yêu cầu và mục đích cụ thể của quyết định đưa ra Sau đó, cần tìm nhiều biện pháp khác nhau để đánh giá, so sánh và đi đến quyết định lựa chọn phương
án tốt nhất Bước quan trọng nhất trong quá trình ra quyết định là đánh giá các phương
án qua phân tích chi phí và lợi nhuận thông qua KTQT Đó là một trong những vai trò rất quan trọng của KTQT giúp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị
Phần lớn thông tin do KTQT cung cấp nhằm phục vụ vai trò ra quyết định của nhà quản trị Đó là vai trò quan trọng xuyên suốt các khâu quản trị doanh nghiệp từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá vai trò ra quyết định được vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp Mặt khác, để
có thông tin thích hợp đáp ứng nhu cầu của nhà quản lý KTQT phải thực hiện các nghiệp vụ phân tích chuyên môn vì những thông tin này thường không có sẳn mà KTQT sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết, thích hợp và tổng hợp trình bày chúng theo một trình tự để cung cấp cho nhà quản trị Bên cạnh KTQT còn giúp cho nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng việc cung cấp thông tin thích hợp
mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào từng tình huống kinh doanh khác nhau từ đó nhà quản trị lựa chọn và ra quyết định thích hợp nhất
Từ nhận thức trên em đi vào nghiên cứu vấn đề: “Kế toán quản trị - cơ sở cho các quyết định kinh doanh ngắn hạn.”
Trang 32 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu vai trò ra quyết định của KTQT và việc ứng dụng KTQT vào doanh nghiệp để phục vụ cho việc ra quyết định Tuy nhiên, đề tài đi sâu nghiên cứu phân tích việc ứng dụng KTQT cho việc ra các quyết định kinh doanh ngắn hạn trong nhà máy thuốc lá An Giang Trên cơ sở đó đề ra những kiến nghị để xây dựng bộ phận KTQT tại doanh nghiệp
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện thông qua việc thu thập số liệu và thông tin trực tiếp từ nhà máy thuốc lá An Giang như các báo cáo quyết toán năm, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các báo cáo thống kê như (Báo cáo nhập, xuất nguyên vật liệu, báo cáo tiền lương và các chi phí có liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh ), báo cáo giá thành, báo cáo lãi lỗ của từng mặt hàng và tham khảo các ý kiến giải trình từ các cán bộ công nhân viên của nhà máy Từ đó dùng phương pháp phân tích tổng hợp lồng ghép giữa lý thuyết và các tình huống kinh doanh cụ thể tại nhà máy để đưa ra các quyết định kinh doanh Ngoài ra đề tài còn tham khảo thông tin
từ sách, báo, tạp chí làm cơ sở cho việc đánh giá và đưa ra kết luận chung
Đề tài bao gồm 4 chương
•Chương 1: Cơ sở lý luận – giới thiệu sơ lược về KTQT
•Chương 2: Giới thiệu chung về Nhà máy thuốc là An Giang
•Chương 3: Ứng dụng KTQT vào nhà máy thuốc lá An Giang
•Chương 4: Đánh giá và kiến nghị
Trang 41 SƠ LƯỢC VỀ KTQT
Cùng với sự phát triển tập trung và chuyên môn hoá quá trình kinh doanh đã hình thành nhiều ngành, nhiều dạng tổ chức với những loại sản phẩm dịch vụ phong phú có phương thức quản lý riêng biệt Đặc biệt, sự tách rời quyền sở hữu của các chủ
sở hữu doanh nghiệp và quyền quản lý của các nhà quản trị doanh nghiệp đã dẫn đến
sự cần thiết phải có thông tin KTQT để hình thành các quyết định của những nhà quản
lý doanh nghiệp Để ban quản trị điều hành doanh nghiệp có thể kiểm soát một cách hiệu quả tình hình hoạt động của doanh nghiệp mình, kế toán phải biết tiên liệu kết quả
và dự phần vào việc quản trị doanh nghiệp
KTQT được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế và mọi lĩnh vực kinh doanh,
kể cả các tổ chức hoạt động không vì mục đích lợi nhuận Nếu như KTTC đã ra đời cách đây rất lâu, thì cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX người ta còn biết rất ít về KTQT Năm 1875 Thomas Suther Land - một nhà kinh doanh người Anh, là người đầu tiên viết về KTQT: “Các doanh nghiệp cần phải xác định được lợi nhuận của một năm hoặc một khoảng thời gian ngắn hơn nữa Cho nên có một điều hiển nhiên là các nhà quản lý cần phải nắm được các thông tin chi tiết về các hoạt động của doanh nghiệp, nó trợ giúp cho nhà quản lý hiểu được nhanh chóng và rõ ràng những nguyên nhân có thể ảnh hưởng tốt, xấu đến hoạt động của doanh nghiệp.”
KTQT được áp dụng lần đầu tiên ở Bắc Mỹ và ở Anh vào nửa cuối thế kỷ XIX
và đến năm 1925 KTQT đã thâm nhập vào hầu hết các ngành kinh tế và được hình thành phát triển cho đến nay
Các sự kiện đã thúc đẩy sự phát triển của KTQT là: sự cạnh tranh trong kinh doanh toàn cầu; sức ép khốc liệt của giá thành, sự tiến bộ nhanh chóng của kỹ thuật trong lĩnh vực tự động hoá; khả năng to lớn trong việc thu thập và báo cáo thông tin;
sự chuyển động mạnh mẽ theo hướng vượt khỏi các quy định của các ngành dịch vụ Những thay đổi do các sự kiện này đã đem đến và làm tăng thêm nhu cầu về thông tin
Trang 5của các nhà quản lý, đặc biệt là các thông tin có liên quan đến hoạt động nội bộ mà họ không thể nào có được từ báo cáo thu nhập và bảng cân đối kế toán.
Qua đó cho thấy được vai trò quan trọng của KTQT trong doanh nghiệp, từ đó
có nhiều quan điểm về KTQT ra đời:
Theo Hiệp hội kế toán quốc gia của Mỹ, văn kiện số 1A tháng 3/1981 thì:
“KTQT là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch, trong việc kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp Quy trình KTQT bao gồm công việc xác định,cân, đo, đong, đếm, thu thập, tích luỹ, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp.”
Theo từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ thì KTQT là: “một lĩnh vực của kế toán liên quan đến việc định lượng các thông tin kinh tế và hỗ trợ những nhà quản trị trong việc đưa ra các quyết đinh tài chính, đặc biệt trong việc hoạch định kế hoạch và quản lý giá thành.”
Theo Luật kế toán Việt Nam được Quốc hội nước cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI kỳ hợp thứ 3 thông qua ngày 17/06/2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị kế toán như sau: Điều 4-1: “KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế trong nội bộ các đơn vị kế toán.”
2 VAI TRÒ RA QUYẾT ĐỊNH CỦA KTQT
KTQT là kế toán theo chức năng quản lý, vì thế vai trò của nó là cung cấp thông tin hữu ích liên quan đến việc lập kế hoạch tổ chức, điều hành hoạt động, kiểm tra và ra quyết định trong đó ra quyết định là một trong những vai trò rất quan trọng Bởi vì, chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự lựa chọn hợp lý trong nhiều phương án khác nhau được đưa ra Các quyết định trong một tổ chức có thể có ảnh hưởng ngắn hạn hoặc có thể là các quyết định chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến tổ chức Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin và phần lớn thông tin là do KTTQ cung cấp nhằm phục chức năng ra quyết định của nhà quản trị Do vậy, KTQT phải cung cấp thông tin kịp thời linh hoạt và mang tính hệ thống, trên cơ sở đó phân tích các dự án được thiết lập để lựa chọn phương án tối ưu nhất cho việc ra quyết định Các thông tin này cũng có thể được diễn đạt dưới dạng mô hình toán học, biểu đồ, đồ thị… để nhà quản trị có thể xử lý nhanh chóng
Ngoài ra, khi ra quyết định, ngoài việc đánh giá và so sánh về mặt chi phí, ta còn phải tính đến các tác động dây chuyền mà quyết định có thể gây ra, doanh nghiệp càng lớn những quyết định đưa ra càng có thể ảnh hưởng đến nhiều bộ phận khác nhau
Trang 6trong doanh nghiệp Do đó, cần có nhiều thông tin hơn giúp người ra quyết định cân nhắc, xem xét mọi tình huống cũng như các tác động có thể có trước khi đi đến các quyết định cuối cùng.
Trong ra quá trình ra quyết định, song song với việc cân nhắc đến những yếu tố
có thể định lượng bằng đơn vị tiền tệ (yếu tố tiền tệ), ta còn phải xem xét đến những yếu tố không thể tính thành tiền được (yếu tố định tính) Thí dụ trước khi quyết định
có nênđóng cửa một nhà máy hay không, ngoài những yếu tố về mặt tài chính, ta cần cân nhắc đến các yếu tố khác như tác động về mặt tâm lý và tình cảm lên nhân viên, tác động xã hội, thời gian… Trong thực tế một số những tác động định tính sẽ có thể tác động ngược lại những tác động định lượng
3 QUYẾT ĐỊNH KINH DOANH NGẮN HẠN
Quyết định kinh doanh ngắn hạn là các quết định mà thời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng cũng như thời gian thực hiện thường dưới một năm, và thông thường các quyết định này thường gắn liền với các nguồn tài trợ ngắn hạn Thuộc quyết định này gồm có: Các quyết định về giá bán, về cơ cấu sản phẩm sản xuất kinh doanh, ngừng hay tiếp tục sản xuất kinh doanh một mặt hàng nào đó, quyết định nên sản xuất hay mua ngoài một bộ phận, chi tiết của sản phẩm… Vì vậy có thể nói các quyết định
ngắn hạn này chủ yếu là các quyết định chiến thuật trong kinh doanh
4 SƠ LƯỢC VỀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KTQT Ở VN
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước làm chủ tất cả các nguồn lực sản xuất và cung cấp tất cả nhu cầu vốn, các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động theo phương thức “Cấp phát vật tư và giao nộp sản phẩm” theo
kế hoạch cấp trên giao Mặt khác, các xí nghiệp lại bị giới hạn về quyền quyết định nên nhu cầu thông tin nội bộ hầu như không phải là vấn đề thiết yếu Do vậy mục đích của kế toán chủ yếu là cung cấp thông tin cho nhà nước nhằm kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch Chức năng của kế toán là phản ánh và giám đốc tài sản Xã Hội Chủ Nghĩa và các hoạt động kinh tế Vì thế, trong cơ chế tập trung bao cấp, bản chất của kế toán được điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước ghi rỏ: “Kế toán là công cụ ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản suất kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước cũng như của từng tổ chức xí nghiệp”
Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đều bình đẳng trong quá trình sản xuất kinh doanh, mối quan hệ kinh tế tài chính của các doanh nghiệp được mở rộng Mặt khác, với sự phát triển đa dạng của các nguồn tạo vốn từ
Trang 7bên ngoài đã làm cho đối tượng sử dụng thông tin của kế toán trở nên đa dạng hơn Mục đích của kế toán không chỉ cung cấp thông tin chủ yếu cho bản thân doanh nghiệp, cho Nhà nước, mà còn cung cấp thông tin cho Ngân hàng, nhà cung cấp, khách hàng…Cho nên kế toán không thuần túy là công việc giữ sổ sách hay ghi chép
và lưu giữ các số liệu, mà quan trọng hơn là thiết lập một hệ thống thông tin cho các nhà quản lý, cho họ ra các quyết định Những thông tin do kế toán cung cấp cho phép các nhà kinh tế có được lựa chọn hợp lý để định hướng hoạt động kinh doanh Mục tiêu của kế toán hiện đại là cung cấp thông tin tài chính kể cả một số thông tin phi tài chính về một thực thể kinh tế để người sử dụng có một quyết định sáng suốt về việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên vốn có giới hạn
Ngày nay, hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam mang đặc tính của một hệ thống kế toán mở và linh hoạt Ngoài những quy định có tính chất bắt buộc doanh nghiệp cần phải tuân thủ, còn có những quy định mang tính chất hướng dẫn để các doanh nghiệp vận dụng cho phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh, đó cũng chính
là bước đầu có sự phân chia về KTTC và KTQT Những quy định có tính chất bắt buộc, pháp quy chủ yếu là KTTC, nó cần những thông tin phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực… Những quy định mang tính chất hướng dẫn không mang tính bắt buộc là KTQT, sự vận dụng những quy định này phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ và nhu cầu quản lý của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tổ chức và vận dụng phù hợp thì KTQT sẽ đáp ứng được nhu cầu thông tin cho việc ra quyết định ở các doanh nghiệp
Trong hội nghị kế toán tháng 10/2003, tổng kết 15 năm đổi mới kế toán và đưa
ra định hướng phát triển và hoàn thiện hệ thống kế toán trong tương lai đã có nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quan trọng của KTQT, sau đây là một vài nhận định về vai trò của KTQT:
- PGS.TS Đặng Văn Thanh – phó chủ tịch Hội kế toán và Kiểm toán Việt Nam
đã đưa ra quan điểm về vị trí của kế toán đối với các nhà quản trị, chủ sở hữu mỗi doanh nghiệp: ”Kế toán không chỉ là công cụ quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước
mà quan trọng hơn là công cụ, là cơ sở cho các quyết định kinh doanh của các chủ sở hữu chủ doanh nghiệp và các bên thứ ba – kế toán không chỉ là những người làm nghề
kế toán mà là sự quan tâm, là hiểu biết cần thiết cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và đầu tư.”
- Ông lê Văn Bình – Trưởng phòng TCKT- Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam đánh giá về vai trò của KTQT đối với công tác quản lý trong doanh nghiệp: “Phát huy vai trò của KTQT trong việc phục vụ quản lý nội bộ của doanh nghiệp, đảm bảo phản ánh đầy đủ, kịp thời tình hình kinh doanh và biến động tài sản, nguồn vốn tronh doanh
Trang 8nghiệp, giúp lãnh đạo doanh nghiệp có những quyết sách đúng đắn về chiến lược, chiến thuật và kế hoạch kinh doanh cho doanh nghiệp.”
- TS.Đinh La Thăng – Phó bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, người từng giữ cương vị là chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty Sông Đà đưa ra mô hình tổ chức KTQT đã và đang áp dụng tại Tổng công ty: “Công tác KTQT ở Tổng công ty đặt trọng tâm vào việc quản trị chi phí và giá thành, quản lý tài sản, công nợ, sử dụng vốn… Tổng công ty thiết lập nội dung KTQT theo mô hình kết hợp với KTTC trong một hệ thống kế toán nhất định.”
Qua đó cho thấy hoạt động của KTQT trong các doanh nghiệp đã bắt đầu hình thành, tuy phạm vi còn hạn hẹp, nội dung còn sơ khai, nhưng ngững biểu hiện đó cho thấy tính đúng đắn, sáng suốt của quá trình đổi mới và hội nhập khu vực, quốc tế của KTQT ở Việt Nam, nhưng để KTQT thật sự trở thành công cụ đắc lực phục vụ cho quá trình ra quyết định của doanh nghiệp cần phải có nhiều biện pháp để giúp các nhà quản lý tổ chức KTQT một cách có hiệu quả
5 CÁC CHI PHÍ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH
sẽ biến thiên tỷ lệ thận với mức dịch vụ phục vụ hoặc mức sử dụng vượt định mức
b Chi phí có thể tránh được (avoidable costs)
Chi phí có thể tránh được là những chi phí sẽ không xảy ra nếu ta quyết định không thực hiện một hoạt động nào đó Chi phí có thể tránh được còn được gọi là chi phí tăng thêm (incremental costs) vì khi quyết định thực hiện một hoạt động nào đó tổng chi phí sẽ tăng thêm một khoản bằng với những chi phí phát sinh thêm này
c Chi phí có liên quan (relevant costs)
Trong quá trình ra quyết định, không phải chi phí nào cũng được đưa vào phân tích Ta chỉ phân tích các chi phí có liên quan đến quá trình ra quyết định những chi phí có liên quan là những chi phí có thể bị ảnh hưởng bởi những quyết định đưa ra Những chi phí không có liên quan là những chi phí mà dù quyết định đưa ra như thế
Trang 9nào đi nữa cũng không thay đổi được và cần được loại bỏ khỏi quá trình phân tích này Một vài chi phí có liên quan:
Những chi phí xảy ra trong quá khứ là những chi phí không có liên quan
vì việc ra quyết định không thể thay đổi những gì đã thực hiện trong quá khứ Những chi phí này còn được gọi là chi phí chìm (sunk costs) như: Chi phí nghiên cứu thị trường, thông tin có được từ cuộc nghiên cứu thị trường sẽ giúp ích cho việc ra quyết định, nhưng những chi phí này không có liên quan đến quá trình ra quyết định vì việc
ra quyết định như thế nào cũng không thể thay đổi được việc những chi phí này đã được chi ra
Những chi phí chung (common costs) như: Định phí chung, do những chi phí này là chung cho tất cả các phương án hoạt động, chúng không có liên quan đến quá trình ra quyết định Khi đánh giá và so sánh các phương án, ta cần xem xét chi phí riêng của từng phương án đưa ra
Giá trị sổ sách (book values) và khấu hao (depreciation) cũng không có liên quan vì chúng đều do những định chế kế toán quyết định Đối với từng mục đích đưa ra quyết định thì yếu tố kinh tế mới là quan trọng
d Chi phí cơ hội (opportunity costs)
Chi phí cơ hội là giá trị cao nhất của một lợi ích bỏ qua nếu ta thực hiện một phương án nào đó Ta thường gặp những chi phí cơ hội khi doanh nghiệp bị hạn chế ở một số nguồn lực và việc sử dụng nguồn lực hạn chế này cho một hoạt động A thì sẽ làm cho các hoạt động B,C,D… không thực hiện được Phần lợi nhuận mất đi cho các hoạt động B,C,D… không được thực hiện theo một mức độ đã được đưa ra được coi là chi phí cơ hội của hạt động A chi phí cơ hội này cần được vào quá trình ra quyết định
f Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí
Một chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành biến phí và định phí, người quản lý sẽ vận dụng cách ứng sử của chi phí này để lập ra một báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và chính dạng báo cáo này sẽ được sử dụng rộng rãi như một kế hoạch nội bộ và một công cụ để ra quyết định
Trang 10Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí như sau:
Trang 11phí khối lượng và lợi nhuận, vì hình thức của báo cáo kế toán tài chính chỉ nhằm mục đích cung cấp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho các đối tượng bên ngoài, vì thế cho biết rất ít về cách ứng xử chi phí Ngược lại, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo số dư đảm phí lại có mục tiêu sử dụng cho các nhà quản trị, do đó có thể hiểu sâu thêm được về phân tích hoà vốn cũng như giải quyết mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận (C-V-P)
1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
Nhà máy thuốc lá An Giang được thành lập theo quyết định số:266/QĐ-UB ngày 06/05/1994 của chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang
Doanh nghiệp được thành lập có:
- Trụ sở đặt tại Tổ 7 Quốc lộ 91, khóm Mỹ Quới, phường Mỹ Quý, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Vốn pháp định:
Vốn cố định: 2.073.155.722 đồngVốn lưu động: 1.300.000.000 đồngCác loại vốn khác: 1.013.267.583 đồngThuộc nguồn vốn:
Trang 12Vốn ngân sách cấp: 3.087.955.166 đồngVốn tự bổ sung: 1.298.468.139 đồng
- Ngành nghề kinh doanh chủ yếu: Sản xuất kinh doanh thuốc lá điếu, gia công thuốc lá điếu, kinh doanh nguyên vật liệu chuyên ngành
- Tổ chức doanh nghiệp theo hình thức: Doanh nghiệp đoàn thể, hoạt động theo các luật và quy định của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước thành lập theo nghị định số: 388-HĐBT
Đến năm 2000 theo chủ trương của đảng và nhà nước thì hệ đảng không được làm kinh tế mà trọng tâm chính là hoạt động chính trị nên phải sáp nhập nhà máy thuốc lá An Giang vào Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam và trở thành doanh nghiệp nhà nước cho đến nay Mặc dù là ngành nghề không được nhà nước khuyến khích, nhưng hàng năm nhà máy thuốc là An Giang đã góp phần rất lớn trong việc đóng góp vào ngân sách nhà nước
2 NHIỆM VỤ
Kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký
Xây dựng và tổ chức kế hoạch sản xuất của nhà máy
Bảo tồn và phát triển vốn được giao, tạo ra hiệu quả kinh tế xã hội
Tăng cường điều kiện vật chất cho doanh nghiệp, xây dựng nền tảng để ngày càng phát triển vững chắc
Góp phần vào việc phân phối lao động xã hội tạo điều kiện cho đời sống cán
bộ, công nhân viên chức
Phục vụ nhu cầu cần thiết cho đời sống xã hội
3 SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ
3.1 Sản phẩm
Nhà máy chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng thuốc lá các sản phẩm: An Giang hộp, An Giang xanh, Long xuyên, Bastion, Favardin, Jensol Sản phẩm chính của công ty đó là Bastion và An Giang hộp với hệ thống trang thiết bị tự động từ khâu vấn thuốc đến khâu đóng gói thành phẩm, đảm bảo chất lượng đồng bộ đảm cho nhu cầu xuất khẩu và hạn chế ảnh hưởng sức khoả cho người tiêu dùng
Ngày nay thuốc lá là một mặt hàng không được khuyến khích sản xuất nhưng lợi nhuận của nó rất cao, mỗi năm đóng góp vào ngân sách rất nhiều và là một ngành
Trang 13ngày càng bị cạnh tranh gay gắt lẫn trong nước và quốc tế Nhưng công ty đã rất nổ lực để duy trì sản xuất và ngày càng mở rộng từ khi mới thành lập chỉ là sản xuất thủ công nhỏ lẻ đến nay đã sử dụng hoàn toàn máy móc tự đông
3.2 Giá:
Bảng 1: Giá bán sản phẩm của công ty:
Đơn vị: đồng
Công ty định giá trên cơ sở cạnh tranh: giá bán sản phẩm được xác định tùy theo tình hình cạnh tranh trên thị trường để đạt doanh thu Hiện nay, giá bán các sản phẩm của các hãng sản xuất đang cạnh tranh nhau vì thế giá chênh lệch không nhiều lắm giữa các hãng Mà giá bán bằng giá thành cộng lợi nhuận mong muốn nên nhà máy phải thường xuyên xem xét tìm cách hạ giá thành để đạt lợi nhuận
3.3 Phân phối:
Phân phối được tổ chức tốt cũng là một yếu tố cần thiết để giành được sự hưởng ứng mua tích cực, những hệ thống phân phối đáng tin cậy và kịp thời là huyết mạch thiết yếu, mà phần lớn việc kinh doanh phụ thuộc vào Các kênh phân phối của nhà máy thuốc lá An Giang như sau:
Sơ đồ 1: Các kênh phân phối sản phẩm
Nhà bán lẻ
Công ty
Đại lý
Khách hàng tiêu dùng
Trang 14 Công ty bán trực tiếp đến người bán lẻ từ người bán lẻ phân phối đến người tiêu dùng
Tại các tỉnh đồng Đồng Bằng Sông Cửu Long hầu như đều có đại lý của nhà máy thuốc lá An Giang Ở miền trung có hai đại lý và một đại lý ở TP HCM
3.4 Sản xuất:
Nhà xưởng của công ty được bố trí gần với quốc lộ, tỉnh lộ và đường sông nên thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm đến thị trường tiêu thụ
Công ty hiện có 2 dây chuyền sản xuất :
Một dây chuyền sản suất máy vấn: bao gồm 03 tổ Với công suất 3.750 đến 4.750 điếu/phút hoạt động liên tục trong 20 giờ/ngày
Một dây chuyền máy bao 93 triệu bao/năm: 01 bao cứng và 01 bao mềm
Sơ đồ 2: Quy trình sản xuất :
SỢI THUỐC
Trang 15Quy trình sản xuất: Nguyên liệu là cây thuốc khi mua về đã được thuê gia công cắt sợi từ Thành Phố HCM chuyển về Sợi thuốc được đưa vào máy vấn cộng với giấy vấn, đầu lọc, tắc kè cho ra thuốc đếu Từ đó đưa sang dây chuyền máy bao, tại đây thuốc sẽ được gói lại thành từng bao nhỏ 20 điếu sau đó được dán keo và được đưa vào hộp 10 gói sau đó được dán keo và tem lại Cuối cùng đưa vào thùng giấy lớn 50 cây và xuất bán
Như vậy, cả quy trình sản xuất ở từng khâu, từng bộ phận có liên quan mật thiết với nhau và phối hợp nhịp nhàng để cho ra thành phẩm
Hiện nay công ty khai thác được khoảng 80 - 90% công suất thiết kế của dây chuyền và năng lực sản xuất đạt 9 – 10triệu bao/tháng
Công ty có bộ phận KCS thực hiện quy trình kiểm tra chất lượng sản phẩm và ban hành tiêu chuẩn cho từng loại, kiểm tra kỷ trước khi xuất bán, để giảm ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng
&
hành chính
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHỤ TRÁCH
TÀI CHÍNH & KINH DOANH
PHÓ GIÁM ĐỐC PHỤ TRÁCH
TỔ CHỨC & NHÂN SỰ
Phòng
Kế hoạch
&
KD
Phânxưởngsảnxuất
Tổ máy vấn
Tổ máy bao
GIÁM ĐỐC
Trang 16Nhà máy thuốc lá An Giang là một đơn vị hạch toán độc lập, cơ cấu bộ máy quản lý gọn nhẹ, nhưng vẩn đảm bảo năng lực quản lý.
Bộ máy quản lý bao gồm:
Ban giám đốc gồm: 01 giám đốc và 02 phó giám đốc
Giám đốc là người đứng đầu và đại diện cho toàn thể cán bộ, công nhân viên trong nhà máy, chịu trách nhiệm về tất cả các mặt hoạt động kinh doanh đối với Tổng Công ty và đối với Nhà nước
Phó Giám đốc phụ trách tài chính – kinh doanh: là người cộng sự giúp đở cho Giám đốc trong việc quản lý nhà máy, quản lý sản phẩm sản xuất ra, phụ trách về tổ chức kinh doanh của đơn vị
Phó Giám phụ trách về tổ chức – nhân sự: là người cộng sự giúp đở Giám đốc trong việc quản lý tổ chức và bố trí nhân sự trong toàn thể nhà máy
Các Phòng, ban gồm: Trưởng phòng và phó phòng điều hành trực tiếp và chịu trách nhiệm trước Ban Giám đốc
- Phòng tổ chức – hành chính: Nghiên cứu và xây dựng phương pháp tổ chức bộ máy, tổ chức quản lý cán bộ - nhân viên, công tác bảo vệ an ninh cho nhà máy thực hiện công tác hành chính tổng hợp, văn thư lưu
Trang 17trử hồ sơ, công tác quản trị nhân sự xây dựng kế hoạch tuyển dụng lao động, khen thưởng kỷ luật nhân viên.
- Phòng kế hoạch và kinh doanh: Tổ chức sản xuất, xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, lên kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài vụ tổ chức công tác xuất nhập vật tư theo dỏi các hợp đồng kinh tế tiêu thụ sản phẩm, thống kê cập nhật chứng từ
- Phân xưởng sản xuất: chiệu trách nhiệm về sản xuất, bao gồm: tổ máy vấn và máy bao
- Phòng kế toán tài vụ: Tổ chức công tác hạch toán tài chính, thống kê, lên bảng cân đối Theo dỏi thu chi chứng từ, hợp đồng kinh tế, tiêu thụ sản phẩm
Bộ máy kế toán được tổ chức tập trung giúp công tác quản lý kế toán tài chính chặc chẽ Cơ cấu bộ máy kế toán bao gồm:
Sơ đồ 2: Bộ máy kế toán
Kế toán trưởng: Phụ trách toàn bộ công tác hạch toán, thống kê và tổ chức hướng dẫn kiểm tra kế toán trong nội bộ, lập các bảng tổng kết tài sản và báo biểu kế toán Chịu trách nhiệm với cấp trên và các ngành trực thuộc liên quan đến tình hình tài chính tại doanh nghiệp
Kế toán chi tiết: Ghi chép cập nhật các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động tại nhà máy
Kế toán thanh toán: Theo dõi cập nhật các khoản phải thu, phải trả chi tiết phát sinh theo từng đối tượng
Thủ quỹ: thu chi và quản lý tiền mặt, phát lương và ghi chép sổ quỹ, đồng thời báo cáo thường xuyên hàng tháng, hàng quý
kế toán trưởng
Kế toán thanh toán
Trang 18Nhân sự: Tổng nhân sự của công ty gồm 578 người
Công ty có đội ngũ cán bộ kỹ thuật công nhân vận hành có kinh nghiệm cao,
gắn bó 10 năm với công ty
Công nhân viên: đội ngũ nhân viên dồi dào kinh nghiệm, tuổi đời trung bình 42
(đối với ban lãnh đạo), đội ngũ nghiệp vụ trẻ (tuổi từ 27 – 34) có khả năng sáng
tạo, đội ngũ công nhân trẻ nhiệt tình giàu kinh nghiệm
5 Tình hình hoạt động của công ty trong những năm gần đây
Như chúng ta đã biết việc hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe, điều đó đã được
khẳng định trên toàn thế giới, là mặt hàng không được khuyến khích Do vậy việc sản
xuất thuốc lá đối với các nhà máy là rất khó khăn và phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
nhưng hàng năm ngành này đã mang lại cho đất nước một nguồn thu từ ngân sách rất
lớn Hiện nay việc cung, cầu thuốc lá còn mất cân đối do cung rất lớn so với cầu, vì tỷ
lệ tiêu thụ có chiều hướng giảm Do đó, việc sản xuất thuốc lá gói của nhà máy không
thể tránh khỏi sự cạnh tranh, từ đó nhà máy nào cũng có hoạt động chủ yếu nhằm phục
vụ cho người tiêu dùng
Để giải quyết vấn đề này Nhà máy thuốc lá An Giang đã xác định hướng đi
bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản
phẩm, quản lý tốt cơ cấu sản xuất kinh doanh, không ngừng cải tiến khoa học kỹ thuật
để đi đến mục đích cuối cùng của nhà máy là giảm tối thiểu nhất việc ảnh hưởng sức
khỏe cho người tiêu dùng và tăng lợi nhuận Trong tương lai nhà máy sẽ thâm nhập
các thị trường lân cận và khai thác những thị trường tiềm năng mới
Để nắm rỏ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty chúng ta xem
xét Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh trong 03 năm gần đây:
Bảng 1: BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Trang 19+ Hàng bán bị trả lại 64.927.000 121.523.220
+ Thuế TTĐB, thuế XK phải nộp 29.974.246.782 41.382.620.134 35.684.904.273
1 Doanh thu thuần 86.839.136.343 92.862.272.944 81.751.434.374
7 Chi phí quản lý doanh nghiệp 2.299.421.836 2.504.896.772 3.217.543.985
8 Lợi tức thuần từ hoạt động KD 1.922.030.978 1.523.025.878 1.347.107.975
11 Lợi tức từ hoạt động khác (198.976.701) (198.976.701) (61.193.155)
12 Tổng lợi tức trước thuế 1.827.985.572 1.324.049.177 1.285.914.820
13 Thuế lợi tức phải nộp 505.653.661 420.975.737 356.269.230
14 Lợi tức sau thuế 1.322.331.911 903.073.440 929.645.590
(Nguồn: Phòng kế toán tài vụ)
2002 2003 2004 Năm
DT trđ
Doanh thu Lợi nhuận
Trang 20Biểu đồ cho thấy doanh thu qua 03 năm có sự tăng giảm không đồng đều Năm
2003 tăng nhưng đến năm 2004 lại giảm khoảng 12% so với năm 2003 Mặc dù doanh thu năm 2004 giảm nhưng lợi nhuận lại tăng cao hơn so với năm 2003 Nguyên nhân
là do doanh thu từ hoạt động tài chính tăng, chi phí quản lý tăng nhưng chi phí bán hàng giảm nhiều, lỗ từ các hoạt động khác giảm rất nhiều Chính những điều này làm cho doanh thu năm 2004 mặc dù giảm mạnh nhưng lợi nhuận vẫn tăng Bên cạnh chi phí bán hàng tăng giảm không đều qua các năm tuỳ vào lượng hàng bán ra trong năm, chi phí quản lý của doanh nghiệp còn cao và có xu hướng tăng qua các năm Chính điều đó làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp còn thấp
Đóng góp của nhà máy vào ngân sách là rất lớn làm cho các khoản giảm trừ của nhà máy cao Trong năm 2004 không có hàng bán bị trả lại do nhà máy ngày càng tăng cường công tác kiểm tra hàng trước xuất bán để chất lượng sản phẩm không bị kém chất lượng Cũng trong giai đoạn này nhà máy bắt đầu đầu tư tăng cường trang thiết bị cho nên tăng cường nguồn vốn từ vay bên ngoài nên phát sinh thêm một khoản chi phí
đó là chi phí lãi vay
Bảng 2: Cơ cấu Doanh thu tháng 01/2005: (Đvt: đồng)
(Nguồn: Phòng kế toán tài vụ)
Cơ cấu Doanh thu 01/2005
An Giang 9%
Kiên Giang 6%
Trà Vinh 30%
Đồng Tháp 5%
Vĩnh Long 8%
Bà Rịa – Vũng Tàu 9%
Thành Phố HCM 10%
Đồng Nai 6%
Khác 17%
Trang 21Qua cơ cấu doanh thu 01/2005 cho thấy thị trường chủ lực là tỉnh Trà Vinh chiếm 30% do đây là thị trường truyền thống, công ty đã xâm nhập vào thị trường này
từ rất lâu và có một vị trí nhất định Bên cạnh thị trường TP HCM chiếm 10% kế đến
là các tỉnh như An Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu Công ty cũng đang thăm dò và mở rộng sang thị trường xuất khẩu như Trung Quốc, Pháp, Irắc
Trong năm 2004 lượng tiêu thụ của nhà máy thuốc lá An Giang là 76.427.792 triệu bao, đạt 99,26% so với kế hoạch giảm 10,21% so với cùng kỳ năm trước Nguyên nhân giảm là do tăng giá vào khoảng quí IV/2004 đại lý sợ tăng giá nên lấy hàng giữ trữ nhiều nên lượng tiêu thụ giảm Mặt khác, ở các đại lý tình hình tiêu thụ cũng đang gặp khó khăn do bị cạnh tranh gay gắt chủ yếu là cạnh tranh về giá và khuyến mãi
Qua đó cho thấy công ty cũng gặp những thuận lợi và khó khăn nhất định của Công ty:
Điểm mạnh
- Có một đội ngũ nhân viên lâu năm có tay nghề , luôn luôn học hỏi tìm tòi, nâng cao chgyuên môn nghiệp vụ
- Nhà máy có thị trường truyền thống từ lúc mới thành lập và ngày càng
mở rộng, đang tiến vào thị trường Đông Nam Bộ
- Nhà máy luôn được sự ủng hộ quan tâm của Ban lãnh đạo Tổng công ty
và địa phương vượt qua một số khó khăn như hỗ trợ về tem không phải thanh toán như trước nên đã làm giảm chi phí đầu vào
Trang 22Bên canh nhà máy đã vượt chỉ tiêu nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nên đã được Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh An Giang trích khen thưởng 4 tỷ đồng để đầu tư mới máy móc, thiết bị, nhà xưởng trong thời gian tới.
- Giá cả nghuên liệu còn cao làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
- Thuốc ngoại đang có xu hướng ngày càng tăng mẫu mã rất phong phú mà giá
cả lại rẽ dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
- Nhà máy còn khó khăn về vốn lưu động như dữ trữ nguyên vật liệu
- Các đại lý còn nợ nhiều làm cho nhà máy khó thu hồi vốn và ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ
- Tăng cường công tác khuyến mãi, tiếp thị đối với các sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh của Nhà máy trên thị trường
- Nhân viên trong thời gian tới cũng cần phải có chiến lược thay thế sản phẩm, khai thác các sản phẩm thị trường đang ưa chuộng, nghiên cứu đưa ra các sản phẩm mới chất lượng ngày càng cao hơn vì không có bất kỳ một sản phẩm nào tồn tại mãi với thời gian mà không thay đổi
1 CHI PHÍ
Trang 23Nhà máy thuốc lá An Giang sản xuất nhiều loại sản phẩm nhưng đề tài đi sâu vào nghiên cứu và phân tích ba sản phẩm là Bastion, An Giang hộp và Jensol.
Nguyên vật liệu trực tiếp (Biến phí): Nguyên liệu đầu vào chủ yếu được
cung cấp theo hợp đồng dài hạn (thời hạn 1 năm) với những điều khoản ràng buộc về giá cả và chất lượng nguyên liệu nên hầu như giá nguyên liêu đầu vào hàng tháng ổn định, một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả của khâu thu mua nguyên liệu sản xuất Phòng kế toán theo dõi và phản ánh các chi phí phát sinh của các tổ Hàng Quý, Phòng kế toán lập Bảng tổng hợp giá thành nguyên liệu cho từng sản phẩm để theo dõi chi tiết giá thành nguyên liệu
Bảng 3: Bảng tổng hợp giá thành nguyên liệu theo loại sản phẩm.
Đơn vị tính: đồng.
Loại sản phẩm Bastion An Giang hộp Jensol Tổng cộng
CP NVL 11.947.533.366 1.311.897.896 11.530.880 13.270.962.142
Chi phí nhân công trực tiếp (Biến phí): Hàng tuần, bộ phận sản xuất theo
dõi công việc của nhân công công nhật và báo cáo cho phòng kế toán để chi trả tiền lương công nhật Cuối quý, con số tổng của phần tiền này sẽ được đưa vào phần chi phí nhân công trực tiếp cùng với khoản tiền lương của công nhân chính thức Theo số liệu phòng kế toán cung cấp lập được bảng chi phí nhân công trực tiếp của từng loại sản phẩm như sau:
Bảng 4: Bảng phân bổ chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung được theo dõi thường
xuyên ở các TK có liên quan và sẽ đưa những chi phí phát sinh đó vào TK 627, sau đó cuối mỗi quý chi phí này sẽ được tiến hành phân bổ cho từng loại sản phẩm
Bảng 5: Tập hợp biến phí chi phí sản xuất chung.
Trang 24 Chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp: Nhà máy theo dõi chi phí bán
hàng và quản lý doanh nghiệp của cả quý:
Bảng 7: Tập hợp biến phí BH & QL 1 quý:
Trang 25Jensol 50.563.139
Ngoài ra do thuốc lá là một mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (Thuế suất là 45%) Vì vậy khoản thuế này cũng được xem như là một khoản chi phí của nhà máy, trong trường hợp này ta xét khoản chi phí đó như là một biến phí của sản phẩm
Bảng 9: Thuế tiêu thụ đặc biệt
Trang 26Số dư đảm phí = Doanh thu - Biến phí
2 Ra quyết định dựa trên việc sử dụng kỹ thuật phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận (C-V-P)
2.1 Ý nghĩa của việc phân tích
Phân tích mối quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận là việc phân tích mối quan hệ nội tại để tìm ra một sự kết hợp hiệu quả nhất giữa các nhân tố: giá bán sản phẩm, khối lượng hoạt động, biến phí của một đơn vị sản phẩm, định phí hoạt động và kết cấu chi phí cũng như kết cấu của sản lượng tiêu thụ nhằm tìm ra khả năng tạo lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp
Mục đích của việc phân tích C-V-P là phân tích cơ cấu chi phí hay nói cách khác là nhằm phân tích rủi ro từ cơ cấu chi phí này,dựa trên dự báo về khối lượng hoạt động, doanh nghiệp đưa ra cơ cấu chi phí phù hợp để đạt được lợi nhuận cao nhất Để thực hiện được việc phân tích cần phải nắm vững cách ứng xử của chi phí để tách chi phí của doanh nghiệp thành biến phí và định phí, hiểu rỏ Báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí, đồng thời phải nắm rỏ một số khái niệm cơ bản trong phân tích
Phân tích mối quan hệ C-V-P có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc khai thác các khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, là cơ sở đưa ra các quyết định như: chọn dây chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược bán hàng…
2.2 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích mối quan hệ C-V-P
2.2.1 Số dư đảm phí
Số dư đảm phí là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí khả biến Số dư đảm phí khi đã bù đắp được chi phí bất biến, số dôi ra sau khi bù đắp chính là lợi nhuận Số dư đảm phí có thể tính cho tất cả loại sản phẩm, một loại sản phẩm và cho một đơn vị sản phẩm
Trang 27- Tại sản lượng Q1>Qh => Lợi nhuận: P1 = (s -v) Q1 - F
- Tại sản lượng Q2>Qh => Lợi nhuận: P2 = (s - v) Q2 – F Như vậy: Khi sản lượng tăng 1 lượng là: ∆Q = Q2 – Q1
Lợi nhuận tăng 1 lượng là: ∆P = P2 - P1
=> ∆P = (s – v)(Q2 – Q1)
Kết luận: Thông qua khái niệm số dư đảm phí ta thấy được mối quan hệ giữa sản lượng và lợi nhuận Mối quan hệ đó là nếu sản lượng tăng một lượng thì lợi nhuận tăng một lượng bằng sản lượng tăng lên nhân cho số dư đảm phí đơn vị
Chú ý: Kết luận này chỉ đúng khi doanh nghiệp đã vượt qua điểm hòa vốn
Nhà máy thuốc lá An Giang ta có số liệu năm 2004 của 03 sản phẩm như sau:
Đơn vị tính: đồng
Bastion An Giang hộp Jensol
Trang 28Nhận xét: Khi xem xét cả yếu tố định phí riêng cho từng sản phẩm, ta thấy
Bastion và An Giang hộp đều mang lại lợi nhuận cho nhà máy trong đó Bastion mang lại lợi nhuận cao nhất, sản phẩm còn lại là Jensol thì lỗ, nhưng khi loại bỏ ảnh hưởng của định phí chung ta thấy cả 3 loại sản phẩm đều đóng góp vào việc tạo ra lợi nhuận
và giúp trang trải định phí chung của doanh nghiệp
Giả sử trong năm 2005 sản lượng tiêu thụ tăng 10% đối với cả ba sản phẩm thì lợi nhuận tăng hơn thêm so với năm 2004 là:
Ta có: Bastion: (54.091.889 x 10%) x (1.650 – 1.535) = 622.056.724 đồng
An Giang hộp: ( 5.909.700 x 10%) x (1.550 – 1.428) = 72.098.340 đồng Jensol: (530.358 x 10%) x (1550 – 1437) = 5.993.045 đồng
Từ đó cho thấy sản lượng bán ra tăng thêm 10% thì lợi nhuận tăng thêm Với sản phẩm Jensol thì khi sản lượng bán ra tăng lên sẽ làm giảm lỗ và khi sản lượng bán
ra vượt khỏi điểm hoà vốn thì nó chính là lợi nhuận của công ty
Trong cả ba sản phẩm ta thấy Bastion có số dư đảm phí lớn nhất cho nên khi tăng doanh thu lên 10% đối với cả ba sản phẩm thì lợi nhuận của Bastion tăng cao nhất Từ đó cho thấy sản phẩm có số dư đảm phí cao thì lợi nhuận tăng cao hơn
Trang 29Giả sử trong trường hợp cả ba sản phẩm cùng tăng một lượng doanh thu như nhau 200.000 SP Ta có lợi nhuận tăng lên là:
Bastion: 200.000 x (1.650 – 1.535) = 23.000.000 đồng
An Giang hộp: 200.000 x (1.550 – 1.428) = 24.400.000 đồng
Jensol: 200.000 x (1550 – 1437) = 22.600.000 đồng
Kết luận: Qua sự phân tích trên cho thấy nếu tăng doanh thu lên một lượng như
nhau 200.000 SP thì sản phẩm có lợi nhuận tăng lên cao nhất là An Giang hộp chứ
không phải là Bastion Từ đó cho thấy khi tăng doanh thu của một sản phẩm có số dư đảm phí lớn thì mức tăng lợi nhuận chưa chắc đã lớn hơn, bởi lẽ khi tăng doanh thu thì chưa chắc những sản phẩm có số dư đảm phí lớn hơn có một mức tăng số dư đảm phí lớn hơn
Ta có: Công thức tính lợi nhuận:
Khảo sát EBIT khác nhau theo doanh thu của Bastion:
Đơn vị tính: đồng
Nhận xét: Qua khảo sát trên ta thấy ở mức sản lượng 44.728.830 sản phẩm là
sản lượng hoà vốn vì lợi nhuận gần bằng 0
Trang 30Kết luận: Qua đó cho thấy ở mỗi mức sản lượng bán ra ta thu được một mức lợi
nhuận khác nhau và khi sản lượng bán ra (vượt qua điểm hoà vốn) càng tăng thì lợi
nhuận thu về càng tăng Đây cũng là một công cụ dự đoán lợi nhuận nếu biết được điểm hòa vốn
Mục tiêu của số dư đảm phí
Trong quá trình ra quyết định ta thường sử dụng khái niệm số dư đảm phí và phương án nào có cho số dư đảm phí cao nhất hoặc đạt được mục tiêu đảm phí đưa ra thì được chọn
Sử dung khái niệm số dư đảm phí cho thấy được mối quan hệ giữa sản lượng và lợi nhuận Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế làm cho người quản lý dễ nhằm lẫn trong quá trình ra quyết định, bởi vì tưởng rằng tăng doanh thu đối với những sản phẩm mà có số dư đảm phí lớn thì lợi nhuận tăng lên càng nhanh, nhưng đều này có khi hoàn toàn ngược lại khi tăng doanh thu đến một mức nào đó thì định phí tăng và
làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Để khắc phục nhược điểm của số dư đảm phí ta
sử dụng tỷ lệ số dư đảm phí
2.2.2 Tỷ lệ số dư đảm phí
Tỷ lệ số dư đảm phí là tỉ lệ phần trăm của số dư đảm phí tính trên doanh thu
Từ (1) ta có tỉ lệ số dư đảm phí = (s -v)/s x 100%
Tại sản lượng Q1 => Doanh thu: sQ1 => Lợi nhuận P1 = (s -v)Q1 - F
Tại sản lượng Q2 => Doanh thu: sQ2 => Lợi nhuận P2 = (s -v)Q2 - F
Như vậy doanh thu tăng 1 lượng ∆Q = sQ2 – sQ1Lợi nhuận tăng thêm là: ∆P = P2 – P1 = (s -v)(Q2 – Q1)
Vậy
Mục tiêu đảm phí đưa ra = Định phí + mục tiêu lợi nhuận
Tỉ lệ số dư đảm phí = Số dư đảm phí / Doanh thu
Trang 31Kết luận: Qua khái niệm này ta rút ra được mối quan hệ giữa doanh thu và lợi
nhuận, mối quan hệ đó là nếu tăng 1 lượng doanh thu thì lợi nhuận tăng 1 lượng bằng doanh thu tăng lên nhân với tỉ lệ số dư đảm phí
Ta có báo cáo thu nhập năm 2004 của Nhà máy thuốc lá An Giang
Giả sử nếu năm 2005 doanh thu tăng 30.000.000 thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên là:
Thuốc Bastion: 30.000.000 x 7% = 2.100.000 đồngThuốc AG hộp: 30.000.000 x 8% = 2.400.000 đồngThuốc Jensol: 30.000.000 x 8% = 2.400.000 đồng
Kết luận: Qua đó cho thấy nếu tăng cùng một lượng doanh thu như nhau ở cả
ba sản phẩm thì ta thấy An Giang hộp và Jensol có lợi nhuận tăng cao hơn Bastion do
tỷ lệ số dư đảm phí cao hơn là 8% trong khi Bastion có tỷ lệ số dư đảm phí là 7% Do vậy, nếu như có thể nhu cầu thị trường và điều kiện sản xuất cho phép thì nên nâng cao
năng lực sản xuất hai sản phẩm là AG hộp và Jensol Từ đó cho thấy nếu tăng một lượng doanh thu ở tất cả các sản phẩm có cùng doanh thu thì sản phẩm nào có số dư đảm phí càng lớn thì lợi nhuận tăng lên càng nhanh và ngược lại.
Trang 32 Các doanh nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng lớn thì chi phí khả biến chiếm tỉ trọng nhỏ dẫn đến tỉ lệ số dư đảm phí lớn, do vậy nếu tăng, giảm doanh thu thì lợi nhuận sẽ biến động nhiều hơn Những doanh nghiệp có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng lớn thường là những doanh nghiệp có mức đầu tư lớn Vì vậy nếu gặp thuận lợi thì phát triển nhanh, ngược lại nếu gặp rủi ro doanh thu giảm thì lợi nhuận giảm nhanh hoặc sản phẩm không tiêu thụ được thì sẽ dẫn đến phá sản.
Các doanh nghiệp có tỉ trọng chi phí bất biến thấp thì tỉ lệ số dư đảm phí nhỏ, vì vậy ích gặp rủi ro hơn khi doanh thu có sự tăng giảm nhanh
Mỗi doanh nghiệp xác lập một kết cấu chi phí riêng từ các đặc điểm kinh doanh
và mục tiêu kinh doanh của mình Không có một mô hình kết cấu chi phí chuẩn nào cho doanh nghiệp áp dụng Tuy nhiên, khi xác lập một kết cấu chi phí doanh nghiệp phải xem xét các yếu tố tác động như: kế hoạch phát triển dài hạn và hiện tại của doanh nghiệp, tình hình biến động của doanh số hàng năm, quan điểm của nhà quản trị
về rủi ro… Điều đó có nghĩa là qui mô doanh nghiệp lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường
và không có một điều gì đó đảm bảo một quy mô hoạt động nào đó sẽ tồn tại vĩnh viễn qua các năm Vì vậy nhà quản trị phải biết kết hợp những tiềm lực của doanh nghiệp
và tình hình kinh tế xã hội để lựa chọn và xây dựng một kết cấu chi phí thích hợp và linh hoạt theo từng thời kỳ
Ta có báo cáo thu nhập 2 sản phẩm của doanh nghiệp như sau:
Thuốc Bastion có chi phí bất biến chiếm 5,8%
Thuốc Jensol có chi phí bất biến chiếm 8,7%
- Thuốc Bastion có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng nhỏ hơn Jensol
=> chi phí khả biến chiếm tỉ trọng lớn => Tỉ lệ số dư đảm phí nhỏ
Doanh thu 89.251.616.850 100 822.054.900 100Biến phí 83.031.049.615 93 760.003.014 92
Trang 33- Thuốc Jensol có chi phí bất biến chiếm tỉ trọng lớn hơn Bastion
=> chi phí khả biến chiếm tỉ trọng nhỏ => Tỉ lệ số dư đảm phí lớn 8%
Giả sử trong năm 2005:
Nếu doanh thu tăng 10%
Đối với Bastion: Lợi nhuận tăng thêm là:
89.251.616.850 x 10% x 7% = 624.761.318 (đồng)
→ Khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp là:
1.076.751.828 + 624.761.318 = 1.701.513.146 (đồng)Tốc độ tăng lợi nhuận là: 624.761.318 / 1.076.751.828 = 58%
Đối với Thuốc lá Jensol: Lợi nhuận tăng thêm là
822.054.900 x 10% x 8% = 6.576.439 (đồng)
→ Khi đó thuốc Jensol giảm lỗ là:
10.436.980 – 6.576.439 = 3.860.541 (đồng)Tốc độ tăng lợi nhuận là: 6.576.439 / 10.436.980 = 63%
Nếu doanh thu giảm 10%
Đối với Bastion: Lợi nhuận giảm đi là:
89.251.616.850 x 10% x 7% = 624.761.318 (đồng)
→ Khi đó lợi nhuận giảm :
1.076.751.828 - 624.761.318 = 451.990.510 (đồng)Tốc độ tăng lợi nhuận là: 624.761.318 / 1.076.751.828 = 58%
Đối với Jensol: Lợi nhuận giảm đi là
822.054.900 x 10% x 8% = 6.576.439 (đồng) Khi đó lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lỗ lên là:
10.436.980 + 6.576.439 = 17.013.419 (đồng)Tốc độ tăng lợi nhuận là: 6.576.439 / 10.436.980 = 63%
Vậy: Tốc độ giảm lợi nhuận của thuốc Jensol mạnh hơn Bastion
Trang 34Kết luận: Qua phân tích hai sản phẩm Bastion và Jensol ta thấy Bastion có chi
phí bất biến chiếm tỷ trọng nhỏ hơn Jensol Vì thế, khi có một sự thay đổi về doanh thu thì Jensol sẽ bị ảnh hưởng mạnh hơn, trong điều kiện sản xuất có sự thay đổi liên tục về nhu cầu thì Bastion là sản phẩm an toàn hơn, nhưng nếu nhà quản trị năng động, có khả năng nắm bắt nhu cầu thị trường thì lúc đó Jensol lại là sản phẩm mang lại lợi nhuận cao cho nhà quản trị vì khi doanh thu tăng lên vượt qua điểm hoà vốn lúc này doanh thu chỉ bù đắp cho biến phí phần còn chính lại là lợi nhuận của nhà máy mà
tỷ lệ biến phí của Bastion cao hơn Jensol nên lợi nhuận tạo ra sẽ thấp hơn Trong điều kiện hiện tại nhà máy nên tăng cường sản xuất Jensol do đây là sản phẩm hiện được
phần lớn người dân có thu nhập trung bình chấp nhận Từ đó cho thấy sản phẩm nào
có chi phí bất biến chiếm tỷ trọng lớn thì khi doanh thu thay đổi thì lợi nhuận của sản phẩm sẽ chịu ảnh hưởng mạnh hơn.
2.2.4 Đòn bẩy hoạt động (Đòn cân định phí)
Đòn bẩy kinh doanh là một công cụ mà nhà quản trị dùng để đạt được tỷ lệ tăng cao về lợi nhuận với tỷ lệ tăng nhỏ hơn nhiều doanh thu hoặc mức sản lượng tiêu thụĐòn bẩy hoạt động chỉ cho chúng ta thấy với một tốc độ tăng nhỏ của doanh thu hoặc sản lượng bán ra sẽ tạo ra một tốc độ tăng lớn về lợi nhuận Nói cách khác đoàn bẩy kinh doanh phản ánh mối quan hệ giữa tốc độ tăng lợi nhuận và tốc độ tăng doanh thu, sản lượng bán ra và tốc độ tăng lợi nhuận bao giờ cũng lớn hơn tốc độ tăng doanh thu:
Giả định cả 2 sản phẩm có cùng doanh thu và lợi nhuận thì khi tăng cùng một lượng doanh thu, sản phẩm nào có tỉ lệ số dư đảm phí lớn, lợi nhuận tăng lên càng nhiều, tốc độ tăng lợi nhuận lớn thì đoàn bẩy hoạt động càng mạnh và ngược lại
Như vậy tại một mức doanh thu, sản lượng cho sẵn sẽ xác định được đòn bẩy hoạt động, nếu dự kiến được tốc độ tăng doanh thu sẽ dự kiến đựoc tốc độ tăng lợi nhuận và ngược lại
Chú ý: Sản lượng tăng, doanh thu tăng làm cho lợi nhuận tăng lên và độ
lớn đòn bẩy ngày càng giảm đi Độ lớn đòn bẩy lớn nhất khi sản lượng vừa vượt qua điểm hòa vốn
SD ĐP - Định phí