47 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu
Trang 1Trong nền kinh tế thị trường giá thành cũng phản ánh khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm trên thị trường Để đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm trênthị trường đồng thời có thể tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp Đòi hỏi doanhnghiệp cần phải quản lý tốt để làm sao vừa khoa học vừa chặt chẽ các yếu tố chiphí sản xuất.
Kế toán là một trong những công cụ của quản lý Cho nên việc tổ chức côngtác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có ý nghĩa to lớn cho việc quản lýchi phí giá thành và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó cung cấp đầy đủ cácthông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cho lãnh đạo doanh nghiệp tiếnhành đánh giá tình hình thực hiện các định mức và dự toán chi phí để có thể đưa racác quyết định hợp lý
Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu là một doanh nghiệp nằm trên caonguyên Mộc Châu, đây là cao nguyên rộng lớn nhất nước ta Công ty đã có gần 50năm kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa, đây là một mô hình khép kín từchăn nuôi bò sữa - thu gom - chế biến - tổ chức thị trường tiêu thụ các sản phẩmsữa Các sản phẩm sữa Mộc Châu đã dần dần đi vào tâm trí của khách hàng vàngười tiêu dùng Công ty đã trải qua những thăng trầm nhất định và cũng đã tíchluỹ cho mình nhiều kinh nghiệm Tuy nhiên sự cạnh tranh của nền kinh tế đã đặt racho ban lãnh đạo Công ty vấn đề bức xúc là làm sao tiết kiệm hơn nữa chi phí sảnxuất và hạ giá thành sản phẩm, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, để thuđược lợi nhuận cao và tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Chính vì
1
Trang 2vậy tôi chọn đề tài: “Tổ chức công tác Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu” làm đề tài cho bản báo
cáo thực tập tốt nghiệp của mình
Đề tài của Em được chia thành 3 phần
Chương 1: Lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc châu.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc châu.
Trong thời gian vừa qua Em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy
Cô giáo trong bộ môn kế toán Đặc biệt là sự hướng dẫn trực tiếp của Cô giáo
-Thạch sỹ Bùi thị Thu Hương, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các anh chị trong
phòng Kế toán Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc châu, sự cố gắng của bản thân
Em đã hoàn thành chuyên đề của mình Tuy nhiên do trình độ hiểu biết còn hạn chếnhất là trong quá trình tiếp cận những vấn đề trong thực tế hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty nền bài viết của Em còn có những hạn chế Vì vậy Em rất mongđược sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô và bạn đọc để Em có thể hiểu vấn đềsâu sắc và đúng đắn hơn phục vụ cho quá trình học tập và công tác của Em sau này
Em xin chân thành cảm ơn./.
Mộc châu, Ngày 20 tháng 4 năm 2008
Sinh viên
Lê thị Vinh
2
Trang 3CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI
PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT.
1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất là sự kết hợp của 3 yếu tố như: Tư liệu lao động, đốitượng lao động và sức lao động Kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là sảnphẩm lao vụ, dịch vụ Quá trình đó làm phát sinh chi phí sản xuất và lượng chi phísản xuất để tạo ra một khối lượng sản phẩm hoàn thành nhất định là giá thành sảnxuất sản phẩm
Mục tiêu của các doanh nghiệp ( ngoại trừ doanh nghiệp hoạt động công ích)khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận Vì vậy để có thể đánh giádoanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không người ta phải dựa vào kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh, thông qua chỉ tiêu lợi nhuận là phần chênh lệch giữadoanh thu và chi phí Do vậy muốn nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng lợi nhuậncác nhà quản lý phải tìm cách tiết kiệm chi phí và sử dụng các nguồn lực sao chohợp lý nhất Từ đó đặt ra yêu cầu với kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm tại doanh nghiệp
Mặt khác, với mỗi loại sản phẩm được tạo ra, các doanh nghiệp luôn quantâm đến hiệu quả mà nó mang lại Muốn biết được hiệu quả sản xuất một loại sảnphẩm mang lại cho doanh nghiệp là bao nhiêu? Trước tiên doanh nghiệp phải biếtđược số chi phí đã bỏ ra cho từng loại sản phẩm dịch vụ là bao nhiêu? Khả năng hạthấp các loại chi phí này như thế nào? Chỉ tiêu cung cấp những thông tin trên là giáthành sản phẩm Không những thế, giá thành sản phẩm còn là yếu tố cơ bản để xácđịnh giá bán Trong điều kiện hiện nay, khi các sản phẩm ngoại nhập đang ồ ạt tấncông vào thị trường nước ta thì giá bán đang được các doanh nghiệp xem như là
3
Trang 4một trong những vũ khí cạnh tranh sắc bén nhất Chính vì vậy, các nhà quản trịdoanh nghiệp luôn cố gắng hạ thấp chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm đem lại lợithế cạnh tranh cho sản phẩm của mình Thực vậy, hạ thấp giá thành sản phẩm làmột trong những nhân tố tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụsản phẩm Giá thành hạ, doanh nghiệp định giá bán thấp hơn so với thị trường làmcho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, việc tiêu thụ sẽ dễ dàng hơn, sản phẩm đượctiêu thụ với khối lượng lớn làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, để doanh nghiệp
có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện tái sản xuất mở rộng
Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm mộtcách khoa học, hợp lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chiphí, giá thành sản phẩm cũng như công tác quản lý nói chung của đơn vị, chi phốiđến chất lượng của các phần hành kế toán khác cũng như chất lượng và hiệu quảcủa công tác quản lý kinh tế tài chính trong đơn vị
Gần đây, khi nền kinh tế của chúng ta đang chuyển dần sang cơ chế thịtrường, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đã cónhững thay đổi để phù hợp với tình hình mới Song cũng cần phải thấy rằng sự thayđổi đó mới chỉ dừng lại ở mức hình thức chứ chưa có những thay đổi thật sự về nộidung hạch toán Chính vì vậy việc hoàn thiện công tác kế toán chi phí, tính giáthành sản phẩm là rất cần thiết với nền kinh tế nói chung và với doanh nghiệp sảnxuất nói riêng
1.2 Yêu cầu quản lý, nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
1.1.1 Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu quan trọng trong hệthống chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý Giá thành sản xuất còn là cở
sở để đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí và tạo ưu thế cạnh tranh
4
Trang 5cho doanh nghiệp Vì vậy yêu cầu đặt ra cho các nhà quản trị là làm thế nào đểhạch toán chính xác những chi phí đã bỏ ra, tiến hành phân loại chi phí, hạ giáthành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phải quản lý chi phítheo định mức đã được xác định, giảm thiếu những chi phí không hợp lý, hợp lệ.
1.1.2 Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm phải xác định rõ nhiệm
vụ của mình Trứơc hết cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của kế toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phảm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp,mối quan hệ với các bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chiphí là tiền đề cho kế toán chi phí và tính giá thành
Căn cứ vào đặc điểm tổ chức kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loạihình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thểcủa doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sảnxuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo phương án phù hợp vớiđiều kiện của doanh nghiệp
Căn cứ vào đặc điểm tốt chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản phẩm,khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tínhgiá thành cho phù hợp
Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt bộphận kế toán các yếu tố chi phí
Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ sáchphù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được yêucầu thu nhận- xử lý - hệ thống hoá thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp
5
Trang 6Tổ chức lập, phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản phẩmgiúp các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định một cách nhanh chóng,phù hợp với quá trình sản xuất – tiêu thụ sản phẩm.
1.3 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất.
1.3.1 Chi phí sản xuất
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình tiêudung các yếu tố sản xuất kinh doanh để tạo ra các loại sản phẩm, lao vụ và dịch vụnhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dung của xã hội Sự tiêu hao các yếu tố này
đã tạo ra các chi phí tương ứng như chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượnglao động và chi phí về lao động sống Trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh, ngoài các hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hoá để tồn tại vàphát triển doanh nghiệp phaỉ bỏ ra rất nhiều các khoản chi phí khác
Như vậy: Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ các haophí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanhnghiệp đã chi ra trong quá trình hoat động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tínhcho một kỳ nhất định
Việc nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận trong từng loại
kế toán khác nhau:
- Trên góc độ kế toán tài chính: Chi phí được nhìn nhận như một khoản phítổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một lựơng sảnphẩm, lao vụ nhất định Ví dụ: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí
6
Trang 7khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài…được kế toán ghi nhận trên cơ
sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn
- Trên góc độ kế toán quản trị: Chi phí không chỉ đơn thuần nhận thức như
kế toán tài chính mà nó còn được nhận thức theo phương thức nhận diện thông tin
ra quyết định Vì vậy chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sảnxuất kinh doanh hàng ngày Chi phí cũng có thể là phí tổn ước tính đề thực hiện dự
án, những phí tổn mất đi khi lực chọn phương án này mà bỏ qua cơ hội kinh doanhkhác Chi phí được xem xét trên khía cạnh là thông tin thích hợp hay không thíchhợp cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp hơn là chú trọng vàochứng minh bằng các chứng từ…
1.3.2 Phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau, đểt huậntiện cho công tác quản lý hạch toán, kiểm tra chi phí và phục vụ cho việc ra cácquyết định quản lý, chi phí sản xuất kinh doanh thường được phân loại theo nhữngtiêu thức thích hợp
1.3.2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo hoạt động và công dụng kinh tế.
Bản chất của cách phân loại này là phân loại theo công dụng của chi phí, chiphí đó phát sinh ở đâu, có tác dụng như thế nào đối với việc hình thành nên thựcthể sản phẩm và đóng vai trò gì trong giá thành sản phẩm Theo cách phân loại nàychi phí bao gồm 3 khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm các chi phí về nguyên liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp phải
trả và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương của công nhân trựctiếp sản xuất theo quy định
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ cho
sản xuất chung tại bộ phận các phân xưởng, đội sản xuất Chi phí sản xuất chung
7
Trang 8bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vậtliệu, chi phí dụng cụ đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phídịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền Cách phân loại này là cơ sở để ghi sổ
kế toán, xây dựng kế hoạch giá thành và tính giá theo khoản mục
1.3.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung tính chất kinh tế của chi phí,những chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế được xếp vào cùng một yếu tố chiphí, bất kể chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào, chỉ tính vào yếu
tố chi phí phát sinh lần đầu không tính vào những chi phí luân chuyển nội bộ
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí được chia ra các yếu tố sau:
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên, vật liệuchính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ… sử dụng vào sản xuất –kinh doanh
- Yếu tố chi phí nhân công: Bao gồm các khoản về chi phí tiền lương và cáckhoản trích theo lương, BHXH, BHYT, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng
số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công nhân viên chức
- Yếu tố khấu hao máy móc thiết bị: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phảitrích trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ muangoài dùng vào sản xuất kinh doanh
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiềnchưa phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trongkỳ
1.3.2.3 Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất ở doanh nghiệp.
8
Trang 9Nghiên cứu phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố đầu vào của quá trình sảnxuất ở doanh nghiệp thì chi phí sản xuất được chia làm 2 loại:
+ Chi phí ban đầu: Là chi phí doanh nghiệp phải lo liệu, mua sắm chuẩn bị từlúc đầu để tiến hành hoạt động sản xuất như: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhâncông, chi phí dịch vụ mua ngoài được mua sắm từ bên ngoài
+ Chi phí luân chuyển nội bộ: Là các khoản chi phí phát sinh trong quá trìnhphân công và hợp tác lao động trong nội bộ doanh nghiệp như: Giá trị lao vụ, dịch
vụ cung cấp lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất phụ, cung cấp cho sản xuất chính,giá trị của nửa thành phẩm tự chế được sử dụng cho các bộ phận sản xuất tiếptheo các phân loại này cho phép xác định chính xác nội dung từng loại chi phíluân chuyển nội bộ từ đó có phương pháp hạch toán và xác định cụ thể từng lọaichi phí giúp xác định được phương pháp, trình tự tính giá thành của sản phẩm sảnxuất trong kỳ của doanh nghiệp
1.3.2.4 Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên báo cáo tài chính.
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chiathành 2 loại:
- Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với sản phẩm được sản xuất rahoặc được mua
- Chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó, nókhông phải là một phần giá trị sản phẩm được sản phẩm được sản xuất ra hoặcđược mua nên được xem là các phí tổn, cần khấu trừ từ lợi tức của thời kỳ màchúng phát sinh
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp xác định được lợi nhuận thuần củahoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời giúp các nhà quản trị biết được cần phảităng giảm những khoản chi phí nào hợp lý để đạt được lợi nhuận cao nhất
9
Trang 101.4 Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm.
1.4.1 Giá thành sản phẩm
“Giá thành sản phẩm (Zsp) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản haophí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng sản phẩm,lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành”
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng sảnxuất kinh doanh, phản ánh hiệu quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động tiềnvốn trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như tính đúng đắn của các giải pháp
tổ chức kinh tế, kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng caonăng suất lao động, chất lượng sản xuất, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp
Giá thành còn là căn cứ xác định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế củahoạt động sản xuất Giá thành sản phẩm có chức năng quan trọng trong việc xácđịnh giá bán của sản phẩm trên thị trường Định giá sản phẩm bán ra phải làm sao
bù đắp được chi phí sản xuất và hơn thế nữa là phải có lãi Do đó giá thành đượccoi là yếu tố quan trọng trong rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới việc xác định giá báncủa sản phẩm đó trên thị trường
Tuy nhiên, với những mặt hàng ta phải chấp nhận giá thị trường thì căn cứvào giá thành từng loại sản phẩm và giá thị trường của sản phẩm đó để quyết địnhnên sản xuất mặt hàng nào, vị trí quy mô sản xuất đối với từng loại sản phẩm baonhiêu là có hiệu quả nhất
Để quản lý có hiệu quả và kịp thời đối với hoạt động sản xuất của mình,doanh nghiệp cần biết số chi phí đã chi ra cho từng loại hoạt động, từng loại sảnphẩm, dịch vụ, số chi phí chi ra đã cấu thành trong số sản phẩm, lao vụ, dịch vụhoàn thành là bao nhiêu, tỷ trọng từng loại chi phí, khả năng hạ thấp các loại chiphí này chỉ tiêu thoả mãn những thông tin mang nội dung trên chính là giá thànhsản phẩm
10
Trang 111.4.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Có nhiều cách phân loại giá thành khác nhau nhưng để giúp cho việc nghiêncứu và quản lý tốt sản phẩm kế toán chia làm hai loại chủ yếu sau:
- Giá thành sản xuất: Là loại giá thành bào gồm toàn bộ chi phí tính cho sảnphẩm sản xuất hoàn thành Giá thành sản xuất bao gồm các loại chi phí sản xuấtsau: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuấtchung
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là loại giá thành bao gồm giáthành sản xuất và chi phí ngoài giá thành sản xuất ( chi phí bán hàng, chi phí quản
lý doanh nghiệp) tính cho sản phẩm tiêu thụ
Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm được chia thành ba loại:
+ Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sảnxuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp tính toángiá thành này và được tiến hành trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sảnphẩm Đây là mục tiêu, là cơ sở để so sánh, phân tích đánh giá tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản phẩm
+ Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các địnhmức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Thường việc định giánày được tiến hành ở bộ phận kế hoạch thông qua các dự toán trước khi chính thứcsản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức củadoanh nghiệp, giúp cho đánh giá đúng đắn các giải pháp kỹ thuật nhằm nâng caohiệu quả kinh doanh
+ Giá thành thực tế: Là giá thành được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuấtthực tế đã phát sinh được tập hợp trong kỳ và sản lượng sản phẩm thực tế đã sảnxuất ra trong kỳ Chỉ khi nào kết thúc quá trình sản xuất chế biến tạo ra sản phẩmgiá thành thực tế mới tính toán được Nó là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kếtquả đạt được của doanh ngiệp cũng như hiệu quả sử dụng các biện pháp kinh tế kỹthuật, là cơ sở xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
11
Trang 121.4.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của quá trìnhsản xuất Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩmphản ánh mặt kết quả sản xuất
Về mặt bản chất hai chỉ tiêu này giống nhau vì đó đều biểu hiện bằng tiềnnhững hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ratrong quá trình sản xuất kinh doanh Chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ là căn cứ
để tính giá thành sản phẩm công việc, sản phẩm đã hoàn thành, sự tiết kiệm hoặclãng phí của doanh nghiệp về chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thànhsản phẩm Quản lý giá thành phải gắn liền với quản lý chi phí sản xuất, quản lý cácyếu tố đầu vào
Tuy nhiên, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại có sự khác nhau nhấtđịnh Trước hết chi phí sản xuất được xác định cho một thời kỳ nhất định bất kể chiphí đó dùng cho sản xuất sản phẩm nào và sản phẩm đó đã hoàn thành hay chưa.Còn giá thành sản phẩm lại tính cho từng loại sản phẩm, công việc cụ thể là nhữngchi phí gắn liền với sản phẩm, khối lượng công việc hoàn thành không kể nó phátsinh trong kỳ nào, tiếp đến giá thành sản phẩm không bao gồm các chi phí đã phátsinh trong kỳ này thuộc chi phí dở dang cuối kỳ nhưng lại cộng thêm chi đã phátsinh ở kỳ trước được phân bổ cho chi phí sản xuất ở kỳ này do đó:
Trong trường hợp đặc biệt khi chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ bằng chi phísản xuất dở dang cuối kỳ hoặc không có sản phẩm làm dở dang đầu kỳ và cuối kỳthì:
Tổng giá thành SP sản xuất = Tổng chi phí SX phát sinh trong kỳ
12
Trang 13Như vậy chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm là hai mặt thống nhất của mộtquá trình, một bên là chi phí sản xuất - đầu vào dẫn đến kết quả đầu ra là giá thànhsản phẩm, vì vậy tiết kiệm chi phí sản xuất sẽ hạ được giá thành sản phẩm.
1.5 Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp sản xuất
1.5.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành
và kỳ tính giá thành.
1.5.1.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợpchi phí phát sinh trong kỳ Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí là khâu đầu tiênđối với công tác tập hợp chi phí sản xuất, nếu xác định hợp lý, khoa học thì côngtác tập hợp chi phí sẽ hệ thống và hiệu quả hơn
Khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất, các nhà quản trị phải căn cứvào:
+ Mục đích sử dụng của chi phí
+ Đặc điểm tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh
+ Quy trình công nghệ sản xuất
+ Loại hình sản xuất
+ Khả năng trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
Tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng kế toán chi phí sảnxuất trong các doanh nghiệp có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hang
- Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp
13
Trang 14Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có vai trò quan trọngtrong công tác quản lý chi phí sản xuất tại doanh nghiệp Đối tượng kế toán chi phísản xuất được xác định hợp lý, khoa học sẽ là cơ sở để tổ chức kế toán chi phí sảnxuất ngay từ việc hạch toán ban đầu đếnt ổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tàikhoản sổ chi tiết chi phí sản xuất đồng thời các chi phí phát sinh sau khi đã đượctập hợp xác định theo các đối tượng kế toán chi phí sản xuất là cơ sở để tính giáthành sản phẩm, lao vụ và dịch vụ theo đối tượng đã xác định.
1.5.1.2 Đối tượng tính giá thành sản phẩm, kỳ tính giá thành và mối quan hệ giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành.
Đối tượng tính giá thành sản phẩm là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ
mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tình tổng giá thành và giáthành đơn vị
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng loại sản phẩm đượcxác định là đối tượng tính giá thành Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạtthì từng loại sản phẩm là một đối tượng tính giá thành Đối với quy trình công nghệsản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành cuối cùngcủa quy trình công nghệ, còn các doanh nghiệp coa quy trình công nghệ sản xuất vàchế biến phức tạp thì đối tượng tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giaiđoạn và thành phẩm hoàn thành ở giai đoạn, công nghệ cuối cùng và cũng có thể làtừng bộ phận, từng chi tiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp hoàn thành
Kỳ tính giá thành: Để đáp ứng yêu cầu quản lý chỉ tiêu giá thành sản phẩmcủa Doanh nghiệp dựa trên đặc điểm của việc sản xuất, kỳ tính giá thành có thể làtháng, quý, năm
Mối quan hệ giữa đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giáthành giống nhau về bản chất, chúng đều là phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợpchi phí sản xuất phục vụ cho công tác quản lý, phân tích và kiểm tra chi phí và tínhgiá thành sản phẩm Tuy vậy hai khái niệm này vẫn có sự khác nhau nhất định Xác
14
Trang 15định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định phạm vi, giới hạn tổ chức kếtoán chi phí sản xuất trong khi xác định đối tượng tính giá thành là xác định phạm
vi, giới hạn của chi phí liên quan đến kết quả sản xuất đã hoàn thànhc ủa quá trìnhsản xuất Một đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể bao gồm nhiều đối tượngtính giá thành và ngược lại
1.5.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức kế toán sử dụng để tậphợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo các đối tượng chiphí đã xác định
Tuỳ thuộc vào khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng tập hợp chiphí, kế toán áp dụngphương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp Tạicác doanh nghiệp thường sử dụng hai phương pháp sau đây:
1.5.2.1 Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp.
Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các loạic hi phsi sản xuất riêngbiệt Theo phương pháp này, chi phí phát sinh trực tiếp liên quan đến đối tượng tậphợp chi phí nào thì chi phí sẽ được tập hợp, quy nạp trực tiếp cho đối tượng đó Do
đó, có thể căn cứ vào chứng từ ban đầu để hạch toán trực tiếp cho từng đối tượngchịu chi phí
Phương pháp này có độ chính xác cao, nên cần áp dụgn tôi đa trong điềukiện cho phép
1.5.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí và phân bổ gián tiếp.
Phương pháp này được sử đụng để tập hợp các chi phí gián tiếp, các chi phíliên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xác định mà kế toán không thể tậphợp trực tiếp chi phí cho từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt Theo phươngpháp này kế toán tập hợp chung các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng, sau đóthực hiện phân bổ cho từng đối tượng kế toán riêng biệt theo tiêu thức phân bổ phùhợp Việc phân bổ tiến hành theo trình tự sau:
15
Trang 16- Xác định hệ số phân bổ theo công thức
C
H = T Trong đó: C là tổng chi phí phân bổ cho các đối tượng
-T là tổng đối tượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cầnphân bổ
- Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
C i = H x T i
TRong đó: Ci Phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti Đối tượng tiêu chuẩn cần phân bổ iVới phương pháp phân bổ gián tiếp, mức độ chính xác của chi phí sản xuấttính cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phụ thuộc vào tính hợp lý của tiêuchuẩn phân bổ được lựa chọn Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể xácđịnh riêng rẽ theo từng nội dung chi phí cần phân bổ Khi đó phải xác định hệ sốphân bổ theo từng nội dung chi phí này) hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cảcác chi phí cần phân bổ Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tuỳ thuộc vào đặc thù cụthể của doanh nghiệp
1.5.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên.
1.5.3.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Nội dung: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ các khoản chi phí vềnguyên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ sử dụng trực tiếpcho việc chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ dịch vụ Chi phí nguyên vậtliệu trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định dựa vào các yếu tổ:
16
Trang 17- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp xuất dùng cho quá trình sản xuất trong kỳ.
- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại đầu kỳ
- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại cuối kỳ
- Trị giá phế liệu thu hồi ( nếu có)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định theo côngthức sau:
tiếp thực = trực tiếp + trực tiếp - trực tiếp - Thu
* Chứng từ kế toán sử dụng: Khi phát sinh các khoản chi phí về nguyên vậtliệu trực tiếp, kế toán căn cứ vào các chứng từ sau để hạch toán:
- Phiếu xuất kho ( Mẫu 02-VT)
- Phiếu nhập kho ( Mẫu 01-VT)
- Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ ( Mẫu số 04-VT)
- Bảng kê mua hàng ( Mẫu số 06-VT)
- Bảng phân bổ nguyên liêu, vật liệu, công cụ, dụng cụ ( Mẫu số 07-VT)
- Các chứng từ liên quan khác
* Tài khoản kế toán sử dụng: Để tiện cho việc theo dõi các khoản chi phínguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng TK621 – “Chi phí nguyên vật liệu trựctiếp” Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phí sản xuất(phân xưởng, bộ phận sản xuất, công việc, sản phẩm…)
17
Trang 18Tài khoản có kết cấu
TK621 Tập hợp chi phí nguyên vật liệu xuất
dung trực tiếp cho chế tạo sản phẩm
hay thực hiện các lao vụ dịch vụ
-Giá trị vật liệu xuất dung không hết
- Trị giá của phế liệu thu hồi ( nếu có)
- Cuối kỳ phân bổ và kết chuyển chiphí NVLTT sử dụng cho sản xuất trong
* Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Trang 19Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả công nhân trực tiếpsản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ bao gồm: Tiền lươngchính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo sốtiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất.
Chi phí nhân công trực tiếp sản xuất thường được tính váo đối tượng chịu chiphí liên quan Trường hợp CPNCTT liên quan đến nhiều đối tượng mà không hạchtoán được trực tiếp như: Tiền lương phụ, các khoản phụ cấp thì có thể tập hợpchung sau đó chọn tiêu thức thích hợp để tính toán phân bổ cho các đối tượng chịuchi phí liên quan Tiêu chuẩn để phân bổ CPNCTT có thể là: định mức tiền lươngcủa từng đối tượng hoặc kế hoạch hoặc giờ công thực tế, hay khối lượng sản phẩmsản xuất, tuỳ theo điều kiện cụ thể…
Để theo dõi CPNCTT kế toán sử dụng TK 622 – “Chi phí nhân công trựctiếp” Tài khoản này được mở chi tiết theo từng đối tượng hạch toán chi phí sảnxuất
Tài khoản có kết cấu
TK 622Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp sản
xuất sản phẩm thực hiện lao vụ, dịch vụ
phát sinh
- Kết chuyển để tính giá thành sản phẩm
- Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vượt trên mức bình thườngTài khoản này không có số dư cuối kỳ Cuối kỳ kế toán thực hiện kết chuyểnhết để tính giá thành sản phẩm
Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
19
Trang 20Tiền lương thực tế công nhân Kết chuyển để tính
trực tiếp phải thanh toán giá thành sản phẩm
Trích theo lương BHXH,BHYT
Tiền công của những
người bên ngoài (không nằm trong
đơn vị)
* Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí phục vụ và quản lý sản xuất gắn liềnvới từng phân xưởng gắn liền với từng phân xưởng sản xuất Chi phí sản xuấtchung là chi phí tổng hợp bao gồm các khoản: Chi phí nhân viên phân xưởng, chiphí vật liệu và dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ dùng ở phân xưởng, chiphí dịch vụ thuê ngoài và chi phí bằng tiền khác dùng ở phân xưởng
CPSXC được tập hợp theo từng phân xưởng hoặc bộ phận sản xuất kinhdoanh Việc tập hợp được thực hiện hàng tháng và cuối mối tháng kế toán tiến hànhphân bổ và kết chuyển vào đối tượng hạch toán chi phí
Kế toán sử dụng TK627 – “Chi phí sản xuất chung” để kế toán tập hợp vàphân bổ chi phí sản xuất chung
Kết cấu tài khoản chi phí sản xuất chung
Trang 21TK627Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế
phát sinh trong kỳ
-Kết chuyển chi phí để tính giá thành-Kết chuyển phần chi phí không đượctính vào giá thành
Tài khoản này không có số dư cuối kỳ Cuối kỳ kế toán thực hiện kết chuyển hết để tính giá thành sản phẩm
Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung
Trang 22Kết chuyển CPNVLTT Trị giá SP hỏng phải bồi
thường, phế liệu thu hồi
do SP hỏng Kết chuyển CPNCTT Giá thành thực tế SP
hoàn thành nhập kho
Kết chuyển CPSXC Giá thành thực tế SP gửi
bán không qua kho
Giá thành thực tế SP thành bán ngay
1.5.4 Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Những doanh nghiệp sử dụng phương pháp kiểm kê định kỳ thường là nhữngdoanh nghiệp sản xuất nhỏ, ít chủng loại sản phẩm hàng hoá Kế toán sử dụngTK631 – “Giá thành sản xuất” để tập hợp chi phí sản xuất cho toàn doanh nghiệp
và chỉ sử dụng cho TK154 để kết chuyển chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, sang kỳsau lại kết chuyển TK631 tiếp tục tính giá
TK154, TK631 cũng được mở chi tiết cho từng đối tượng tính giá
Sơ đồ: Hạch toán tài khoản giá thành sản xuất
Trang 23Chi phí sản phẩm dở dang Giá thành sản xuất của SP
Kết chuyển CPNVLTT Phế liệu thu hồi do SP hỏng
Kết chuyển CPNCTT Tiền bồi thường phải thu về
23
Trang 241.5.5.1 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Theo phương pháp này, giá trị sản phẩm dở dang chỉ tính phần theo chi phíNVL chính trực tiếp hoặc CPNVLTT, còn các khoản chi phí khác tính cả cho sảnphẩm hoàn thành Mặt khác, khi tính theo phương pháp này, để đơn giản giảm bớtkhối lượng tính toán, kế toán thường sử dụng quan niệm CPNVLTT hoặcCPNVLTT bỏ hêt một lần ngay từ đầu quy trình sản phẩm Vì vậy, giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ tính bằng công thức sau:
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo CPNVLTT đơn giản nhưng
độ chính xác không cao, chỉ nên áp dụng đối với doanh nghiệp có CPNVLTTchiếm tỷ trọng lớn, khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ ít và không biến độngnhiều so với đầu kỳ
1.5.5.2 Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương
Theo phương pháp này, phải tính toán tất cả các khoản mục chi phí sản phẩm
dở dang và mức độ chế biến của chúng để tính đổi khối lượng sản phẩm hoàn thànhtương đương Sau đó xác định từng khoản mục chi phí cho sản phẩm dở dang
Đối với các khoản mục chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất (như NVLtrực tiếp, NVL chính trực tiếp) thì tính cho sản phẩm hoàn thành và sản phẩm dởdang như sau:
24
Giá trị sản phẩm Chi phí phát sinh
dở dang đầu kỳ + trong kỳ Số lượng
dở dang cuối kỳ Số lượng sản phẩm + Số lượng sản phẩm dở dang
hoàn thành dở dang cuối kỳ cuối kỳ
Giá trị sản phẩm Chi phí phát sinh
dở dang đầu kỳ + trong kỳ Số lượng
Trang 25Đối với các khoản chi phí bỏ dần trong quá trình sản xuất (như CPNCTT,CPSXC) thì tính cho sản phẩm dở dang theo công thức:
Trong đó:
Khối lượng sản phẩm = Số lượng sản phẩm dở dang x Mức độ hoàn thành
tương đương cuối kỳ
Kết quả tính theo phương pháp này có tính chính xác cao nhưng phải mấtnhiều thời gian, khối lượng tính toán lớn và phải xác định được mức độ chế biếnhoàn thành của sản phẩm dở dang Thường áp dụng với những sản phẩm có chi phíNVL không lớn, khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ nhiều và biến động lớn sovới đầu kỳ
1.5.5.3 Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Đối với các doanh nghiệp đã xây dựng được hệ thống định mức và dự toánchi phí cho từng loại sản phẩm thì doanh nghiệp có thể áp dụng phương pháp đánhgiá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Theo phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang,mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang ở từng công đoạn sản xuất để tính giá trịsản phẩm dở dang theo chi phí định mức
25
Giá trị sản phẩm Chi phí phát sinh
dở dang đầu kỳ + trong kỳ Số lượng
Trang 261.5.6 Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hànhcông việc tính giá thành cho đối tượng cần tính giá thành Xác định kỳ tính giáthành sản phẩm được khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp kịp thời các số liệu, tàiliệu cần thiết cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
Để xác định kỳ tính giá thành cho phù hợp phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sảnxuất và chu kỳ sản xuất của sản phẩm
- Trường hợp sản xuất nhiều mặt hàng, kế hoạch sản xuất ổn định, chu kỳ sản xuấtngắn, xen kẽ, liên tục thì kỳ tính giá thành là hàng tháng
- Trường hợp sản xuất mang tính thời vụ (sản xuất Nông nghiệp), chu kỳ sản xuấtdài thì kỳ tính giá thành là hàng năm hay kết thúc mùa vụ
- Trường hợp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳsản xuất dài, sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳsản xuất thì kỳ tính giá thành thích hợp là thời điểm sản phẩm hoặc hàng loạt sảnphẩm đã hoàn thành
1.5.7 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm
Phương pháp tính giá thành là một phương pháp hoặc hệ thống phương phápđược sử dụng để tính giá thành sản phẩm và đơn vị sản phẩm, nó mang tính thuầntuý, kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành
Có nhiều phương pháp tính giá thành, tuỳ thuộc vào điều kiện tổ chức yêucầu quản lý và quy trình sản xuất mà doanh nghiệp có thể áp dụng một trong cácphương pháp tính giá thành sau:
1.5.7.1 Phương pháp trực tiếp (phương pháp giản đơn)
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính bằng cách căn cứ trựctiếp vào chi phí sản xuất đã tập hợp được theo từng đối tượng kế toán chi phí sản
26
Trang 27xuất trong kỳ và giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, cuối kỳ để tính giá thành sảnphẩm Phương pháp này phù hợp với những sản phẩm có quy trình công nghệ sảnxuất giản đơn, khép kín, tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn, đối tượngtính giá thành tương đối phù hợp với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, kỳ tính gíathành hàng tháng phải phù hợp với kỳ báo cáo.
1.5.7.2 Phương pháp hệ số
Theo phương pháp này để xác định giá thành cho từng loại sản phẩm cầnquy đổi sản phẩm khác nhau về một sản phẩm là sản phẩm tiêu chuẩn theo hệ sốquy đổi đã được xây dựng sẵn, hệ số quy đổi bằng 1 gọi là sản phẩm chuẩn
Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp có cùng quy trình công nghệsản xuất, cùng sử dụng một nguyên liệu, kết quả thu được đồng thời nhiều loại sảnphẩm khác nhau
1.5.7.3 Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ (loại trừ giá trị sản phẩm phụ)
Theo phương pháp này để tính giá thành sản phẩm chính, kế toán phải loạitrừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm Giá trị sản phẩmphụ được tính bằng nhiều cách như: Giá trị ước tính, giá trị kế hoạch… Phươngpháp này được áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp nông nghiệp, doanh nghiệpchế biến
27
Trang 28Ngoài các phương pháp trên, còn có nhiều phương pháp tính giá thành như:Phương pháp tỷ lệ, phương pháp phân bước, phương pháp định mức…
28
Trang 29CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GIỐNG BÒ SỮA MỘC CHÂU
2.1 Khái quát chung về cơ cấu tổ chức, tình hình hoạt động của Công ty
Cổ phần Giống bò sữa Mộc châu
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc châu
Công ty Cổ phần Giồng bò sữa Mộc Châu trực thuộc Tổng Công ty chănnuôi Việt Nam thuộc bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Tên giao dịch: Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc ChâuĐịa chỉ: Thị trấn Nông trường - Huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn LaĐiện thoại: 022 866 065
Mã số thuế: 5500154060
Để có được như ngày nay Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu đã trảiqua những chuyển đổi đáng kể ngay từ đầu khi mới được thành lập
Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1960:
Công ty có tiền thân là Nông trường quân đội, được thành lập ngày 8/4/1958
do các chiến sỹ thuộc trung đoàn 280, sau khi giải phóng Tây bắc được Đảng vàBác Hồ giao nhiệm vụ làm kinh tế, mở mang phát triển vùng Tây bắc Lúc này sốlao động của nông trường được bố trí lao động sản xuất ở các đội và trung tâmnông trường Bộ, với nhiệm vụ là trồng cây lương thực và chăn nuôi bò sữa, ngànhchế biến sữa ra đời, ban đầu chỉ là một tổ chế biến sữa
Giai đoạn từ năm 1961 đến 1982:
29
Trang 30Nông trường quân đội Mộc Châu trở thành Nông trường Quốc doanh, đi sâuvào công tác tổ chức quản lý làm ăn lớn, hình thành những mô hình kinh tế để cáchợp tác xã noi theo Trong thời kỳ này Nông trường được tặng thường Huânchương lao động hạng nhất, Nông trường có 15 đội và 1 Nông trường bộ do Bangiám đốc trực tiếp chỉ đạo, sản lượng sữa có năm đạt tới 3.200 tấn, năng xuất sữa13,5lít/con/ngày Lợi nhuận đạt 12 triệu đồng/năm.
Giai đoạn từ năm 1983 đến năm1987:
Quy mô của xí nghiệp được mở rộng không ngừng và lai tạo được nhiềugiống bò mới Quy mô xí nghiệp liên hiệp Mộc Châu định hình ở diện tích14.420ha Trong đó đất Nông nghiệp 4.420ha và gần 3.000 con bò sữa thuần chủnggiống nhập từ Cu ba, hàng năm sản xuất trên 3.000 tấn sữa, có 1.000 đất ha trồng
cỏ được quy hoạch hiện đại trên 2.800ha đất dành cho sản xuất cây thức ăn hàngnăm và thô xanh cho đàn bò Xây dựng được 19 trại bò hiện đại trong đó có 16 trại
bò sữa, 4 trại vắt sữa bằng máy, 1 trung tâm nuôi bê, 1 bệnh viện bò, 1 trại bê và bò
tơ lỡ từ 5 đến 24 tháng tuổi với tổng diện tích gần 2 vạn m2, chuồng trại được bêtông hoá, diện tích trồng cỏ được thâm canh cao với nhiều giống cỏ cao cấp như cỏMộc Châu, cỏ gà lai, cỏ vua, cỏ sao và nhiều loại cây trồng giàu đạm khác
Từ năm 1987 đến nay:
Trong những năm đầu của giai đoạn này, chịu ảnh hưởng của tình hình thếgiới diễn biến rất phức tạp, đất nước còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, Nôngtrường Mộc Châu cũng trong hoàn cảnh đó: Trong thời kỳ này, đất nước ta chuyểnsang hướng sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cóquyết định số: 147/NN/CT/QĐ, ngày 01 tháng 06 năm 1982 về tổ chức lại xínghiệp, đến ngày 01 tháng 01 năm 1987 Nông trường Quốc doanh Mộc Châu Iđược thành lập hoạt động theo cơ chế độc lập, tự chịu trách nhiệm Đến tháng 7năm 1993 Nông trường được đổi tên là Nông trường bò sữa Mộc Châu, lúc nàyNhà nước giao thêm nhiệm vụ là sản xuất con giống Đến ngày 14 tháng 02 năm
30
Trang 311995 đổi tên là: Công ty Giống bò sữa Mộc Châu Là một Doanh nghiệp hoạt độngtrên toàn lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công ty có thể mởcác chi nhánh đại diện ở trong và ngoài nước phù hợp với các quy định của phápluật Việt Nam Đến ngày 28 tháng 9 năm 2004 Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã cóquyết định số: 3306 QĐ/TCCB quyết định chuyển doanh nghiệp nhà nước Công tyGiống bò sữa Mộc Châu thành Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu Với mụcđích không ngừng nâng cao lợi ích của các cổ đông, sản xuất sản phẩm có chấtlượng Tăng tích luỹ phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty góp phần thực hiệncác nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước
+ Vốn điều lệ của Công ty: 17.100.700.000 đồng
+ Trong đó Nhà nước chiếm 51%: 8.721.000.000 đồng
+ Vốn cổ đông khác chiếm 1,45%: 247.900.000 đồng
+ Vốn cổ đông người lao động chiếm 47,55%: 8.131.800.000 đồng
Nằm trên cao nguyên Mộc châu có độ cao 1050 m so với mực nước biển, dovậy Công ty có những khó khăn nhất định, nhưng nhìn vào những giải thưởng quacác đợt: Quả cầu bạc, giải thưởng chất lượng cao Việt Nam 2001, giải sao vàng đấtViệt năm 2003 do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cấp, giải cúp sen vàng,
và cùng nhiều huy chương vàng, bạc và giấy khen các loại…Đã thấy rõ đượcnhững thành tựu đóng góp xứng đáng vào việc xây dựng và phát triển cao nguyênMộc Châu ngày càng phồn thịnh Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu đangđược Nhà nước đầu tư thành trung tâm giống bò sữa của cả nước
2.1.2 Đặc điểm về tổ chức quản lý của Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc châu
2.2.2.1 Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu hoạt động dưới sự lãnh đạo củaĐảng và sự quản lý của Nhà nước Việc điều hành, quản lý Công ty được tiến hành
31
Trang 32theo chế độ trực thuộc Tổng Công ty trên cơ sở quyền làm chủ tập thể của cán bộcông nhân viên chức.
Với nhiệm vụ chính là chăn nuôi bò sữa, cung cấp con giống bò sữa, sản xuấtchế biến các sản phẩm từ sữa và sản xuất thức ăn chăn nuôi, mục đích của Công ty
Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu đó là thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trên toàn quốc.Hàng năm Công ty đã đóng góp cho Ngân sách Nhà nước hàng tỷ đồng Bên cạnh
đó còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho dân cư địa phương và nâng caođời sống cho cán bộ công nhân viên của Công ty
2.2.2.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ
Nhìn chung, quy trình sản xuất của Công ty Cổ phần Giống bò sữa MộcChâu được chia thành nhiều công đoạn khác nhau, từ việc thu mua sữa tươi từ các
hộ gia đình về trạm thu mua ở 10 khu vực, cuối buổi được vận chuyển về nhập vàonhà máy để đưa vào sản xuất chế biến Công ty có quy trình công nghệ khép kín từkhâu đưa các nguyên liệu đầu vào: sữa tươi, đường,… cho đến khâu đóng gói, rótchai, nhập kho thành phẩm
Hiện nay Công ty có 1 nhà máy chế biến sữa gồm 2 xưởng chế biến sữa, 1nhà máy chế biến thức ăn gia súc và 10 khu vực chăn nuôi với trên 600 hộ chănnuôi bò sữa Nhà máy chế biến sữa gồm có: Dây chuyền chế biến sữa thanh trùng,dây chuyền chế biến sữa tiệt trùng và các máy móc thiết bị phụ trợ khác, ngoài ra 1
tổ lái xe chuyên vận chuyển sữa đi tiêu thụ
Các sản phẩm sữa Mộc Châu được chế biến từ 100% sữa bò tươi nguyênchất, trên dây chuyền chế biến sữa hiện đại theo công nghệ tiên tiến của tập đoànTetrapak Thuỵ Điển, được quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001 – 2000 vàHACCP Code 2003 Trên cùng 1 dây chuyền công nghệ có thể sản xuất ra nhiềuloại sản phẩm khác nhau (như sản xuất sữa túi và sữa chai), nhưng cũng có thể chỉsản xuất 1 loại sản phẩm (sản xuất bơ) Do chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm sản
32
Trang 33xuất ra là sữa nên khi kết thúc ca máy cũng là khi sản phẩm hoàn thành Do đó đặcđiểm sản xuất của Công ty là không có sản phẩm dở dang.
2.1.3 Đặc điểm bộ máy quản lý của Công ty
Trải qua thời gian hoạt động lâu dài cùng sự thay đổi của cơ chế thị trường,
cơ chế quản lý và yêu cầu sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức bộ máy cũng cónhiều thay đổi theo sự phát triển của Công ty Hiện nay bộ máy quản lý của Công
ty theo mô hình trực tuyến dưới sự lãnh đạo chung của Hội đồng quản trị, Bankiểm soát, Tổng GĐ, Phó TGĐ, các phòng ban, trưởng chi nhánh… để hoạt động
KD có hiệu quả
33
Trang 34Sơ đồ 2.1: tổ chức bộ máy quản lý
Tại Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc châu
Qua sơ đồ trờn ta thấy bộ mỏy của Cụng ty đó xỏc định rừ chức năng nhiệm
vụ của từng phũng ban và mối quan hệ cụng tỏc giữa cỏc phũng ban, cỏc khu vựcsản xuất từ đú đảm bảo cho việc cung cấp cỏc thụng tin một cỏch chớnh xỏc và cúquyết định kịp thời, xử lý những thụng tin đú tạo ra sự thụng suốt trong cụng việc
- Hội đồng quản trị: Gồm cú bốn người là cơ quan quản lý của Cụng ty, cú
toàn quyền nhõn danh Cụng ty để quyết định mọi vấn đề liờn quan đến mục đớch,quyền lợi của cụng ty, cú nhiệm vụ quyết định chiến lược phỏt triển phương ỏn đầu
tư tài chớnh của Cụng ty, cú nhiệm vụ quyết định chiến lược phỏt triển phương ỏnđầu tư tài chớnh của Cụng ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm cỏch chức Tổng giỏm đốc vàcỏc cỏn bộ quản lý khỏc
KD-Nhà máy
chế biến sữa thức ăn gia súc Nhà máy CB
súc
Hộ nhận khoán chăn nuôi Nhà phân phối, đại lý
Trang 35- Ban kiểm soát: Gồm có ba thành viên do Đại hội cổ đông bầu ra, có nhiệm
vụ giám sát, kiểm tra tính trung thực và hợp pháp trong quản lý và điều hành hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty, trong ghi chép sổ sách kế toán và báo cáo kếtoán, thẩm tra tính trung thực và chính xác bảng cân đối kế toán, báo cáo tài chínhhàng năm của Công ty
- Tổng giám đốc: Là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo của Công ty , có năng
lực tổ chức chỉ đạo và được sự tín nhiệm của các cổ đông trong Công ty Tổnggiám đốc phụ trách chung và có quyền điều hành toàn bộ hoạt động của Công ty vềcác vấn đề trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong việc xây dựng và thực hiện kếhoạch sản xuất kinh doanh hàng tháng, quý năm trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của thịtrường và của Công ty Các quy chế, quy định của Công ty về quản lý nghiệp vụ,
kỹ thuật chất lượng, nội quy kỹ thuật lao động, đào tạo và tuyển dụng, nghiên cứunâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển sản phẩm mới nhằm đáp ứng yêu cầungày càng cao của thị trưởng Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chứccông tác quản lý, tổ chức công tác tài chính kế toán, kế hoạch sản xuất kinh doanh,Tổng giám đốc là người ký kết các hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động và mờichuyên gia cố vấn cho Công ty (nếu cần) và chịu trách nhiệm trước pháp luật vànhà nước về tất cả các hoạt động kinh doanh của Công ty
- Phó Tổng giám đốc phụ trách kinh doanh: Chỉ đạo và điều hành các
phòng ban, nhà máy sản xuất có liên quan trong việc thực hiện mua sắm sửa chữa
và bảo quản lưu kho các loại nguyên vật liệu, phụ tùng, thiết bị, vật liệu xây dựng
và các loại nguyên vật liệu vận dụng khác (gọi chung là vật tư phụ tùng) phục vụcho nhu cầu sản xuất và công tác bán các sản phẩm Công ty kinh doanh Tổ chứcthực hiện việc bán hàng Thực hiện một số công việc khác do Tổng giám đốc giao.Báo cáo Tổng giám đốc xem xét giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền củamình hoặc không giải quyết được
- Phó Tổng giám đốc phụ trách kỹ thuật: Chỉ đạo điều hành các phòng
ban, khu vực chăn nuôi bò sữa, nhằm tạo ra vùng nguyên liệu ngày càng tằng về số
35
Trang 36lượng và ổn định về chất lượng, giải quyết các hợp đồng sản xuất trong Công ty,chỉ đạo xây dựng kế hoạch sản xuất chung của Công ty hàng tháng, quý, năm vàdài hạn…Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Tổng giám đốc giao Báo cáo Tổnggiám đốc xem xét giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền của mình hoặc khônggiải quyết được.
Tóm lại: Các phó Tổng giám đốc phụ giúp và thay mặt Tổng giám đốc trực
tiếp quản lý các vấn đề ơ chi nhánh, các phòng ban, nhà máy chế biến, các khu vựcsản xuất và báo cáo đầy đủ, kịp thời cho Tổng giám đốc khi cần thiết Các phóTổng giám đốc phải chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về các vấn đề mà mìnhphụ trách, đồng thời cũng là người quyết định các công việc trong Công ty khiTổng giám đốc đi vắng nếu được uỷ quyền của Tổng giám đốc
- Phòng tổ chức lao động: Quản lý về nhân sự tại Công ty, xây dựng kế
hoạch và tiêu chuẩn tuyển dụng lao động, theo dõi nguồn lao động nhận khoán,soạn thảo các công văn giấy tờ, các quyết định của Tổng giám đốc yêu cầu, lưu trữ,gửi, tiếp nhận các công văn đi, đến, các chế độ BHXH đối với người lao động, kếhoạch đào tạo, thi đua khen thưởng, bên cạnh đó còn có nhiệm vụ tổ chức đời sống
và các mặt sinh hoạt cho cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty
- Phòng sản xuất kinh doanh: Có nhiệm vụ lập kế hoạch sản xuất theo từng
tháng, quý, năm Lập kế hoạch dài hạn của 5 năm, 10 năm sản xuất kinh doanh củaCông ty và các hộ chăn nuôi Phòng sản xuất kinh doanh còn nghiên cứu thị trường
để lập ra kế hoạch tổ chức có hiệu quả, đúng pháp luật quy định và phù hợp với chủtrương kế hoạch sản xuất kinh doanh và các quy định của Công ty Khi có nhữngmặt hàng mà khách hàng yêu cầu phòng sản xuất kinh doanh phải bố trí cho nhàmáy sản xuất đáp ứng kịp thời cho khách hàng, lập thành kế hoạch và có kế hoạchthực hiện Các công tác đầu tư xây dựng cơ bản, lập dự án đầu tư, phòng còn cóchức năng quản lý đất đai, số lượng bò trong từng hộ gia đình
- Phòng kế toán tài chính: Quản lý toàn bộ tài sản và vốn do Nhà nước
giao, các cổ đông góp vốn, bảo toàn phát triển và sử dụng các loại vốn có hiệu quả
36
Trang 37Lập kế hoạch tài chính (Ngắn hạn, dài hạn, trung hạn) tổ chức theo dõi hạch toáncác nhiệp vụ kinh tế phát sinh và tổng hợp quyết toán kết quả sản xuất kinh doanhhàng tháng, quý, năm cho Công ty, lập các báo cáo theo quy định của pháp luật mộtcách nhanh gọn và chính xác Có kế hoạch soạn thảo các hợp đồng kinh tế, thanhquyết toán các hợp đồng và hàng tháng thanh toán sản phẩm cho các hộ, làm trònnghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước, tổ chức hạch toán toàn bộ hoạt động sản xuấtkinh doanh và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật thống kê.
- Phòng kỹ thuật: Nắm vững các thông tin kinh tê, kế hoạch sản xuất sữa,
nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm và quản lý kỹ thuật sản xuất, thiết bịmáy móc, điện nước, quản lý kỹ thuật an toàn và vệ sinh công nghiệp Quản lý đàngia súc của các hộ trong toàn Công ty và dịch vụ kỹ thuật (Phòng bệnh, chữa bệnh)cho đàn gia súc trong từng hộ gia đình
- Nhà máy chế biến sữa: Hoạt động dưới sự chỉ đạo của giám đốc nhà máy,
nhiệm vụ hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng, quý, năm Sản xuất, chếbiến các sản phẩm sữa
- Xưởng chế biến thức ăn gia súc: Sản xuất và bán các loại thức ăn phục vụ
cho chăn nuôi bò sữa, phân vi sinh bón cho đồng cỏ, ngô cây…cung cấp thức ănxanh cho đàn bò
- Hộ nhận khoán: Ký kết hợp đồng kinh tế, cung cấp sữa cho Công ty, chịu
sự quản lý của Công ty về kỹ thuật, chịu sự điều phối của Công ty về đầu con vàđất đai
- Chi nhánh, đại lý: Là một bộ phận quan trọng của Công ty, đại diện cho
Công ty thực hiện tiêu thụ sản phẩm sữa, mở rộng thị trường và cung ứng vật tưcho chế biến
* Tình hình cơ bản của Công ty Cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu (trong 3
năm gần đây)
- Tình hình lao động và sử dụng lao động
Bảng: Bảng phân tích trình độ lao động
37
Trang 38Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Chênh lệch năm 2006-2005
Chênh lệch năm 2007-2006
Công ty đã tập trung và chú trọng vào trình độ tay nghề của công nhân bởi
đó là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của Công ty
Qua bảng phân tích trình độ lao động trên ta thấy
Năm 2006 hệ Đại học đã tăng thêm 2 người, ứng với 9.5% so với năm 2005
Ở năm 2007 tăng hơn so với năm 2006 cũng là 2 người tương ứng 5.7%, từ đóchứng tỏ Công ty ngày càng chú trọng tuyển thêm cán bộ công nhân có tay nghềtrình độ cao
Hệ Cao đẳng: Năm 2006 cũng tăng so với năm 2005 là 2 người, tương ứngvới 16.7% và giữ nguyên tỷ lệ này cho đến hết năm 2007
Hệ trung cấp: Có mức tăng dần qua các năm, năm 2005 thấp hơn so với năm
2006 là 9 người, tương ứng với 14.5% Năm 2007 cao hơn so với năm 2006 cũng là
7 người tương ứng với 12.6%
Hệ công nhân kỹ thuật: Đây là đội ngũ khá đông đảo trong Công ty, là độingũ lao động tạo ra của cải vật chất cho Công ty Năm 2006 đã tăng hơn so vớinăm 2005 là 28 người, tương ứng với 75.6% Năm 2007 so với năm 2006 tăng íthơn, với tỷ lệ 4.6% tương ứng với 3 người
Qua những số liệu trên ta thấy, số lượng lao động của Công ty cũng tăng dầnqua các năm nhưng không đáng kể Trong khi đó quy mô sản xuất kinh doanh củaCông ty ngày càng mở rộng Doanh nghiệp cần tuyển dụng thêm nguồn nhân lực cótrình độ để đảm bảo kỹ năng phát triển sản xuất kinh doanh của mình
Về cơ cấu lao động
38
Trang 39Bảng: Bảng cơ cấu lao đ ng tr c ti p, gián ti pộng trực tiếp, gián tiếp ực tiếp, gián tiếp ếp, gián tiếp ếp, gián tiếp
Chỉ tiêu
Năm
Lao động trực tiếp 104 78.8 139 81.3 150 81.1
Từ bảng số liệu trên ta thấy rằng số người lao động gián tiếp tăng lên nhưngkhông đáng kể Tuy vậy tỷ lệ % trong tổng số lao động lại có xu hướng giảm đi.Năm 2006 giảm so với năm 2005 là 2.5% Và năm 2007 lại tăng so với năm 2005
- Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty
Công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu đang hoạt động với 51% vốn củanhà nước, 49% số vốn do cổ đông và người lao động đóng góp
Bảng cho thấy vốn bằng tiền, các khoản phải thu ngắn hạn và TSCĐ chiếm
tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản Trong Công ty hàng tồn kho chủ yếu là các loạithành phẩm tồn kho và bao bì
Nếu ta so sánh giữa năm 2006 và năm 2007 hay nói cách khác so sánh giữa
số đầu kỳ và cuối kỳ thì tài sản ngắn hạn có xu hướng tăng lên, tính đến thời điểmcuối năm 2007 tài sản ngắn hạn đạt 54,751 (triệu đồng) tăng hơn 22 tỷ đồng tươngứng với tốc độ tăng 67.35% Sở dĩ tài sản ngắn hạn tăng lên phần lớn là do hàngtồn kho tăng 17,629 (triệu đồng) tương ứng với 181.93% (chủ yếu là do Công tytăng lượng bao bì dự trữ) Tiền và các khoản tương đương tiền cũng tăng 8,484
39
Trang 40(triệu đồng) tương ứng với tốc độc tăng 312.72% Nếu các điều kiện khác khôngđổi thì điều này chứng tỏ số vòng quay vốn lưu động giảm, làm tăng tình trang ứđọng tiền mặt là biểu hiện không tốt.
Tài sản dài hạn của Công ty có xu hướng giảm đi Tuy nhiên tài sản dài hạnkhác năm 2007 thì lại tăng lên 527 (triệu đồng) tương ứng với 1,817.24% là doCông ty đã trích trước chi phí trả trước dài hạn và đầu tư dài hạn khác
Nguồn vốn của Công ty có xu hướng tăng lên chứng tỏ Công tu có khả năngtài chính tương đối ổn định Tính đến cuối năm 2007, nguồn vốn đạt 98,174 (triệuđồng) tăng so với cuối năm 2006 là 18,881 (triệu đồng) ứng với 23.81%
Trong hai năm 2006, 2007 thì nợ phải trả có xu hướng giảm trong khi nguồnvốn chủ sở hữu tăng lên hơn 4 lần, từ 7,898 (triệu đồng) lên 31,435 (triệu đồng).Tuy vậy nợ phải trả vẫn chiếm tới 67.98% điều này cho thấy Công ty đã chiếmdụng được vốn của các đơn vị khác nhưng vẫn luôn chủ động về mặt tài chính Nợphải trả có xu hướng giảm trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng lêncũng cho thấy Công ty làm ăn ngày càng có lãi đã trả bớt được nợ và tăng cườngthêm nguồn vốn chủ sở hữu
40