Tuyển tập 30 năm Tạp Chí Toán Học và Tuổi Trẻ (part2-2)
Trang 1XA LA MA GAN GUI
Bạn đọc hãy thử xem hai định lí quen
thuộc sau đây :
Định lÍ 1 Trong một tam giác, dường
trung bình bồng nửa cạnh day
Định ti 2 Trong một tam giúc, tổng bình
phương hai cạnh bằng nữa bình phương
cạnh thứ ba cộng uới hai lần bình phương
trung tuyển tương ứng
Quan hệ giữa đường trung bình và các
cạnh thật đơn giản (định lí 1) còn quan hệ
giữa trung tuyến với các cạnh khá phức tạp
(định li 2) Xem ra nội dung hai định If
chẳng "bà con chỉ" Nếu có xem xét các
chứng minh hai định lí trên, cũng sẽ không
thấy rằng khi chứng minh định lí này chẳng
hề dùng đến định lí kia Nhưng sự xa lạ giữa
hai định lÍ chỉ là bề ngoài Chỉ cần đổi cách
nhìn đi một chút đã cảm thấy có sự gần gũi
Quả vậy hãy xem tam giác ABC như một tứ
giác có bốn cạnh BA, AA = 0, AC, CB thì
đã thấy ngay sự "bình đẳng' giữa đường
trung bình (nối trung điểm của hai cạnh đối
diện BA, AC) và trung tuyến (nối trung điểm
của hai cạnh đối diện AA, BC) Vậy thì tại
sao quan hệ giữa chúng với các cạnh lại khác
xa nhau đến thế ? Ốc tò mò khoa học thúc
giục ta nghiên cứu các quan hệ (trong một
tứ giác BAA'C) giữa các cạnh và một đường
trung bình (đoạn nối trung điểm hai cạnh
đối diện) (h.1)
đình t
Gọi 7, K lần lượt là trung điểm hai cạnh
đối điện AA, BC và M, N lần lượt là trung
194
NGUYÊN CẢNH TOÀN
điểm hai cạnh đối diện ABA'C Định lí 2 gợi
ý ta tịnh tiến cạnh AB đến vị trí IP và cạnh
A'C đến vị trí 1Q Hai tam giác XBP và KCQ
bang nhau vì có BP = QC (AA'2) KB = KC
và PBR = QCR Từ đó suy ra PKB =
QKC nên P, Q, K thẳng hàng Ngoài ra :
= KQ nên IK là trung tuyến của tam
giác IPQ Theo định lí 2 thì :
41K? = 20P* + 192) ~ PQ? = 2(1P? + 192) -
-~ứP? + + 1Q? — 2IP 1Q.cosa) hay
47K? = IP? + 12 + 2IP 1Qcosa =
= AB? + A'C? +2AB.A”C” (A"C' tà hình
chiếu vuông góc của A'C xuống đường thẳng
AB) nếu ta chú ý rằng cosa và AB.A"C” luôn luôn cùng dấu
Nhưng :
2AB A"C = 2AB(MC’ - MA”)
= 2A4B.MC’ - 2AB.MA
= (AC? ~ BC?) - (AA? ~ BA) Vậy :
4IK?“AB+A'C1+BA'2+AC?-AA'2~BC! (1)
Hoán vị vai trò của các cặp cạnh đối điện (AA, BC) và (4B, AC) ta được
4MN?SAA'2+BC+BA'2+AC2~AB2—A'C2(0)
Nếu A' trùng với A thì AA' = 0, AB = AB,
ATK? = 2(AB? + ACY) - BC? ; do 1a nội dung của dinh Hi 2
Cdn (2) thi cho ta : 4MN? = BC? hay MN = dung của định lí 1
Như vậy, hai định lÍ 1 và 2 chỉ là xa lạ
với nhau bể ngoài thôi, thực chất thì chúng
đều do một mẹ sinh ra Hai hệ thức (1) và
(2) đều nói lên :
Định li 3 Trong một tứ giác, bốn lan
bình phương của một đường trung bình
(doan thẳng nối trung điểm hai cạnh dối
diện cho trước) bềng tổng bình phương hai
cạnh còn lại uà hai đường chéo trừ đi tổng
bình phương hai cạnh cho trước
BCJ2, đó là nội
Trang 2Hai định lí 1 và 2 là kết quả của việc áp
dụng dịnh lÍ 3 vào hai đường trung bình của
một tứ giác 8CAA' khi A' đến trùng với A
Đến đây, ta hiểu thêm hai chữ "đào sâu" là
thế nào Ý xuất phát cũng thật là đơn giản :
Coi đường trung tuyến cũng là một đường
trung bình nối trung điểm của cạnh AA với
trung điểm của cạnh BC Don gian nhưng
lại Ít ai nghĩ đến chỉ vì không quen nghĩ rằng
tam giác là một trường hợp đặc biệt của tứ
giác (khi có một cạnh bằng không) và "đào
sâu" đi liền với "mở rộng" Ở đây, có mở rộng
ra tứ giác mới thấy được một mối quan hệ
sâu xa trong tam giác,
Nếu tỉnh ý một chút sẽ thấy rằng trong
khi chứng minh định lí 3, không hề dùng
đốn giả thiết "lối" hay "phẳng" của tứ giác
Vậy định lí đúng cho một tứ giác bất kì (ối,
lõm, chéo, ghênh) Hơn nữa vì độ đài trung
bình là một hàm liên tục của các cạnh và
đường chéo nên định lí 3 vẫn đúng khi có
một đỉnh nào đớ liên tục di chuyển đến nằm
trên một cạnh nào do, thậm chí cả khi bốn
đỉnh thẳng hàng
Sau đây ta sẽ gọi một hình gồm bốn điểm
bất kÌ và sáu đoạn thẳng nối bốn điểm đó,
từng đôi một, là một "tứ điểm" Bốn điểm
và sáu đoạn nói trên theo thứ tự sẽ gọi là
các "đỉnh" và các "cạnh" của tứ điểm Một
cạnh nối hai đỉnh nào đơ và cạnh nối hai
đỉnh còn lại sẽ gọi là hai cạnh đối điện của
tứ điểm Đoạn thẳng nối trung điểm hai
cạnh đối diện sẽ gọi là một đường trung bình
của tứ điểm
Bây giờ ta có thể phát biểu định lí 3 như
Sau :
Định IÍ 3 Trong một tứ điểm cơ sáu
cạnh bằng a, @ = 1, 2, 3, 4, ð, 6,) bốn lần bình phương của một đường trung bình nào
6
đó bằng Ð) g,d2, £, =
ist
chứa hai đấu mút của đường trung bình và
tị = +1 đối với các cạnh khác
Nếu viết biểu thức cả ba đường trung
bình theo định lí 3` rồi cộng vẽ với vế ta
được :
Định lÍ 3”, Trong một tứ diểm tổng bình phương sáu cạnh bằng bổn lần tổng bình Phuong ba đường trung bình,
Vận dụng định lí 3'' vào một tứ điểm cơ bốn đỉnh A, B, C, D thẳng hãng trên một
trục số với các hoành độ là ø, b, ¢, d ta có
ngay : Định lÍ 4 Với bốn số thực a, ð c, ở bất
kỉ, ta luôn lưôn có (a - 6)? + (a ~ e} +
tla - dP t(b~ ch + = độ? + (e - độ? =
-1 đổi với hai cạnh
=4 [2-1 + (T11 2891+
+d bt+e,y
4S 7 7}
Dinh lí 4 cũng là anh em ruột thịt với các định lí 1 và 2 Di nhiên anh em nhà này còn nhiều, các bạn tha hổ tìm
Các bạn thấy không, học một biết mười
là vậy Bằng lòng với việc hiểu hai định lí 1
và 2 thì học một chỉ biết một Thác mắc tại
sao chúng có vẻ xa lạ với nhau rồi đào sâu,
mở rộng, ta đã tự mình phát hiện thêm nhiều kiến thức mới (ít ra là đối với ta),
những kiến thức mà nhìn riêng lẻ, tưởng
như chả "bà con chỉ”
105
Trang 3Chương 1Í TÌM HIỂU SÂU THÊM TOÁN HOC PHO THONG
NOI CHUYEN VE CAI "DIEM"
TRONG HINH HOC
Hoe sinh chúng ta hoc hinh hoe, lam bai
tập hình học, thường gặp luôn chữ "điểm",
Có lẽ không cớ bài học, bài tập nào về hình
học mà không có chữ "điểm" Như vậy chắc
chúng ta đã hiểu rõ cái "điểm" lắm rồi
Nhưng nếu bây giờ cớ người hỏi "điểm"
là cải gì thì nhiều học sinh còn lúng túng
Điều đó cũng không có gì lạ, vì nhiều nhà
toán học nổi tiếng đời xưa cũng như đời nay
trả lời câu hỏi đó cũng không ổn Sau đây
xin giới thiệu một số định nghĩa về "điểm"
của một số nhà toán học cớ tên tuổi
1) Điểm là cái gì không thể chia được
theo mọi chiếu, nhưng nó có một vị trí
(Aristốt (Aristote) thế kỈ thứ tư trước công
nguyên),
2) Điểm là cái gì không cớ thành phần
Những đầu mút của một đường là những
điểm (Ocơlit (Euclide) thế kỉ thứ ba trước
công nguyên)
3) Điểm biểu thị cái gì chiếm chỗ bé nhất,
chỉ có vị trí đơn thuần Mọi điểm đều có thể
chồng khít lên nhau (Lepnitdd (Leibnitz)
1679.)
4) Những đầu mút của một đường gọi là
điểm (Løgiàng (Legendre) 1794)
5) Sự tồn tại của một nguyên tử đủ để
tưởng tượng một điểm toán học (Côsi
(Cauchy) 1832.)
6) Điểm toán học là một đạng không có
độ lớn Điểm là cái gì được xác định bởi
chính nó (Đenbơp (Delboeuf) 1860.)
106
LÊ KHẮC BẢO
7) Điểm là giới hạn hay đầu mút của một
dường là giao của những đường (Ruse (Rouché) va Do Combarutxo (De Comberousse)
1866 ~ 1891.)
8) Một điểm ứng với ý thức trừu tượng
ma chung ta có đối với một vật thể cực kì
bé mà chúng ta chỉ để ý đến vị trí trong
không gian, đối với một miền không lớn nhưng do chính một vật thể nào đó giới hạn
(Méray (Méray) 1903)
Ta thấy ngay các định nghĩa trên đều
không ổn, vÌ người ta đã đựa vào những cái chưa định nghĩa, ví dụ : chiều, vi trí, thành phần, đường, độ lớn, dạng, v.v Nếu người
ta tiếp tục hỏi : chiều là cái gỉ ? vị trí là cái
gì ? v.v., thì những nhà toán học trên sé ling túng Trong 8 định nghĩa trên có những cái không phải là định nghĩa, ví dụ 5, 8 ; ngoài
ra có định nghĩa lại quá mơ hồ, ví dụ "điểm"
là cái gì được xác định bởi chính nó Ngày nay, người ta định nghĩa "điểm" như thế nào ? : Trong toán học, muốn định nghĩa
một khái niệm người ta phải dựa vào những
khái niệm đã định nghĩa trước Do đó không thể định nghĩa tất cả các khái niệm, mà phải
có những khái niệm đầu tiên không định nghĩa gọi là khới niệm cơ bản Trong hình học người ta lấy "điểm" làm khái niệm cơ bản (ngoài ra còn có những khái niệm cơ
bản khác, ví dụ đường thẳng, mặt phẳng)
Người ta cũng không chứng minh được mọi mệnh để toán học (mệnh đề chứng minh
được gọi là định lí) Muốn chứng minh một
Trang 4
mệnh đề thÌ người ta phải đựa vào những
mệnh đế đã được chứng mỉnh trước Đi
ngược mãi lên thế nào cũng phải có những
ménh dé đầu tiên không chứng minh mà
người ta gọi là ¿tên đề Các tính chất của các
khái niệm cơ bản được nêu lên trong các tiên
đề Dây là phương pháp xây dựng toán học
hiện đại mà người ta gọi là phương pháp
tiên đề
Bây giờ ta trở lại câu chuyện cái "điểm"
Không phải ngẫu nhiên mà người ta thấy
cẩn thiết có những khái niệm cơ bản không
Hai bài toán nồi tiếng :
BÀI TOÁN GÔNBÁC
Vào khoảng giữa thế kỉ thứ 17, Gónbác
(1690 ~ 1764) viện sĩ Viện hàm lâm
Pétecbua (Nga), trong một bức thư gửi cho
Ole (1707 - 1878), cing 14 vién si Han lam
Pêtecbua, đã phát biểu một mệnh để, về sau
mang tên là "bài toán Gônbác" Bài toán đó
như sau : chứng minh rồng mỗi số lẻ, lớn
hơn năm, đều có thể uiết dưới dạng một tổng
của bq số nguyên, tốt,
Bức thư của Gónbóc viết : "Bài toán của tôi
như sau : ta hãy lấy một cách hú họa một số
lẻ nào đó, 77 chẳng hạn Ta có thé phan tich
nó thành ba số hạng : 77 = B3 + 17 +7, cả
ba số hạng đều là những số nguyên tố Ta lại
lấy một số khác, một cách hoàn toàn hú họa,
461 chẳng hạn, ở dây 461 = 449 + 7 +5, và
ba số hạng lại là nguyên tố Ta có thể phân
tích cũng số ấy theo một cách khác, thành
ba số hạng nguyên tố : 267 + 199 + 5, v.v
Bây giờ tôi thấy hoàn toàn rõ ràng rằng : mỗi
số lẻ, lớn hơn năm, đều có thể phân tích
thành một tổng của ba số hạng là những số
nguyên tố Nhưng chứng minh điều đó như
thế nào Phép thử nào cũng cho cùng một
kết quả như thế, nhưng cá đời người cũng
chả đủ để thử lần lượt tất cả các số lẻ Cần
định nghĩa nhu "điểm", Từ khi hình học L⁄@basepski (nhà toán học người nga, 1793 — 1856), được công nhận, các nhà toán học mới đặt vấn đề xây dựng cơ sở cho hình học Họ
đã dùng phương pháp tiên đề và lấy "điểm"
làm khái niệm cơ bản, từ đó người ta thôi
không định nghĩa "điểm" nữa
Như vậy "điểm" là một khới niệm cơ bản
không định nghĩa Ta có thể nêu lên một
hình ảnh của "điểm" là một hạt bụi rất bé
Nhớ ràng đó chỉ là một hình ảnh chứ không
phải một định nghĩa
VA BAI TOAN OLE
NGO THUC LANH
(Đại học sư phạm Hà Nội
phải có một phép chứng mính tổng quát nào
đó, chứ không phải là những phép thử" Ởỉe trả lời rằng mệnh đề đó là hoàn toàn đúng đán, nhưng ông cũng không thể đưa
ra một phép chứng mình chặt chẽ của mệnh
đề đó được Mặt khác Ole lai dé ra mot mệnh
đề mới, về sau gọi là "bài toán le" : "mới
số chắn, từ bốn trỏ di, đều có thể phôn tích thành một tổng của hai số nguyên tổ", Mệnh
đề này ông cũng không chứng minh được Chú ý rằng, nếu giải được bài ¿oán Ole
thì rõ ràng từ đó suy ra được lời giải của bài
toán Gônbác Thật vậy, mọi số lẻ, lớn hơn
năm, đều có thể viết đưới dạng 2n + 1 = 3 + 2Œ ~ 1), trong đó 2(n - 1) > 4 Nếu mệnh
dé Ole là đúng, thì số chẩn 2w - 1 sẽ phân
tích được thành một tổng của hai số nguyên
tố, lúc đó số lẻ 2n + I sẽ phân tích được thành một tổng của ba số nguyên tố, và
ménh dé Gônbác sẽ đúng với mọi số lẻ từ 7
trở đi
Nhung dao lai thì không đúng, tức là nếu mệnh dé Gónbác là đúng thì từ đó không thể
suy ra được rằng mệnh đề Ở/e cũng đúng Như vậy, bài toán Ởie khó hơn bài toán
Gônbác nhiều ,
107
Trang 5Gần hai trăm năm sau khi được đặt ra,
bài toán Gônbác vẫn chưa tÌm được lời giải,
mặc dù nhiều nhà toán học lối lạc trên thế
giới đã đề cập đến Mãi đến năm 1930, nhà
toán học Xô viết trẻ tuổi L.G Sniarenman,
(1905 - 1938) mới tim ra được con đường
đúng đán để tiến tới lời giải của bài toán
Gônbác Ông đã chứng mính được rằng : đồn
tại nuột hàng số k, sao cho mỗi số tự nhiên
lớn hơn 1 dều có thể uiết dưới dạng một lồng
của không quá k số nguyên tố, túc là uới mọi
số tự nhiên N (N >1)
N=p,+py,t+ +p,
trong đỏ p hoặc là một số nguyên tố, hoặc
là bằng không
Nếu ta chứng minh được rằng k = 3 thì
bài toán Gônbác được giải xong Nhờ sự nỗ
lực tìm kiếm của nhiều nhà toán học, số đó
được xác định là 67, và bây giờ đã hạ xuống
20 Nhưng từ đó hạ được xuống số 3 thì
đường vẫn còn dài
Năm 1987 một sự kiện quan trọng đã xây
ra làm chấn động dư luận của giới toán học
trên toàn thể giới Nhà bác học Xô viết viện
si J.M Vinégradép (sinh năm 1891) chứng
minh được mệnh đề Gónbác với những số lẻ
đủ lớn : mọi số lẻ, kể từ một số dủ lớn nào
đỏ, dều là tổng của ba số nguyên tố
Nói cách khác, trong các số tự nhiên, tồn tại một số N, đủ lớn, sao cho sau số đó mọi
số lẻ đều là tổng của ba số nguyên tố
Vinôgradốp đã chứng mình được định lí
trên đây bằng một đường lối rất phức tạp, đòi hỏi vận dụng những công cụ rất tỉnh ví
của toán học hiện đại
Vấn đề đặt ra là : số N,, là bao nhiều ? Nhà toán học Xô viết K.G Barôdohin đã
chứng minh rằng
Na eons
trong do e sé co s6 logarit tu nhién, e = 2,7182
Muốn chứng minh được mệnh đề Gônbác
một cách hoàn toàn, cẩn ha số N, xuéng nhiều hơn nữa, rồi thử nghiệm với tất cÀ các
số nhỏ hơn Nhiều nhà toán học đã thử
nghiệm trực tiếp, và đã đi đến kết luận là
với tất cả các số tự nhiên tới 9.000.000 mệnh
đề Gônbác là đúng
Phương pháp của Vínôgrađốp chưa đủ để giải bài toán Ole Cho dén nay bai toan nay vẫn chưa tim được lời giải Bài toán Gônbác với các sé chin, ma bản thân Gônbác không để ra, cho đến nay cũng chưa giải
được, mặc dù, từ dinh li Vinégradép suy ra
rằng mỗi số chẫãn đủ lớn là tống của bốn
sổ nguyên tố
MIỀN TRONG, MIỀN NGOÀI CỦA ĐA GIÁC
1) Bạn đã làm quen với các hình đa giác
từ lớp 5, lớp 6 Nhưng xin hỏi bạn : hình 1
và hình 2 cớ phải là hình đa giác không ?
Hình 1
108
Chắc các bạn trả lời ngay được rằng hình
1 là hình đa giác, tuy có vẻ "lạ" một chút
Càn về hình 2, thì chắc nhiều bạn còn do
dự Để trả lời câu hỏi, bạn phải trở lại định
nghĩa của hÌnh đa giác, tức là xem xét hình
3 có phải là một đường gấp khúc kin khong
Muốn vậy, bạn hãy cho một chú kiến bò từ
một điểm nào đó trên hình 2, điểm A chẳng hạn, bò theo các đường nét đã kẻ (theo chiều
mũi tên chẳng hạn) và khóng bao giờ được
quay lại dường cũ, Bạn sẽ thấy rằng chú kiến sẽ bò qua (ế‡ cd các đường nét da ké
và cuối cùng sẽ trở về lại điểm A, nghĩa là hình 2 là một đường kin, còn đó là một đường gấp khúc thÌ quá rõ ràng Vậy hình 2
là một hình da giác !
Trang 62) Đối với các hình đa giác quen thuộc,
hoặc đối với hình đa giác như hỉnh 1, bạn có
thể trả lời ngay được rằng điểm M là điểm
ở ngoài đa giác, còn điểm P là điểm ở /rong
đa giác Nhưng bạn khó cớ thể trả lời ngay
được câu hỏi : trên hình 2, điểm P là điểm
ở trong hay ở ngoài đa giác ? Để trà lời câu
hỏi này, bạn có thể cho một chú kiến bò từ
một điểm rõ rằng là ở ngoài hình đa giác
(như điểm N) để đi đến P Có hai trường
hợp có thể xây ra :
1) Chú kiến tìm được một đường đi đến
P ma không phải vượt qua "đường biên giới"
cạnh của đa giác) Trong trường hợp này, P
là một điểm ở ngoài da giác
2) Chú kiến nhất thiết phải vượt qua
dường biên giới một lần mới đến được P
Trong trường hợp này, P là một điểm ở trong
đa giác
6 đây ; bạn hãy cho chú kién di tit N theo
mũi tên (hỉnh 2) và bạn sẽ thấy rằng chứ
kiến có thể đến được P trong trường hợp thứ
nhất, nghia là P là một điểm ở ngoài đa giác
(xem hình 3)
Cách cho kiến bò như trên đây khá phức
tạp tuy rằng nó cho bạn thấy con đường đi
từ ngoài vào đến điểm P (mà không vượt
qua "biên giới" lần nào) Bạn có thể xác định
P-là điểm ở trong hay ở ngoài đa giác một
cách đơn giản hơn dựa vào nhận xét sau
đây : nếu chú kiến bò từ một điểm ở ngoài
da giác mà vượt qua biên giới một lần thì
chú đi vào trong đa giác, nếu chú vượt qua
biên giới lần thứ hai thì chứ lại ra ngoài đa
giác, nếu vượt qua biên giới lần thứ ba thì
vào trong đa giác v.v nghĩa là nếu từ một
điểm ở ngoài đa giác mà chú kiến vượt qua
biên giới một số chẵn lần thÌ chú vẫn ở
ngoài đa giác, còn nếu vượt qua biên giới
một số !¿ lần thì chú đã đi vào trong đa giác
Nhận xét này giúp bạn xác định được P là
điểm ở ngoài đa giác một cách nhanh chóng : bạn cho chú kiến đi từ N, theo mũi tên, đi
thẳng "vào trong" và chỉ cần vượt qua biên giới hai lần là chú kiến đến được P
Do đó, ta có một cách đơn giản để xác
định một điểm P nào đó là ở trong hay ở
ngoài đa giác cho trước : chỉ cần ¿ừ P kẻ một nửa đường thẳng không di qua mét dink
nào của du giác ; ta đếm số giao diểm của nửa dường thẳng này uới cóc cạnh của da
giác : nếu số giao diểm là chdn thi P là
điểm ở ngoài đa giác, nếu số giao điểm là
lẻ thì P là diém 4 trong
3) Bạn đọc tính ý có thể thấy ràng những
điều vừa nói trên đây là dựa vào (rực giác
Những dòng in nghiêng ở trên (về cách xác định P ở ngoài hay ở trong đa giác) là một
định lí cần phải chứng mình, T5 không nêu
chứng minh đó ra ở đây
Hơn thế nữa, ngay cả khái niệm "điểm ở trong, ở ngoài đa giác" cũng phải nói chính xác hơn,
Các hình đa giác lồi, các A hình 1 và 2 đều là các hình
đa giác đơn Hình đa giác ợ đơn là hÌnh tạo nên bởi một €
đường gấp khúc dơn kín
Đường gấp khúc đơn là đường gấp khúc trong đó mỗi điểm của nó thuộc nhiều nhất là hai cạnh
Hình 4 là một đường gấp
khúc không đơn, hay là tự cảt (trong đó các điểm C, B, A thuộc ba, bốn cạnh) Một đường
gấp khúc tự cắt kín tạo nên một đứ giác
hình sœo (hình 5 chẳng hạn)
Người ta chứng minh được định lí sau đây
(gọi là định lÍ Giooc-dăng) : Mọi hình da giác don chia một phẳng ra làm hai miền :
một miền chúa hoàn toờn những dường thằng (gọi là miền ngoài của đa giác), miền
kía không có tính chất đó (gọi là miền trong của đa giác) Nhờ
định H này mà
ta nơi đến điểm
ở ngoài (thuậc miễn ngoài) và
điểm ở trong
(thuộc miền
trong) các đa
giác ở hình 1
và 2,
linh 4
Hình 5
109
Trang 7
Hình 6
Một đa giác hình sao chia mặt phẳng ra
nhiều miền Dựa vào cách xác định miền
trong và miển ngoài của đa giác đơn (nói ở
điểm 2), người ta định nghĩa miền trong và
miền ngoài của đa giác hình sao như sau :
Lấy một điểm tùy ý trong miền Từ điểm
đó, vạch nửa đường thẳng tùy ý, &hóng di
qua diểm chung của các cạnh khóc nhau của
đa giác ; đếm số giao điểm của nửa đường thẳng với các cạnh của đa giác ; nếu số dé
là số chăn thì điểm thuộc miền ngoài, nếu
số đơ là số lẻ thì điểm thuộc miền trong của
đa giác Trong hình 6, ?\ điểm ở ngoài, P,
là điểm ở trong đa giác Như vậy, miền trong
của đa giác là miển gạch gạch (Tất nhiên,
phải chứng minh rằng tính chẵn lẻ của số
giao điểm của nửa đường thẳng với các cạnh
của đa giác chỉ phụ thuộc vào điểm đã chọn,
mà không phụ thuộc vào nửa đường thẳng
ta kẻ từ điểm đó Ta không nêu chứng minh
đó ở đây)
TH.C (sưu tầm)
CÁC MÔ HÌNH KHÔNG GIAN VEC-TỢ
TRONG TOÁN HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Trên báo Toán học và tuổi trẻ đã giới
thiệu về "cấu trúc đại số" (số 5/1967), "lí
thuyết nhóm (số 8/1967) và cấu trúc trường
qua bài "Ấm hiệu giải trí" (số 2/1964) Bài
này sẽ giới thiệu cấu trúc không gian vec-tơ,
một cấu trúc đóng vai trò "trung tâm" trong
toán học hiện đại
Một tập hợp V gồm các phần tử x, y, z
sẽ gọi là một &hông gian uec-tơ trên trường
số 9 nếu :
a) Trong V cớ xác định một phép toán
trong, mà ta gọi là phép cộng, kí hiệu là o,
và tập hợp V là một nhóm đối với phép cộng
đó, tức là 4 tính chất sau đây được thỏa mãn
1 Phép cộng có tính chất kết hợp, nghĩa là
xo(woz)= Goyoz véi moix, y,z EV;
2 Trong V có phần tử trung hòa e, nghĩa là
có e sao cho e ox = xo e = x véi moix € V;
3 Với mọi x € V đều có phần tử đối xứng
x’ € Vsao choxox’=x'ox =e;
4 Phép cộng có tính chất giao hoán, nghĩa
làxoy =yox với mọi e, y € V
110
TRẦN THÚC TRÌNH
b) Trong V có xác định một phép toán
ngoài mà ta gọi là phép nhân một phần tử thuộc Ý với một số thuộc S, (kết quả của phép
nhân đó là một phần tử thuộc W) kí hiệu là Phép nhân thỏa mãn 4 tính chất sau đây :
ð Phép nhân phân phối được đối với phép cong trong V, tic AR * (roy =k *xok*y,
trongdd RES; x,y EV ;
6 Phép nhân phân phối được đối với phép
cộng trong 8, tức là ( ø J *x = k *xol*x với k, €8;
7 Phép nhân kết hợp được đối với phép nhân số, tức là ¿ * & * x) = ( * k) *x, với k,LES;xeEv;
8.1 * x =x (1 Ja phfn tu don vj cua S)
Tím tính chất vừa liệt kẽ là tám tiên để của cấu trúc không gian vec-tơ ; các phẩn
tử z, y, Z gọi là các "vec-td" Các bạn nên
chú ý rằng từ "vec-tơ" ở đây cớ nội dung trừu tượng chứ không phải chỉ mang nội
dung "đoạn thẳng định hướng" như trong
Trang 8sách tốn ở trường phổ thơng Bất kì một
tập hợp V nào với các phần tử z, y, z , phép
tính trong, phép tính ngồi cùng trường số
8 được hiểu một cách cụ thể như thế nào
đấy mà thỏa mãn 8 tiên để nơi trên sẽ được
gọi là mơ hình của khơng gian vec-tơ trên
trường số S
Ta hãy xét một số ví dụ lấy trong sách
tốn trường phổ thơng
1) Hãy xem V là tập hợp các số thực đR,
8 là trường số hữu tỉ Q, các phép cộng và
nhân trong V như trong E, các bạn sẽ thấy
rằng với cách hiểu như vậy thì tám tiên để
đã nêu đều được nghiệm đúng, tức irường
số thực h là khơng gian uec-t0 trên trường
số hữu tỉ Q
Nếu lấy V = S = R, v6i phép cong và
phép nhân hiểu như trong R (phép todn
ngồi trở thành phép tốn trong), thì tám
tiên đề đã nêu cũng được nghiệm đúng, đức
trường số thục R là khơng gian uec-td trên
chính nĩ
Trong hai ví dụ này, số thực là "vec-tơ"
2) Hay để ý đến tập hợp P các đa thức
bậc hai chứa biến x p; = øx” + bạ + e,, với
a, 6, c, ER,
Phép cộng các đa thức thuộc P và phép
nhân đa thức với số thực được xác định như
Sau :
P.oP (ax? + bx +e) + x2+b +o) =
= NHA tes
k*p, =k Gx? +b2 40) =
= (ha; x2 + (hb )# + (he, Ù›
Các bạn hãy lần lượt thử nghiệm từng
tiên đề một Kết quả là tám tiên để kể trên
đều được nghiệm đúng, tức là ¿ớp hợp P các
da thúc dạng ax? + bx +c; la mot khong
gian vec-to trén trường số R (a,, b,, ¢, G R)
3) Hay xét tap hop H cdc ham s6 vong
dang h; = (a, sint + b; cost, với đi, bE R
Phép cong va phép nhân được xác định
như sau :
ho hị = (aginf + b/cos#) + (asint + bicost) =
= (a+ a) sint + (6, + 5) cost ;
k"hị = & (ai sint + b, cosf) =
= (ka,) sint + (kb cost, voi k © R
Dễ dàng thấy rằng đập hợp H các ham số
veng dang a; sint + b,cost là một khơng gian
uec-tơ trên trường số thực R
6 day ham số a; sin ¢ + b.cost 1a "vec~tơ",
4) Tập hợp V cĩc uec-tơ theo nghĩa thơng
thường của vec-tơ (đoạn thẳng định hướng) với phép cộng các vec-tơ và phép nhân vec—tơ với số thực là khơng gian uec-tơ trên trường
s6 thuc R (hoặc trên đường thẳng, hoặc trong mặt phẳng, hoặc trong khơng gian)
ð) Chiều dài, diện tích, thể tích là các đại lượng vơ hướng mà các bạn đã từng gặp trong giáo trình hình học Nơi chung cấu trúc những đại lượng vơ hướng (kể cả chiều dương hoặc âm) là tập hợp L [ o, *, >] gồm những phần tử #,ð,e trong đĩ cĩ xác định phép tốn trong, gọi là phép cộng kí hiệu là ø và phép tốn ngồi, gọi là phép nhân một phần tử thuộc 7, với số thực thuộc
đ, kí hiệu là *, đồng thời cĩ quan bệ lớn hơn, lấy kí hiệu là >, thỏa mãn 5 tinh chat
sau đây
œ) Trong L cĩ đại lượng ừ sao cho luơn luơn cĩ x*#o=o;
8) Ứng với mỗi £ > ocd anh xa mot-mot fgitax€ RvaaGL,saochoa=x*e; y) Luơn luơn cĩ x*£o y *£= (xoy)* e ð) Luơn luơn cĩ xz** e) = (x *y)* e _E) x, "2 >y *ø tương ứng với x > y
(o,e, aGL;xy ER)
Ảnh xạ ƒ là phép do các đại lượng vơ hướng ; số z gọi là độ đo các đại lượng vơ hướng (x cĩ thể dương, âm hoặc bằng 0)
Từ õ tính chất này cĩ thể suy ra đẩy đủ
8 tính chất của cấu trúc khơng gian vec-tơ
(đề nghị các bạn tự chứng minh) tức là ép hợp L các dại lượng 0ơ hướng là một khơng gian uec-tơ trên trường số thục R
Trong trường phổ thơng hiện nay chúng
ta khơng để ý đến chiều của các đại lượng,
nên lấy |x| làm độ đo hoặc của chiếu dài,
hoặc của diện tích, hoặc của thể tích 6) Nếu lấy tập hợp V gồm các "vec-tơ"
*, ÿ, Z, và các điểm A, BH, €, trong đĩ
các vec-tơ, với phép tốn cộng và phép nhân
với số thực, thỏa mãn 8 tiên để của cấu trúc
khơng gian vec-td, đồng thời thỏa mãn thêm
6 tiên để sau đây nữa thì ta cĩ &hĩng gian Ociit Sáu tiên đề đĩ là :
Với hai vec-tơ x, y bất kì thuộc V cho
tương ứng với một số thực khơng Am, gọi
là tích vơ hướng giữa x và y, kí hiệu là xy
sao cho :
111
Trang 99 xy = yx véi moixz,y EV;
10 @o yiz = xz +y2 voi moixnyz EV;
ll (ek * x) y = kíxy) v6i moix,y EV;
RER;
12 xx 2 0 v6i moix € V; xx = 0 khi va
chi khi x la vec-to "không" ;
13 Véi moi diém A va moi vec-to + tồn
tại một điểm 8 duy nhất sao cho AB =# ;
14 Luôn luôn có AB +BC= AC moi điểm A,B,C, eV
Xuất phát từ 14 tiên đế này có thể xây dựng toàn bộ hình học Ớclit hiện đang học
ở trường phổ thông "Thực chất của truyền thống hình học Ởclit là sự kế thừa khái niệm
không gian vec-tơ có tích vô hướng mà Óclit
đã để lại cho ta",
PHUONG TRINH SAI PHAN
Phương trình sai phân là một loại phương
trình có rất nhiều ứng dụng trong khoa học
cơ bản và đặc biệt là trong khoa học thực
hành Nó là công cụ đắc lực để giải các bài
toán phương trình vi phân, phương trình đạo
hàm riêng trên máy tính điện tử và giải các
phương trình đại số cấp cao, cùng nhiều ứng
dụng trong các lĩnh vực khác nhau Nội dung
của bài này là giới thiệu sơ lược về phương
trình sai phân và ứng dụng của nó trong lĩnh
vực toán phổ thông như đoán nhận quy luật
biểu diễn các đây số, tính tổng các dãy
SỐ v.V
Để có thể giới thiệu phương trình sai
phân, trước hết ta cẩn biết sai phân là gì ?
Thực ra mà nói thì có hai loại sai phân : sai
phân hữu hạn và tỈ sai phân Trong bài này
ta dùng khái niệm sai phân hữu hạn và chữ
sai phân trong bài này xin hiểu theo nghĩa
sai phân hữu hạn
Định nghĩa : Giả sử ta có hàm số y = fix)
Giả sử rằng các giá trị cia ffx) tại các điểm
#ơ Xa th, xu + Qh x,t nh, (h = const)
tương ứng là Yor Ypres ta goi Ay, = x7
— y,— 1 là sai phân cấp 1 của ham f, V, =1,2, ,
nyo My, = Ay, ~ bY, = 9; - Wherry, la
sai phân cấp 2 của hàm ƒ với ¡ = 2,.,n - 1
Tương tự như thế ta định nghĩa sai phân các
cấp cao hơn
Sai phân có một số tính chất cơ bản rất
thuận tiện trong việc giải các bài toán phổ
thông Các tính chất đó là :
112
LÊ ĐÌNIE THỊNH
1) Mọi sai phân đều có thể biểu diễn theo
các giá trị của hàm số
Thật vậy Ay, = y,- y,_, 3 A’y, = Ay, - Ay,
= ¥, — 29, + ¥2 vv tiép theo có thể chứng minh bằng quy nạp
2) Sai phân mọi cấp có tính chất tuyến
tính tức là AF + ø) = ARƒ + Akg (Suy ra
từ 1) 3) Sai phân cấp k của một đa thức bậc ø
- bang 0 khi & > n,
~ bằng hằng số khi # = n,
— là đa thức bậc n - bè khi & < n
Tinh chất này chứng minh bằng quy nạp
"
4) 5) Ay, =yy~yety; “It Ag ~I py =
1
—
Dựa vào các tính chất đơ ta giải hàng loạt
các bài toán quen thuộc,
Thí dụ 1 : Cho dãy số 3, 5, 10, viết tiếp
vào dãy số đó để hiệu các số kề nhau tăng
lên một số như nhau Giả thiết trong đầu
bài cd nghia là sai phân cấp 2 không đổi Bởi
vậy theo tính chất 3) dãy số này là các giá
trị của một đa thức bậc 2 theo đối số là số
thứ tự của các số trong dãy số Mọi đa thức
bậc 2 cổ dạng øx2 ~ ðx + e, trong do z là đối
số Cho z các giá trị 0, 1, 2 (ta đánh số thứ
tự từ 0), ta có hệ phương trình
c=8
a+b+8=ð5 4a + 2b + 3 = 10
Trang 103
Từ đó suy rea = 2 ,b =2, c= 8, Vậy
những số viết tiếp phải tuân theo quy luật
1
22 + 2% + 3 Chang han cho x = 3, 4, 5, ta
sẽ được các số tiếp theo là 18, 29, 43,
Thí dụ 2 : Cho dãy số 1, ~ 1, -1, 1, B,
11, 19, 29, 41, 55 Tim quy luật biểu diễn
dãy số đó
Để tìm quy luật biểu diễn ta lập bảng sai
phân :
y=f 1 -1 -l 1 5 11 19 29 41 55
Ta thấy sai phân cấp hai không đổi, vậy
dãy số là dãy các giá trị của đa thức bậc hai
az? + bx + c, trong đó x là số thứ tự của các
s6 trong day s6 Cho x = 0, 1, 2 (đánh số
thứ tự từ 0), ta nhận được hệ phương trình
c=l œ+b+l1=~l
4a+26+ 1= —1
Ti dé ta cd a = 1, b = ~3 Vậy dãy số
đã cho tuân theo quy luat x? - 8x + 1, trong
đó x là số thứ tự của các số, bát đầu từ 0
Thí dụ 3 : Tính tổng n số hạng của cấp
số nhân
đọ, 88, đu q1
Tổng n số hạng trên có dạng
ø,(1+g+ +a"Ù), Bởi vậy ta tính tổng
trong ngoặc đơn là đủ
Ta co
1
ko gk gk a gk fy 1 ừ đó
Agk = gk - gq q ạ ạ): Từ để
= AF 4 gk l1-lgq q—1
Boi vay 3 gk = W Agt
&=l k=]
Bởi vậy
8 TCH
Vậy tổng n số hạng của cấp số nhân đã
cho là
q@ 1
S,=%, TT:
A "
Thí dụ 4: Tính Sx , > x?
xed x=]
Ta cd Ax? = x? ~ (x - 1)? = 2x - 1 Boi vay
D @x-1) = Fa? =n? - 02 = v2
(theo 4)
" Rn "
» z~z- X1 = 2h x-n=n?
Ta dé
"- 15
De age
x=1 (Tổng ñ số nguyên đầu tiên)
n
Để tính tổng > x? ta xuất phát từ
x=1 Ax3 = x3 - @ - 13 = 8x? - 8x +]
Do dé
Ð (2 ~8x+D) = 3 Ar) = n
"
> @? - 8x + 1) =
x=l
n " "
=85x) -85x +1 =
x=l xel ~=1
~ n(n + 1)
Từ đó
S c¿_ nứt + 1)(2n + 1) ae 6 x=1
(Tổng bình phương nø số nguyên đầu tiên) Bài tập : Theo mẫu của thí dụ 4, hãy tính
118